Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Về bánh trung thu

Về bánh trung thu 
Bánh trung thu lạ, độc nhất năm nay

Ngoài hương vị và kiểu cách truyền thống, năm nay, nhiều chủ cơ sở sản xuất đã “lên đời” chiếc bánh trung thu để lấy lòng khách hàng.
-------------------------------------------

-------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Anh (sinh viên ĐH Nông nghiệp Hà Nội) vừa hí hửng khoe vừa đặt được một cặp bánh hương vị sô cô la tại cơ sở sản xuất bánh trung thu gia truyền trên phố Thụy Khuê, Ba Đình. Ngọc Anh chia sẻ: “Mình không thích ăn bánh nướng, bánh dẻo nhưng lại rất nghiền cafe và sô cô la, thế nên đã mò lên đây đặt. Bánh có vỏ mỏng, giòn, thơm và mùi vị sô cô la rất đặc biệt”. .
Bên cạnh bánh nhân đậu xanh, hạt sen, lạp sườn, trứng muối truyền thống, năm nay, nhiều hãng bánh tung ra các loại bánh dẻo, bánh nướng nhân trà xanh, đậu đỏ, khoai môn, vừng đen, sô cô la... Mới lạ hơn, bánh trung thu năm nay có sự góp mặt của dòng bánh Mochi nhân mứt hoa quả: dứa tươi, dâu tây, chanh mật ong, cam, kiwi... Bánh trung thu không còn chỉ "bó hẹp" trong cảm giác ngọt khé cổ, nhân lổn nhổn thịt mỡ... mà dần được đa dạng hóa, đáp ứng khẩu vị của mọi khách hàng.
Bánh trung thu, hương vị, khách hàng, bánh dẻo, bánh nướng, truyền thống
Bánh trung thu nhân thạch rau câu
Ông Nguyễn Võ Hưng, nhân viên cơ sở bánh Ninh Hương (22 Hàng Điếu, Hoàn Kiếm), tiết lộ, bên cạnh các vị truyền thống, bánh trung thu ở đây sẽ có thêm hương vị hoa quả, như sen Quảng Bá, quất Nghi Tàm, hoa bưởi Diễn. Dù không sản xuất "đại trà" bánh trung thu vị lạ như khoai môn, sô cô la... nhưng nếu khách có nhu cầu, một số cơ sở gia truyền sẵn sàng phục vụ. Theo ông Hưng, chỉ cần liên hệ đặt trước với cơ sở sản xuất, khách hàng sẽ được sở hữu những chiếc bánh đúng khẩu vị, sở thích
Bánh trung thu, hương vị, khách hàng, bánh dẻo, bánh nướng, truyền thống
Bánh trung thu sô cô la
Một điều đặc biệt nữa là năm nay, các cơ sở sản xuất bánh rất chiều khách hàng. Chị Nguyễn Thanh, chủ cửa hàng bánh trung thu handmade Chi Ngân - địa chỉ bánh quen thuộc của người dân cư khu Trung Tự - Đống Đa, tâm sự: "Tuy mỗi cơ sở sản xuất bánh truyền thống có công thức riêng biệt, nhưng nếu khách hàng muốn chỉnh sửa thành phần nhân để phù hợp với khẩu vị, chẳng hạn như bớt mỡ phần, tăng hạt dưa, hạt vừng... cơ sở sẵn sàng đáp ứng". Sự ưu ái này giúp những khách hàng ăn chay hay mắc bệnh tiểu đường, mỡ máu cao, bệnh tim mạch... có thể an tâm thưởng thức bánh.
Bánh trung thu, hương vị, khách hàng, bánh dẻo, bánh nướng, truyền thống
Bánh trung thu nhân hoa quả
Ngoài việc mới lạ trong hương vị, bánh trung thu năm nay còn được “thay áo” mới đẹp hơn, bắt mắt hơn.

Hiện trên thị trường đang xuất hiện dòng bánh trung thu rau câu khá lạ mắt. Vẫn trên nền chiếc bánh trung thu truyền thống, bánh trung thu rau câu được biến tấu về màu sắc. Vỏ bánh được làm từ loại thạch rau câu mềm, mát lạnh, vốn được nhiều người ưa thích, có sắc màu nổi bật và những tạo hình khá bắt mắt. Lớp nhân bên trong vẫn giữ nguyên hương vị đặc trưng, tuy nhiên có chế biến nhạt hơn một chút để thực khách bớt "ngán" và hợp khẩu vị với nhiều người hơn. Ngoài ra, phần trang trí bên ngoài bánh cũng có những cải tiến, phía trên mặt bánh được tạo hình bằng màu sắc hấp dẫn và hình thù lạ như màu đỏ, hoa vàng năm cánh, các loại quả...
Bánh trung thu, hương vị, khách hàng, bánh dẻo, bánh nướng, truyền thống
Bánh trung thu hình thù ngộ nghĩnh với các nhân vật truyện tranh hay phim hoạt hình được trẻ em yêu thích.
Hộp bánh trung thu truyền thống cũng được thay bằng hộp bánh hình ngôi nhà và những chiếc bánh hình nhân vật hoạt hình như gấu Pooh, mèo Kitty; hộp bánh bằng gỗ kiểu như hộp cơm, bên trong có bát đựng riêng từng chiếc bánh; hộp bánh là chiếc đàn piano trắng, nắp đàn in hình mèo kitty xinh xắn; hộp bánh là hình chiếc ô tô, những chiếc bánh nướng xinh xinh bên trong cũng hình chuột Mickey.Viet Bao.vn (Theo Vietnamnet)


Đọc thêm
Vĩnh Bảo sưu tầm 1/9/2013..


Những tác dụng phụ chưa biết của nấm Linh chi

Những tác dụng phụ chưa biết của nấm Linh chi


Linh chi vốn được biết đến như một loại thảo dược quý hiếm, chỉ có lợi mà không có bất kỳ tác hại nào. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng linh chi, nếu không biết sử dụng đúng cách, sẽ gây ra những tác hại khôn lường.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Rất tốt cho sức khỏe
Chống ung thư: Linh chi có chứa các hoạt chất kháng ung thư như triterpenes, một chất ngăn ngừa sự lan rộng của các khối u ác tính. Hợp chất đường đa phân tử polysaccharides giúp tăng cường chức năng miễn dịch và cũng là những chiến binh tiêu diệt ung thư.
Trong một số nghiên cứu gần đây, linh chi được chứng minh là giúp “đánh bật” ung thư theo nheieuf cách khác nhau, chẳng hạn như thử nghiệm trên động vật, kết quả cho thấy linh chi có thể ngăn ngừa di căn.
Tăng testosterone: Linh chi giúp cơ thể sản sinh ra hợp chất hữu cơ thành steroid. Điều này có nghĩa nó có thể giúp đẩy nhanh trạng thái đồng hóa, giúp cơ thể tái cơ cấu và củng cố, phát triển các cơ bắp. Đồng thời, loại nấm này cũng giúp ngăn chặn một loại enzyme chuyển đổi hoóc-môn testosterone thành dihydrotestosterone, lưu lại nhiều testosterone hơn trong cơ thể, qua đó tăng chức năng sinh dục.
Làm loãng máu: Ganoderma trong linh chi có tác dụng làm loãng máu, bởi vậy loại nấm này có thể được sử dụng để trị huyết áp cao và chứng kích động.
Tốt cho gan: Axit ganoderic trong nấm linh chi giúp trị các chứng bệnh liên quan đến gan ở người.
Kháng khuẩn: Ngoài việc tăng cường chức năng miễn dịch, ganoderma còn có tác dụng kháng khuẩn, giúp chống lại các loại vi khuẩn và virut thường gặp như HSV-1, HSV-2, vi rút cúm, viêm miệng…
Giãn mạch máu: Vì có chứa alkaloid(có chứa nito) và adenosine nên linh chi rất hữu dụng trong việc làm giãn mạch máu. Điều nàyđồng nghĩa với linh chi giúp mạch máu giãn nở, cho phép nhiều máu, oxi và chất dinh dưỡng đến khắp nơi trong cơ thể, thông qua đó giúp tăng năng lượng và giúp đẩy nhanh quá trình hàn gắn vết thương. Ngoài ra, linh chi cũng giúp giảm huyết áp.
Nhưng cung có tác dụng phụ
Tuy có rất nhiều lợi ích, việc sử dụng loại nấm thần kỳ này cũng cần cẩn thận. Những người huyết áp thấp, những người đang điều trị bệnh tăng huyết áp, hoặc những người phải phẫu thuật không nên dùng linh chi. Huyết áp thấp có thể tốt cho cơ thể, nhưng nếu nó xuống quá thấp sẽ gây nên tình trạng hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và ngăn chặn sự hình thành các màng máu, làm cho máu chảy không dừng. Bởi vậy, nên tham khảo ý kiến bác sỹ trước khi sử dụng linh chi.
Hơn nữa, lượng testosterone tăng cao dẫn đến tăng cảm giác ham muốn tình dục và căng cơ, nhưng lại có thể gây ra hói đầu và tạo mụn. Linh chi tăng lượng nhỏ testosterone nên không mang đến những tác dụng phụ này. Tuy nhiên, nếu có điều gì bất thường xảy ra, bạn nên ngừng dùng linh chi một thời gian và theo dõi các biểu hiện trên cơ thể.
Quan trọng hơn, một số người bị dị ứng với linh chi hoặc nếu dị ứng với các loại nấm, bạn nên cẩn thận khi dùng “thần dược” này.
http://www.xaluan.com/

'Thần dược' nấm linh chi 

Tôi đang uống nấm linh chi để ngăn ngừa bệnh và cải thiện sức khỏe. Xin bác sĩ tư vấn về công dụng chữa bệnh của loài nấm này và có khả năng trị bệnh ung thư không?(Bạch Ngọc Giàu).
Trả lời:
Chỉ có 6 loại nấm linh chi được nghiên cứu tường tận về khả  năng trị liệu của chúng, đó là nấm linh chi đỏ, đen, xanh da trời, trắng, vàng và tím. Trong 6 loại này, linh chi đen và đỏ được coi là có tác dụng trị liệu tốt nhât và được dùng nhiều nhất trên thế giới hiện nay.
Trong 2 loại  này, nấm đỏ được chứng minh là tốt nhất cho sức khỏe vì nó thúc đẩy sự làm việc của hệ thống miễn dịch, làm tăng sự hoạt động của cơ thể và chống lão hóa. Còn nấm đen thường được bán trong các tiệm thuốc đông dược. Loài nấm này có nhiều kích cỡ. Thường các tay nấm trưởng thành có đường kính 6 inches nhưng cũng có nhưng tay nấm có được kính đến 10 inches.
Phần lớn các sản phẩm giới thiệu là “từ thiên nhiên” được làm bằng nấm linh chi đen. Được coi như là một dược thảo bổ dưỡng nhưng nấm linh chi đen không có giá trị bằng linh chi đỏ vì nó không chứa nhiều Polysaccharides bằng nấm linh chi đỏ.
Nấm linh chi được coi là dược thảo siêu hạng  bởi vì con người có thể dùng nó lâu dài với số lượng lớn mà vô hại.Trong khoảng 2.000 năm qua con người vẫn không tìm ra được tác dụng phụ nào của nấm linh chi. Tuy nhiên những người quá nhạy cảm cũng có thể gặp một vài triệu chứng như cảm thấy hơi khó tiêu, chóng mặt, hay ngứa ngoài da trong thời gian đầu dùng. Nguyên nhân là do phản ứng mạnh của cơ thể bài tiết những chất độc có từ thức ăn và chứng tỏ tác dụng tốt của nấm linh chi. Những người này sẽ trở lại bình thường sau một thời gian.
namlinhchitriungthu-jpg[1214088603].jpg
Nấm linh chi đỏ được coi là thảo dược siêu hạng, tốt nhất trong tất cả các loại nấm linh chi. Ảnh: linhchi.net.
Thông thường, người ra có thể nhận thấy công hiệu từ 10 ngày tới 2 tuần sau khi dùng nấm linh chi. Và nếu được dùng liên tiếp trong 2 tháng sẽ cảm nhận được kết quả tuyệt vời của nấm linh chi.
Nấm linh chi có thể được cho mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em và phụ nữ mang thai hoặc dùng bất cứ lúc nào kể cả khi không bị  bệnh. Lợi ích nhất nó là nâng đỡ và kiến tạo hệ thống miễn dịch. Vì vậy, nấm cũng rất có lợi cho một người khỏe mạnh. Tuy nhiên tốt hơn hết nên hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng.
Công dụng của nấm linh chi: Ổn định huyết áp, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư, giải độc gan, hiệu quả tốt với các bệnh về gan như viêm gan, xơ gan, gam nhiễm mỡ..., nâng cao sức đề kháng, phòng trừ  bệnh tật, phòng chữa bệnh tiểu đường, ngăn chặn quá trình làm lão hóa, giúp cơ thể tươi trẻ, chống ung thư tuyến tiền liệt, chống đau đầu và tứ chi, giảm mệt mỏi... Ngoài ra linh chi giúp làm sạch ruột, chống táo bón mãn tính và tiêu chảy. Đối với các bệnh về hô hấp, nấm hiệu quả tốt tới 80% giúp bệnh thuyên giảm và khỏi hắn ở các chứng viêm phế quản dị ứng, hen phế quản, chống béo phì..
Cụ thể:
- Tác dụng chống ung thư: Chất germanium ngăn chặn  ưng thư trong cơ thể vì nó loại trừ  và kìm hãm sự tăng trưởng của tế bào ung thư làm sản sinh phong phú các loại vitamin, chất khoáng, đạm cần cho cơ thể.
- Đối với hệ bài tiết: Nhóm sterois trong nấm linh chi có tác dụng giải độc gan, bảo vệ  gan ngừng tổng hợp cholesterol, trung hòa vi rút ức chế  nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nên có hiệu quả tốt đối với bệnh về gan mật như viêm gan, xơ gan, gan nhiềm mỡ
- Phòng chữa bệnh tiểu đường: Nấm có chất Polysacchanride làm khôi phục tế bào tiểu đảo tuyến tụy và từ đó thúc đẩy quá trình tiết insulin, cải thiện cơ bản nhiều năng insulin (là nguyên nhân chín gây ra bệnh đái đường) làm giảm đường huyết trong máu người mắc bệnh tiểu đường.
- Tác dụng với da: Giúp cơ thể bài tiết các độc tố trong cơ thể, có tác dụng loại bỏ các sắc tố lạ trên da làm cho da dẻ đẹp, hồng hào, chống các bệnh ngoài da như dị ứng, trứng cá.
- Đối với hệ thần kinh: Làm giảm mệt mỏi, trấn tĩnh, hỗ  trợ thần kinh. Giúp thư giãn thần kinh, làm giảm  ảnh hưởng của Caffeine và làm thư giãn bắp thịt. Dùng nấm linh chi để trị chứng đau đầu, mất ngủ, thần kinh suy nhược, stress gây lo âu căng thẳng sẽ có hiệu quả tốt.
- Trên hệ miễn dịch: Tăng cường hoạt động của hệ  thống miễn dịch và kháng siêu vi, giúp cơ thể  luôn tươi trẻ và tăng tuổi thọ. Trong điều trị  viêm gan siêu vi, nấm linh chi có tác dụng nâng cao hoạt tính của đại thực bào và lympho bào nhờ  tăng chức năng sản xuất interferon trong cơ thể. Làm sản sinh phong phú các loại vitamin, chất khoảng, chất đạm cần thiết cho cơ thể.
- Tác dụng chống dị ứng nhờ các Acid Ganoderic. Nấm linh chi tác dụng như một chất oxy hóa khử  các gốc tự độc trong cơ thể chống lão hóa, chống ung thư, bảo vệ và chống ảnh hưởng của  các tia chiếu xạ. Nấm cũng có tác dụng giúp cơ  thể thoải loại nhanh các chất độc kể cả các kiềm loại nặng.
- Đối với hệ tuần hoàn: Chống nhiễm mỡ, xơ mạch và các biến chứng (bệnh xơ vữa động mạch vành). Có tác dụng đặc biệt trong việc loại trừ chất cholesterol trong máu và các thành mạch, trợ tim, lọc sạch máu, làm giảm cholesterol, giảm xơ cứng thành động mạch, thúc đẩy quá trình lưu thông máu, tăng cường tuần hoàn máu.
Làm giảm huyết áp, điều hòa và  ổn định huyết áp, có tác dụng rất tốt cho những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường kèm theo huyết áp cao. Giảm mệt mỏi, hỗ trợ thần kinh, chống đau đầu và tứ chi, điều hòa kinh nguyệt.
- Đối với tiêu hóa: Linh Chi làm sạch ruột, thúc đẩy hệ  tiêu hóa, nên chống táo bón mãn tính và tiêu chảy.Lương y Vũ Quốc Trung
Đọc thêm


Vĩnh Bảo sưu tầm 1/9/2013

Nước vối: Giải khát và chữa bệnh

Nước vối: Giải khát và chữa bệnh

(Dân trí) - Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày. Đặc biệt nó lại giàu dược tính nên được dùng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh chứng hiệu quả.

  
Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng.

Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin... khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu.

Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis, chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm.

Nước vối và nụ vối

Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gam trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hóa mạnh. Khả năng chống ô xy hóa (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tụy, phục hồi các men chống ô xy hóa trong cơ thể.

Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên.


Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hóa.

Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc  các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa...

Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết; nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó.

Dưới đây là vài phương thuốc trị liệu có dùng vối.

Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.

Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày.

Hoặc nụ vối 10 - 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.

Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.

Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 - 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.
Theo BS. Hoàng Xuân Đại


Nụ vối - Vị cứu tinh của tôi

A- A+ ‹Đọc›
Tắt hết quảng cáo hãy nhấn nút 
Mẹ mình mang từ quê ra nửa lạng nụ vối, khoe ầm lên đây nụ vối Việt Nam xịn, không phải nụ vối Trung Quốc đâu nhé. Mẹ pha, ủ trong giành tích rồi luôn miệng giục mình uống, ừ thì uống cho xong chuyện, thấy mùi thơm hắc quen thuộc, cũng nhơ nhớ, rồi thôi.

Nụ vối - Vị cứu tinh của tôi
ảnh minh họa
Nào ngờ sáng hôm sau lúc đi vệ sinh không thấy đau bụng té re như bình thường, kết quả lại rất đẹp nữa, chục năm nay rồi chữa đủ loại thuốc có ăn thua gì đâu, đến nỗi mấy đứa bạn thân còn khuyên mình đi đâu nên cõng cái toilet theo cùng, vậy mà…
Nhưng mình chưa dám tin vào sự thần kỳ đó, nên cứ im lặng uống nước vối và theo dõi cái bụng mình xem sao. Mấy hôm sau cũng vậy, kết quả ngon đều, mình mừng hú, chả lẽ cái nụ vối quê mùa lại có thể chữa được viêm đại tràng mãn và đường ruột kích ứng, căn bệnh thành thị điển hình của những kẻ quá nhạy cảm, hay lo lắng như mình. Mình đã từng chữa nó với đủ thứ thuốc hiện đại mà bệnh chỉ thuyên giảm một thời gian, hết thuốc thì lại đâu vào đấy.

Mỗi ngày mình đều đặn uống một đến hai cốc nước vối. Uống lúc nào cũng được, kể cả lúc đói hay no. Bụng mình yên ổn, không nhộn nhạo, không tức anh ách, không đau quặn sau ăn như trước, không bị đi sống phân triền miên nữa. Sung sướng biết bao. Mình bỗng nhớ câu “Người Việt mình nằm trên đống thuốc mà chết!”. Quả vậy, mình đau khổ bao năm về căn bệnh này, tốn bao nhiêu thuốc thang, đi hết bệnh viện đến trung tâm y tế, nghe người nọ người kia mách, thay đổi không biết bao loại thuốc tây mà không chữa dứt được, thì nay, nụ vối bình dân quê mùa lại cứu được mình.

Thế mà mình đâu biết quý trọng cây vối. Hồi trước nhà mình có cây vối cổ thụ bờ ao, đến mùa có nụ, bà mình thuê người hái, ủ hàng chục thúng mang ra chợ bán, còn giữ lại một thúng nhà uống, chia cho họ hàng, bà con thân quen uống cả năm, dôi lắm. Vậy mà đã hết đâu, đến mùa quả vối chín, bọn trẻ con chúng mình leo lên cây vẫn chén mê mải quả vối chín đỏ ối, ăn chua chua thơm thơm hăng hắc rất mê. Vừa trèo mình vừa rung cho quả vối chín rụng xuống ao, xem lũ cá quả cá trôi tham lam lao lên đớp rất vui.

Mẹ mình còn chúa hơn. Mỗi khi làm đồng về đói meo, mẹ lục chạn vét nốt bát cơm nguội, chan nước vối đặc rồi ăn với nửa quả cà bát dẻo vừa xuống nén thì ngon giời ngon bể, chả hạnh phúc ẩm thực nào sánh được. Giờ đây mỗi lần con gái mẹ ở nước ngoài về, sẵn có ngoại tệ đưa mẹ đi nhà hàng năm sao chiêu đãi cao lương mĩ vị, nhưng mẹ vẫn đánh tụt hạng so với cơm nguội chan nước vối đặc ăn cùng cà mới xuống nén. Mẹ còn bảo cây vối chả bỏ đi thứ gì, ủ xong thì cặng vối uống trước, nụ vối uống sau, nụ bỏ quên xó xỉnh vài năm lấy ra vẫn thơm ngon, mốc meo khóc thét không làm chi nổi, chất kháng sinh trong nụ vối mạnh thế đấy. Còn lá vối tươi có thể đun lên uống, ngon hơn lá chè xanh nhiều. Lá non lá già đều có thể ủ rồi phơi khô uống quanh năm. Này nhé, nước lá vối tươi rót ra bát sứ nhẩn nha uống, ăn chơi thêm củ khai lang bở thì ngon chết lặng!

Bà mình tuổi già mất đi, nhà mình mọi người chuyển sang uống chè, cà phê, nước ngọt có ga vân vân, cây vối bờ ao bị chặt bỏ, trồng thay vào đấy cây liễu cho nó thơ mộng. Mình cũng quên dần cây vối, lẽ tất nhiên của cuộc sống xoay vần, thay đổi, những giá trị mới thay dần giá trị cũ. Nhưng oái oăm thay, có khi nhọc công nghiên cứu, kiếm tìm giá trị mới thay cho giá trị cũ, nhưng rồi lại chẳng bằng giá trị cũ, mà lại làm mất đi giá trị cũ mới uổng làm sao. Khốn thay cho loài người cuồng quay vội vã và nông nổi.

Còn riêng mình thì ngàn lần cảm ơn nụ vối thân yêu bấy lâu mình lãng quên. Nhờ nụ vối mà mình xóa hẳn được nỗi đau buổi sáng khi vào toilet, giải quyết căn bệnh đường ruột mãn tính, và mình lại được thoải mái ăn những món cay bỏng lưỡi mà không lo kích thích đường ruột.

Nụ vối thực sự là vị cứu tinh của mình! Mình sẽ về Hưng Yên quê mình, trồng lại cây vối bên bờ ao.


CÔNG DỤNG KHÔNG NGỜ CỦA CÂY, LÁ VÀ NỤ VỐI

Nụ vối và lá vối, từ lâu đã được nhân dân ta dùng để nấu nước uống. Nước sắc nụ vối hoặc lá vối có vị thơm dễ chịu, lại có tác dụng kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng và chống đầy bụng.
Theo Đông y: Nụ vối có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng thanh nhiệt, tán độc, tiêu thực, hóa trệ (trừ tích trệ). Dùng chữa ngoại cảm phát sốt, sợ rét, đau đầu và ăn uống không tiêu. Ngoài ra còn dùng chữa mụn nhọt lở loét ngoài da.
Kết quả nghiên cứu của phòng Đông y thực nghiệm, Viện nghiên cứu Đông y cho thấy: Nụ vối và lá vối có tác dụng kháng sinh đối các nhiều loại vi khuẩn như Gram+, Gram-, Streptococus (hemolytic và staman), vi trùng bạch hầu, Staphyllococcus, Pneumcoccus, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis, ... và không gây độc hại đối với cơ thể. Chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm.
Viện Đông y đã thử nghiệm dùng nụ vối, lá vối chữa một số bệnh đường ruột, viêm họng, bệnh ngoài da đạt kết quả tốt; có thể dùng dưới dạng thuốc sắc, thuốc cao hay thuốc viên hoặc dưới dạng muối natri.
Hàng ngày có thể dùng 6-12g nụ vối khô, nấu hoặc hãm nước uống thay trà, để tăng cường chức năng tiêu hóa, dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp và tiêu hóa.
Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng.
Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin... khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu.
Nước vối và nụ vối
Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gam trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hoá mạnh. Khả năng chống ô xy hoá (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thuỷ tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tuỵ, phục hồi các men chống ô xy hoá trong cơ thể.
Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên.
Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hoá tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hoá; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hoá.
Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc  các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa...
Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết; nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó.
Dưới đây là vài phương thuốc trị liệu có dùng vối.
Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.
Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày. Hoặc nụ vối 10 - 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.
Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.
Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 - 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.
Theo kinh nghiệm của dân gian, lá vối tươi có kết quả trị bệnh cao hơn so với lá đã ủ. Ngoài ra, có thể dùng lá vối để chữa những bệnh hoặc tổn thương sau:
Chữa bỏng: Vỏ cây vối cạo bỏ vỏ thô, rửa sạch, giã nát, hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước, bôi lên khắp chỗ bỏng. Thuốc sẽ làm giảm tiết dịch, hết phồng, dịu đau, hạn chế sự phát triển của vi trùng.

Viêm gan, vàng da: Dùng rễ 200g mỗi ngày, nấu sắc uống.

Viêm da lở ngứa: Sắc lá vối lấy nước đặc để bôi.
Chữa viêm đại tràng mạn tính, đau bụng âm ỉ và thường xuyên đi phân sống: Khoảng 200g lá vối tươi, xé nhỏ, chế vào 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước. 

Lá, vỏ cây, nụ và rễ vối đều có thể dùng chữa bệnh. Nước lá và nụ vối có hoạt chất ức chế sự phát triển của một số vi trùng Gram âm và Gram dương. Hoạt chất này dễ tan trong nước nên chỉ cần pha nước sôi là được.

Lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Mỗi khi ăn một bữa có nhiều thịt, mỡ, người ta thường nấu một nồi nước vối thật đặc để uống cả ngày. Chất đắng trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn nhưng không hại vi khuẩn có ích trong ruột
Theo Amthuc365.vn
.
                                                                                                            


Lại nói về nước vối
Trong buổi họp nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cụ Nguyễn Công Tiễu chúng tôi được uống nước vối vì cụ Tiễu là người đầu tiên nghiên cứu cây vối (Eugenia operculata Roxb. Cleistocalvx operculatatus Roxb. Merr.et Perry, họ Sim MYRTACEACE) vào năm 1939, đã báo cáo tại hội nghị Thái Bình Dương thứ 6 năm 1940, trang 714 - 725.
         Năm 1954, Andre Foucaud cũng đã nghiên cứu cây vối về mặt thực vật và hoá học trong luận án tiến sĩ dược học : “Góp phần nghiên cứu cây thuốc miền Bắc Việt Nam “. Năm 1968, Nguyễn Đức Minh ở Viện Y học cổ truyền, đã nghiên cứu thấy lá và nụ vối có tác dụng kháng sinh, hoạt chất kháng sinh tan trong nước, vững bền ở nhiệt độ nước sôi.

Cây vối là một cây cỡ vừa, cao 5 - 6m, có khi hơn. Cành cây tròn hay hơi hình 4 cạnh, nhẵn. Cuống lá dài 1- 1,5cm. Phiến lá dai, cứng, bầu dục hay trái xoan ngược, hình trứng rộng, giảm nhọn ở gốc, có mũi nhọn ngắn, 2 mặt cùng màu nhạt có đốm màu nâu, dài 8 - 9cm, rộng 4 - 5cm. Hoa gần như không cuống, màu lục nhạt, trắng. Cụm hoa hình tháp, trải ra ở kẽ các lá đã rụng. Quả hình cầu hay hình trứng, đường kính 7 - 12 mm, nháp, có dịch. Toàn lá, cành non và nụ có mùi thơm dễ chịu đặc biệt của vối. Mọc hoang và trồng.
          
           Lá dùng vào mùa nóng pha nước uống như pha chè. Nước vối uống khi còn rất nóng. Nụ vối hái vào tháng 6 cũng dùng pha nước uống. Nước lã đun chín thì chỉ sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết, còn nước lá vối thì sau cùng thời gian đó cơ thể chỉ đào thải khoảng 1/5 lượng nước đã uống. Phần còn lại được thải ra từ từ. Được cơ thể lưu trữ lâu hơn. Vối hoàn toàn không có độc đối với cơ thể, tăng huyết áp. Trong thành phần lá vối có rất ít tanin, có vết alcaloit gần với cafein, 4% tinh dầu mùi thơm dễ chịu, dễ bay hơi.
Lá vối chữa được đầy bụng vì làm tăng nhu động ruột và chống được chứng hạ huyết áp khi bị ỉa chảy. Lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như là chất sát trùng dùng rửa mụn nhọt, lở loét, ghẻ. Viện Y học cổ truyền Hà Nội còn sử dụng nước vối đặc để phòng và chữa nhiễm khuẩn đường ruột, viêm họng và bệnh ngoài da, chữa viêm đại tràng co thắt. Nếu dùng ngay thì nấu nước sắc đặc. Cần mang đi xa và để lâu thì nên nấu cao lá vối. Tỷ lệ 5/1 hay 10/1 tức là 5 hay 10 phần lá vối tươi lấy 1 phần cao. Khi dùng pha loãng nước chín thành tỷ lệ 1/1.
        Sau khi hái có thể bó ngay thành bó để bán. Lá vối tươi rất ngái vì có nhiều chất diệp lục nên phải ủ để phá huỷ chất này. Trong quá trình ủ dưới tác dụng của các men oxy hoá có sẵn trong lá vối, tanin sẽ bị biến đổi một phần và hàng loạt phản ứng sinh hoá diễn ra. Khâu quan trọng trong việc ủ là giữ độ ẩm và nhiệt độ. Nhân dân ta vẫn ủ lá vối theo lối cổ truyền : thái nhỏ, rửa sạch nhựa, cho vào thùng, thúng, bao tải, bồ, sọt rồi phủ rơm rạ cho đến khi đen đều thì lấy ra rửa sạch phơi khô. Nhưng làm như vậy lá vối và các cuộng lâu chín hoặc chín không đều, chất lượng lá vối thất thường, hương vị nước kém ngon vì bao tải, bồ, sọt không kín, có nhiều khe hở, nhiệt và nước dễ thoát ra. Ta có thể cải tiến cách ủ như sau : dùng chum vại để giữ nhiệt và độ ẩm. Lấy lá vối và các cuống con, bỏ các cuống đã cứng, nhiều gỗ, loại bỏ các lá chết. Phía trên lớp lá vối phủ kín bằng rơm rạ, sau đó úp sấp chum xuống mặt đất, để ở góc nhà, sau một tháng lấy ra phơi khô để dùng dần. Có thể phơi nắng đến thật khô rồi cho vào chum sành, sọt, đậy kín. Tốt nhất là cất lên gác bếp vì ở bếp có khói và bồ hóng nên các vi khuẩn bị hạn chế phát triển, lá vối ít bị mốc. Không nên để lá vối ủ ở chỗ ẩm vì dễ bị xuống chất. Lá vối ủ uống thơm ngon hơn. 
VC_ CTQ số 06

Đọc thêm


Công dụng tuyệt vời của cây vối



Theo Bác sĩ Hoàng Hà
NLĐ

Vĩnh Bảo sưu tầm 1/9/2013

Cây vối có nhiều dược tính quý, chữa được nhiều loại bệnh như vàng da, gan, ghẻ lở, các bệnh tiêu hóa... Đặc biệt, vối hỗ trợ chữa bệnh tiểu đường rất tốt.

Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus, thuộc họ Sim (Myrtaceae), là loại cây mọc nhiều ở nhiệt đới. Ở nước ta cây vối mọc hoang hoặc trồng. Cây vối thường cao chừng 5 - 6 m, cuống lá dài 1- 1,5 cm. Phiến lá cây vối dai, cứng. Hoa vối gần như không cuống, màu lục nhạt, trắng. Quả vối hình trứng, đường kính 7 - 12 mm, có dịch. Lá, cành non và nụ vối đều có mùi thơm dễ chịu đặc biệt của vối.
Công dụng tuyệt vời của cây vối 1
Cây vối trong mùa ra hoa và quả. Ảnh: Trân Thanh
Loài cây giàu dược tính
Ở nước ta, từ lâu, cây vối (lá, nụ, vỏ, rễ) được người dân dùng làm trà uống giải khát. Lá vối có tác dụng kiện tì, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng, chát trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, tinh dầu vối có tính kháng khuẩn nhưng đặc biệt không hại vi khuẩn có ích trong ruột.
Theo tài liệu nghiên cứu của GS Đỗ Tất Lợi, lá và nụ vối có chất kháng sinh thực vật, diệt được nhiều mầm vi khuẩn gây bệnh, kể cả vi trùng Gram- và Gram+. Theo đông y, vối có vị hơi chát, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt giải biểu, tiêu trệ, sát khuẩn. Dân gian thường dùng lá, vỏ, thân, hoa làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng.
Nghiên cứu của Viện Đông y cho thấy nụ vối và lá vối có tác dụng kháng sinh đối các nhiều loại vi khuẩn như Gram+, Gram-, Streptococus (hemolytic và staman), vi trùng bạch hầu, Staphyllococcus, Pneumcoccus, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,... và không gây độc hại đối với cơ thể.
Cây vối có tiềm năng chữa bệnh rất cao. Nhiều nghiên cứu về dược tính của cây vối trong những năm qua cho thấy thành phần hoạt tính của nụ vối là một hợp chất polyphenol có tên là 2’,4’-dihydroxy-6’-methoxy-3’,5’dimethylchalcone. Chính chất này đã tạo ra hiệu ứng đảo ngược trên các tế bào ung thư đa kháng thuốc (Multidrug resistance).
Nụ vối hỗ trợ trị tiểu đường
Một nghiên cứu gây chú ý là tác dụng của nụ vối trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng giữa Viện Dinh dưỡng quốc gia (Việt Nam) và Đại học Phụ nữ Nhật Bản đã chứng minh các hợp chất flavonoid trong chè nụ vối rất hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân tiểu đường. Người bệnh tiểu đường nếu uống thường xuyên chè nụ vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người bệnh tiểu đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ vối không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên.
Chính những tác dụng chữa bệnh đa dạng và hiệu quả của nụ vối, hiện nay các nhà sản xuất đã có nhiều sản phẩm về nụ vối như trà vối túi lọc, cao vối… Giá nụ vối cũng không cao, khoảng từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, có bán ở nhiều tỉnh phía Bắc. Tại TPHCM cũng có thể mua được nụ vối ở nhiều nơi, nhiều nhất là trên đường Phạm Văn Hai (quận Tân Bình), nơi bán các đặc sản miền Bắc.
Vài phương thuốc trị liệu với vối
- Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20 g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.
Dùng 5 loại hoa, gồm nụ vối, kim ngân hoa, hoa cúc, hoa đại, hoa mộc miên (hoa gạo), chế thành dạng trà, uống mỗi ngày, rất tốt cho cơ thể.
- Trị đau bụng đi ngoài, phân sống: Lá vối 3 cái, vỏ ổi 8 g, núm quả chuối tiêu 10 g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.
- Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12 g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày hoặc dùng nụ vối 10 - 15 g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
- Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lá vối vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu.
- Viêm gan, vàng da: Dùng rễ vối 200 g sắc uống mỗi ngày.
- Chữa viêm đại tràng mạn tính, đau bụng âm ỉ, thường xuyên đi phân sống: 200 g lá vối tươi, vò nát, dùng 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước.

Chữa cảm mạo bằng phương pháp đánh gió

Chữa cảm mạo bằng phương pháp đánh gió (cạo gió)


Cạo gió chữa cảm mạo
Cạo gió chữa cảm mạo
Đánh gió hay còn gọi là cạo gió, bắt gió là những môn thuốc gia truyền qua nhiều đời bằng các phương pháp tác động lên cơ thể mang tính lý hóa sinh học, giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục sức khỏe, đầy lùi bệnh tật. Xin giới thiệu cách đánh gió, bắt gió trị cảm sốt, suy nhược thần kinh, đau nhức khớp, mất ngủ, mệt mỏi…
Ðánh gió ở lưng
Chủ yếu dùng hai bàn tay. Gồm 5 động tác.
Thấm nước gừng ở 5 đầu ngón tay hoặc cả lòng bàn tay xoa nhẹ khắp lưng rồi mạnh dần làm ấm lưng.
Vuốt hai bên xương sống từ gáy xuống thắt lưng rồi từ xương sống qua hai bên dọc kẽ sườn. Tiếp theo dùng lát gừng tươi đánh hai bên xương sống và kẽ sườn làm mặt da đỏ ửng lên, bệnh nhân thấy ấm lưng, dễ chịu là tốt.
Cuộn da và bóp vai: cuộn từ dưới lên, từ ở giữa, ở hai bên lên đến vai, dùng hai bàn tay bóp nhẹ, vừa, mạnh tùy sức chịu đựng của bệnh nhân. Tác dụng làm bắp thịt giãn ra, ấm lưng, giải độc, bớt đau nhức.
Day bắp thịt hai bên xương sống: các ngón tay thẳng lên, dùng xương cổ tay của lòng bàn tay ấn nhẹ, day day bắp thịt, day vòng tròn xoắn ốc, liên hoàn đi từ dưới lên vai. Tác dụng: làm giãn bắp thịt, giãn cơ, giảm đau nhức.
Băm băm dọc xương sống, thắt lưng: băm băm nhẹ đều khắp lưng và tác động vào tủy xương lên não, làm giãn gân cốt, kích thích thần kinh, tăng sức đề kháng cơ thể, chống bệnh tật. Kết thúc trở lại động tác 1 xoa khắp lưng để thư giãn cơ thể.
Bắt gió, day bấm huyệt ở đầu
Làm theo thứ tự sau:
Quanh trán: xoa, miết từ trán sang thái dương, day huyệt thái dương, ấn đường.
Quanh vành tai: vuốt trước và sau vành tai, các chỗ lõm lỗ tai, kéo tai lên xuống trước sau, xòe hai ngón tay thứ 2 và 3, xoa xát trước và sau chân vành tai. Day bấm các huyệt: ế phong, thính cung, giác tôn, an miên, ế minh.
Quanh mắt: miết, vuốt xung quanh hố mắt, hai bên sống mũi. Day bấm huyệt toản trúc, đồng tử liêu, tình minh.
Quanh miệng: dùng ngón trỏ xoa xát vòng quanh miệng xuống hàm dưới. Day bấm huyệt: nhân trung, đại nghinh, thừa tương.
Sau gáy: day huyệt phong trì, phong phủ, vuốt cổ, bả vai.
Đỉnh đầu: day bấm bách hội, từ thần thông, thượng tinh. Cuối cùng chải da đầu, ép hai bên lỗ tai, xoa mũi, day nhẹ ấn đường. Mỗi động tác làm 5 – 7 lần.
  Lương y Nguyễn Minh
Cạo gió không đúng chỗ sẽ chết?.




Cám ơn tg Tran Ho về bài viết “Cạo gió” dưới đây.




.Cách cạo gió đúng cho từng loại bệnh.


Cạo gió thích hợp với những người cảm mạo thông thường và cảm mạo dịch (còn gọi là cảm cúm, bệnh cúm) và một số trường hợp bị đau nhức.
Cạo gió là phương pháp sử dụng bờ của những vật có cạnh hình cung tròn nhẵn như muỗng nhôm, rìa đồng tiền kim loại, miệng chén, rìa bát, đĩa sứ, lược, nhẫn bạc, sừng trâu… tác động lên các vị trí thích hợp khác nhau trên cơ thể nhằm phòng và chữa trị bệnh tật.

Khi bị bệnh các huyệt đạo của cơ thể bị bế tắc, bề mặt da cũng bế tắc một phần nên không thể thải độc tố trong cơ thể ra ngoài. Cạo gió sẽ giúp khí huyết, huyệt đạo và kinh lạc lưu thông, giúp bề mặt da thông thoáng để thải độc tố.
Tuy nhiên, mỗi loại bệnh có một cách cạo gió khác nhau, không phải bệnh nào cũng có thể lạm dụng phương pháp cạo gió.
Cạo gió đúng cách là tác động đúng lên các huyệt nằm trên đường Kinh Bàng Quang, giúp sự lưu thông, vận hành của khí huyết trở nên tốt hơn, nâng cao thể trạng bệnh nhân, giúp bệnh nhân tự đề kháng, khỏi bệnh.

Cách cạo gió cho các loại bệnh

1. Sốt nóng nhức đầu: Cạo 2 bên đường gân dưới cổ (ngay bên dưới ót) tạo thành 2 đường chéo ở 2 bên vai, theo chiều từ cổ đến vai và từ đốt xương sống lưng số 2,3 ra 2 bên vai.

2. Ho: Cạo gió phía sau lưng, giữa sống lưng và trước ngực theo đường thẳng giữa ngực.

3. Đau bụng, nôn ọe, đi ngoài: Cạo giữa sống lưng và 2 bên mạng sườn từ trên xuống. Cạo trước ngực, từ lõm cổ xuống, rồi từ cánh tay đến các đầu ngón tay. Sau đó, cạo từ mặt ngoài chân xuống đến mu bàn chân, sau gáy đến mặt sau cánh tay, lưng đến chân rồi bàn chân.

4. Đau nhức: Tay chân nhức mỏi hay đau nhức chỗ nào thì cạo ngay chỗ ấy. Tại điểm đau nhức, cạo 2 bên theo đường tuyến từ trên xuống.
5. Bị trúng gió, cảm nắng: Cạo gió sau lưng (giữa lưng và 2 bên), bắt gió ở trước trán (chỗ ấn đường), chà xát 2 bên Thái Dương (mang tai). Nếu bị ngất thì lấy móng tay ấn mạnh tại huyệt nhân trung cho tỉnh lại. Nếu phát sốt, lấy kim châm các tĩnh huyệt hay đầu ngón tay ra máu. Trong trường hợp người bệnh đầu còn nặng thì ấn mạnh tại xoáy hay huyệt bách hội trên đỉnh đầu và cạo gió thêm ở hai bên tay, chân.


.Bà bầu có nên cạo gió, dán salonpas?.

Tôi nghe nói khi mang thai, nếu người mẹ cạo gió nhiều sẽ ảnh hưởng đến em bé, ví dụ em bé sinh ra sẽ hay vặn mình.
Hoặc dán salonpas nhiều cũng không tốt, như vậy có đúng không? (Thuỷ Ngân, TPHCM)

ThS.BS Đặng Lê Dung Hạnh, Trưởng khoa khám bệnh theo yêu cầu, BV Phụ sản Hùng Vương TPHCM: Salonpas là thuốc giảm đau có tác dụng tại chỗ, đau đâu dán đó, không ảnh hưởng gì đến em bé. Ngay cả thuốc giảm đau loại này, nhưng dạng uống vẫn là thuốc vô hại cho em bé.

Cạo gió theo đông y, nhằm làm nóng cơ thể, kích thích huyệt đạo, có thể dùng được. Tuy nhiên nên chọn việc làm nóng và kích thích bằng cách xoa dầu, mátxa hơn là phải cạo cho thật mạnh để ra gió mà thật ra chính là làm vỡ các mạch máu dưới da và gây xuất huyết dưới da. Càng nguy hiểm hơn, nếu đang là đau nhức mình mẩy do sốt xuất huyết, cạo gió sẽ làm bệnh trầm trọng hơn.

.Cạo gió không đúng chỗ sẽ chết?
Cùng với nồi xông, bát cháo giải cảm, đánh gió... cạo gió là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo được lưu truyền lâu đời trong dân gian.
Cho đến nay, mặc dù chưa có công trình nghiên cứu khoa học đầy đủ nào đánh giá tác dụng của phương thức trị liệu này và y học hiện đại cũng còn những ý kiến khác nhau khi đặt ra vấn đề có nên công nhận đây là một phương pháp trị bệnh chính thống, nhưng trên thực tế nó vẫn tồn tại và phát triển vì mang lại những hiệu quả nhất định cho nhiều người bệnh.

.Không tuỳ tiện cạo gió

Cạo gió là phương pháp sử dụng bờ của những vật có cạnh hình cung tròn và tương đối nhẵn như muỗng nhôm, rìa đồng tiền kim loại, miệng chén, rìa bát, đĩa sứ, lược, nhẫn bạc, sừng trâu... tác động lên các vị trí thích hợp khác nhau trên cơ thể theo quan điểm của học thuyết âm dương, kinh lạc trong y học cổ truyền nhằm dự phòng và chữa trị bệnh tật.
Đây là phương pháp chữa bệnh dân gian hiệu quả, rẻ tiền, an toàn, thao tác cũng vô cùng đơn giản. Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa ở các vùng sâu, vùng xa, trong hoàn cảnh thuốc không có trong tay, thầy chưa có tại chỗ.
Nói chung, phương pháp này thích hợp nhất cho trường hợp cảm mạo. Cảm mạo, bao gồm cả cảm mạo thông thường và cảm mạo dịch (còn gọi là cảm cúm, bệnh cúm) là một nhóm bệnh truyền nhiễm phát sinh ở cả bốn mùa trong năm nhưng thường gặp nhiều hơn vào hai mùa đông và xuân.
Theo đông y, nguyên nhân gây cảm mạo thường do hai yếu tố: một là, chính khí (sức đề kháng) của cơ thể giảm sút; hai là, các tà khí (mầm bệnh) như phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả xâm nhập vào cơ thể; trong đó vai trò chính khí là hết sức quan trọng. Ngoài ra, cạo gió còn được chỉ định trong các trường hợp nhức đầu, đau mình mẩy, hoa mắt, chóng mặt... Tuy nhiên, mặc dù đây là một phương pháp trị liệu đơn giản nhưng trong mọi trường hợp vẫn rất cần sự thăm khám và chỉ định cụ thể của thầy thuốc chuyên khoa.

.Thao tác cạo gió phải đúng.

Những người phải kiêng cạo gió
Cạo gió không được dùng cho những người bị mắc các bệnh tim mạch, cao huyết áp, dễ xuất huyết, người có bệnh khó đông máu, bị các bệnh da liễu ở những vị trí cần cạo gió... Ngoài ra, phụ nữ có thai và trẻ em còn quá nhỏ cũng phải tránh sử dụng phương pháp trị liệu này.
Vị trí cạo: thông thường là dọc hai bên cổ gáy, từ cổ dọc xuống đến vai, kín hết diện vai, dọc hai bên cột sống rồi toả ra hai mạn sườn, kín hết diện lưng. Nếu người bệnh ho, ngứa cổ họng thì cạo thêm dọc xương mỏ ác ở ngực. Nếu bụng lạnh, đau, cạo thêm vùng bụng, nếu nhức dọc chi trên thì cạo thêm cánh tay và cẳng tay.
Kỹ thuật cạo: chọn nơi kín gió, bảo người bệnh nằm ngay ngắn, tĩnh tâm, toàn thân thư giãn. Sát trùng dụng cụ cạo gió, thoa dầu lên vùng cần cạo rồi dùng lực vừa phải miết đều một chiều từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài sao cho người bệnh cảm thấy nóng ấm, dễ chịu là được.

Ở vùng lưng, có thể dùng lực mạnh hơn một chút. Lần lượt cạo từ vùng này sang vùng khác. Thông thường, mỗi vùng cạo từ 3 – 5 phút là da ửng đỏ. Sau khi cạo, cho người bệnh uống một cốc sữa hoặc một cốc trà gừng nóng, hoặc ăn một bát cháo giải cảm có hành tươi và tía tô rồi đắp chăn nằm nghỉ.
Lưu ý không nên cạo quá lâu và không dùng lực quá mạnh khiến da bị xước hoặc xuất huyết làm bệnh nhân đau đớn và rát bỏng nhiều ngày. Dụng cụ cạo gió cần cầm thẳng, không cầm nghiêng dễ gây xuất huyết. Khi cạo, tránh chỗ gió lạnh, mùa đông cần giữ ấm, mùa hè không để quạt thổi thẳng vào người bệnh. Trong khoảng 30 phút sau khi cạo, tránh tắm rửa bằng nước lạnh. Không cho bệnh nhân đi ra ngoài ngay để tránh bị cảm lại.

Theo ThS.BS Hoàng Khánh Toàn

Cạo gió và những điều cần lưu ý

Nên sử dụng vật cạo gió là củ gừng, vừa an toàn vừa sử dụng được tinh dầu có tính ấm, nóng.
Bác sĩ Trịnh Liên Việt, Trưởng khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, có những phân tích và lưu ý về cạo gió.
Cạo gió là phương pháp chữa bệnh dân gian được sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay, là cách chữa bệnh rẻ tiền, đơn giản, thuận tiện mọi lúc mọi nơi và có hiệu quả tức khắc.
Chỉ cần một ít dầu gió xoa lên vùng bị đau, nhức mỏi rồi sử dụng một vật cứng, nhẵn như nắp lọ dầu, cái muỗng, đồng xu…. cạo lên vùng đau. Hoặc thậm chí nếu vùng đau ở vị trí không cạo được thì  “giật gió" cho đến khi “ lên gió”, vùng da ửng đỏ hoặc đỏ bầm. Sau thao tác này, người bệnh sẽ cảm thấy giảm bớt những triệu chứng khó chịu, bớt nhức mỏi, bớt ớn lạnh, hoặc giảm cảm giác buồn nôn...
Cạo gió khi cảm mạo thời tiết, nhiễm lạnh, nhức mỏi tay chân do làm việc quá độ.
Cạo gió khi cảm mạo thời tiết, nhiễm lạnh, nhức mỏi tay chân do làm việc quá độ. Ảnh: Lê Phương.
Dưới con mắt nhìn của một ông bác sĩ thì cạo gió quả là đáng sợ, vì nhìn vào sẽ thấy cơ thể người bệnh bị bầm dập, ngoằn ngoèo và có rất nhiều nguy cơ làm bệnh nặng thêm. Trước hết là dưới tác động của lực cạo lên phần mềm sẽ làm tổn thương lớp biểu bì và các mô bên dưới, gây bầm dập, rướm máu, gây xuất huyết dưới da, trầy xước vùng cạo gió. Sau nữa, cạo gió là cơ hội gây nhiễm khuẩn tại chỗ, nhiễm một số khuẩn lây lan qua đường máu thông qua vật dụng cạo gió được sử dụng qua nhiều người.
Cạo gió có tính khoa học hay phản khoa học?
Một sự thật hiển nhiên là trong xã hội vẫn tồn tại hình thức cạo gió ở khắp mọi nơi từ trong nhà ra phố chợ, từ khu nhà trọ công nhân đến ký túc xá trường học. Trên thực tế, cạo gió vẫn mang đến ít nhiều hiệu quả tức thì.
hao tác cạo gió là một hình thức tác động cơ học lên vùng cơ bị nhức mỏi kèm thêm tác dụng ấm nóng của tinh dầu (dầu xoa), đưa đến hiệu quả giãn cơ, giãn mạch máu tại vùng đau nhức, gây giảm co thắt cơ, làm giảm đau. Ngoài ra hương tinh dầu tác động qua da, qua khứu giác gây cảm giác êm dịu thần kinh tại chỗ và toàn thân. 
Yếu tố tâm lý được người thân chia sẻ lúc ốm đau bệnh hoạn cũng góp phần làm hưng phấn tinh thần người bệnh. Mà trong một xã hội công nghiệp hiện nay người thầy thuốc với những thao tác khám qua loa, cùng với những viên thuốc vô cảm không phải là địa chỉ đầu tiên mà người bệnh nghĩ tới khi bị mệt mỏi. 
Cạo gió trong y học cổ truyền chính thống
Thông thường, vị trí chính để cạo gió là hai bên đường dọc cột sống. Đó là hai bên của đường bàng quang kinh, trên đoạn dọc cột sống thắt lưng là vị trí của các huyệt: Phế du, Tâm du, Cách du, Tỳ du, Vị du, Thận du Đại trường du, Khí hải du Tiểu trường du, Phách hộ, Cao hoang, Thần đường, Cách quan...  Khi tác động lên hai dãy cơ đó, chính là kích thích lên hàng loạt các hoạt động của hệ thống lục phủ ngũ tạng của cơ thể, giúp cơ thể điều hòa lại sự mất quân bình khí huyết âm dương trong cơ thể, nâng cao chính khí, trục đuổi tà khí đang manh nha xâm nhập vào cơ thể.
Theo y học cổ truyền, bàng quang kinh chủ trị các chứng sốt lạnh, nghẹt mũi, đau đầu, cứng cổ, đau thắt lưng, và các huyệt tương ứng với từng tạng phủ, có tác dụng lý khí điều huyết. Do đó khi cạo gió dọc theo hệ thống kinh bàng quang, cũng là tác động một phần lên toàn hệ thống cơ thể, có tác dụng bổ chính khí, khu trục tà khí, nhằm tăng cường các hoạt động chức năng của cơ thể.
Ngoài phương pháp cạo gió, thầy thuốc y học cổ truyền còn có thể sử dụng kỹ thuật xoa bóp, day, lăn, miết, bấm …hoặc giác hơi,  lên vùng lưng trong những trường hợp bệnh lý tương tự cũng đạt hiệu quả như cạo gió.
Một số lưu ý khi cạo gió:
- Nên cạo gió trong phòng, tránh gió lùa
- Không nên sử dụng dầu xoa mà thành phần của nó có tinh dầu bạc hà (menthol), vì đây là tinh dầu có tính chất bốc hơi nhanh nên gây cảm giác mát lạnh. Khi xoa dầu, ban đầu cảm thấy ấm nóng nhưng một lúc sau thì cảm thấy mát và lạnh vùng được xoa dầu.
- Không dùng vật sắc cạnh, cứng để cạo gió, vì dễ gây tổn thương da, có nguy cơ nhiễm trùng và nhiễm một số bệnh lây lan qua đường máu. Tốt nhất nên sử dụng vật cạo là củ gừng được cắt bằng ở đầu, dùng đầu gừng cạo, khi tà đầu thì cắt ngang bỏ, tạo đầu mới, vừa an toàn vừa sử dụng được tinh dầu gừng có tính ấm, nóng. 
- Không dùng lực tác động mạnh lên vùng cạo gió gây tổn thương da, dễ bị nhiễm khuẩn.
- Chủ yếu cạo hai bên đường dọc cột sống lưng. Không nhất thiết phải cạo đến đỏ bầm.
- Không nên cạo vùng cơ cổ.
- Sau khi cạo gió xong nên giữ ấm cơ thể, tốt nhất ăn thêm một bát cháo hành giải cảm.
- Cạo gió thực sự hữu hiệu trong trường hợp cảm mạo thời tiết, nhiễm lạnh , nhức mỏi tay chân do làm việc quá độ. Trong trường hợp suy nhược vì một bệnh lý nào đó như đau đầu chóng mặt vì cao huyết áp, viêm xoang,… thì nên đến cơ sở y tế  khám để có một chẩn đoán xác định và phương thức điều trị thích hợpBác sĩ Trịnh Liên ViệtBệnh viện Nguyễn Tri Phương  - TP HCM 
Vĩnh Bảo sưu tầm 1/9/2013