Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

Khi nào cơ thể suy yếu?

Khi nào cơ thể suy yếu?


Sau quá trình nghiên cứu kéo dài mười mấy năm, gần đây các chuyên gia tư vấn sức khỏe hàng đầu của Mỹ đã tiết lộ thời gian biểu về sự suy yếu của các cơ quan trên cơ thể.
Da mặt
Nữ giới: hơn 19 tuổi là bắt đầu xuất hiện những nếp nhăn đầu tiên.
Nam giới: Từ 35 tuổi trở lên da mặt bắt đầu hiện rõ những biểu hiện lão hóa như: khô rát, sần sùi, cơ mặt lỏng lẻo, không săn chắc, nét mặt không được rõ ràng.
Phổi
Nữ giới: 20 tuổi bắt đầu có dấu hiệu suy yếu, ở một vài người còn xuất hiện hiện tượng thở dốc, thở hổn hển hoặc hen suyễn.
Nam giới: Khi 30 tuổi, nam giới hít 946ml không khí/ lần thở. Tuy nhiên, đến 70 tuổi, con số này giảm xuống còn 473ml.
Não và hệ thống thần kinh
Nữ giới: bắt đầu có dấu hiệu lão hóa cơ quan này lúc 22 tuổi. Các tế bào thần kinh trong đại não có xu hướng giảm dần. Sau 40 tuổi, các tế bào thần kinh sẽ giảm dần khoảng 10.000 tế bào/ ngày, từ đó ảnh hưởng đến trí nhớ và chức năng của não.
Tóc
Nam giới bước sang tuổi 30 tóc bắt đầu có dấu hiệu bạc trắng, nữ giới khoảng trên dưới 35 sẽ có dấu hiệu này.
Sau 60 tuổi số lượng nang lông ít đi, tóc dần bị rụng với số lượng lớn. Sở dĩ tóc có màu đen là do trong tóc có chứa 1 loại hắc tố đặc biệt, cơ thể lại không có một tuyến riêng nào bài tiết đồng loạt hắc tố này, do đó hắc tố đen được sinh ra trong mỗi sợi tóc không giống nhau, kết quả là có sợi tóc đen, có sợi tóc trắng trong một chỉnh thể chung.
Ngực
Bộ phận này bắt đầu có dấu hiệu suy yếu chức năng hoạt động khi 35 tuổi. Cùng với lượng estrogen và hooc-môn sinh dục của phụ nữ ngày càng có xu hướng giảm, bầu ngực cũng dần suy yếu chức năng và biến dạng. Sau 40 tuổi, núm vú bị co rút lại rất nhanh.
Cơ bắp
30 tuổi bắt đầu suy yếu dần chức năng hoạt động và lão hóa. Cơ bắp không ngừng được hình thành và thoái hóa, cứ hình thành rồi lại thoái hóa dần. Sau 30 tuổi, tốc độ suy yếu, thoái hóa nhanh hơn tốc độ hình thành. Sau 40 tuổi, tốc độ hình thành cơ bắp mới sẽ giảm từ 0,5-2%.
Xương
Bộ phận chiếm phần lớn trọng lượng của cơ thể này bắt đầu có dấu hiệu suy yếu khi bước sang tuổi 35. Độ dày (mật độ) xương trên cơ thể trước 25 tuổi không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, đến 35 tuổi chất lượng của xương giảm dần, bước vào quá trình lão hóa tự nhiên. Khi 80 tuổi, chiều cao có thể bị giảm xuống 5cm.
Tim
40 tuổi bắt đầu lão hóa. Cùng với sự già yếu của cơ thể, khả năng co bóp đẩy máu cho toàn bộ cơ thể giảm đi.  Tỷ lệ mắc và phát bệnh tim ở nam giới trên 45 tuổi và nữ giới trên 55 tuổi khá cao.
Răng
40 tuổi, răng bắt đầu suy thoái chức năng hoạt động. Đây cũng là thời điểm lượng nước bọt tiết ra sẽ giảm dần. Nước bọt có thể cuốn trôi vi khuẩn. Lượng nước bọt giảm răng và lợi càng dễ bị sâu, thối rữa.
Mắt
40 tuổi có dấu hiệu lão hóa mạnh. Nhìn vật ở cự li gần vô cùng khó khăn. Tiếp đó, khả năng thích ứng của mắt đối với các loại ánh sáng giảm, vô cùng nhạy cảm với những tia sáng có cường độ mạnh, khó khăn khi lái xe vào ban đêm.
Thận
50 tuổi bắt đầu suy yếu chức năng. Chức năng lọc của thận bắt đầu suy yếu khi 50 tuổi, hậu quả là cơ thể mất chức năng giữ lại nước tiểu, luôn có nhu cầu đi vệ sinh. Ở người già 75 tuổi, thận hoạt động chỉ bằng một nửa người ở tuổi 30.
Tuyến tiền liệt
50 tuổi bắt đầu lão hóa. U xơ tiền liệt tuyến cũng dẫn tới hàng loạt những vấn đề về nội tiết trong cơ thể, phần đông đàn ông trên 50 tuổi đều mắc phải căn bệnh này. Tiền liệt tuyến ở trạng thái bình thường có kích thước khá nhỏ, tuy nhiên khi có dấu hiệu mắc u xơ hay lão hóa, nó có thể to gấp mấy lần bình thường.
Thính lực
Trên dưới 55 tuổi bắt đầu có dấu hiệu nghe kém, thính lực giảm rõ rệt. Phần lớn những người trên 60 tuổi giảm thính lực do tuổi già, do ảnh hưởng của quá trình lão hóa. Đó gọi là hiện tượng điếc ở người già. Màng nhĩ dày lên nên khiến người già khó khăn khi nghe những âm thanh có tần số cao.
Ruột
55 tuổi bắt đầu có dấu hiệu lão hóa. Đường ruột khỏe mạnh có khả năng tự cân bằng chức năng hoạt động của mình đối với những vi khuẩn có hại và có lợi xâm nhập vào cơ thể. Số lượng vi khuẩn có lợi cho đường ruột giảm nhanh chóng khi bước qua tuổi 55, điều này thường thấy rõ nhất ở ruột già. Kết quả là chức năng tiêu hóa của cơ thể giảm, nguy cơ mắc các bệnh về đường ruột tăng cao.
Lưỡi và mũi
60 tuổi bắt đầu thoái hóa. Có khoảng 10.000 tế bào vị giác phân bố đều trên đầu lưỡi. Sau 60 tuổi số lượng tế bào vị giác có thể bị giảm 1 nửa, chức năng của vị giác và khứu giác dần dần bị suy giảm.
Dây thanh (thanh đới)
65 tuổi bắt đầu suy giảm chức năng hoạt động, ngày càng có xu hướng khàn giọng. Nguyên nhân do tổ chức mô mềm ở cổ họng “lên lão”, ảnh hưởng đến mức độ kêu vang của âm thanh mỗi khi phát ra.
Giọng nói của nữ giới ngày càng có xu hướng khàn, chất lượng âm thanh giảm dần, âm lượng ngày một nhỏ hơn. Ở nam giới thì ngày càng yếu, âm lượng ngày càng cao hơn.
Bàng quang (bọng đái)
65 tuổi bắt đầu lão hóa. Ở độ tuổi này có thể bị mất chức năng kiểm soát nước tiểu, phải đi tiểu thường xuyên, liên tục. Thời điểm này, bàng quang đột nhiên co thắt lại ngay cả khi lượng nước tiểu chưa chiếm đầy diện tích.
Nếu 30 tuổi bàng quang có thể chứa được 2 phần nước tiểu thì khi bước sang tuổi 70, con số này giảm 1 nửa.
Khả năng co giãn của bàng quang giảm sẽ làm mất khả năng kiểm soát nước tiểu trong cơ thể cũng như không thể bài tiết hết lượng nước tiểu còn tồn đọng trong cơ thể, từ đó dẫn tới nguy cơ viêm nhiễm đường ruột.
Cơ quan sinh dục
Nam giới: 25% mắc chứng rối loạn cương dương ở độ tuổi 65.
Nữ giới: phần đông nữ giới ở độ tuổi 55 đều mắc chứng teo âm đạo, âm đạo khô, mất tính đàn hồi khiến “chuyện yêu” trở thành cực hình.
Gan
70 tuổi bắt đầu lão hóa. Có vẻ như gan là cơ quan thách thức duy nhất với quá trình lão hóa cơ thể. Khả năng tái tạo những tế bào gan vô cùng mạnh. Nếu cắt bỏ một phần nhỏ trên gan khi phẫu thuật, 3 tháng sau gan sẽ phát triển bình thường, vẫn hoàn chỉnh mọi chức năng.
Nếu như người hiến tặng gan không hút thuốc, uống rượu bia, không mắc bệnh di truyền nào thì gan của người 70 tuổi cũng có thể dùng để cấy ghép cho một thanh niên 20 tuổi. 
Cập nhật: 15/09/2009Phạm Hằng - Dân Trí (Theo Xinhua
Vinh Bao suu tam 30/12/2015

Chất làm chín trái cây Ethephon an toàn với sức khỏe con người

Chất làm chín trái cây Ethephon an toàn với sức khỏe con người


"Chất làm chín trái cây Ethephon an toàn với sức khỏe con người", là khẳng định của các nhà khoa học tại buổi Tọa đàm Đánh giá đúng chất làm chín trái cây Ethephon và vấn đề công nghệ sinh học đối với ngành nông sản chế biến, do Hiệp hội Doanh nghiệp nông nghiệp trang trại nông thôn Việt Nam và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/12.

Xuất khẩu giảm vì tin đồn

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nông nghiệp trang trại nông thôn Việt Nam, gần đây, một số phương tiện thông tin đại chúng đưa tin nhiều nông dân và thương lái buôn bán hoa quả ở miền Đông Nam bộ, Đắk Lắk sử dụng một loại hóa chất có tên là Ethephon để thúc chín các loại hoa quả như chuối, mít, đu đủ, sầu riêng... và cho rằng chất này chỉ được dùng để kích thích mủ cây cao su, có độc với sức khỏe con người.
Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, đây là thông tin hoàn toàn sai lầm, ảnh hưởng lớn đến uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước.
Dưới góc độ của một doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Vinamit chia sẻ rõ hơn những ảnh hưởng của tác động này đến tình hình chế biến, xuất khẩu nông sản Việt Nam trong thời gian gần đây.
Ethephon cũng được sử dụng trong ngành chế biến của tất cả các nước và đã mang lại giá trị lớn cho nền công nghiệp hàng hóa.
Ethephon cũng được sử dụng trong ngành chế biến của tất cả các nước và đã mang lại giá trị lớn cho nền công nghiệp hàng hóa.
Theo ông Viên, trong năm 2012-2013, tình hình xuất khẩu nông sản chế biến của Việt Nam khá tốt. Tuy nhiên, từ năm 2014 đến nay, đã có nhiều cảnh báo về tình trạng nhúng trái cây trong hoá chất, gây ung thư và kết quả của tình trạng này là ngay từ đầu năm 2015 tình hình xuất khẩu từ gạo, khoai lang, các loại trái cây đến nông sản đều sụt giảm; giá khoai lang, khoai môn đang ở mức giá 20.000-30.000 đồng/kg đã giảm còn 4.000-5.000 đồng/kg.
Trước thông tin này, nhiều thị trường nhập khẩu đã bắt đầu dè dặt, đánh giá chất lượng nông sản Việt có chất lượng kém chỉ sau Trung Quốc. Người tiêu dùng kể cả thị trường châu Á, Bắc Mỹ dè dặt hơn khi đặt hàng sản phẩm của Việt Nam.
Nếu xuất khẩu trực tiếp vào Bắc Mỹ, các doanh nghiệp nhập khẩu của nước này phải mua bảo hiểm cho người tiêu dùng lên đến 50%. Trong khi sản phẩm Thái Lan, Đài Loan và một số nước khác trong khu vực chỉ mua trong bảo hiểm từ 5-15%.
"Điều này doanh nghiệp xuất khẩu tìm đường lách qua khi phải bán qua thị trường khác như Đài Loan, Thái Lan hoặc bị ép phải bán với mức giá rẻ. Ngay cả Vinamit cũng được các nhà phân phối Hoa Kỳ, khuyến cáo nên bán tốt nhất hàng qua nước khác rồi hãy bán hàng cho họ để người tiêu dùng nước họ cảm thấy yên tâm hơn", ông Viên nói.

Hiểu đúng về chất làm chín Ethephon

Trong thời gian qua, hình ảnh nhiều loại nông sản được nhúng vào nước được cho là hoá chất và chữ "nhúng" đã trở thành nỗi ám ảnh đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, theo khẳng định giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Quang Thạch, Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện Sinh học Nông nghiệp, từ lâu các nước trên thế giới đã sử dụng rộng rãi Ethephon trong ngành trồng trọt cả trong và sau thu hoạch để kích thích sự chín đều và đồng loạt của các loại quả, tạo điều kiện cho công nghệ sau thu hoạch.
Cách đây 20 năm, Nhà nước cũng đã cho tiến hành dự án "Chuyển giao sản xuất thử nghiệm và ứng dụng chế phẩm Ethephon từ Cộng hòa Liên bang Nga vào Việt Nam".
Tiến sỹ khoa học Trần Hạnh Phúc, Viện sinh học nhiệt đới, chủ nhiệm dự án cấp Nhà nước "Sản xuất thử nghiệm Ethephon" cũng khẳng định, tất cả những sản phẩm trái vụ, dài vụ hiện nay đều do Ethephon mang lại. Kết quả xuất khẩu các loại trái cây như xoài, mít... cũng là nhờ có Ethephon. Ethephon cũng được sử dụng trong ngành chế biến của tất cả các nước và đã mang lại giá trị lớn cho nền công nghiệp hàng hóa.
Tất cả những sản phẩm trái vụ, dài vụ hiện nay đều do Ethephon mang lại.
Tất cả những sản phẩm trái vụ, dài vụ hiện nay đều do Ethephon mang lại.
Ông Nguyễn Lâm Viên cho rằng, việc phát triển nông nghiệp hiện đại không thể thiếu những ứng dụng của công nghệ sinh học. Trong ngành chế biến nông sản, không ai có thể chờ từng trái cây chín rồi mới đưa vào sản xuất, nhất là các loại trái rất khó chín đều như mít, sầu riêng, chuối.
Tiến sỹ Nguyễn Đăng Nghĩa, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn nông nghiệp nhiệt đới cũng khẳng định, Ethephon không gây độc hại nếu sử dụng đúng liều lượng, đúng giai đoạn, sử dụng sản phẩm có thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Theo đó, không nên dùng Ethephon ép chín trái cây quá nhanh. Cụ thể, thay vì ép chín trong 1 ngày, nông dân nên sử dụng liều lượng cho quá trình chín trong 3-4 ngày. Đồng thời, chế phẩm này cũng có thể loại bỏ dễ dàng bằng cách rửa sạch, nên người tiêu dùng có thể hoàn toàn yên tâm.
Theo tiến sỹ Nguyễn Văn Phong, Viện cây ăn quả miền Nam, nguyên nhân chất Ethephon bị hiểu sai là do hóa chất trôi nổi nhập lậu từ Trung Quốc với nhãn mác tự dán cũng ghi chất thúc chín trái cây.
Mặt khác, một số doanh nghiệp kinh doanh không lành mạnh, không ghi đúng chức năng phù hợp của chất Ethephon, họ trộn với nhiều loại hóa chất khác quảng cáo có thể dùng trong nhiều mục đích từ phân bón, đển giấm chín trái cây... với mục đích chỉ để bán được sản phẩm của mình.
Do đó, tiến sỹ Nguyễn Văn Phong đề nghị cơ quan chức năng cần quản lý chặt các sản phẩm cho chứa chất Ethephon trong các hóa chất sinh học dùng trong nông nghiệp.
Cập nhật: 30/12/2015Theo TTXVN/Vietnam+
Vinh Bao suu tam 30/12/2015

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2015

CHỈ MỘT CHỮ “ĐỘ”, NÓI LÊN GIỚI HẠN CẢ MỘT ĐỜI NGƯỜI

CHỈ MỘT CHỮ “ĐỘ”,

NÓI LÊN GIỚI HẠN

CẢ MỘT ĐỜI NGƯỜI

Núi không nói mình cao, nước không nói minh sâu. Mọi việc không nên tính toán quá chi li, lùi một bước, biển rộng trời cao. Không nên quá tính toán trước được mất của bản thân, hãy độ lượng đối đãi với những sự việc hay nguời từng khiến mình bị tổn thương.
Tục ngữ có câu trong bụng của tể tướng có thể chèo thuyền, tấm lòng lớn có thể bao dung những việc khó bao dung của thiên hạ. Chính là nói làm người thì phải có sự độ lượng, tấm lòng rộng mở.
1/- Ăn nói phải có mức độ : Có người cho rằng, làm người thì phải “chân”, nên khi nói ra thì phải thẳng thắn. Kỳ thực đó là sai lầm lớn. Người Trung Quốc viết chữ Chân(真)là chữ Trực (直) ở dưới có 2 chấm. 6 Chu do 1Cũng chính là để nói rằng, những câu nói thật, nói thẳng cũng phải để lại 2 chấm. Có gì nói đấy là chân, nhưng có gì nói hết là xuẩn (ngu xuẩn).
Nếu hiểu biết người khác, thì bạn là người có trí huệ; Hiểu biết chính mình, đúng là cao minh. Khi bạn dần ước chế, “không oán không hỏi không nhớ”, thì bạn sẽ trải nghiệm được sự vĩ đại của sinh mệnh.
2/- Học tập phải có độ sâu : Nếu như bạn cảm thấy rằng trong một khoảng thời gian dài mà mình chưa có đọc sách, thì bạn phải biết rằng mình đang lạc hậu. Không phải nói rằng bản thân sách nó có tác dụng lớn như nào, mà khi bạn đọc sách, có nghĩa là bạn vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận hiện thực này, bạn vẫn muốn theo đuổi, vẫn đang cố gắng, vẫn đang muốn tìm kiếm những điều tốt đẹp ở phía trước.
3/- Tầm nhìn có độ rộng : Đứng trên cao, nhìn xa hơn. Nghĩ quá nhiều, nhìn không xa. Cái gọi là tầm mắt, chính là góc nhìn của bạn phải là một cánh đồng bát ngát, không quan trọng là đối với người hay sự việc, đều phải nên nhìn xa, đều không nên nhìn vào 6 Chu do 21 điểm, mà phải nhìn vào cả một bề mặt.
Con người ai ai cũng sẽ gặp rất nhiều điều thiệt thòi. Thậm chí một người thành công, họ lại phải gặp càng nhiều những chuyện uất ức. Muốn khiến bản thân mình có được sự coi trọng, vinh quang, bạn phải học được cách mở rộng tầm mắt, làm một người có trí huệ và nhân ái.
4/- Lý luận có độ sâu : Lý luận, chính là lời nói có chiều sâu, thì mới có thể bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa.
Hiểu một chút “Đạo Đức Kinh”, “Binh Pháp Tôn Tử”, “Kinh Dịch”, có thể “hiểu biết tình thế, hiểu về đạo lý, nắm chắc về kỹ thuật”, và “Biến dịch, giản dịch, bất dịch”. Trí huệ của những bậc hiền triết, sẽ khiến cho bạn càng có thêm chiều sâu hơn.
5/- Công tác có lực độ : Trong công tác nhất định phải nỗ lực, mạnh dạn khám phá. Con người đều có mục tiêu, dù lớn dù nhỏ, nếu muốn đạt được mục tiêu thì bạn phải làm việc, nỗ lực trong công việc càng lớn, thành tích sẽ càng nhiều, thì mới có thể biến6 Chu do 3mục tiêu thành hiện thực.
6/- Sự nghiệp có cao độ : Con người đều hy vọng sẽ đạt được những thành tựu trong cuộc đời, vươn đến đỉnh cao của sự nghiệp.
Sinh mệnh sẽ tỉnh ngộ khi đi về phía trước, tích lũy qua năm tháng sẽ đến lúc nảy nở. Cho dù là con đường sự nghiêp nào mà bạn chọn, đều phải tích lũy qua năm tháng, công việc thông thường cũng phải cố gắng hoàn thành tốt, mỗi ngày không ngừng đề cao.
7/- Thọ mệnh có trường độ : Chúng ta không thể lựa chọn sinh mệnh, nhưng chúng ta lại có thể lựa chọn 6 Chu do 4phương thức mà sinh mệnh sẽ đi qua. Chúng ta nên khoan dung độ lượng, không quá ham danh lợi, gió mát hay mưa phùn đều phong nhã và ý vị, làm việc nên có chút thong dong điềm tĩnh, dù ngẩng đầu hay cúi đầu cũng đều vui vẻ.
Không tận lực, không dối trá, cảm nhận sự mộc mạc chất phác của năm tháng đời người, có thể dưỡng sinh, cuối cùng là thản nhiên trước được mất hơn thua của thế gian. (theo Sức khỏe Cộng đồng)
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 30/12/2015

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

Viết về càphê

Viết về càphê

capheNgày nay ở khắp nơi trên thế giới nhất là giới trẻ tuổi, người ta có khuynh hướng uống càphê nhiều hơn uống trà nhưng sách báo viết về càphê,  ‘nghệ thuật’ uống cà phê, hãy còn rất ít so với sách viết ‘nghệ thuật uống trà’. Ở các nước Á Châu như Nhật và Trung Quốc sách báo về uống trà có thể lên đến hằng trăm. Ngay ở tiệm sách nhỏ của Chùa Nan Tien (Nam Thiên) tại Wollongong – khoảng 70 cây số về phía Nam của thành phố Sydney – du khách cũng có thể thấy ở các giá sách bày bán trên dưới 10 quyển sách khác nhau nói về trà. Thậm chí còn có một hai dĩa CD-Rom  dùng để quảng bá các loại trà và nghệ thuật uống trà. Trong tiếng Việt những truyện đề cập đến thú uống trà cũng không ít, chẳng hạn như bài viết của  nhà văn tiền chiến Nguyễn Tuân, truyện ‘Những chiếc ấm đất’  trong quyển ‘Vang Bóng Một Thời’. Truyện kể một người nhà giàu thường sai người giúp việc đi múc nước giếng ở một cái chùa cách nhà cả mấy cây số để dành nấu nước uống trà. Đến lúc ông ấy lỡ vận nghèo sa sút phải đi ăn xin – một ngày nọ vào chùa xin cơm. Lúc ấy sư ông đang dùng trà nên tiện mời người ăn mày cùng dùng trà. Người ăn mày khép nép ngồi xuống đón tách trà do sư ông cho. Nhấp xong một hớp nước trà, ngẫm nghĩ giây lâu người ăn mày nói với sư ông rằng: ‘Bẩm Thầy con nghĩ trong ấm trà có vỏ trấu’. Sư ông kêu tiểu đồng rót hết trà trong chiếc ấm đất ra xem thì thấy quả nhiên có một vỏ trấu lẫn lộn trong xác trà. Cũng có một quyển sách Việt nào đó viết rằng người xưa thường thu nhặt những giọt sương đọng trên lá sen trong hồ để dùng làm nước đun pha trà. Thật là kiểu!! Trong khi đó sách về càphê, nhất là   bằng tiếng Việt gần như không có gì hết. Tuy vậy, càphê đã len lỏi chút ít vào âm nhạc Việt qua bản nhạc trứ danh ‘Cô hàng Càphê’ của nhạc sĩ Canh Thân. (Chắc có lẽ cùng thời với bản nhạc Frank Sinatra cho lăng xê vào năm 1946 mang tên ‘The Coffee Song’).
Sở dỉ có hiện tượng khác nhau trong việc ca tụng giữa trà và càphê là vì, theo nhiều giả thuyết, trà được ‘phát minh’ bởi các nhà Sư ở Trung Quốc rất lâu đời và dính liền với việc thiền định của các bậc tu hành. Truyền bá qua nhân gian trà là thứ giải lao chính của người Đông Phương qua hàng chục thế kỉ. Khi chủ khách gặp nhau trong một chuyến viếng thăm xã giao, chủ thường mang trà ra mời khách, rồi thói quen đó đã trở thành phương thức xã giao của hầu hết các dân tộc trên thế giới. Trong khi đó càphê chỉ mới được tìm ra trên dưới 10 thế kỷ thôi – và chỉ được giới thiệu qua Âu Châu vào khoảng thế kỷ 16. Sau đó Càphê mới chính thức đến Á Châu theo với các đoàn quân Âu Châu đi xâm chiếm tìm thuộc địa vào vài thế kỉ trước. Theo như cụ Vương Hồng Sển,  trong khi người Đông Phương ngày trước giải lao bằng ‘trà nóng’ thì người Tây Phương lại giải lao chính bằng những loại nước ‘lạnh’, như các loại nước ngọt, nước trái cây, bia, v.v..
Trà và càphê có điểm thật giống nhau –  đó là rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới dùng các từ để chỉ trà và càphê đều có lối phát âm giông giống nhau, giống như các thứ từ như BA và MÁ. Một từ nữa cũng có tính cách ‘phổ cập’ trong phát âm là BIA. Nghĩa là khi ta ở Đức hay ở InĐô, ở Pháp hay ở Mỹ, ở Taiwan, ở Nhật, . . .  nếu ta thèm Càphê, Trà hay Bia ta cứ việc ra dấu muốn uống và cứ nói đại tiếng Việt  Càphê, càphê, càphê hay trà, trà, trà, hoặc bia, bia, bia,. . . chắc chắn sẽ có người hiểu được ‘thương hại’ đem những thứ đó ra cho ta uống giải khát cho qua cơn thèm thuồng hay cơn ‘ghiền’. Càphê được phiên âm từ ‘tiếng Tây’ café, tiếng Anh gọi là coffee, tiếng Đức Kaffee, tiếng Ý caffè – tất cả có lẽ bắt nguồn từ tiếng Thổ Nhị Kì là kaveh (v đọc gần như f) hoặc tiếng Á-rập là kawah, hay gọi trại đi tên xứ tìm ra càphê đầu tiên là Kaffa thuộc xứ Abyssinia (tức Ethiopia ngày nay).
Ngày trước, ở các nước thuộc khối Thịnh Vượng Chung của Vương Quốc Anh như Anh quốc, Úc, Hongkong và Tân Tây Lan, v.v. ,  người ta thường có thói quen uống trà – thường loại trà nâu như Lipton – pha với sữa tươi. Sữa dùng để làm dịu bớt vị chát của trà. Tại các công sở hay các công ty lớn khoảng 10giờ sáng và  3 giờ trưa có một phụ nữ pha trà (tea lady) với xe đẩy đi đến tận các bàn giấy làm việc rót và hầu trà cho các các xếp và nhân viên. Uống trà buổi sáng (Morning tea) và trà buổi chiều (afternoon tea) thường thường được kèm theo một vài mẫu bánh bít-qui cho thấm giọng. Tại gia đình vào những ngày cuối tuần, người ta vẫn giữ thói quen uống morning tea và afternoon tea, nhưng trịnh trọng và ngon hơn ở sở làm nhiều. Lí do giản đơn là các bà nội trợ có thì giờ hầu trà cho gia đình. Uống trà tại nhà hay ở tại các quán trà dưới phố ở mức trịnh trọng ‘cao cấp’ được gọi là Devonshire tea. Đó là uống trà với sữa tươi (và đường hay không tùy người) kèm theo một loại bánh mì ngọt (có nhiều bột nổi) phết bơ và mứt gọi là scone. Bây giờ người ta thỉnh thoảng vẫn tìm thấy Devonshire tea ở các quán trà và càphê tại các thành phố nhỏ do người Úc chính cống làm chủ. Ở Sydney tại vài shopping centre như Westfield cũng có những quán trà, càphê vẫn bán Devonshire tea. Nhưng bây giờ theo mốt thời đại họ còn liệt kê thêm ‘Devonshire coffee’ trên bản thực đơn nữa. Trước 1975 người ta  có thấy bán trà chế thêm sữa theo kiểu Ăng Lê tại Đà Lạt ở một hai ‘tiệm nước’ của người Hoa khu gần chợ. Có thể mấy chủ tiệm người Hoa này đã từng ở Hongkong một thời gian hấp thụ được phong cách uống trà của người Anh tại đó  rồi du nhập sang Đà Lạt chăng.
Morning tea và afternoon tea với các tea-lady tại các công sở ở Úc và Tân Tây Lan dần dần biến mất vào khoảng giữa thập niên 80. Đó là lúc các máy tự động pha trà và càphê với sữa bột – thường gọi là Café Bar – được tung ra thị trường. Thịnh hành được chừng 10 năm, các máy café-bar pha chế càphê và trà tại chỗ này bị giời mộ điệu trà và càphê tẩy chay nhanh chóng khi phong trào uống càphê ‘thứ thiệt’ khắp thế giới rầm rộ lên và lên nữa, lên hoài vào đầu thập kỉ 90. Việc tẩy chay các thứ máy pha càphê và trà tại chỗ cũng là điều bắt buộc phải xảy ra với lý do các thứ càphê, trà pha sữa bột và đường này uống vào thường đâm ra ‘nóng nảy’ bởi có lẽ các pha chất bột này có quá nhiều chất hoá học, và nhất là mùi vị quá xa lìa với các tách trà và càphê ‘thứ thiệt’. Tuy nhiên ngày nay các máy pha trà và càphê này vẫn còn được trọng dụng tại các cơ xưởng, xí nghiệp.
Nước Mỹ xuất khẩu nhiều nhất những gì liên quan đến máy điện toán và nhưng lại nhập khẩu càphê nhiều nhất. Mỗi năm nước Mỹ nhập khẩu khoảng 4 triệu tấn càphê hạt xanh trị giá chừng 3.5 tỉ đôla Mỹ, và tính bình quân mỗi người Mỹ tiêu thụ cở 5kg cà phê mỗi năm. Mỗi ngày trên thế giới người ta tiêu thụ khoảng 2.5 tỉ tách càphê mà người Mỹ đã uống đến 1/5 tức là 500 triệu tách mỗi ngày. Phẩm chất và mùi vị càphê người ta uống ở mỗi nước thường khác biệt với nhau và thông thường người nước nào cũng cho càphê hay bia của họ là ngon hơn cả. Người Nhật uống càphê khác với người InĐô, càphê người Ý uống khác với càphê người Thổ Nhị Kì, người LiBăng, và của người Mỹ chắc chắn khác với của người Úc. Lí do chính của sự khác biệt này là việc pha trộn các loại hạt càphê khác nhau theo các tỉ lệ, và cách pha càphê, khác biệt sẽ được đề cập đến ở phía sau. Ở miền Nam Việt Nam khoảng cuối thập niên 1950 càphê cũng còn chịu nhiều ảnh hưởng cách uống càphê của người Pháp. Có nhiều tiệm càphê nhỏ trong thành phố Sàigòn pha càphê rất đậm đà thơm ngon. Ngay cả mấy ‘tiệm nước’ của người Hoa ‘phé nại’ tức càphê sữa, hay càphê đá  họ làm uống cũng được được. Có tiệm bỏ vào tách cà phê sữa hay đen nóng một muỗng bơ Bretelle làm tách càphê trở nên thơm tho mùi béo. Có người nhúng bánh dầu chá quảy vào cà phê sữa để ăn, giống như người Pháp thường chấm bánh mì croissant vào cà phê vậy.
Từ sau 75 cho đến giữa thập kỉ 90, càphê Việt Nam    kiểu ‘cái nồi ngồi trên cái cốc’ bị pha trộn với bắp rang đen nên mùi vị gần như bị mất mát hết. (Nhưng cũng đừng mừng rằng Việtnam đã phát minh ra lối dùng bắp rang để thay thế càphê. Thật ra vào khoảng đầu thế kỉ 18, bắp rang và nhiều thứ hạt hay đậu khác như hạt lúa mì (wheat), hạt lúa mạch (barley), và rể cây lá diếp (chicory)  đã được người thường dân dùng thay càphê tại nước Phổ (tiền thân của nước Đức) khi vua Frederick đặt ra luật buộc giấy “hành nghề” chế biến càphê chỉ dành riêng cấp cho giới quý tộc  mà thôi. Lối dùng rể cây lá diếp rang đen để pha hay thay thế càphê vẫn còn được thông dụng tại một vài nước ở Âu Châu). Gần đây Việt Kiều nước ngoài gửi về cho bà con họ hàng bên Việt Nam các máy làm càphê espresso và cappuccino nên ở các tỉnh miền Hậu Giang cũng có tiệm bán càphê espresso như ở các nước tiền tiến hiện nay. Khách sạn nổi của Úc một thời cặp bến ở sông Sàigòn có lẽ là nơi đầu tiên đã giới thiệu tách càfê cappuccino vào Việt Nam. Sự thịnh hành của càphê trở lại tại Việt Nam có lẽ đi theo với cái mốt của thời đại trên toàn cầu (bắt chước người Mỹ!!) và cũng do ở sự khôi phục của ngành trồng trọt càphê và xuất khẩu càphê của Việt Nam. Theo tài liệu gần đây Việt Nam trong năm 1999 đã xuất khẩu 400 ngàn tấn càphê  ra nước ngoài, đứng hàng thứ 8 trong các quốc gia xuất khẩu càphê trên thế giới (nước sản xuất nhiều càphê nhất là Ba-Tây (Brazil) quê hương của cầu thủ vô địch bóng đá Pélé), và trong năm 2000 số lượng xuất khẩu có thể tăng lên gấp đôi tức là cở 800-900 ngàn tấn. Càphê thường chỉ thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cao nguyên nên đồn điền trồng trọt càphê tại Việt Nam tập trung ở Lâm Đồng, Pleiku và nhất là ở Buôn-Mê-Thuột. Đặc biệt tại Việt Nam còn có thứ càphê gọi là ‘Càphê cứt chồn’ rất đắt tiền. Hạt càphê này được thu lượm từ . . . cứt của các con chồn trước đó đã ăn trái càphê. Tất nhiên trong một bao càphê người ta chỉ pha trộn vào đó một số ít các hạt càphê quý này mà thôi.
Cây càphê thuộc giống Jasmine (tức cây bông lài hay hoa nhài) cao chừng 3-12 thước. Thời gian từ lúc trồng cây cho đến khi có trái từ 2 đến 5 năm. Thường người ta hay tỉa cây càphê cho cây không được cao quá 3-4 thước để tiện việc hái trái. Trái càphê lúc chín thường màu xanh vàng  cở trái dâu tây nên được gọi là trái dâu càphê. Mỗi trái có hai hột càphê ở bên trong, và hột càphê mới chính là cội nguồn của tách càphê thơm ngon mà ta uống hằng ngày, nhất là vào lúc ăn điểm tâm buổi sáng. Hột càphê có màu xanh ngã vàng lúc chưa được rang hay nướng. Càphê xuất hiện từ bao giờ vẫn là một bí ẩn chưa được các nhà nghiên cứu đồng ý với nhau. Nhưng địa điểm khám phá ra càphê chắc chắn là vùng Trung Đông. Có rất nhiều truyền thuyết về việc khám phá ra càphê. Một truyền thuyết thịnh hành nhất nói rằng ngày xưa ở xứ Abyssinia (bây giờ là Ethiopia) nằm ở phiá Đông Bắc Châu Phi có một anh chàng chăn dê tên Kaldi. Vào một ngày nọ Kaldi chợt để ý mấy con dê sau khi ăn vào một vài trái dâu xanh vàng đâm ra nhảy nhót tưng bừng và kêu ‘be-he’ lung tung. Kaldi bắt chước ăn dâu đó và tự nhiên thấy trong người tỉnh táo và sảng khoái lạ thường. Từ đó anh ta có thói quen hái dâu đó ăn mỗi khi đi chăn dê. Một vài thầy tu ở một tu viện gần đó biết được chuyện này và chế biến thêm một chút nữa bằng cách đun trái dâu với nước nóng để uống vào mỗi buổi tối, và càng ngày càng dùng nhiều nước dâu này vì họ thấy dễ tỉnh ngủ, giúp họ thức đêm lo chuyện cầu nguyện và kinh kệ. Một truyền thuyết khác kể rằng cũng tại xứ Kaffa thuộc Abyssinia ngày xưa nữ hoàng Sheba (đọc theo tiếng Pháp là Saba – như trong phim Vua Solomon và Nữ hoàng Saba do Yul Brynner và Gina Lolobrigida thủ vai chính) đã khám phá ra trái dâu càphê và đã đem sang nước Do Thái gần đó để tặng người yêu là vua Solomon để ăn cho được thêm sáng suốt.
Dần dà về sau người Trung Đông mới nghĩ ra cách rang và nghiền nát hạt càphê trước khi đun và uống nóng pha với mật ong. Càphê được hâm mộ nhanh chóng ở Trung Đông có lẽ do ở việc cấm đoán uống rượu của đạo Hồi, vì thật ra chỉ có một thứ giải lao khác rượu và gây sảng khoái trong lúc và sau khi uống là càphê mà thôi. Cũng may mắn cho càphê trong giai đoạn phát triển ban đầu là lúc đó  đế quốc Ottoman (tiền thân của nước Thổ Nhị Kì bây giờ) đang rất hùng mạnh và bành trướng thuộc địa và ảnh hưởng khắp vùng Trung Đông và Nam Âu Châu. Chính ra ngày nay người Thổ Nhị Kì và người Á Rập nói chung (nhất là người LiBăng) vẫn giữ ít nhiều lối pha nấu càphê ngày trước. Họ đun sôi “bột cà phê” trong một cái ấm không nấp bằng đồng thau hay nhôm và giữ cặn càphê ở phía dưới ấm. Y như người ta thường thấy trong các phim cao bồi kiểu John Wayne uống càphê giữa đêm trên núi đồi có nhiều tảng đá lớn. Càphê của họ rất đậm đặc và hơi đắng, được rót ra trong những chung nhỏ như người Á châu thường dùng để uống trà. Uống càphê xong họ ưa uống thêm một li nước lạnh để tráng miệng. Uống càphê kiểu này cũng rất phổ thông đối với người Hi Lạp, bởi lí do dễ hiểu là Hi Lạp cũng đã từng bị đế quốc Ottoman đô hộ trên 400 năm. Những ai muốn tìm thưởng thức hương vị càphê đậm đặc loại này có thể đến các khu vực đông người Trung Đông sẽ được thoả mãn và ra về lòng thơ thới hân hoan. (Ở Sydney, các khu vực như Auburn, Lakemba hoặc Arncliffe đều có những tiệm người Trung Đông bán càphê loại này). Sự bành trướng ảnh hưởng của đế quốc Ottoman đã đem càphê qua mạn Âu Châu từ khoảng thế kỷ 15-16. Sang đến Ý, Áo, Pháp rồi Anh Quốc càphê đã được chế biến qua nhiều năm tháng thành một thức uống độc nhất vô nhị ngang hàng hoặc trên cả rượu bia. Nhất là ở khía cạnh mậu dịch quốc tế, bởi càphê thường được trồng trọt và sản xuất ở các nước nhiệt đới, để rồi xuất khẩu mạnh mẽ sang các nước lạnh thuộc vùng ôn đới. Trong khi đó bia thường là sản phẩm địa phương, nước nào cũng có bia ngon của nước đó – chỉ trừ một vài ngoại lệ mà thôi, như Heineken của Hoà Lan, Budweiser của Mỹ, San Miguel của Phi Luật Tân, và Kirin của Nhật.
Thế nhưng, trước khi càphê trở thành thức uống hàng đầu của nhân loại và càphê hạt thành một mặt hàng trên thị trường thế giới như dầu hoả, thép, gạo, . . .tiến trình phát triển của càphê không được suông sẻ và êm đẹp như những thứ giải lao khác như trà, bia và ngay cả . . . Coca Cola (!) và tiến trình đó đã từng liên hệ mật thiết đến đấu tranh và . . . cách mạng!!
Trong chừng 5-10 thế kỷ đầu tiên sau khi càphê được khám phá, người Á Rập ‘dấu nghề’ trồng trọt và chế biến càphê rất kĩ. Người Âu châu sang trung đông làm ăn buôn bán không được bén mảng đến các nơi trồng trọt càphê, và hạt càphê chỉ được xuất khẩu sau khi đun nóng hoặc rang lên để làm chết đi cái mầm gieo giống ở đất khách. Vào thế kỉ thứ 16, các tiệm càphê bắt đầu mọc lên như nấm tại Trung Đông – trung tâm thánh địa của Hồi giáo, và dân ghiền càphê thường tụ tập ở các tiệm này để bàn chuyện thời sự cũng như những chuyện thế thái nhân tình. Điều này đã làm cho nhà cầm quyền địa phương đâm ra khó chịu (vì những giáo đường không được đông đúc bằng các tiệm càphê) và nghi kị việc dân uống càphê có thể tụ tập làm chính trị, để rồi họ ra lệnh đóng cửa các tiệm càphê đó. Mặc dù có lệnh cấm đoán, dân hâm mộ càphê vẫn lén lút tụ tập uống càphê lậu sau nhà để rồi ít lâu sau người ta phải cho mở cửa tiệm càphê trở lại. Được phát triển sang Âu Châu theo với sự bành trướng của đế quốc Ottoman, càphê lại một lần nữa  bị sự nghi ngờ của Vatican và giới lãnh đạo Cơ Đốc giáo. Tục truyền rằng trước khi các tiệm càphê được mở tại Ý rất lâu, một số tu sĩ thuộc hàng giám mục và tổng giám mục đã vào Vatican gặp giáo hoàng Clement VIII (1535-1605) xin giáo hoàng cấm chỉ giáo dân không được uống càphê viện lí do rằng càphê là sản phẩm của quỉ sứ Satan, uống vào tức là bán linh hồn cho quỉ. Trước khi thực hiện quyết định không bao giờ sai của mình, Giáo hoàng tìm uống thử một tách càphê và Người thấy mùi vị càphê rất ‘đúng điệu’ và từ đó lí luận rằng với mùi vị thơm tho kích thích nhẹ nhàng như vậy càphê chắc chắn không phải là ‘phó sản’ của quỉ, và giáo hoàng đã đi ngược với yêu cầu của các linh mục đó chính thức cho phép người Công giáo được uống càphê như ai. Lan tràn sang Anh quốc các tiệm càphê ở thế kỉ 17 cũng là nơi tụ họp của các chủ thương thuyền hay các thương gia đến đó để nghe ngóng tin tức chừng nào tàu bè chở hàng của mình sẽ cặp    bến, và cũng để buôn bán các chính sách bảo hiểm. Hãng bảo hiểm lớn nhất nhì thế giới Lloyd của Anh quốc đã xuất hiện cùng một lượt với những tiệm càphê trên toàn cõi nước Anh vào thời đó. Cũng vào thời này người Anh ‘phát minh’ ra từ TIP tức là tiền thưởng cho hầu bàn, hầu khách sạn, mà tiếng Việt thường gọi là tiền ‘Boa’ hay ‘Bo’, bắt nguồn từ ‘tiếng Tây’ là Pourboire. TIP được viết tắt từ ‘To Insure Promptness’ (T.I.P.) tức là ‘Để Bảo Đảm cho Việc Phục Vụ Nhanh Chóng’. Thời đó các tiệm càphê có treo ngay ở cửa vào một cái hộp bằng đồng trên có ghi ‘To Insure Promptness’ để ‘ẩm khách’ nào muốn được phục vụ nhanh chóng thảy vào đó một vài đồng xu nhỏ. ‘To Insure Promptness’ sau đó được gọi tắt là Tip, và trở thành từ thông dụng trong Anh ngữ để chỉ tiền ‘Boa’.
Càphê đã liên hệ mật thiết với cách mạng ở chỗ trước khi dân Paris kéo nhau đi phá ngục Bastille vào năm 1789, họ đã tụ tập làm một ‘đêm không ngủ’ tại tiệm càphê Foy. Ở Mỹ cũng vậy, dân thành phố Boston đã tập họp tại một tiệm càphê vào năm 1773 để thảo luận kế hoạch thành lập Boston Tea Party (Hội Trà Boston) dẫn đến cách mạng Mỹ về sau. Sở dỉ người Mỹ ngày nay uống càphê nhiều hơn uống trà là vì vào những năm trước cách mạng Vương Quốc Anh đánh thuế rất nặng trên nhiều món hàng tại thuộc địa Mỹ – trong đó có trà. Dân thuộc địa ở Mỹ chống đối việc này rất mãnh liệt và vào năm 1773 một số người dân Boston lén lên một số tàu Anh đang đậu ở cảng khiêng các thùng và bao bố trà lớn thảy hết xuống biển. Từ đó họ tẩy chay trà và tìm đến càphê. Càphê tự nhiên trở thành thức uống của người Mỹ ‘yêu nước’, và các thuộc địa của Pháp và Hoà Lan ở Trung Mỹ và vùng Caribbean sẵn sàng cung cấp càphê cho Mỹ, một thị trường có tiềm năng tiêu thụ lớn và cũng là một thuộc địa lớn của Anh quốc đang trên đà vùng lên.
Có tất cả độ 70 các thứ giống cây càphê, nhưng có 2 giống càphê chính là càphê ARABICA và càphê ROBUSTA và càphê chúng ta uống thường pha trộn 2 giống càphê chính đó với nhau. Càphê Arabica chính là càphê nguyên thủy xuất xứ từ Ethiopia, còn càphê Robusta chỉ mới được tìm ra vào thế kỉ 19 rồi lan tràn sang thị trường quốc tế vào sau thế chiến thứ 2. Khoảng 3 phần 4 càphê sản xuất trên thế giới thuộc loại Arabica, còn Robusta được trồng trọt nhiều nhất tại In-đô-nê-xia rồi đến BaTây (Brazil). (Việt Nam có trồng cả Arabica lẫn Robusta). Robusta dễ trồng hơn nhưng có mùi vị đắng hơn Arabica. Tuy nhiên Arabica thơm ngon hơn và ít chất caffeine (càphê-ín) hơn Robusta. Chất caffeine là một loại chất kiềm thiên nhiên có trong một số các loại hạt và lá, điển hình là càphê, trà và hạt cacao (cocoa) dùng làm chocolate (sô-cô-la). Chất caffeine là một chất kích thích quan trọng cho hệ thần kinh – nó có tác dụng làm giảm mệt, giúp tỉnh táo và cũng mang tính chất lợi tiểu (diuretic). Chất caffeine được pha chế vào nhiều dược phẩm thông dụng nhưng dùng nhiều cũng có hại là gây mất ngủ, và có thể tim đập nhanh hơn mà không cần đối tượng tình yêu trước mặt. Trong tiếng Việt chất caffeine chính là ‘tác giả’ nguyên thủy của loại trà mang tên theo kiểu nói lái bình dân là trà “Thái Đức”.  Trong vài chục năm gần đây có phong trào pha chế càphê gột tẩy đi chất caffeine này ngay khi còn trong trái dâu càphê. Càphê đó gọi là Decaffeinated coffee tức là càphê đã khử chất caffeine, thường gọi tắt là decaf. Việc khử chất càphê-ín cũng đem lại cho các nhà nghiên cứu nhiều công việc làm và đã có đến hàng trăm bằng phát minh sáng chế đã được đăng kí ‘pa-tăng’ (patent) khắp nơi trên thế giới về việc khử chất caffeine trong càphê. Cũng có loại cây càphê được ươm ghép không có chất càphê-ín nhưng bao nhiêu mùi vị thơm tho của càphê đều bị biến mất. Tuy nhiên gần đây, vào năm 1994 một hãng kĩ sư sinh hoá tại California đã đăng kí một tiến trình gây giống cây càphê ‘sans caffeine’ mà vẫn giữ được mùi vị độc đáo của càphê arabica. Hiện loại cây này đang được trồng thí nghiệm tại Hạ Uy Di và chắc cũng cở năm 2002 trở đi người ta mới có thể uống thử loại càphê phi càphê-ín này. Ở một mặt khác việc xử dụng chất càphê-ín có vẻ càng  ngày càng được hâm mộ. Nhiều loại nước ngọt thịnh hành ngày nay đều có chứa chất càphê-ín này.  Điển hình là Coca-Cola, Dr Pepper (hình như Dr Pepper chỉ có  đường và chất càphê-ín mà thôi), và ngay cả một vài thứ li-mô-nát như Mountain Dew và Mello Yello. Rất nhiều thứ nước ngọt mới ra đời sau này mang danh là nước ngọt mang đến ‘năng lượng’ hay bồi dưỡng ‘năng lực’ cho người uống thật ra chỉ là nước đường hoà với chất càphê-ín mà thôi.
Sự gia tăng nhảy vọt trong việc tiêu thụ càphê trong vòng 20 năm qua có thể được giải thích bằng nhiều lí do và nguyên nhân như sau.
Thứ nhất trong một hai thập kỉ vừa qua văn hoá Mỹ và lối sống của người Mỹ – tuy thường thiên nhiều về vật chất – đã trở thành một loại văn hoá tràn ngập và chế ngự toàn cầu. Cũng giống như sự tràn ngập văn hoá của đế quốc La Mã ngày xưa – hễ người Mỹ sinh sống làm sao và ăn uống những thứ gì thì người nước khác hình như phải cóp cho được – dù tàng ẩn sâu xa trong tiềm thức – thì mới tỏ được rằng ta đây cũng tiến bộ như Mỹ chứ chẳng phải vừa. Điển hình là computer, phim ảnh Hollywood và MacDonald’s. Ở đâu người ta cũng phải dùng những máy điện toán mà tiêu chuẩn được phát minh hay xếp đặt từ Mỹ. Những phát minh về internet và cách mạng điện toán hiện đang tiếp diễn dài dài cũng đã xuất phát từ Mỹ. Gần như trong bất cứ thành phố lớn nào trên thế giới cũng có MacDonald. Giống như câu nói ngày xưa ‘Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc ANH’, ngày nay người ta có thể nói ‘Mặt trời không bao giờ lặn trước tiệm ăn MacDonald!!’. Phim ảnh cũng vậy, hình như không có Tivi hay rạp hát nào trên thế giới (có lẽ trừ một vài rạp hát chiếu phim Ấn Độ bắt chước phim Mỹ!) mà không có trình chiếu phim ảnh sản xuất từ Mỹ. Nói như kiểu trên, ‘mặt trời sẽ không bao giờ mọc và đêm sẽ không bao giờ tàn trên thế giới vì loài người hãy còn mãi mê chưa xem xong phim của Hollywood’. Mỹ mới thật sự là đỉnh cao của trí tuệ loài người, và ở đó người ta thường uống càphê để trí tuệ luôn luôn được cao thêm lên!!  Lí do thứ hai là lí do ‘stress’. Sự biến chuyển của kinh tế và kĩ thuật trên toàn cầu trong 1-2 thập kỉ vừa qua đã gây ra một dạng thức nhân dụng rất rõ nét: nhân công bị sa thải nhiều và những người còn giữ được việc làm phải làm việc nhiều giờ hơn và căng thẳng hơn. Căng thẳng và bận rộn thường xuyên trong công việc đã đưa họ tìm đến tách càphê, mà đương nhiên họ sẽ đòi hỏi càphê càng ngày càng đậm đặc và thơm ngon hơn. Lí do thứ ba bắt nguồn ở sự phát minh ra máy pha càphê espresso. Máy pha càphê được ‘phát minh’ trong dạng thô thiển vào giữa thế kỉ 19 và được người Ý phát triển tiếp rồi hoàn hảo nó trong suốt thế kỉ 20. Espresso trong tiếng Ý mang í nghĩa như Express trong tiếng Anh, nghĩa là ‘làm thật nhanh’ – tức là cho nước sôi tiến nhanh tiến mạnh xuống một lớp bột càphê nén rồi qua màn lọc xuống tách cà phê  đã hâm nóng. Pha càphê như vậy mới thật đúng điệu và hơn tất cả những phương thức pha càphê có từ trước đến giờ kể cả kiểu ‘cái nồi ngồi trên cái cốc’ do người Pháp giới thiệu sang Việt Nam, và đặc biệt hơn xa càphê hoà tan hay càphê ‘uống liền’ (instant coffee) đã được phát minh trong thập niên 1950. (Càphê hoà tan được biến chế bằng cách nấu trước một nồi càphê đậm đặc – rồi cất nó lên như cất rượu, xong rồi hấp hoặc đông lạnh lại dung dịch đậm đặc càphê đó – làm cho dung dịch khô lại thành những bột càphê sẵn sàng hoà tan lại với nước nóng.) Ngày nay tất cả các tiệm càphê đàng hoàng đều phải thiết bị máy pha càphê espresso. Lí do thứ tư do ở phong trào di cư rầm rộ do ở chiến tranh và biến động chính trị ở nhiều nơi trên thế giới xảy ra trong 20 năm qua,  mà những nơi đó (trừ Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn) người di dân đã từng  uống càphê nhiều hơn là uống trà. Sang đến quốc gia mới và định cư rồi, người di dân phải tìm ra công ăn chuyện làm và một trong những việc họ thích làm là tự mở cho mình một thương vụ nhỏ để tự mình làm chủ lấy mình. Tiệm càphê là một trong những thương vụ họ có thể nghĩ tới. Đặc biệt bởi di dân từ các nước Âu Châu rồi Á Châu và Trung Mỹ chỉ xảy ra ở Úc trong vòng 50 năm qua, so với di dân từ các nước không nói tiếng Anh sang Mỹ từ nhiều thế kỉ trước, nhiều nhà báo cũng như người viết đều đồng í với nhau rằng càphê ở Úc đúng điệu hơn và đi trước càphê ở Mỹ khoảng 30 năm, mặc dù Mỹ dùng càphê nhiều hơn Úc và lâu năm hơn Úc. Lí do giản đơn là sự gia nhập của di dân  và hình thành xã hội mới ở Úc trong 2-3 thập kỉ qua đã đi đôi hay xảy ra cùng lúc với việc phổ cập hoá của ‘vấn đề’ càphê. Ở Melbourne có khu Carlton, ở Sydney lúc đầu có khu Leichhardt, Paddington và Surry Hills chuyên bán các tách càphê trứ danh của Ý.  Bây giờ thì ở Melbourne, hay Sydney hay Brisbane ở đâu và ở đường phố nào của các khu phố chính CBD cũng có các tiệm càphê đúng điệu espresso có bàn ghế bày ra vỉa hè lề đường như ở Âu châu – và bán luôn cả thức ăn trưa của Ý như pasta, bánh mì sandwich kiểu foccacia hay bánh mì Thổ nhị Kì. Những tiệm càphê này rất đông khách vào giờ ăn trưa và tiền sang nhượng một thương vụ như vậy có thể từ $150000 đến $500000 như chơi. Càphê thông thường ở Mỹ thường giống như càphê ở MacDonald dùng chung với sữa UHT để lâu được chưá trong các chung plastic nho nhỏ. Nó là càphê ‘chưng lâu’ chứ không phải espresso. Tuy vậy Mỹ cũng có một chuỗi mạng tiệm càphê trứ danh là Starbucks (xuất phát từ Seattle vào đầu thập kỉ 1970), hiện đang bành trướng rất mạnh mẽ sang Á châu và Úc. Càphê Starbucks mới thật đúng điệu là càphê espresso nhưng nếu so với một vài tiệm càphê đặc thù của người Ý tại Sydney và Melbourne thì Starbucks cũng chỉ ngang  ngữa thôi chứ chưa chắc đã hơn. Nhớ mấy hôm Thế vận hộI Olympics 2000 tại Sydney chính các hiệu Starbucks phải đặt riêng hãng máy bay chở sang Sydney hàng chục tấn càphê Mỹ vì họ sợ du khách từ Mỹ đến chịu không nổi cà phê ‘quá đắng’ của Úc.
Muốn uống càphê ngon, tách càphê phải được hâm nóng trước khi rót càphê vào đó. Bởi vậy người ta thường thấy các tách được sắp xếp từng chồng ngay phiá trên máy pha espresso, tức là phía trên nồi nước nóng dùng để pha càphê, để hấp thụ được chút ít nhiệt từ nồi nước sôi. Y hệt như ăn phở tại các tiệm phở ngon, người ta thường để bánh phở, thịt vào một bát đã được hâm nóng sẳn rồi mới chan nước dùng vào, trước khi ‘trang hoàng’ bát phở với hành ngò và rau thơm, v.v.. Không kể đến càphê hoà tan, nguyên tắc chính của việc pha càphê theo kiểu espresso là phải cho một dòng nước sôi dưới sức ép cao chảy xuyên qua một lớp càphê vừa nhuyễn thật nhanh, rồi xuyên qua màn lọc xuống tách càphê. Nếu bột càphê xay ra hãy còn lớn hạt thì sự tiếp xúc giữa nước sôi và càphê sẽ không được trọn vẹn, cà phê sẽ thiếu đi mùi vị thực thụ và không được thơm ngon. Ngược lại nếu xay bột càphê quá nhuyễn, nước sôi sẽ thấm qua càphê lâu hơn, làm hoà tan mọi chất trong bã càphê làm cho tách càphê trở nên đắng và chát mùi khét.  Trước khi càphê espresso được thịnh hành có chừng hai ba loại bình lọc càphê tại nhà. Đó là các loại như  – loại ‘pít-tông’, – loại càphê xuyên qua giấy lọc, – loại của Ý dùng nước sôi bắn xịt ngược lên phía nấp rồi khi nước đổ xuống sẽ xuyên qua một cốc càphê với đáy có những lỗ nhỏ, – loại ‘cái nồi ngồi trên cái cốc’ (xin viết tắt là CNNTCC) tức càphê phin (filtre – lọc). Loại ‘pít-tông’ pha càphê chung với nước sôi khi pít tông nằm gần miệng bình. Độ chừng vài ba phút khi càphê đã hoà tan với nước sôi người ta mới từ từ ấn cái pít tông xuống dưới nén chặt càphê vào phía đáy của bình, và nước càphê sẽ thoát qua những lỗ của pít tông trở lại lên phía trên. Càphê này uống cũng tạm được với bí quyết là phải rót càphê ra tách cho hết để tránh tình trạng càphê ‘chưng’ lâu  trong bình. Càphê xuyên qua giấy lọc uống có lẽ được nhất so với espresso. Càphê CNNTCC cũng giống như càphê lọc giấy nhưng bị khuyết điểm là càphê này pha riêng cho từng cá nhân và thường bị nguội lạnh khi càphê đã lọc xong. Tuy vậy nó cũng câu giờ cho ‘ẩm khách’ có thể ngồi lâu để hàn huyên tâm sự.
Để kết thúc xin tạm liệt kê một vài thứ càphê espresso hiện đang rất thông dụng cho dân ghiền.
* caffè espresso: tức là càphê đen, còn gọi là short black. Nước nóng đun trong máy espresso được bơm nhanh qua một lớp càphê đã được nén trong một cái chung bằng thép không rỉ. Phía dưới chung thép là một lớp lưới mỏng dùng để lọc lại xác càphê. Caffè espresso thường được hầu tiếp trong một tách nhỏ. Một biến dạng của espresso gọi là ristretto chứa nhiều càphê hơn espresso. Ở Mỹ người ta thường dùng chanh với espresso bằng cách ma xát múi chanh chung quanh rià của tách trước khi uống. Nghe đâu lính GIs Mỹ mang cái trò chà chanh trên miệng cốc càphê từ Ý về sau Chiến Tranh thứ 2, bởi họ không hiểu mô tê    rằng ở Ý trong thời gian chiến tranh ly tách không được rửa sạch nên người ta dùng chanh để chùi miệng cốc!!
* cappuccino: đây là càphê thông dụng nhất hiện nay trên thế giới. Tên cappuccino xuất phát từ dòng các thầy tu capuchin bởi càphê cappuccino có màu sắc giống như chiếc áo có mũ của dòng tu này. Cappuccino gồm có càphê đậm espresso phía dưới và barista (tức người pha càphê) sẽ thêm vào một lớp sữa bọt dày ở trên. Sữa bọt này tạo nên bằng cách cho tia hơi nước nóng mạnh quậy và đánh bọt trong một bình sữa tươi. Phía trên mặt sữa bọt nóng của tách cappuccino, barista thường rắc rắc vào một tí bột sô-cô-la hay bột quế cho thêm thơm tho.
* caffè mocha tức là càphê pha lẫn với bột sô-cô-la.
* flat white tức café au lait: càphê sữa gọi theo ViệtNam. Đúng điệu sữa phải nóng, và có thể dùng sữa bọt quậy bởi tia hơi nước nóng như cappuccino nhưng lúc chế sữa nóng vào tách phải dùng muỗng gạn lọc lại chất bọt sữa phía trên. Dân ghiền thường kêu strong flat white, tức càphê sữa với nhiều càphê và đậm    đặc hơn bình thường. Một số người Trung Đông họ rất kị thấy việc người Việt thường dùng sữa đặc có đường để pha càphê sữa. Lí do chỉ là tập quán và bởi có lẽ họ cho rằng sữa đặc có đường chỉ dùng để làm bánh ngọt mà thôi. (Có lẽ họ sẽ còn khó chịu hơn nữa khi thấy người Hongkong hiện nay ưa dùng trà pha chung với càphê và sữa Carnations).
* caffè latte tức là sữa càphê: càphê espresso rất ít nhưng sữa nóng thì nhiều. Càphê latte rất phổ thông ở Mỹ và không đậm đặc bằng flat white hay cappuccino.
* macchiato tức caffè espresso ít sữa: đây là một biến dạng của espresso, giống y như espresso nhưng cho vào tách vài ba giọt sữa nóng ở phía trên. Có một vài tiệm càphê ở Sydney (khu Surry Hills hay Kings Cross) người barista rất kiểu là trước khi phục vụ khách một tách macchiato, họ dùng rượu cồn đốt cháy một hột càphê đen rồi thảy vào tách. Hạt càphê hãy còn cháy xèo xèo trong khi họ đặt tách càphê lên bàn.
Kiểu hơn nữa người ta có thể uống càphê pha thêm mùi vị khác nữa. Đó là những mùi vị từ những chai si-rô pha chế cho càphê như si-rô quả hạnh (almond), sirô vanille, sirô quế, sirô cam, sôcôla, sirô quả phỉ (hazelnut), v.v.
Hôm nay trời trở lạnh, xin cho tôi một tách cappuccino.

Nguyên Nguyên (Sydney)
Vĩnh Bảo sưu tầm 26/12/2015