Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

LUYỆN THÂN - TU TÂM







(THỨ SÁU, NGÀY 08 THÁNG SÁU NĂM 2012 - Longbach blog)


RÈN LUYỆN THÂN THỂ,TINH THẦN, TRÍ ÓC

Một số phương pháp vận động, rèn luyện để bảo vệ sức khỏe. Muốn xem phần nào thì chuột trái vào dòng đó. Muốn cóp-pi về xem dần, thì khi xem đồng thời nhấn chuột trái + nhấn nút Ctrl vào dòng cần xem, một trang Web về vấn đề đó sẽ được mở ra.

5_1 Rèn luyện thân thể
                     Đại cương
      Đi bộ
      Đi xe đạp
      Xoa bóp
      Taichi/Yoga/Khí công
       Bơi lội
            5_2 Tập luyện tinh thần/trí óc
      Thiền
       Rèn luyện trí óc
  •  
5_3 Tâm linh



Nguồn: Thư K.V
(Vĩnh Thuận sưu tầm - 9/6/2012 - theo:

TƯƠNG LAI CỦA FACEBOOK




Tia sáng.com.vn - 10:31-07/06/2012 
Facebook sẽ biến mất trong 5 năm tới?
Theo PCW/VnMedia

Các nhà phân tích dự đoán mạng xã hội Facebook sẽ biến mất trong khoảng thời gian từ 5 đến 8 năm nữa.

Thông tin này gây xôn xao trên mạng Internet suốt tuần qua. Tuy nhiên, các nhà phân tích không quá sốc nếu dự đoán đó trở thành hiện thực.


Eric Jackson, người sáng lập hãng Ironfire Capital, cho rằng, trong 5 đến 8 năm tới, "Facebook sẽ biến mất theo cách giống như Yahoo biến mất”. Cho dù Yahoo vẫn kiếm tiền, vẫn có lợi nhuận, vẫn có 13 nghìn nhân viên làm việc cho họ nhưng họ chỉ còn 10% giá trị so với thời điểm cao nhất vào năm 2000. Điều đó đồng nghĩa với việc biến mất. 


Jackson lưu ý  rằng, cho đến thời điểm này, thế giới đã phát triển ba thế hệ các công ty Internet. Thứ nhất là Yahoo, một cổng thông tin Web. Đây là một ví dụ tuyệt vời như một nhà tiên phong trong lĩnh vực trực tuyến. Facebook sau đó như là thế hệ thứ hai với làn sóng của các phương tiện truyền thông xã hội. Thế hệ thứ ba là thế giới điện thoại di động.


Một trong những vấn đề đối với Facebook là công ty không thể kiếm tiền từ cơ sở đang phát triển của điện thoại di động. Theo Jackson, Facebook sẽ gặp phải những thách thức khi di chuyển vào thị trường điện thoại di động giống như những khó khăn Google gặp phải khi thâm nhập vào lĩnh vực mạng xã hội. 


Mặt khác, dự báo về sự sụp đổ của Facebook xuất hiện chỉ vài tuần sau khi mạng xã hội gặp rắc rối với cổ phiếu IPO. Nhiều nhà phân tích tài chính dự định cổ phiếu của công ty chào bán quá cao và không bao giờ có thể bật trở lại lên mức ban đầu. 


Dan Olds, một nhà phân tích của tổ chức tư vấn Gabriel Consulting Group, đồng tình với quan điểm của Jackson, điện thoại di động sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với bất kỳ công ty Internet nào, đặc biệt là mạng xã hội. Tuy nhiên, ông cho rằng, còn quá sớm để nói tới việc Facebook sẽ bị đánh bật khỏi cuộc chơi di động. 


Dan Olds cho rằng: "Facebook đang tiến triển chậm trong lĩnh vực điện thoại di động. Hầu hết người dùng thấy giao diện Facebook dành cho điện thoại di động khó nhìn và sử dụng. Tuy nhiên, Facebook gần đây đã thiết kế lại giao diện dành cho điện thoại di động để xem hình ảnh dễ dàng hơn. Nhưng Facebook cũng cần xây dựng một mô hình kinh doanh di động nâng cao để có thể thu hút các nhà quảng cáo. 


Brad Shimmin, một nhà phân tích của CurrentAnalysis, đồng ý với quan điểm cho rằng, điện thoại di động là quan trọng, nền tảng này có thể giúp Facebook phát triển thịnh vượng và cũng có thể khiến Facebook gục ngã.

(Vĩnh Thuận sưu tầm - 9/6/2012 - theo:

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

VỞ BA LÊ "LỄ BÁI XUÂN"



Tạp chí Tia Sáng - 04:45-08/06/2012 
Bernstein và "Lễ bái xuân"
Theo classicalnotes.net
Peter Gutmann

Vở ballet "Lễ bái xuân" trên nền nhạc của Stravinsky
Được ghi lại trong một buổi duy nhất vào ngày 20-1-1958, Le Sacre de Printemps (Lễ bái xuân) thực sự là nơi hội tụ của những điều vĩ đại: sáng tác của Igor Stravinsky, tài chỉ huy của Leonard Bernstein, trình độ biểu diễn của New York Philharmonic, và kỹ thuật của Columbia.
Mỗi yếu tố đều phối hợp và cộng hưởng một cách hoàn hảo với các yếu tố còn lại để tạo ra một tổng thể đầy ma lực. Cho đến nay, nó vẫn giữ nguyên từng giọt sức mạnh ban sơ đó và vẫn là một trong những siêu phẩm hàng đầu của ngành thu âm.

Từ tai tiếng đến danh tiếng

Lễ bái xuân là một trong số những tác phẩm quan trọng nhất trong lịch sử âm nhạc. Vào điểm giao thời giữa hai thế kỷ, nỗi hoang mang của Mahler và cuộc kiếm tìm âm điệu của Schönberg đã tạo lập một định hướng cho nền âm nhạc thế kỷ 20, rằng nó có thể mở rộng nhưng vẫn phải neo chắc vào đặc tính của âm nhạc thế kỷ 19. Điều đó khiến Stravinsky, trong một hành động đầy táo bạo và đột ngột, đã bẻ lái âm nhạc một cách đau đớn và tàn nhẫn, quăng nó đến một vùng đất hoàn toàn mới, nơi có thể không còn lối về.

Stravinsky đã mang gánh nặng này như thế nào? Ông không bao giờ nói ra điều đó, chỉ ngụ ý rằng, “Tôi không bị dẫn dắt bởi bất kỳ hệ thống nào, tôi viết ra những gì mình nghe thấy”. Và những âm thanh mà ông nghe thấy, không giống bất cứ thứ gì trước đó, ngay từ buổi diễn đầu tiên đã hiển lộ là một trong những tác phẩm lừng danh nhất mọi thời đại. 

Giống như Chim lửa và Petrouchka, Lễ bái xuân được dàn dựng tại đoàn Ballets Russes của Sergei Diaghilev bởi biên đạo huyền thoại Vaslav Nijinski. Nó lẽ ra phải trở thành chiếc vương miện chiến thắng thứ ba từ sự kết hợp tuyệt vời giữa âm nhạc và vũ điệu mà châu Âu đã từng được chiêm ngưỡng. Nhưng Stravinsky lại có ý khác. Nhạc trưởng của đoàn ballet, Pierre Monteux, người được làm quen với bản tổng phổ khi nhà soạn nhạc chơi chúng trên đàn piano, nhớ lại: “Như những bức tường dội âm khi Stravinsky nện tay lên phím đàn, ông thỉnh thoảng còn giậm chân và nhảy lên nhảy xuống để gia tăng sức mạnh của âm nhạc trong khi không cần phải cường điệu như vậy.” Monteux nghĩ là Stravinsky bị “điên” và dự đoán tác phẩm sẽ gây ra một vụ bê bối. Ông đã lầm: nó đã gây ra một cuộc hỗn loạn thực sự. 

Ở thế kỷ 21, nhạc trưởng Simon Rattle vẫn phải thốt lên thán phục: “Có ý kiến cho rằng, chính thứ âm nhạc sự lập dị, huyền bí và tuyệt diệu này chỉ có thể có ở đâu đó trên thiên đường và Stravinsky đã mang xuống cho chúng ta. Tôi luôn cảm thấy sức mạnh ấy. Điều tôi cảm nhận sau cùng là không biết ông đã viết tác phẩm đó như thế nào. Ông hiểu tới tận cùng thứ âm thanh mà ông muốn tạo nên... Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh Stravinsky quay trở lại và tuyên bố rằng “Ôi, Chúa ơi, lẽ ra tôi phải viết nặng nề hơn nữa! Bởi vì tác phẩm muốn phá vỡ tất cả, thậm chí cả mọi quan niệm trong  âm nhạc”.
Độ khó tột bậc của âm nhạc đòi hỏi một dàn nhạc tăng cường và việc dàn dựng các vũ điệu đòi hỏi phải mất hơn một trăm buổi tập khiến Lễ bái xuân không thể ra mắt trong mùa diễn năm 1912. Nhưng cuối cùng đêm định mệnh 29-5-2013 đã tới. 


Hai phút đầu tiên dường như rất êm thuận, khán giả vẫn còn đang bị mê hoặc bởi phần mở đầu ám ảnh. Nhưng sau đó, cùng lúc những âm thanh thô bạo bùng nổ là khung cảnh như sau này Stravinsky hồi tưởng lại: “Màn sân khấu kéo lên, một nhóm các cô gái tóc thắt bím dài nhảy chụm gối”. Bản thân chủ đề của vở ballet vốn đã gây sốc: thay vì những thứ tạo ra những giấc mơ êm ái lại là cảnh những kẻ ngoại giáo xấu xí hiến tế một trinh nữ dâng lên chúa xuân. Trang phục, vũ đạo, và cảnh trí sân khấu được dàn dựng một cách liều lĩnh, thể hiện cái đẹp hoang dại lạ lẫm. Bắt đầu xuất hiện một vài tiếng la ó và huýt sáo phản đối nhưng sau đó mới là cơn bão thực sự: đám khán giả bị sốc phản ứng bằng cách ném đồ lên sân khấu, la ó và đánh nhau. Diaghilev cố gắng làm dịu tình hình bằng cách liên tục bật - tắt hệ thống đèn trong nhà hát nhưng vô hiệu. Lúc đó, Nijinski cũng làm hết sức để duy trì màn trình diễn, ông ra hiệu nhắc vở cho các vũ công bởi họ không còn nghe được tiếng nhạc trong khán phòng ầm ĩ. Stravinsky thì điên tiết, bỏ về trước khi cảnh sát tới và chấm dứt luôn buổi diễn. 

Nhưng điều này vẫn thường xảy đến với nghệ thuật, các scandal trong quá khứ lại tạo ra nền tảng cho thành công trong tương lai. Thực tế, chỉ ngay năm sau đó, Monteux đã giới thiệu Lễ bái xuântrong một buổi hòa nhạc và sức hấp dẫn của nó bắt đầu lan tỏa. Vào năm 1929, tờ New York Timesđánh giá tầm quan trọng của Lễ bái xuân “với thế kỷ 20 cũng giống như bản giao hưởng số 9 của Beethoven với thế kỷ 19”. Sau đó, Lễ bái xuân đi vào văn hóa pop khi nó được chọn làm nhạc nền cho phim hoạt hình Fantasia của Walt Disney vào năm 1938. Mặc dù Stravinsky chỉ trích việc đơn giản hóa và sắp xếp lại âm nhạc của ông ở tác phẩm này (dưới bàn tay của nhạc trưởng Stokowski) là hết sức “đáng ghét”, còn phần hình ảnh thì “ngớ ngẩn không đỡ được” nhưng chính từ đây, Lễ bái xuân vẫn trở thành một trong những bản nhạc hiện đại phổ biến nhất, được hàng triệu triệu người trên toàn thế giới yêu thích. 

Bản thu âm độc nhất vô nhị


Vấn đề mà Bernstein phải đối mặt khi chỉ huy Lễ bái xuân là làm thế nào để khôi phục lại tầm vóc ban đầu của một bản nhạc mà chỉ sau hai thế hệ đã trở nên phổ cập và quen thuộc, tới mức được người ta nhớ đến như nhạc nền của một bộ phim hoạt hình nhiều hơn là một tác phẩm nền tảng của âm nhạc thế kỷ 20. 

Vốn được xếp vào một trong những nhà soạn nhạc đương đại và từng viết nhiều tác phẩm âm nhạc hiện đại, Bernstein nhận thức rất rõ rằng tầm quan trọng của Lễ bái xuân còn vượt trên cả sự nổi tiếng thuần túy. Trên thực tế, quá nhiều thứ mà chúng ta coi là “âm nhạc hiện đại” ngày nay đều có nguồn gốc từ Lễ bái xuân. Nhà văn và nhiếp ảnh gia Carl Van Vechten (người đã bị đánh trong đêm khởi diễn Lễ bái xuân tại Paris) hồi tưởng, khán giả phản ứng hết sức dữ dội bởi họ cho rằng toàn bộ tác phẩm “là một việc làm báng bổ nhằm tàn phá âm nhạc”. Còn nhà phê bình âm nhạc Anh, Edwin Evans, thì mô tả tác phẩm một cách khéo léo hơn, như “một cuộc xung đột gây chia rẽ mãi mãi, không phải để tàn phá mà là để vượt thoát”. 

Về phần mình, Stravinsky cho rằng âm nhạc cổ điển truyền thống đã trở nên trì trệ và cần phải nhanh chóng có một bước tiến mới. Ông không tìm cách xóa bỏ thứ âm nhạc cũ ấy, nhưng những nhịp điệu gai góc, những hòa âm dữ dội và cường độ mãnh liệt của ông đã khai sinh cho biết bao điều mới mẻ của âm nhạc thời đại chúng ta. 

Như vậy vấn đề của Bernstein là phải làm khán giả sửng sốt với một tác phẩm mà họ vốn coi sự cách tân của nó là đương nhiên. 

Giải pháp của Bernstein rất thông minh, nhưng đồng thời, như điều thường xảy ra với các đột phá trong nghệ thuật, cũng hết sức đơn giản. Ông hiểu rõ rằng những gì gây sốc cho khán giả của năm 1913 sẽ chỉ là thứ hết sức bình thường với khán giả của hai thế hệ sau đó. Dĩ nhiên ông không muốn chỉ đơn giản là đưa khán giả trở về quá khứ. Nhưng ông cũng không thể làm sai lệch tổng phổ bằng cách thêm vào những yếu tố “hiện đại”. Chỉ còn một cách gây sốc cho khán giả đương thời trong khi vẫn bảo toàn được quan niệm nguyên bản của Stravinsky: tạo ra một nguồn năng lượng đủ mãnh liệt để tạo ra sự khác biệt giữa những gì khán giả đã biết và những gì họ sắp được nếm trải.

Và nếu có việc gì đó mà Bernstein làm được, thì đó chính là tạo ra năng lượng. Màn trình diễn của ông bùng nổ với những tia lửa dữ dội của sự phấn khích hồn nhiên, không thể kìm nén. 

Nhưng tất cả những gì ông tạo ra trên bục chỉ huy sẽ trở nên vô ích nếu không có sự cộng hưởng của dàn nhạc. New York Philharmonic, theo quan điểm của hầu hết các nhà phê bình, đã trở nên uể oải và biếng nhác, mộng du qua những buổi hòa nhạc mà không vấp phải thách thức nào. Bernstein đã đưa dàn nhạc trở lại với cuộc sống. Các nhạc công thật sự yêu quý Bernstein, cây gậy chỉ huy của ông đã đem đến cho họ sự phóng túng điệu nghệ, khiến họ vượt qua những khuôn mẫu chuyên nghiệp nhàm chán, để tạo ra sự nồng nhiệt tươi mới của nghệ thuật.

Phản chiếu tất cả nguồn năng lượng mạnh mẽ từ nhạc trưởng, màn tấn công của dàn nhạc hết sức sắc bén, những cao trào của nó ăn khớp một cách hoàn hảo, cường độ nhịp nhàng như thể tan chảy, và sự điêu luyện đạt tới độ không thể tin nổi, ngay cả ở những đoạn phức tạp và khó nhất, vốn xuất hiện đầy rẫy trong tác phẩm. Ngạc nhiên hơn cả là các nhạc công đã tạo ra âm nhạc với những tiếng gầm rít nguyên thủy, giúp truyền tải đầy đủ sự phấn khích nguyên sơ theo quan niệm của Stravinsky.

Phần cuối cùng để tạo nên một bản thu âm huyền thoại chính là khâu thu âm. Ở đây, kỹ thuật thu âm xuất sắc đã góp phần vào thành tựu của Stravinsky, Bernstein và dàn nhạc.

Âm thanh rõ ràng đến mức khiến người ta sửng sốt, ngay cả ở thời đại ngày nay. Hẳn nhiều micro tại chỗ đã được sử dụng, bởi dường như chúng ta đang được ở bên trong từng nhạc cụ và cảm thấy tiếng rung của một lưỡi gà, động tác ghìm cây vĩ, sức bật của dây đàn, làn hơi căng thẳng của một cây sáo hay cây kèn đồng. Không khí vang lên với những âm thanh tự nhiên nhất, như tiếng rì rào của một khu rừng đang sinh sôi. Trên tất cả là bộ gõ được đẩy lên quá mức, to hơn âm thanh tự nhiên từ bất kỳ thính phòng nào, với chiếc trống định âm xé tan kết cấu âm thanh theo những cú đánh chói gắt.

Đến nay, Lễ bái xuân đã có hàng chục bản thu âm, nhưng không bản nào trong số đó – kể cả hai bản thu âm do chính Bernstein thực hiện lại, đạt tới sự chói sáng như của bản thu âm này khi nó hội tụ tất cả những yếu tố của thiên tài.

Trong buổi hòa nhạc tưởng niệm một năm ngày mất của Stravinsky do London Symphony thực hiện ngày 6-4-1972, Leonard Bernstein đã có bài phát biểu, trong đó có đoạn:

“Đêm khai diễn Lễ bái xuân tại Théatre des Champs-Elysées là một trong những vụ bê bối lớn nhất mọi thời đại, đem lại cho Stravinsky hình ảnh của một nhà cách mạng, người đập bỏ thánh tượng, kẻ lập dị và là tác giả của một tác phẩm làm thay đổi âm nhạc mãi mãi, và trong suy nghĩ của một số người, có thể đã tàn phá âm nhạc. Và nỗi sợ ấy đã tồn tại ngay cả trong một số nhạc sĩ nghiêm túc cũng như công chúng sang trọng tại buổi biểu diễn đáng nhớ đó.

Ngày nay, 60 năm sau, chúng ta nghe tác phẩm này theo một cách khác: chúng ta hiểu được rằng thầy phù thủy Stravinsky đã đặc biệt lão luyện trong thuật giả kim, biến quá khứ thành tương lai. Chúng ta thấy Lễ bái xuân về cơ bản truyền thống như thế nào, nó đã bắt rễ sâu sắc từ những điệu thức dân tộc Nga ra sao, và thậm chí từ trong các nhà soạn nhạc cụ thể, như Scriabin, Rimsky-Korsakov, Debussy, và Ravel. Nhưng chính từ những cội rễ này đã xuất hiện một sự sáng tạo mới thần diệu, độc đáo và mạnh mẽ đến mức mà ngày nay vẫn còn gây sốc và áp đảo chúng ta.”

    Thanh Nhàn lược dịch
   

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Việt Nam với vấn đề bằng sáng chế



Tia Sang.com.vn -  11:22-04/06/2012 

VN không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?

TS. Lê Văn Út

TS. Trần Lê Nam

Đầu năm nay, người viết có làm một thống kê1cho thấy Việt Nam có quá ít bằng sáng chế được Mỹ công nhận, so với ngay cả các nước trong khu vực. Bài viết nhận được nhiều phản hồi, trong đó nổi bật có ý kiến “Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ” với lý do chi phí đắt, giá trị khoa học không cao v.v..

Thậm chí có người  mỉa mai: “Dùng bằng sáng chế để so sánh đánh giá một nền khoa học có khi giống như hỏi: “Việt Nam có bao nhiêu bằng lái xe hơi vậy?”


Để hiểu rõ hơn về bằng sáng chế Mỹ và giá trị của nó, người viết có cuộc trao đổi với TS. Trần Lê Nam về vấn đề này. 

Hỏi: Xin anh cho biết các nước đánh giá thế nào về tầm quan trọng của bằng sáng chế?


TS. Trần Lê Nam
: Việc xác định tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với mỗi quốc gia nằm ngoài khẳ năng của tôi. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là tất cả các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển thì số lượng bằng sáng chế đều đứng hàng đầu thế giới. Nghĩa là, các viện nghiên cứu, trường đại học, và các công ty ở những nước đó đều được khuyến khích (hay thậm chí là bắt buộc) đăng ký bản quyền cho những phát minh của mình. Trong rất nhiều trường hợp kết quả của việc thực hiện dự án được đánh giá dựa trên số lượng bằng sáng chế. Ví dụ như dự án mà tôi đang tham gia ở đai học Oulu, người ta yêu cầu phải đăng ký ít nhất 1 bằng sáng chế, tất nhiên là ngoài việc phải có bài báo đăng ở tạp chí hoặc hội nghị. Vì vậy, theo tôi nghĩ, không có nước nào xem nhẹ tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với nền khoa học công nghệ. Vần đề là làm thế nào để có nhiều bằng sáng chế có chất lượng.

 Theo anh kết quả về số lượng bằng sáng chế của một nước có liên hệ gì với thành tựu nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng của nước đó? 



Trong 5 năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được Mỹ công nhận; cũng trong thời gian đó, Nhật có 197.075, Đức có 54.971, Canada có 22.095 và một đất nước nhỏ bé trong khu vực Đông Nam Á là Singapore có 2.496.
Trước hết chúng ta phải thấy rằng nghiên cứu lý thuyết vá ứng dụng liên hệ mật thiết với nhau, ít nhất là trong lĩnh vực công nghệ. Nghiên cứu ứng dụng chỉ có thể phát triển nếu như chúng ta có một mô hình lý thuyết đầy đủ. Ngược lại, những yêu cầu từ thực tế lại đặt ra các vấn đề mới cho nghiên cứu lý thuyết. Trong giai đoạn phát triển nhanh chóng về mặt công nghệ như hiện nay, những kết quả mà nghiên cứu lý thuyết mang lại có thể áp dụng vào thực tế chỉ trong vòng vài năm, trong khi trước đây phải mất vài chục năm. Như vậy, về mặt công nghệ, thật khó để phân biệt giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Một điều không hay mà tôi được biết ở Việt Nam là chúng ta thường có ý xem nhẹ các nghiên cứu lý thuyết, kể cả trong những lĩnh vực có tính ứng dụng cao. Điều này bắt nguồn từ việc chúng ta không thấy được tiềm năng ứng dụng của những nghiên cứu lý thuyết đó. 


Anh nghĩ sao khi có nhận xét “một bằng sáng chế thật ra không bằng một công trình trên Science hay Nature, hay các bài báo khoa học ISI nói chung”?


- Việc đánh giá bài báo khoa học và bằng sáng chế thì tùy thuộc vào quan điểm mỗi người. Đứng trên khía cạnh kinh tế, bằng sáng chế có thể được xem trọng hơn. Tuy nhiên về mặt học thuật thì bài báo khoa học có tiếng vang hơn. Bằng sáng chế có thể rất đơn giản nhưng giá trị về kinh tế lại rất lớn. Chẳng hạn như QUALCOMM có bằng sáng chế về công nghệ CDMA cho điện thoại di động, và nhiều nước đã phải trả rất nhiều tiền để dùng công nghệ này. Ngược lại các bài báo khoa học thường đặt những viên đá đầu tiên cho một xu thế công nghệ. Tôi có thể lấy ngay một ví dụ, tất cả những bước phát triển trong ngành viễn thông nói chung và thông tin di động nói riêng đều bắt đầu từ bài báo “A Mathematical Theory of Communication” của Claude Shannon đăng trên tạp chí “The Bell System Technical Journal” năm 1948. Hiểu theo một nghĩa rộng, bài báo khoa học thường đóng góp vào kiến thức chung của nhân loại, còn bằng sáng chế là tài sản riêng.


Trong rất nhiều trường hợp, bài báo khoa học và bằng sáng chế có liên hệ với nhau. Thậm chí là giống nhau về ý tưởng nhưng cách trình bày khác nhau. Một ví dụ rất nổi tiếng trong lĩnh vục công nghệ không dây là nhà nghiên cứu Siavash Alamouti. Bài báo đăng trên tạp chí IEEE Selected Areas in Communications năm 1998 của ông được IEEE Communication Society đánh giá là 1 trong 57 bài báo quan trọng nhất trong tất cả các bài báo của hiệp hội trong vòng 50 năm qua. Kỹ thuật mà ông ấy trình bày trong bài báo đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, và có mặt hầu hết trong các tiêu chuẩn truyền thông không dây hiện nay. Một điều thú vị là ông ấy cũng đã đăng ký bản quyền cho ý tưởng trong bài báo này. Nghĩa là ông ấy đang hưởng lợi kinh tế từ bản quyền, và nổi tiếng về mặt khoa học từ bài báo của mình.


Có ý kiến cho rằng "Bằng sáng chế không phải là thước đo công bằng cho một nền khoa học, nhất là đối với các nước kinh tế còn khó khăn" và "Bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế hơn là để so sánh hơn kém năng lực khoa học". Anh nghĩ sao về những nhận định này? 


-
TS. Trần Lê Nam là đồng tác giả của bằng sáng chế Mỹ mang số 
"US 2008/0225936 A1". Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngành công nghệ điện tử tại Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc, TS. Trần Lê Nam được mời làm giảng viên tại trường. Sau đó anh quyết định làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Học Viện Kỹ Thuật Hoàng Gia Thụy Điển (KTH) để trau dồi kiến thức tại một trong những trung tâm nghiên cứu xuất sắc của châu Âu và thế giới. Hiện tại anh đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trung tâm xuất sắc về truyền thông không dây (Center of Excellence for Wireless Communications) thuộc Đại học Oulu ở Phần Lan.
 Không có thước đo nào hoàn hảo để đánh giá một nền khoa học. Tuy nhiên số lượng bằng sáng chế cũng là tiêu chí quan trọng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, các nước phát triển đều có số lượng bằng sáng chế cao, và những nước có ít bằng sáng chế thì nền khoa học kỹ thuật kém phát triển. Có một ngoại lệ mà chắc ai cũng biết, đó là nước Nga có nền khoa học cơ bản và ứng dụng thuộc hàng mạnh của thế giới nhưng số lượng bằng sáng chế không nhiều. Chuyện này chúng ta nên đề cập rõ hơn vào dịp khác. Tuy nhiên cũng không nên lấy một vài trường hợp cá biệt để xem nhẹ bằng sáng chế. 


Tất nhiên bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế. Nhưng nó cũng phần nào phản ánh trình độ phát triển công nghệ. Ví dụ như Hàn Quốc từ năm 2007 đến 2011, số bằng sáng chế lần lượt là 7.264, 8.730, 9.566, 12.508, và 13.239, điều này cũng trùng hợp với giai đoạn phát triển mọi mặt về nền khoa học công nghệ của Hàn Quốc, điển hình là ngành công nghệ điện tử và xe hơi của họ đã leo lên hàng đầu thế giới. 


Theo ý kiến cá nhân của tôi, đối với một nước kinh tế còn khó khăn như Việt Nam, thì chúng ta vẫn nên khuyến khích việc đăng ký bằng sáng chế nhưng phải có chọn lọc. Đồng thời chính phủ cũng nên dành kính phí để hỗ trợ việc triển khai các ý tưởng đó vào thưc tế. Các nước mà tôi từng làm việc đều có viện nghiên cứu ứng dụng hoặc các cơ quan hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng mạnh. Ví dụ Hàn Quốc có viện ETRI chuyên về nghiên cứu ứng dụng (http://www.etri.re.kr/eng/), Thụy Điển có VINNOVA (http://www.vinnova.se/en/), Phần Lan có TEKES (http://www.tekes.fi/en/). 

Lại có ý kiến cho rằng "Rất ít sáng chế ứng dụng thực sự trong sản xuất" nên không cần phải đăng ký bằng sáng chế vì rất tốn kém. Theo anh thì nhận định này có hoàn toàn đúng không?



Thực tế là số lượng bằng sáng chế đang được sử dụng thì ít hơn rất nhiều so với số lượng đã được đăng ký. Tuy nhiên nếu nói rằng không cần phải đăng ký bằng sáng chế là hoàn toàn sai. Đối với các công ty, số lượng bằng sáng chế chưa được sử dụng được xem như của để dành, chứ không phải không có ứng dụng thực sự trong sản xuất. Ví dụ như Kodak rao bán hơn 1000 bằng sáng chế của mình và dự kiến có thể mang về 2 tỷ USD, nhằm thoát khỏi tình trạng phá sản. Hoặc như công ty Nortel từng bán 6,000 bằng sáng chế với trị giá khoảng 4,5 tỷ USD. Bằng sáng chế bao giờ cũng đi trước 1 bước so với thực tế, và ở dạng tiềm năng. Nếu đợi đến khi thấy rõ ứng dụng của một nghiên cứu nào đó rồi mới đăng ký hoặc không cần đăng ký, chúng ta lúc nào cũng là người đi sau.

Tại sao các nước hay đăng ký bằng sáng chế Mỹ?



- Bằng sáng chế của Mỹ thường được quan tâm vì thị trường Mỹ bao giờ cũng là đích ngắm của các công nghệ mới. Khẳng định được vị trí ở thị trường khó tính này thì việc chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là việc nằm trong tầm tay. Quốc gia nào cũng có cơ quan đăng ký bằng sáng chế của riêng mình, nhưng bằng sáng chế của Mỹ mới là tấm giấy thông hành và cũng là lá khiên bảo vệ khi chúng ta bước ra thế giới. Khi tôi còn học ờ Hàn Quốc, trong các dự án với các công ty, họ đều ưu tiên đăng ký bằng sáng chế của Mỹ trước. Trong những năm gần đây, các công ty về điện thoại di động của Trung Quốc như HUAWEI, ZTE đã phát triển rất nhanh, và đã làm cho các đại gia khác e sợ. Nếu tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy là các công ty này đã có nhiều bằng sáng chế của Mỹ trước đó khá lâu. Khi nào Việt Nam chúng ta có những công ty hướng đến toàn cầu như thế, việc đăng ký bằng sáng chế Mỹ là điều tất nhiên. Còn nếu chúng ta chỉ muốn phục vụ cho thị trường nội địa hoặc chỉ là làm gia công cho nước ngoài, thì đăng ký bằng sáng chế Mỹ là không cần thiết.


Theo anh, Việt Nam có thể gặp những khó khăn gì khi đăng ký bằng sáng chế Mỹ? Và những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế (Mỹ chẳng hạn) một khi họ có phát minh mới không, thưa anh? 


- Việc những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế hay không thì tùy thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân và chính sách phát triển khoa học của nước đó. Thế giới cũng có nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng nhưng không có nhiều bằng sáng chế vì họ không quan tâm nhiều đến giai đoạn biến ý tưởng đó vào sản phẩm ứng dụng. Đối với họ, những khám phá đó đem lại niềm vui khám phá khoa học cho bản thân, và kết quả là của mọi người. Vì vậy việc công bố các công trình trên các tạp chí khoa học là đủ. Việc này rất đáng trân trọng. Ngược lại, cũng có rất nhiều giáo sư đại học, đặc biệt là các giáo sư ở Mỹ trong các lĩnh vực khoa hoc ứng dụng, đã xin bằng sáng chế cho những ý tưởng của mình và dựa vào đó thành lập công ty của riêng mình. Ví dụ như giáo sư Andrea Goldsmith của đại học Standford là người đồng sáng lập và là CTO của công ty Quantenna Communications, một công ty hàng đầu thế giới chuyên về thiết kế vi mạch cho chuẩn 802.11n. 


Theo tôi, nếu nàh khoa học Việt Nam có ý tưởng tốt và khác biệt thì việc đăng ký không có gì trở ngại, ngoài các thủ tục pháp lý mà chúng ta bắt buộc phải thực hiện. Điều khó khăn nhất là chúng ta không biết những cái gì đã được đăng ký bản quyền. Hay nói cách khác, chúng ta không biết rõ công nghệ trên thế giới đã tiến đến đâu để tập trung trọng tâm đầu tư vào đâu. Điều này làm tôi nhớ lại khi học đại học ở Việt Nam, có những cái mà tôi tưởng là mới thì thực ra thế giới đã làm từ lâu rồi. 


Xin chân thành cảm ơn TS. Trần Lê Nam về những trao đổi bổ ích này.


---------------------------------------------------------------------------


1. http://levanut.wordpress.com/2012/01/21/vi%E1%BB%87t-nam-co-bao-nhi%E1%BB%81u-b%E1%BA%B1ng-sang-ch%E1%BA%BF


(Vĩnh Thuận sưu tầm - 5/6/2012 - từ Tạp chí Tia Sáng)