Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt

Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt

Từ một cậu bé nghèo khó trở thành nhà địa lý kiệt xuất, nhưng về cuối đời, cụ Tả Ao vẫn không thể tránh khỏi sự bài xếp của vận mệnh. Câu chuyện truyền kỳ về cuộc đời cụ Tả Ao cũng để lại cho người thời nay không ít suy ngẫm, thật đúng với câu nói: “tiên tích đức, hậu tầm long”.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt, Tả Ao
(Ảnh minh họa qua Pinterest)
Tả Ao được xem là nhà phong thủy kiệt xuất của người Việt. Dân gian xem ông là nhà địa lý phong thủy giỏi nhất từ xưa đến nay ở Việt Nam và tôn ông là “Thánh phong thủy”. Người ta còn truyền tụng bài thơ về ông thế này:
Tả Ao phong thủy nhất trên đời
Họa phúc cầm cân định chẳng sai.
Mắt thánh trông xuyên ba thước đất,
Tay thần xoay chuyển bốn phương trời.
Chân đi long hổ luồn qua gót,
Miệng gọi trâu dê ứng trả lời.
Ai muốn cầu sao cho được vậy
Ấy ai địa lý được như ngài.
Nhưng câu chuyện về nhân duyên đến với phong thủy của Tả Ao thì không phải ai cũng biết…

Tấm lòng hiếu thảo của cậu bé nghèo khổ

Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền, người làng Tả Ao, tỉnh Hà Tĩnh, sống vào thời vua Lê. Khi còn nhỏ, gia cảnh cậu bé Đức Huyền rất nghèo khó, cha mất sớm, mẹ lại bị mù cả hai mắt. Dù nhỏ, Đức Huyền vẫn rất chăm chỉ làm hết tất cả các việc để chăm sóc mẹ.
Thấy mẹ không thể nhìn thấy được như những người khác, Đức Huyền thường hay tìm hiểu hỏi thăm cách chữa mắt cho mẹ. Cậu lặn lội tới cả những nơi xa xôi với hy vọng tìm được người chữa khỏi bệnh cho mẹ nhưng đều không có hiệu quả. Tuy nhiên, Đức Huyền không hề nản chí mà quyết tìm bằng được phương thuốc chữa mắt.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh sưu tầm)
Nghe tin về một ông thầy thuốc người Tàu rất giỏi về thuật chữa mắt đang ở đất Nam, Đức Huyền khấp khởi vui mừng. Nhưng do nhà quá nghèo không đủ tiền chữa trị, nên Đức Huyền đã xin hầu hạ thầy để mong thầy chữa bệnh cho mẹ mình.
Ông thầy người Tàu thấy chàng trai này rất siêng năng chăm chỉ, thông minh, đặc biệt lại rất hiếu thảo với mẹ, nên đã đồng ý chữa. Trong quá trình đó, ông cũng truyền cho Đức Huyền một số y thuật để chữa mắt.
Sau bao nhiêu năm chịu cảnh mù lòa, đôi mắt mẹ Đức Huyền đã sáng trở lại. Thế nhưng đó cũng là lúc ông thầy người Tàu phải về nước. Quý tiếc cơ duyên đối với y thuật, Đức Huyền vội vã xin được theo thầy để hầu hạ, học y thuật chữa mắt và đã được thầy đồng ý. Vậy là cậu từ biệt mẹ lên đường sang Trung Hoa.

Kỳ duyên đến với phong thủy

Sau này tại Trung Hoa, y thuật của Đức Huyền vang danh khắp nơi. Một thầy địa lý bị đau mắt đã phải nhờ đến sự chữa trị của Đức Huyền mới khỏi. Ông ta mang tới 50 lượng vàng để hậu tạ Đức Huyền, nhưng cậu không nhận mà xin làm đệ tử. Thấy cậu là người có tài đức lại ham học hỏi, nên thầy địa lý bằng lòng thu nhận cậu làm đồ đệ.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh sưu tầm)
Sau một thời gian, Đức Huyền đã thành thạo tất những những kiến thức mà thầy truyền thụ lại cho mình và xin phép về nước. Tương truyền để kiểm tra và thử tài đệ tử mình, trước khi chia tay, vị thầy địa lý đã làm một mô hình phong thủy, chôn 100 đồng tiền, rồi yêu cầu Đức Huyền dùng kim điểm đúng huyệt chôn tiền.
Đức Huyền đã dùng kim điểm đúng 99 huyệt, còn một cây điểm ở mép, mà huyệt này lại là huyệt thứ 100. Đây là huyệt ảo, vì mô hình tạo dáng rất huyền bí, ẩn hiện dưới những mô đất nhấp nhô, những thầy địa lý giỏi cũng khó phát hiện ra đúng huyệt đạo. Lúc này thầy địa lý kia mới thốt lên rằng: “Thôi, nghề của ta từ nay truyền sang nước Nam rồi!”
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Tả Ao bái biệt thầy (Ảnh sưu tầm)
Trước khi từ biệt về nước, thầy cẩn thận dặn dò Đức Huyền rằng: “Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên”.

“Tiên tích đức, hậu tầm long” – Phong thủy không thay đổi được thiên mệnh

Khi trở về quê hương, Đức Huyền làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho người dân, ít khi sử dụng đến khoa địa lý. Chỉ khi nào cần thiết ông mới ra tay xem thế đất dùm mọi người. Tuy vậy danh tiếng xem địa lý, phong thủy của ông lại nổi hơn nghề thầy thuốc. Vì ông là người làng Tả Ao nên người dân vẫn thường gọi ông là cụ Tả Ao.
Trong sách “Nam Hải dị nhân” có kể rằng một lần đi qua núi Hồng Lĩnh, Tả Ao tình cờ lên núi và phát hiện thế đất “Cửu long tranh châu”, tức là chín rồng tranh ngọc, ngọc ở đây mang ý nghĩa là “ngọc tỷ truyền quốc”, có được ngọc cũng có nghĩa là có được thiên hạ. Thấy vậy, Tả Ao liền mừng rỡ mà nghĩ rằng: “Huyệt đế vương đây rồi, thầy dặn không lên là vì thế”. Sau đó Tả Ao đưa mộ cha về táng ở đấy.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh minh họa qua Pinterest)
Ít lâu sau, vợ Tả Ao sinh được con trai. Khi đó là vào thời nhà Minh ở Trung Hoa. Các thầy thiên văn phát hiện rằng các vì tinh tú đều chầu về phương Nam, liền báo với vua Minh rằng nước Nam sinh được nhân tài sẽ hại cho nhà Minh. Vua Minh bèn truyền cho các thầy địa lý rằng nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc.
Thầy của Tả Ao biết ngay chỉ có học trò của mình mới làm được việc này, nên cho con trai đi tìm Tả Ao. Con của thầy địa lý đã tìm cách cắt lấy ngôi mộ của cha Tả Ao, và bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh minh họa qua fengshui.com)
Sau này, biết đất Hàm Rồng có huyệt quý ở ngoài hải đảo, khi mẹ mất, Tả Ao đưa di hài mẹ đến nơi đây để táng. Ông chọn đúng ngày giờ thì lại gặp lúc sóng to gió lớn, không sao đưa đến huyệt để táng được. Đợi đến khi trời yên biển lặng thì nơi đó nổi lên một bãi bồi. Tả Ao chỉ còn nước than thở: “Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc. Trời đã không cho thì đúng là số rồi”.
Từ đó, Tả Ao cũng hiểu rõ về phong thủy hơn, biết dù giỏi địa lý cũng không thể thay đổi được số mệnh. Ông ít khi ở nhà mà chu du bốn phương chữa bệnh giúp người, thỉnh thoảng tìm đất cho người có duyên, không màng đến công danh bổng lộc.
Ông giúp dân tìm chọn nơi đào giếng có nước lành, trong ngon, không cạn, không chạm long mạch; chọn hướng đình để làng yên ấm trong ngoài, dân cư phát triển. Trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện xem phong thủy ly kỳ của ông.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Bản đồ làng Hành Thiện hình con cá chép bơi ra biển, nơi lưu truyền chuyện xem phong thủy của cụ Tả Ao.
Một trong những giai thoại là việc cụ Tả Ao chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định. Khi đi tới ngôi làng này, cụ cho dân làng biết đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Giếng nước làm mắt cá.
Dân làng nghe cụ nói liền thết đãi và khẩn khoản nhờ cụ giúp xem lại hướng làng. Cụ liền chỉ cho dân đào một cái giếng làm mắt cho cá chép. Từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Giếng làm mắt cá tại làng Hành Thiện vẫn còn tới ngày nay. (Ảnh qua disanlangviet.com)
Lúc già yếu, cụ Tả Ao đã chọn sẵn cho mình một thế đất “Nhất khuyển trục quần dương” (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên, nhưng cần chôn ngay trước khi chết để tự phân kim.
Tuy nhiên lúc sắp lâm chung, con cụ Tả Ao đưa đến mộ được nửa đường thì cụ biết không kịp. Thấy rằng số phận cũng không cho mình ở ngôi đất tốt, cụ nhìn bên đường rồi chỉ đại vào một cái gò và nói với các con rằng: “Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế”. Hai con cụ nghe lời và táng luôn ở đó.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Đền thờ cụ Tả Ao ở thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh qua kienthuc.net.vn)
Cả đời cụ Tả Ao tìm đất cho không biết bao nhiêu người, nhưng bản thân cụ dù tìm được đất tốt cũng không thể hưởng. Thậm chí dù đã chuẩn bị sẵn đất để chôn chính bản thân mình nhưng lại cũng không được. Sự việc này cho thấy câu nói “tiên tích đức, hậu tầm long” của người xưa rất chính xác. Giỏi như cụ Tả Ao mà tích chưa đủ đức thì có tìm được đất đế vương cũng không thể hưởng.
Gia tài cụ Tả Ao để lại chỉ vỏn vẹn 2 cuốn sách nhỏ là “Địa Lý Tả Ao (Địa Đạo Diễn Ca)” gồm 120 câu và “Dã Đàm Tả Ao Tầm Long Gia Truyền”. Nhiều sách khác cũng được xem là của cụ nhưng thực ra đều là dị bản, chủ yếu là từ 2 cuốn sách trên của cụ rồi dẫn giải thêm bớt. Ngày nay tại huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh vẫn còn đền thờ Tả Ao và giếng Tả Ao.
Trần Hưng
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/6/2017

Vị hiền nhân người Việt chinh phục cả Trường An, làm tể tướng Trung Quốc

Vào triều đại nhà Đường của Trung Hoa, nước Việt vẫn đang nằm trong thời kỳ Bắc thuộc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta thiếu đi nhân tài. Trong lịch sử có ghi chép về câu chuyện hai anh em họ Khương ở xứ An Nam sang tận kinh đô nhà Đường khảo thí cùng các anh tài của Trung Quốc thời bấy giờ. Cả hai đều đỗ tiến sĩ, trong đó có một người đỗ đầu trên bảng vàng, rồi làm quan cho nhà Đường tới chức tể tướng.
Theo gia phả của chi tộc họ Khương ở Yên Định, Thanh Hóa, thì dòng họ Khương nổi lên từ thời của Khương Thần Dực. Bấy giờ, ông được bổ nhiệm làm Thứ Sử vùng đất Ái Châu (tức Thanh Hóa ngày nay). Con của Khương Thần Dực là Khương Văn Đĩnh làm quan đến huyện thừa tiến sĩ. Ông sinh được hai người con trai là Khương Công Phụ và Khương Công Phục, cả hai anh em đều rất kháu khỉnh.
Khương Công Phụ
Vùng đất Yên Định, nơi Khương Công Phụ được sinh ra. (Ảnh qua Thanhhoa.gov.vn)

Tài không đợi tuổi

Hai anh em Công Phụ và Công Phục từ nhỏ đã thể hiện thiên tư tuyệt vời, nên ông Khương Văn Đĩnh rất vui mừng tìm thầy giỏi dạy học cho hai con. Trong hai anh em thì người anh Khương Công Phụ có sức học khiến thầy phải kinh ngạc, chẳng mấy chốc đã thông tỏ Tứ thư Ngũ kinh; ý nghĩa thâm sâu trong Kinh Thư, Kinh Lễ cũng được cậu diễn giải thông suốt. Tiếng tăm về sức học của Công Phụ khiến người dân quanh vùng đều biết, thậm chí các quan nhà Đường ở quận Cửu Chân đều nể phục cậu bé.
Sau khi học thành tài, hai anh em Công Phụ và Công Phục tham gia kỳ thi quận. Năm ấy chỉ có 8 sĩ tử đứng đầu An Nam (tên gọi dành cho nước Việt dưới thời nhà Đường) mới được sang Trường An – kinh đô của nhà Đường để thi tiếp.
Khương Công Phụ
Trường An. (Ảnh qua Pinterest.com)
Qua các kỳ thi khảo hạch, bất kể là câu hỏi thuộc chủ đề nào, anh em Công Phụ và Công Phục đều làm bài trôi chảy, lời văn mạch lạc khúc chiết, diễn giải thâm sâu, khiến chốn quan trường tại An Nam vô cùng kinh ngạc. Kết quả Khương Phụ đứng đầu trong 8 sĩ tử và cùng em mình được chọn đến dự thi khoa thi tiến sĩ ở Trường An vào năm 758.

Chinh phục Trường An

Trường An – kinh đô nhà Đường – là một trong những nơi văn minh bậc nhất thế giới ở thời điểm đó. Giữa phố phường tấp nập ngựa xe, các sĩ tử Trung Hoa mang dáng vẻ cao ngạo khi tiếp xúc với những sĩ tử từ phương xa tới. Thông thường các giám khảo cũng có xu hướng đánh giá các sĩ tử phương Bắc cao hơn.
Khương Công Phụ
Trường An phồn hoa. (Ảnh minh họa qua chinatraveldepot.com)
Thế nhưng trong khoa thi năm 758, Khương Công Phụ với tài năng thông tuệ của minh đã vượt qua các kỳ thi sát hạch khó khăn nhất. Trí tuệ của Công Phụ đã chinh phục ngay cả những giám khảo khó tính nhất, khiến tất cả đều kinh ngạc.
Bài thi “Đối trực ngôn cực gián” của Công Phụ xuất sắc đến nỗi tất cả các giám khảo đều phải thừa nhận và khâm phục thí sinh xứ An Nam. Kết quả, hai anh em Công Phụ, Công Phục cùng đậu tiến sĩ, đặc biệt Khương Công Phụ đã vượt lên hàng ngàn sĩ tử, đứng đầu bảng vàng, đoạt lấy khôi nguyên tiến sĩ cả nước Đại Đường.

Dưới một người, trên vạn người

Ngay sau kỳ thi, Khương Công Phụ được hoàng đế Đường Túc Tông (756 – 762) phong quan chức “hiệu thư lang”; còn người em là Khương Công Phục làm “lang trung bộ Lễ” rồi “bắc bộ thị lang”.
Với phẩm cách hơn người, Công Phụ đã có nhiều chính sách và công lao lớn, khiến Hoàng đế tin tưởng phong chức làm “tả thập di”, chuyên việc giám sát công việc các quan trong triều.
Khương Công Phụ
Khương Công Phụ. (Ảnh qua baike.com)
Mỗi khi yết triều, Khương Công Phụ đối đáp trôi chảy mạch lạc, ứng xử thông minh, diễn giải mọi việc thâm sâu, khiến các quan trong triều đều khâm phục. Vì thế ông được mời vào viện Hàn lâm làm “hàn lâm học sĩ” kiêm chức “kinh triệu hộ tào tham quân”.
Năm 783, nhà Đường có biến, quân Kinh Nguyên tấn công thành Trường An khiến Đường Đức Tông phải rời khỏi kinh thành, sau lại có thêm Chu Thử làm phản tự xưng đế.
Khương Công Phụ năm ấy đã 50 tuổi, theo Hoàng đế nhiều lần can gián, lập công lớn. Đức Tông khi nhìn lại sự việc thấy các lời can gián và tiên đoán của Khương Công Phụ đều chính xác cả, cảm thấy nuối tiếc vì bản thân mình nhiều lần không nghe lời Công Phụ. Từ đó, Hoàng đế tin tưởng phong cho Công Phụ làm “gián nghị đại phu”, “đồng trung thư môn hạ bình chương sự”, chính là hàm tể tướng.
Khương Công Phụ
Khương Công Phụ nhiều lần can gián hoàng đế. (Ảnh minh họa qua Knews.cc)
Về công lao can gián Hoàng đế trong cuộc phiến loạn này, Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép như sau:
…(Khương Công Phụ) từng xin giết Chu Thử, vua Đường không nghe. Không bao lâu Kinh sư có loạn, vua Đường từ cửa Thượng Uyển đi ra, Công Phụ giữ ngựa lại can rằng: “Chu Thử từng làm tướng ở đất Kinh đất Nguyên, được lòng quân lính, vì Chu Thao làm phản nên bị vua cất mất binh quyền, ngày thường vẫn uất ức, xin cho bắt đem đi theo, chớ để cho bọn hung ác đón được”. Vua Đường đương lúc vội vàng không kịp nghe, trên đường đi lại muốn dừng lại ở Phượng Tường để nương nhờ Trương Dật. Công Phụ can rằng: “Dật tuy là bề tôi đáng tin cậy, nhưng là quan văn, quân đột kỵ ở Ngư Dương do ông ta quản lĩnh đều là bộ khúc của Chu Thử. Nếu Thử thẳng đến Kinh Nguyên làm loạn, thì ở nơi ấy không phải kế vạn toàn”. Vua Đường bèn đi sang Phụng Thiên. Có người báo tin Thử làm phản, xin vua Đường phòng bị. Vua Đường nghe lời Lư Kỷ xuống chiếu cho quân các đạo đóng cách xa thành một xá, muốn đợi Thử đến đón. Công Phụ nói: “Bậc vương giả không nghiêm việc vũ bị thì lấy gì để oai linh được trọng. Nay cấm binh đã ít người mà quân lính người ngựa đều ở bên ngoài, thần lấy làm nguy cho bệ hạ lắm”. Vua Đường khen là phải, cho gọi hết vào trong thành. Quân của Thử quả nhiên kéo đến, đúng như lời của Công Phụ. Vua Đường bèn thăng cho Phụ làm gián nghị đại phu, đồng trung thư môn hạ bình chương sự….
Một người con của xứ An Nam lại đứng đầu cả một triều đình phương Bắc, chỉ dưới Hoàng đế – đây quả là sự kiện có một không hai trong lịch sử. Người Việt có thể tự hào khi có một vị hậu duệ nhà Trần trở thành Hoàng đế Trung Hoa, và cũng có thể tự hào về một hiền nhân làm quan tể tướng đầu triều thời nhà Đường. (Xem bàiHậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?)

Trực ngôn can gián

Năm 784, công chúa Đường An chẳng may chết yểu. Quá thương con, Hoàng đế ra lệnh xuất tiền công khố để xây tháp vô cùng nguy nga lộng lẫy. Thế nhưng tể tướng Khương Công Phụ lại thẳng thắn can ngăn.
Đang lúc thương tiếc con, lại nghe phải lời trái tai của Công Phụ, Hoàng đế đã tức giận giáng chức ông xuống làm “tả thứ tử” (chức quan dưới quyền thái tử, công việc là coi giữ sổ sách cho thái tử trong cung) nhưng vì mẹ mất nên ông được giải chức về chịu tang.
Sách “An Nam chí lược” có ghi chép chuyện can gián của Khương Công Phụ như sau:
Công Phụ can rằng: “Sơn Nam không phải là nơi ở lâu dài, vả lại nên tiết kiệm để giúp vào khoản cần cấp của việc quân”. Vua bảo Lục Chí rằng: “Công Phụ muốn chỉ trích lỗi lầm của Trẫm để cầu danh mà thôi”. Lục Chí tâu rằng: “Công Phụ làm quan gián nghị, giữ chức tể tướng, bày điều phải, sửa điều trái, chính là bổn phận. Đặt gia phụ thần ở tả hữu để sớm tối nghe lời can ngăn. Thấy cơ nguy thì giúp đỡ ngay, ấy việc của Phụ Thần là như thế”. Vua nói: “ Không phải”. Vua bèn đổi Công Phụ làm thái tử tả thứ tử.
Năm Quý Dậu (793), Khương Công Phụ bị sai đi biệt giá ở Tuyền Châu (tỉnh Phúc Kiến). Ông sống ở đây 14 năm, tự làm nhà dưới chân núi Cửu Nhật Sơn (thuộc huyện Nam Yên), kết bạn với một vị quan ở ẩn khác là Tần Hệ. Hai người có cảnh ngộ giống nhau, ngày ngày đi dạo chơi ngắm cảnh sông núi, ngâm thơ, xướng hoạ.
Năm 805, vua Đường Thuận Tông lên ngôi, bãi bỏ các chính sách hủ bại thời Đường Đức Tông, phế truất tham quan, hạn chế quyền lực hoạn quan.
Vua Đường Thuận Tông trọng dụng nhân tài, vì thế mà Khương Công Phụ lại được vời ra làm quan. Thế nhưng do tuổi cao nên chưa kịp nhận chức thì ông đã mất năm 805, thọ 73 tuổi. Vì xa vợ con, xa gia đình nên Công Phụ đã được người bạn thân là Tần Hệ chôn cất ở núi Cửu Nhật Sơn.

Tưởng nhớ

Khi Khương Công Phụ ở Tuyền Châu, người dân địa phương đã tự nguyện xây 2 ngôi đình ở bên ngoài về phía Đông của châu thành để kỷ niệm nơi ông cùng quan thứ sử Tuyền Châu từng đến dạo chơi. Về sau người dân còn xây một ngôi đền thờ Khương Công Phụ và Tần Hệ tại sườn phía Tây núi Cửu Nhật Sơn, và đặt tên một chóp núi cao là “Khương tướng phong” để kỷ niệm nơi Công Phụ đến ở ẩn. Bên chóp núi “Khương tướng phong” có “Khương tướng mộ” (hiện nay mộ phần vẫn còn, còn cả bia ghi lại kỳ tích của Khương Công Phụ bằng chữ Hán).
Khương Công Phụ
Tấm bia kỷ niệm về Khương Công Phụ. (Ảnh qua Website gia tộc họ Khương)
Ngày nay ở Thanh Hóa dòng họ Khương có lập đền thờ Khương Công Phụ tại vị trí ngay trên nền nhà cũ của ông ở làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vào ngày 10/3 hàng năm, lễ giỗ Khương Công Phụ được tổ chức ở xã Định Thành với sự tham gia của đông đủ con cháu họ Khương, người dân trong làng, cùng người dân ở nhiều nơi khác. Tại đây, lớp lớp con cháu lại được nghe kể về kỳ tích của ông.
Khương Công Phụ
Sắc phong tại đền thờ Khương Công Phụ. (Ảnh qua viensuhoc.vass.gov.vn)
Đền thờ của Khương Công Phụ còn lưu lại câu đối của đốc học Lê Văn Thạc:
Phong vũ dĩ tồi công chúa tháp
Hải vân trường chiếu trạng nguyên từ.
Dịch là:
Gió mưa đã nát tháp công chúa
Mây biển soi mãi đền trạng nguyên
Trần Hưng
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/6/2017