Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Câu Chuyện Đôi Đũa Việt

Câu Chuyện Đôi Đũa Việt

Đôi đũa mộc mạc đã xuất hiện trên mâm cơm người Việt không biết từ bao giờ và trở thành nét đẹp truyền thống trong ẩm thực Việt. Đũa có đôi và phải tương xứng với nhau và với mâm với bát như âm với dương, như nam với nữ.

Người Việt ở ba miền đều mang trong mình những phong tục tập quán riêng, nét văn hóa mang bản sắc vùng miền. Khắp đất nước người dân đều sử dụng đũa trên mâm cơm để gắp thức ăn, đây quả thực là sợi dây liên kết kỳ lạ. Lâu dần đôi đũa không còn chỉ là thói quen hàng ngày, mà nó đã trở thành vật dụng không thể thay thế được trong mâm cơm người Việt. Bởi nó không chỉ đơn thuần là vật dụng dùng để gắp thức ăn trong bữa cơm hàng ngày mà còn thể hiện nét đẹp văn hóa và bản sắc tốt đẹp của người Việt.
Chất liệu làm nên đôi đũa cũng rất phong phú và đa dạng, từ chất liệu kim loại (vàng, bạc, nhôm….) thường được vua chúa, quan lại thời xưa sử dụng để phân biệt giai cấp, hay đến các loại chất liệu là nhựa, thiên nhiên (tre, trúc….). Những chiếc đũa bằng tre, trúc gắn liền với văn hóa ẩm thực của Việt Nam, với đời sống thường nhật của người Việt, cũng bởi một phần lý do biểu tượng của làng quê Việt chính là hình ảnh của cây tre, cây trúc.

Theo nhiều nhà văn hóa giải thích thì cách người châu Âu sử dụng dao, dĩa, là cách ăn bắt chước những loài vật ăn thịt sống dưới đất. Còn cách sử dụng đũa trên bàn ăn của người châu Á, trong đó có người Việt là học cách ăn của những loài chim. Việt Nam là đất nước nhiệt đới, là nơi thích hợp cho các loài chim sinh sống như sếu, vạc, cò…. Những loài chim này gắn bó với cuộc sống của người nông và đi vào trong những bài hát, những câu ca dao, đồng dao, trở thành hình tượng khắc trên trống đồng, biểu tượng của nền văn hóa cổ đại. Chính nhờ những mối liên hệ như thế, đôi đũa đã xuất hiện trên mâm cơm của người Việt và trở thành nét đẹp văn hóa mà người Việt vô cùng tự hào.

Đôi đũa nhỏ xinh, mộc mạc và giản dị đã đi vào văn hóa của người Việt từ thời xa xưa. Và nó cũng mang trong mình ý nghĩa khác nhau, những triết lý về đời sống con người từ lúc sinh ra cho đến khi trở về với đất mẹ, về mối quan hệ vợ chồng. Dù cho đời sống văn hóa ẩm thực ngày càng trở nên đa dạng với sự du nhập của các loại đồ ăn đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng người Việt chúng ta vẫn giữ gìn và tô đẹp hơn cho hình tượng đôi đũa trong mâm cơm gia đình, trong văn hóa ẩm thực của dân tộc.
Người Việt ba miền đều có riêng cho mình nét văn hóa ẩm thực độc đáo, riêng biệt nhưng có một điểm chung là đều sử dụng đũa. Làng quê miền Bắc xưa được lũy tre bao phủ nên người dân sẽ lấy nghe thân tre già để gọt đũa. Người miền Bắc dùng loại đũa ngắn hơn một chút so với người miền Nam. Miền Nam lại được chở che bằng những tán dừa nên người miền Nam dùng chính loại cây ấy làm nên đôi đũa cho mình. Điều đó làm đũa Việt Nam khác biệt hoàn toàn với loại đũa inox, đũa nhôm của Hàn Quốc, Nhật Bản.
Trong khi người phương Tây lúc ăn phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, thìa nĩa, mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng biệt, thì người phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam..) chỉ dùng một đôi đũa (gồm hai chiếc que làm thành) nhưng sử dụng một cách tổng hợp và cực kỳ linh hoạt với hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, xé, và, dầm, trộn, vét… Đứng ở góc độ vật lý, thì đôi đũa là một thứ công cụ chấp dài thêm ngón tay người và được vận dụng theo nguyên lý đòn bẩy một cách thần tình để gắp thức ăn xa. Về nguồn gốc đôi đũa, lâu nay không ít học giả phương Tây cho rằng văn minh đôi đũa (civilization des baguettes) là thuộc dạng Trung Hoa. Tuy nhiên, theo sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc do Đàm Gia Kiện chủ biên năm 1993 thì người Trung Quốc “Thời Tiên Tần không ăn dùng đũa, mà lấy tay bốc” (giống người Ấn Độ – đó là tập quán của các cư dân trồng kê, mạch, ăn bánh mì, bánh bao và thịt). Họ chỉ bắt đầu dùng đũa từ khi thôn tính phương Nam (đời Tần – Hán), ban đầu dùng một cách hạn chế để gắp thức ăn cứng từ các món canh, mãi về sau đôi đũa mới trở thành phổ biến. Thế kỷ VI, đôi đũa mới du nhập vào Nhật Bản. Như vậy, thực ra, nó là sản phẩm của cái nôi trồng lúa nước Đông Nam Á – nơi có nền văn minh tre trúc là vật liệu. Ăn bằng đũa là cách ăn đặc thù, mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào được (như cơm, cá, nước mắm,…) của cư dân Đông Nam Á.
Điều này, lý giải vì sao ở người Việt, từ danh gia vọng tộc đến kẻ bần hàn, từ thành thị đến nông thôn, đôi đũa tre đơn sơ mộc mạc vẫn luôn gắn liền với đời sống hằng ngày, thậm chí đã trở thành một đặc điểm văn hóa không kém gì tà áo dài duyên dáng… Thật vậy, đôi đũa đối với người Việt đã vượt qua các phạm vi vật chất vô cùng nhỏ bé, khiêm nhường, vượt qua cả cái ý nghĩa, tập quán ăn uống thông thường để trở thành hình tượng sinh động, công cụ sắc bén trong diễn đạt những quan niệm về nhân sinh, nhân tình thế thái. Hay nói khác hơn, nó đã hình thành “triết lý đôi đũa” ở Việt Nam.

Trước khi có mặt trên tem thì chỉ cần làm phép thống kê đơn giản (từ tuyển tập ca dao, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam) sẽ được một tập hợp khá thú vị về hình tượng đôi đũa – phản ánh nhiều chiều cạnh của triết lý nhân sinh. Bản tính, phong cách của người Việt vốn cẩn trọng, chu đáo, tế nhị. Từ tấm bé, cầm đôi đũa là khắc biết “so” để “sánh” cho bằng, ngay thẳng, đôi nào ra đôi ấy, đầu nào ra đầu nấy. Việc nhỏ nhặt ấy cứ ăn sâu vào tâm thức, ý thức để rồi lớn lên vào đời trở thành người ý tứ, biết suy nghĩ, nói năng, hành xử “ra đầu ra đũa”. Trong đối nhân xử thế, lối nhìn nhận sự việc, đánh giá con người một cách hồ đồ, thiếu quan sát, không cân nhắc phân biệt, cứ “vơ đũa cả nắm” là vô cùng tai hại, hậu quả không lường. Đặc biệt là triết lý về lứa đôi, hình tượng đôi đũa đã thể hiện khá tròn vai. Thật là éo le, khốn khổ, day dứt trong cảnh: “Bây giờ chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho bằng”. Muốn cho hạnh phúc lứa đôi, vợ chồng không chỉ phải môn đăng hộ đối, đồng cảnh đồng tình giữa hai nhà, hai họ: “Xứng đôi vừa lứa, chọn nơi. Hay gì đũa mốc đòi chòi mâm son”. May mắn và hạnh phúc biết bao khi “Hai ta làm bạn thong dong, như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng”. Có người cho rằng, viết “đũa mộc” thì đúng hơn “đũa mốc”. Với lập luận: “Mộc” và “Mốc” là hai trạng thái, hai phẩm chất hoàn toàn khác nhau. Người Việt vốn bản tính chất phác, nhân hậu, trong sinh hoạt thường nhật thích dùng đồ “mộc”, không ưa son, nhuộm, tô điểm, màu mè. Đặc biệt với đôi đũa là thứ đồ dùng đơn giản nhất, ai cũng có thể tự túc làm được từ “cây nhà lá vườn”, nên đũa mộc là tốt nhất. Nó phù hợp với tâm lý thực tế, trọng thực chất của các đồ gia dụng ở người Việt. Nhưng ở quan niệm khác thì cho rằng, việc sử dụng từ “đũa mốc” – mâm son mới đủ sức lột tả sự trái khoái ngược đời, để chỉ sự không xứng đôi vừa lứa (về tài sắc, của cải, địa vị, tuổi tác,..) của từng đôi “Mốc này đâu ngại chọc mâm son/ Mốc đành chịu vậy, chẳng đòi mâm son”,…
Không chỉ trong văn học dân gian, mà tiếp mạch nguồn cảm xúc truyền thống đó, đôi đũa lại xuất hiện trong thơ ca hiện đại, với nhiều hình ảnh sinh động mới mẻ: “Bếp tập thể đậu kho và rau luộc, Em gắp cho tôi bằng đôi đũa cau rừng” (Phạm Tiến Duật). Đặc biệt, động tác so đũa đã cho ta thưởng thức nhiều tứ thơ hay cảm động: “…Bữa ăn sum vầy bên bếp lửa, Mẹ so đũa thừa lại nhớ đến ta” (Thu Bồn).
Bên cạnh tính cặp đôi mà hình tượng đôi đũa thể hiện thì nó còn phản ánh tính tập thể: bó đũa là biểu hiện của sự đoàn kết, của tính cộng đồng (trong câu chuyện dân gian về bó đũa chỉ sự đoàn kết là sức mạnh). Đôi đũa còn là minh chứng của sự thiêng liêng, khi thề độc, người xưa thường bẻ gãy đũa để thề. Thậm chí khi chết đi, còn có đôi đũa cắm trên quả trứng, bát cơm đặt lên áo quan đưa tiễn người về nơi an nghỉ cuối cùng… Tất cả những điều này, khi đưa đôi đũa lên tem cũng tạo nên những sức mạnh, sự độc đáo của nó. Tem về đôi đũa không nhiều, người sưu tầm bắt gặp nó là nâng niu như báu vật.

Đũa cả

Người Việt thường có thói quen tự tay chế ra các vật dụng đơn giản trong gia đình bằng những nguyên liệu quen thuộc. Cũng giống như cái cuốc, xẻng… có cán được tạo nên nhờ gỗ của những thân cây quanh vườn, đôi đũa cả – vật dụng không thể thiếu trong bữa cơm gia đình người Việt được vót từ thân tre mộc mạc.
Thời nay, con người được hưởng nền công nghệ tiên tiến với sự ra đời ồ ạt của các vật dụng hiện đại và vô cùng tiện ích trong gia đình. Những vật dụng đó làm giảm tải đi phần nào khó khăn mà con người gặp phải do quỹ thời gian chật hẹp. Và, nét đẹp trong bữa cơm hàng ngày của người dân Việt cũng vì thế mà không còn giữ nguyên vẹn. Bây giờ, người ta nấu nồi cơm điện nên ít dùng đến đôi đũa cả để xới cơm nữa. Thay vào đó, người ta dùng muôi nhựa. Cơm nấu nồi điện, bốc khói nghi ngút và kêu một tiếng “tách” để báo chín. Chỉ chờ có thế, người ta lấy luôn ra ăn. Có nhà lấy muôi đánh tơi cơm rồi múc vào bát cho mọi người, nhà thì không đánh tơi mà xấn luôn một khối, vừa muôi cơm và xúc vào bát.
Tre được chọn làm đũa cả thường phải là tre già, nếu làm bằng tre non thì đũa cả sẽ không để được lâu và dễ bị mọt.
Người Việt dùng đũa cả để đảo khi cơm sôi, để ghế cơm và để xới cơm nữa… Vật dụng quen thuộc, nhỏ bé, mộc mạc là thế nhưng chứa đựng trong nó không ít những triết lí sâu sắc về lễ nghi gia đình, về nếp nhà của mỗi người. Chả thế mà quan sát cách xới cơm cho các thành viên trong gia đình của các bà, các chị là thấy ngay được nề nếp, trật tự, sự lễ phép của con cái đối với bố mẹ, ông bà, của vợ đối với chồng…
– tổng hợp –
Vĩnh bảo sưu tầm 14/12/2017

Cơm Nắm Muối Vừng Hay Trí Tuệ Người Xưa?

Cơm Nắm Muối Vừng Hay Trí Tuệ Người Xưa?

Người Tây Ban Nha cho rằng “mùi thơm nhất là mùi thơm của bánh mì. Vị ngon nhất là vị ngon của muối. Hạnh phúc tinh khôi nhất là hạnh phúc của trẻ thơ”.
Truyền thống của người Nga thường mời khách đến nhà món bánh mì lúa mạch ăn kèm với muối. Người Nhật ở phương Bắc ủ chín mì sợi somen với nước muối. Các tộc người ở phương Nam trồng lúa nước lại có món cơm ăn với muối vừng.
Có thể nói ngũ cốc, muối thiên nhiên từ lâu đã đóng vai trò quan trọng trong các nền ẩm thực truyền thống trên thế giới. Chỉ cách đây chừng hơn một thế kỷ, ông bà ta đã ăn uống rất Thực dưỡng, với những món ăn như: tương đậu nành cổ truyền, dưa muối, cá con, tép con, cua đồng, nước mắm cốt…, và đặc biệt là cơm gạo giã tay cũng như muối vừng+lạc (đậu phộng) thường ở vị trí trung tâm. Một năm họ chỉ ăn thịt vào những dịp lễ Tết, cưới hỏi. Trước thế kỉ XX, khi ngành công nghiệp thực phẩm chưa phát triển, thịt ở phương Tây từng được coi là thức ăn xa xỉ, chỉ đươc dùng vào dịp nghỉ lễ cuối tuần trong các gia đình (gọi là bữa ăn cải thiện). Còn lại những ngày thường, họ chỉ dùng chủ yếu là bánh mì (nguyên cám hay gần nguyên cám), khoai nghiền, các loại rau, thi thoảng với phô mai, bơ chế biến tự nhiên (không qua tiệt trùng – Pasteurize).
Chà, ai biết rằng những bữa ăn tưởng chừng thiếu thốn, kham khổ này lại chính là sự kết tinh của trí tuệ của người xưa. Nếu như mang chúng ra đối chiếu với những khám phá mới nhất của y học hiện đại và đặc biệt là những mớ thực phẩm hỗn độn mà con cháu họ ăn bây giờ, chúng ta đều phải gật gù đồng ý với nhau rằng: người xưa đã đi trước chúng ta một bước dài.
Cơm gạo là thức ăn hơi axit, một phần nó chứa nhiều carbohydrat và sinh nhiều calories. Đặc biệt nếu bạn ăn gạo xát trắng hay nhai không kỹ, một lúc sau sẽ thấy miệng lưỡi có vị chua hay nhờn nhờn (tệ hơn là đi ngủ bị há miệng, rỏ dãi) chứng tỏ thức ăn đó của bạn chứa hoặc tạo môi trường axit. Nhưng người ta không thể sống nếu thiếu năng lượng (calories) được. Ăn gạo lứt là một thực phẩm khá quân bình, các tinh bột (năng lượng) sẽ được hấp thụ từ từ qua đường ruột, cộng thêm các khoáng chất (chuyển hóa năng lượng) trong vỏ cám sẽ giúp cho cơ thể không bị xáo trộn nhiều trong quá trình tiêu hóa, hấp thu, bài tiết.
Muối thiên nhiên là thức ăn tạo kiềm rất mạnh, có khả năng làm sạch máu, trung hòa các độc tố và thải ra ngoài. Chính vì tác dụng khá mạnh này mà chúng ta thường thấy các bài súc ruột hay rửa ruột bằng nước muối, súc miệng nước muối khi viêm họng. Muối vào miệng cũng khiến cho khoang miệng sạch hơn, nước bọt được kiềm hóa. Vị mặn thiên nhiên còn có tác dụng trợ tiêu hóa, làm người ta cảm thấy ăn ngon miệng hơn, hăng hái hơn. Vì vậy, thực dưỡng luôn khuyên mọi người bắt đầu ngày mới bằng một tách trà tương-mơ muối hay một chén súp miso trước khi ăn sáng.
Tuy vậy, chúng ta không thể đưa một lượng muối lớn vào người cùng một lúc chỉ vì thấy nó tốt. Cũng giống như bạn muốn leo lên đỉnh núi cao chót vót, nhưng không thể cắm đầu cắm cổ chạy thật nhanh mà không gặp vấn đề. Người ta vẫn nói trèo cao té đau. Quan trọng là mỗi người phải lượng sức mình.
Vừng (giàu canxi) được đãi sạch rồi phơi nắng, rang chin trên lửa nhỏ là món giàu khoáng chất, tốt cho xương và răng. Khi nghiền muối và vừng, chất béo từ vừng sẽ bọc lại hạt muối, khiến cho muối trở nên quân bình (Dương trong Âm ngoài) và dễ hấp thu hơn rất nhiều so với muối sống. Muối vừng với cơm kết hợp với nhau vô tình tạo thành một sự quân bình về Axit-KiềmÂm và Dương khiến người ăn cảm thấy một sự ngon miệng rất đỗi đơn giản rất khó diễn tả thành lời.
Mình vẫn nhớ ngày xưa cả gia đình cùng ngồi giã vừng lạc, gói cơm mang đi lễ để ăn dọc đường. Món cơm nắm này chẳng có cái mùi hương ngào ngạt hay vẻ bắt mắt như mấy món sơn hào hải vị, nhưng khi đã bắt đầu nếm thì chưa bao giờ mình cảm thấy không vui thích với hương vị đó cả. Món ăn đạm bạc này, có một năng lực kì diệu là làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc một cách đơn giản nhất, bình yên nhất. Giống như hạnh phúc của một đứa trẻ phải ngồi học bài trong thời tiết lạnh giá buồn ngủ díu mắt, được leo lên giường đắp chăn đi ngủ. Hay giống như của những người nông dân sau khi làm ruộng về vất vả được ngồi nhâm nhi một chén trà tươi dưới gốc cây đa.
Thực dưỡng hiện nay có nhiều xu hướng, người ăn số 7 (100% ngũ cốc), người thích ăn rộng rãi thoáng mát. Mình vẫn mong các bạn hãy ăn đúng theo cơ thể của mỗi người (cái này không đồng nghĩa với việc chiều theo sở thích vô lí của nó). Bằng việc quan sát phân, nước tiểu, trạng thái đầu óc, hơi thở, kết hợp với việc tìm đọc thêm các sách vở (ưu tiên của người xưa) để áp dụng về lâu về dài. Cuộc sống không hiếm những điều mới lạ cần khám phá, nhưng đôi khi người ta cần lùi lại để xem xem mình có đang đi quá giới hạn không, hay thấy cuộc sống khó khăn này đang rối tinh rối mù lên thì đừng quên món ăn fast food dân tộc này nhé ^^
Vĩnh Bảo sưu tầm 14/12/2017

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Bún thang xưa và nay - tinh tế ẩm thực người Hà Nội

Bún thang xưa và nay - tinh tế ẩm thực người Hà Nội


  •  
    Đối với người Việt Nam, nói đến quà bún, có lẽ chẳng mấy ai là không thấy thích. Quà bún đã trở thành thứ món ăn dân dã vô cùng thân thuộc với người Việt Nam. Có đến vô vàn các loại quà bún..., nhưng hôm nay, chỉ xin được nói đến bún thang, món bún độc nhất từ Hà Nội, và chỉ ăn ở Hà Nội mới thấy hết cái vị ngon của nó.
   Nguồn gốc của bún thang thì đây vốn là món ăn khi hết Tết, nhà nhà hóa vàng vào mùng bốn. Đó là ngày tiễn tổ tiên về trời và cũng là tổng kết Tết. Khi đó, những gì còn lại của Tết sẽ mang ra để làm thang. Vì thế, mỗi thứ còn chút chút, và do cũng còn những miếng đã chặt nên đều xé nhỏ. Cùng với cuốn, thang là món nhẹ nhàng, thanh đạm trái ngược với những món dễ ngấy ngày tết. Mà thang ở đây phải hiểu như một thang thuốc, một bát bún mà như một  thang thuốc vậy!
 Món thang xưa, nhân gồm thịt gà xào với củ đậu. Xương gà để nấu nước dùng. Mà nước dùng còn phải có xương bánh chè và tôm he ninh lấy nước. hớt hết bọt cho trong. Như thế nước dùng mới thanh mà ngọt đậm đà. Củ đậu là thứ còn thừa từ Tết, đem băm nhỏ xào với thịt gà làm nhân. Và còn có cả thịt lợn băm xào săn với nước mắm ngon. Ngoài ra còn phải có bát củ cải dầm để ăn cùng thang. Củ cải cắt khúc năm phân, chẻ gióng mía, phơi héo, bóp muối, rửa sạch, để ráo, cho vào lọ với gừng và ớt thái chỉ. Pha một muôi dấm, một muôi đường, ba phần tư muôi nước mắm, đun sôi, để nguội rồi đổ vào lọ củ cải ngâm trước một tiếng. Tôm he phải rang lên cho thơm rồi giã nhỏ làm ruốc cho vào thang. Trứng tráng thái chỉ, rồi trứng muối vàng đỏ cũng không thể thiếu.
   Bún được xếp vào trước, rồi đến nhân, mỗi thứ một góc, vừa phải thôi, người Hà Nội ăn thanh cảnh lắm mà. Đặt lên trên là vài tai nấm hương thơm nức. Chẳng thể quên được một chút mắm tôm, cà cuống. Thiếu nó, bát bún ăn chẳng còn thấy hồn ở đâu.....
                         














     Bát bún thang ngày xưa
   Ngày nay, bún thang đã lai tạp, biến tấu đi rất nhiều. Nó không còn là một món chỉ được ăn vào dịp Tết mà trở thành món ăn hàng ngày. Nhân thang cũng không còn quá cầu kỳ như xưa nhưng vẫn giữ được vị cơ bản như thịt gà xé, giò lụa thái sợi mỏng, trứng tráng vàng rộm thái chỉ, ruốc tôm, vài cây nấm hương, rau răm và hành thái nhỏ, củ cải dầm giòn tan.....














              

                       mắm tôm thứ gia vị không thể thiếu trong thang.















 Khi bát thang đã đầy đủ nguyên liệu, nước dùng chan vào phải nóng giẫy, cái món này đến lạ, ăn phải thật nóng, nóng hổi thì mới thấy hết cái vị thanh của nước, vị thơm của nhân. Gắp miếng bún đưa lên miệng  thấy được tất cả hương đất trời. Theo Vũ Bằng, thì ấy là cái vị ngon gần như " không thể chịu được".....















Vĩnh Bảo sưu tầm 12/12/2017 















Nguồn ảnh: Interne

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Vì sao ăn vài trái ổi sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm?

Vì sao ăn vài trái ổi sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm?


Người Ấn Độ có câu: “Vài trái ổi trong mùa sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm”. Hãy cùng khám phá những điều kỳ diệu trong loại quả này!
Ổi là loại cây rất quen thuộc trong đời sống người dân nước ta, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Thực ra cây ổi có nguồn gốc từ miền nhiệt đới châu Mỹ, sau được trồng phổ biến ở khắp các miền nhiệt đới châu Á và châu Phi.
Công dụng của quả ổi
Trái ổi là một loại quả bổ dưỡng, là nguồn cung cấp sinh tố A và C.
Ở ta, ổi mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi hoặc được trồng trong vườn, quanh nhà để lấy quả ăn. Ngoài ra các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, vỏ rễ và vỏ thân còn được dùng làm thuốc.
Trái ổi là một loại quả bổ dưỡng, là nguồn cung cấp sinh tố A và C, đa số sinh tố tập trung ở phần thịt, lớp vỏ mỏng bên ngoài quả. Ổi được thể ăn sống, chế thành kem hoặc nước giải khát. Ổi là nguồn vitamin C làm lành da tuyệt vời nhất.
Bên cạnh đó, quả ổi cũng có rất nhiều tác dụng trong ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị một số bệnh hiệu quả!
Ngừa cao huyết áp
Những nghiên cứu y học cho thấy nếu cơ thể chúng ta tiêu thụ những loại thực phẩm không có chất xơ thì dễ bị “dính” chứng cao huyết áp, thực phẩm được tiêu thụ sẽ mau chóng chuyển thành đường.
Do ổi có nhiều chất xơ, có chỉ số đường huyết (glycemic index) thấp nên cũng có tác dụng hạ huyết áp.
Quả ổi giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa quá trình làm máu trở nên đặc, vì vậy làm tăng tính linh động của máu, giúp máu thoát khỏi họa “kẹt xe” và lưu thông trong cơ thể một cách dễ dàng hơn.
Ngăn ngừa ung thư
Các nghiên cứu y học đã cho thấy rằng thành phần chiết xuất từ lá ổi có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Hơn nữa, ruột quả ổi cũng chứa chất lypocene cao, tác dụng chống ung thư. Đặc biệt folate trong ổi cũng giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày.
Ngăn ngừa bệnh tim
Trong ổi đặc biệt là ổi đào có lượng lycopen nhiều hơn cà chua 26%, có thể giảm bớt nguy cơ bệnh tim.
Ngăn ngừa vi trùng
Trong quả ổi có chứa hàm lượng lớn chất chống oxy hóa, chất chống độc tố như Vitamin C, Vitamin E, iso- flavanoids, carotenoid, polyphenol…
Những dưỡng chất này sẽ giúp cơ thể chống lại vi trùng, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, đồng thời giúp mẹ bầu tránh xa bệnh tật.
Ngừa béo phì
Ổi chứa ít chất béo nên ăn ổi có thể giảm béo, giúp cơ thể thon gọn hơn.
Đặc biệt trong trái ổi ruột đỏ (ổi đào) còn có chất lycopen nhiều hơn trong cà chua không chỉ có tác dụng chống những bệnh liên quan tới béo phì mà còn những bệnh khác như bệnh tiểu đường cấp 1, giảm bớt nguy cơ bệnh tim mạch.
Ngừa bệnh tiểu đường
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Ấn Độ, lá và quả ổi có khả năng giảm thiểu lượng đường gluco trong máu. Tuy nhiên, nếu ăn cả vỏ ổi sẽ không tốt cho lượng đường trong máu của bạn. Cách tốt nhất khi ăn ổi để điều trị bệnh tiểu đường là gọt bỏ vỏ.
Ngừa cảm lạnh
Một ly nước ép ổi tươi có thể giúp bạn giảm các triệu chứng cảm lạnh như giảm ho, tẩy đàm, thông đường hô hấp do trong ổi chứa nguồn vitamin C cao, các chất chống oxy hóa và điện giải…
Trị ho
Nước ép trái ổi hoặc nước sắc lá ổi rất có lợi trong việc làm giảm ho, trị cảm, đồng thời có tác dụng “dọn dẹp” hệ hô hấp. Thịt quả ổi chứa rất nhiều vitamin và sắt, nhờ đó có tác dụng ngăn ngừa bệnh cảm và các trường hợp bị nhiễm siêu vi.
Món ăn từ trái ổi
Ổi ướp lạnh: Giúp giải nhiệt khi thời tiết nắng nóng
  1. Lấy phần nạc của ổi, cắt nhỏ và xay nhuyễn.
2. Cho nước chanh tươi, rượu vodka và đường xay thêm cho đều.
3. Cho hỗn hợp vào tủ lạnh trong khoảng 45-60 phút. Ngoài ra, có thể cho hỗn hợp vào tủ làm đông để ăn như kem thông thường.
Ổi trộn: Giúp giảm cân và bồi dưỡng thể lực
  1. Gọt vỏ ổi, chỉ lấy phần nạc và cắt thành từng lát vừa ăn, cam gọt vỏ cắt từng lát mỏng, chuối cắt khoanh tròn sau đó trộn đều ba loại với nhau.
2. Rưới nước chanh tươi vào hỗn hợp, trộn đều.
3. Trước khi ăn, rưới thêm mật ong.
4. Bạn có thể cho vào tủ lạnh khoảng một giờ trước khi dùng.
Nước ép ổi: Tăng cường sức khoẻ
  1. Ổi bỏ vỏ, moi bỏ hạt, ép lấy nước.
2. Cho thêm ít muối và đường. Ngon hơn khi uống lạnh
Theo phunugiadinh
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/12/2017