Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2019

THÂN BỆNH - TÂM BỆNH - NGHIỆP BỆNH

THÂN BỆNH - TÂM BỆNH - NGHIỆP BỆNH

Bệnh về Nghiệp nặng nhất phải nói là nghiệp Sát (giết người vì thù hằn,vì sân hận, hoặc vì những lý do khác…và giết vật để ăn thịt ) tất cả điều là tâm ác, sẽ có quả báo hiện đời này (hiện báo 現報) hoặc đời sau (hậu báo 後報) điều phải trả nghiệp


Bệnh (病) là thuật ngữ chung cho cả Đông lẫn Tây y, bệnh là một cảm giác đau đớn, cả thể xác lẫn tinh thần. Bệnh là 1 trong 4 cái khổ (Sinh 生, Lão 老, Bệnh 病, Tử 死) của chúng sinh mà Phật đã dạy. Mà đã là chúng sinh thì ai cũng phải bệnh, hôm nay ta còn trẻ khỏe, nhưng một ngày nào đó khi đã đến tuổi già cũng phải nếm trải 1 đôi lần bị bệnh, hoặc hơn thế nữa.

Bệnh là do âm dương mất cân bằng, ngũ hành tương khắc, tứ đại không hòa, bệnh khổ là một quy luật chung ở góc độ nhân sinh quan.

Bệnh có thể chia ra 3 yếu tố:

1/- THÂN BỆNH (身 病)
2/- TÂM BỆNH (心 病)
3/- NGHIỆP BỆNH (業 病)

1/ VỀ THÂN BỆNH 身 病): Bệnh nào cũng có nguyên nhân của nó

- Thân bệnh thuộc về ngoại nhân (外因) là tác nhân gây nên từ bên ngoài của thân theo y học cổ truyền như sau:

- Do ăn uống, ngủ nghỉ thất thường, lao động vất vả, do chấn thương. Đang trong lúc cơ thể suy nhược đột ngột thời tiết thay đổi làm cho cơ thể chưa kịp thích nghi mà sinh ra các chứng bệnh như:

1/- Phong (風) gồm có:

-Ngoại phong: là gió bên ngoài, chủ khí mùa xuân, thường cùng với các khí khác như: phong hàn (cảm lạnh), phong nhiệt (cảm nóng), phong thấp (cảm thấp do khí ẩm ướt).

-Nội phong: tức là huyết hư sinh phong (血虛生風) nghĩa là máu không đủ sinh ra các chứng đau nhức…

2/- Hàn (寒) gồm có:

- Ngoại hàn: là cơ thể ảnh hưởng khí lạnh bên ngoài, lạnh chủ khí của mùa đông, hay làm ủng tắc không ra mồ hôi, thường có phong hàn, hàn thấp.

-Nội hàn: do khí âm thịnh mà khí dương bị suy nên trong người luôn thấy lạnh.

3/-Thử (曙) : nắng chủ khí về mùa hạ có đặc tính làm sốt cao, thường có: thương thử (cảm nắng), trúng thử (trúng nắng) …

4/-Thấp (濕) : độ ẩm thấp trong không khí, thường có phong thấp, thấp thử và hàn thấp….

5/-Táo (燥): chủ khí của mùa thu, độ khô ráo của không khí, thường gây những bệnh sốt cao, táo nhiệt (nóng và khô ráo).

6/-Hoả: là hỏa nhiệt, đặc tính là nóng của các bệnh lệ khí, dịch khí, bệnh truyền nhiễm. Thường có thấp nhiệt, phong nhiệt (khí nóng), thử nhiệt (nắng nóng).

Như vậy, Tùy theo mùa mà nhiễm tùy loại bệnh và cũng tùy chứng:

Hàn (寒) lạnh; Nhiệt (熱) nóng; Hư (虚) bệnh yếu lâu ngày; Thực (實) là bệnh mới phát; Biểu (表) bệnh còn bên ngoài; Lý (里) là bệnh đã nhập sâu vào trong.


Ảnh minh họa

2/ VỀ TÂM BỆNH (心 病 ):

Tâm bệnh thuộc về tình chí, nội nhân (内因 ): là nguyên nhân bệnh từ bên trong theo y học cổ truyền như sau :

- Hỉ 喜:( hỷ thương tâm喜傷心) : Vui mừng quá hại đến tâm khí (心氣).
- Nộ 怒: (nộ thương can 怒 傷 肝): Giận quá hại đến can khí (肝氣). .
- Bi 悲 (bi thương phế 悲傷 肺 ): sầu, muộn quá hại đến phế khí(肺氣). .
- Ưu 憂:(ưu thương tỳ 憂 傷 脾) : lo lắng quá hại đến tỳ khí(脾氣). .
- Khủng 恐 (khủng thương thận 恐傷 腎) : Sợ hãi quá hại đến thận khí (肾氣)..

Nếu mắc phải 1 trong những tình chí như trên sẽ mang trong người về chứng thuộc về tâm bệnh, tâm bệnh thì xưa nay chưa thấy ai chữa bằng thuốc mà dứt.

Ví dụ: Có một gia đình nọ sinh một người con vì cưng chìu quá, lớn lên nó theo bạn xấu cờ bạc rượu chè, trộm cắp, nợ nần…làm cho cha mẹ bao nhiêu năm khổ tâm mà sinh ra nhiều bệnh, bỗng thời gian sau này người con gặp được bạn tốt hướng dẫn anh ta giác ngộ được Phật Pháp nên xả bỏ các thói hư tật xấu, chí thú làm ăn, tối đến đi chùa lễ Phật, lễ phép với người trên, khiêm nhường kẻ dưới, khiến cho cha mẹ vui mừng, bệnh tật lâu nay bỗng tan biến đâu hết.

Cũng tương tự như thế, nên có chuyện kể rằng: khoảng 70 năm về trước ở vùng miền Tây sông nước có một gia đình điền chủ nọ, bà vợ ông mê xem hát tuồng, ở đâu có diễn tuồng là có mặt bà.

Một hôm bà đi xem hát, trong vỡ tuồng có 3 nhân vật : Một ông vua , 1 ông quan nịnh thần và 1 ông quan trung thần.

Ông quan trung thần lúc nào cũng xả thân vì nước vì dân nhưng kết cuộc vì nghe lời dèm pha, sàm tấu của quan nịnh thần mà nhà vua đem ông quan trung thần ra chém chết.

Sau khi xem xong vỡ tuồng đó về nhà bà luôn tự nghĩ “Tại sao một người trung thần vì nước vì dân mà chết bi thảm như thế ?” Bà không chia sẻ cảm nghĩ với ai, một mình bà luôn thấy đời sao mà bất công đến thế ? Bà âm thầm buồn bã rồi sinh ra bệnh trầm uất.

Bà ốm yếu xanh xao, bà bỏ ăn, mất ngủ trải qua bao nhiêu năm sinh ra chứng trầm cảm, không nói chuyện với ai, bao nhiêu thầy giỏi được mời đến, tất cả những phương thuốc hay, loại đắc nhất chồng con của bà điều lo cho bà cả, nhưng bệnh tình ngày càng thêm trầm trọng.

Tất cả thầy bùa, thầy cúng điều được ông nhà mời đến nhưng rồi cũng không thuyên giảm chút nào cả vì cứ nghĩ bà bị ma ám.

Cuối cùng, một ông thầy Lang vườn ở cùng xã , mà lâu nay gia đình bà cho là tầm thường không đáng mời thì nay vì sinh mạng của bà nên ông phải mang lễ vật đến mời thỉnh.

Đến nơi xem xét bệnh nhân, ông Lang vườn tự nghĩ “Bà này bệnh cũng lâu, ăn uống, lao động thì không vất vả như người nghèo, thầy giỏi khắp nơi cũng đã mời đến mà không hết bệnh, chắc hẳn bà này có uẩn khúc gì đây?”

Nghĩ thế nên thầy Lang vườn vừa xem mạch vừa ân cần vấn bệnh:

-“ Thưa bà, tôi biết bà đang có một uẩn khúc gì đây? Hoặc là chồng con của bà có gì không phải mà đã làm cho bà buồn, hoặc ai đó đã làm cho bà lo , bà giận?”

Sau câu hỏi đó, bà như được gãi đúng chỗ ngứa, như ống khóa mở đúng chìa, nó mở được nỗi lòng của bà, bà huyên thuyên kể lại nỗi uất ức của câu chuyện tuồng hát năm xưa đã khiến cho bà khổ đau, khiến cho bà uất giận.

Gặp riêng ông chồng để trao đổi, bàn bạc, ông thầy lang vườn góp ý khuyên ông nên bỏ tiền mời đoàn hát năm xưa về làng diễn lại tuồng đó cho bà cùng dân chúng xem miễn phí , nhưng phải hoán đổi phần cuối của tuồng hát như vầy: …nhà vua thức tỉnh không còn nghe lời xu nịnh của quan nịnh thần nữa, vua kết tội và lệnh đem quan nịnh thần ra chém, khen thưởng bỗng lộc cho vị quan trung thần.

Quả nhiên sau khi xem xong vỡ tuồng bà vui vẻ khỏe mạnh bình thường trở lại như xưa mà không tốn một giọt thuốc nào cả.


3/ VỀ NGHIỆP BỆNH (業 病):

Nghiệp là trải qua thời gian đúc kết từ hành động, lời nói, cảm nghĩ của Thân-Khẩu-Ý mà thành Nghiệp.Nghiệp thì có thiện nghiệp và ác nghiệp, nhưng ở nội dung bài viết này đang đề cập đến nghiệp bệnh nên nghiêng nặng về ác nghiệp. Bỡi có ác nghiệp mới sinh ra Nghiệp bệnh. Nghiệp thì có 3, gồm có:

-THÂN (thân nghiệp 身 業 ): những việc làm của thân như :giết người và vật, trộm cắp, tà dâm…mà kết thành thân nghiệp

-KHẨU ( khẩu nghiệp 口業): miệng nói lời dối gạt, nói hung ác, nói thêu dệt, nói 2 chiều…mà kết thành khẩu nghiệp

-Ý (Ý nghiệp 意業): ý ham muốn nhiều, hay giận hờn, lại si mê …mà kết thành ý nghiệp.

Nghiệp bệnh ở những người vô minh chưa biết gì về Nhân Quả, cũng như người Phật tử phá giới.

Giới ( 戒 ) là ranh giới, là rào cản, thông báo cho chúng ta biết không được vượt qua, nếu cố tình vượt qua sẽ nguy hiểm đến tính mạng (có nhiều ở các bãi tắm vùng biển).

Cũng như thế, Phật chế ra 5 giới (ngũ giới 五戒) cho hàng Phật tử (佛子) để không phạm phải:

- Nhứt bất sát (一不剎) Thứ nhất không được giết hại mạng sống của chúng sanh.

- Nhị bất đạo (二不盜) Thứ hai không được trộm cắp, cướp giật.

- Tam bất tà dâm ( 三不邪婬) Thứ ba không được tà dâm.

- Tứ bất vọng ngữ (四不妄語) Thứ tư không được nói dối, nói lời ác khẩu, nói hai chiều.

- Ngũ bất ẩm tửu (五不飲酒) Thứ năm không được uống rượu hay các chất men say.

Nếu phạm phải 5 điều trên sẽ nguy hiểm cho đời sống hiện tại và sẽ chịu quả báo trong các đời vị lai.

“ Kẻ thù lớn nhất trong đời mình chính là mình” là 1 trong 14 điều Phật dạy ! Bỡi không ai tạo ra đau khổ cho mình, mà chính tự mình tạo ra hậu quả cho mình từ việc vô minh không biết hoặc biết mà phạm phải 5 điều trên:

- Ví như người sáng xỉn chiều say làm cho con người anh ta mất hết lý trí,khiến cho kẻ cười người chê, ai cũng sợ hãi xa lánh, và hậu quả anh ta mang chứng bệnh Xơ gan cổ trướng, ung thư gan mật mà chết ( giới thứ 5 ).

- Người thường nói dối, nói 2 chiều, nói lời độc ác làm chia rẽ mọi người, khiến cho người ta hai bên hiểu lầm nhau chia rẽ, thù hận nhau, cuối đời anh ta phải chịu quả báo ung thư miệng lưỡi mà chết ( giới thứ 4 ).

- Người đời thường nói câu “ 1 vợ thì ngủ giường lèo, 2 vợ thì ngủ chèo queo, 3 vợ……… thì xuống chuồng heo mà nằm !”. Câu nói nghe tức cười, nghe tưởng như đùa nhưng mà là sự thật. Chính tôi cũng đã thấy biết người đó một đời có rất nhiều vợ, nhiều tình nhân, rất nhiều con cháu nhưng khi tuổi già phải sống lang thang xó chợ đầu đường bệnh tật đầy thân, không ai chăm dưỡng cuối cùng bỏ thây nơi đầu chợ. ( phạm giới thứ 3 )

- Vào thời còn trẻ, tôi có nghe kể: quê tôi có một người chuyên đi ăn trộm, mà hình như cha mẹ sinh ra ông là để làm nghề ăn trộm thì phải, ăn trộm rất tài tình, chưa từng bị người ta bắt gặp. Khác với người ta, 30 tết mà nhà ông không sắm sửa gì cả, khuya đến ai nấy ngủ mê ông lẻn vào từng nhà mang bánh trái thịt thà về đầy nhà ông. ( giới thứ 2 )

Biết ông ăn trộm nhưng luật xưa “Đạo quả tang, dâm quả tích” mới kết án , chứ không phải thời nay công an phải dùng nghiệp vụ khoa học điều tra đủ chứng cứ mới kết tội, nên trong làng ai đó có mất trộm dù biết chắc ông đó lấy nhưng cũng đành phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

Từ nghề ăn trộm, ông tích chứa rất nhiều tiền của, đến khi mang rương tiền ra để chuẩn bị xây nhà thì ôi thôi, trong rương toàn là mối, một ổ mối đã phá nát hết rương tiền của ông, ông tiếc của nên lăn ra đổ bệnh, bệnh năm này qua năm nọ, cầu sống không xong mà cầu chết cũng không chết được.

Năm tháng trôi qua từng cơn đau đớn quằn quại chịu không xiết , một hôm ông dùng dao lưỡi liềm ( câu liêm là dụng cụ cong cong để gặt lúa ở quê ) cứa gần đứt cuốn họng ôngmáu ra lênh láng nhưng vẫn chưa chết, người nhà phát hiện mới dành con dao vức đi nhưng rồi sau đó ông cũng tiếp tục tự dùng tay móc cuống họng ra cho đến chết.

Khi đám tang ông, có rất ít người đến phúng điếu, đã thế mọi người còn phán một câu “ xưa nay ổng ăn của móc họng người ta, nay ông phải tự móc họng mà chết thôi !”.

Và câu chuyện còn lưu truyền đến ngày hôm nay ( cọp chết để da, người ta chết để tiếng )

Bệnh về Nghiệp nặng nhất phải nói là nghiệp Sát (giết người vì thù hằn,vì sân hận, hoặc vì những lý do khác…và giết vật để ăn thịt ) tất cả điều là tâm ác, sẽ có quả báo hiện đời này (hiện báo 現報) hoặc đời sau (hậu báo 後報) điều phải trả nghiệp, cho đến trải qua nhiều đời nhiều kiếp oan oan tương báo ( 冤冤相後)với nhau. ( giới thứ nhất)

Thời nay mỗi ngày xem báo nhan nhản những tin tức mà người ta trong tình cảm yêu đương, trong làm ăn, trong giao tiếp của xã hội… vì những chuyện không hài lòng nhau, từ xích mích nhỏ dẫn đến thù hằn, họ không ngần ngại sát hại nhau bằng nhiều cách, mà không hề biết đến 2 chữ Nhân Quả ( 因果)

Ảnh minh họa

Xưa Khổng Tử có dạy:

善 有 善 報, 惡 有 惡
若 澴 不 報, 時 時 未 到

Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo
Nhược hoàn bất báo, thời thời vị đáo

Nghĩa là :

Làm Thiện thì sẽ có Quả báo Thiện.
Làm ác thì sẽ có Quả báo Ác.
Giờ chưa thấy Quả Báo là vì chưa đến lúc.

Giới trẻ hiện nay yêu đương dễ dãi, xem việc nạo phá thai là chuyện bình thường, 1 viên thuốc ngừa thai ( cực mạnh, tác dụng cấp tốc ) nhưng họ có biết đâu sau khi ân ái ( nếu gặp đúng ngày trứng rụng) trong các cô đã có 1 sanh linh bé nhỏ. Thế nên họ mang trọng tội giết người mà họ không hề hay biết.

Hậu quả tổn thương của nạo phá thai sẽ sanh ra những chứng bệnh phụ khoa nguy hiểm khôn lường, từ nhẹ dẫn đến nặng như ung thư tử cung, ung thư buồng trứng rồi di căn (mọc rễ ) qua đến gan, đến thận, đến tủy, đến xương….

Từ một cô gái khỏe mạnh, trẻ trung, xinh đẹp, diễm kiều, , má hồng môi thắm người lúc nào cũng phản phất hương thơm của son của phấn, nhưng sau một cơn bạo bệnh đã biến các cô trở nên đen điu, gầy đét, từng hồi từng cơn đau vật vã, lúc bấy giờ trong người các cô luôn tỏa ra các mùi hôi thúi từ các khối u, các tế bào…

Dù nền y học hiện đại, thuốc men vượt bậc lại có những giáo sư, bác sĩ chuyên khoa ung thư hàng đầu thế giới nhưng cũng không chữa lành căn bệnh ( nghiệp ) như thế

Cuối cùng cũng không sống được bao lâu, họ chết trong hãi hùng, chết trong đau đớn, thân rời bỏ thế gian nhưng hồn cũng không tránh khỏi địa ngục. ( ngoại trừ người đã giác ngô, biết ăn năn sám hối thì quả báo nhẹ hơn, chứ không thể tránh )

Lịch sử Phật giáo Trung Hoa có ghi lại chuyện rằng: tại tỉnh Chiếc Giang có một vị Tăng tên Hàm Uyên (涵鸳), vị tăng này tu hành đức hạnh rất tinh tấn chuyên cần, nhân có Phật sự nên sư phải ra ngoài.

Xong việc trên đường khi trở về tình cờ Sư đi ngang qua quán thịt chó, không biết chủ quán đó họ ướp nướng bằng loại hương liệu gì mà mùi thơm không ai mà không muốn hít vào.

Và vị Tăng nọ cũng không tránh khỏi hít phải mùi thơm đó, nhưng khi sư giật mình nghĩ lại “Ta là người tu, không thể như thế này được !”, sư kinh hãi, sư hối hả bước vội về chùa tắm rửa và lên thắp nhang đèn trước điện Phật sám hối, nhưng đến khuya trong người sư bỗng nóng sốt hừng hực, qua ngày hôm sau sư càng sốt mê man, điều ngạc nhiên là trong khắp người sư nổi lên 18 cái khối u, mỗi khối u to như quả mận, toàn thân đau nhức hãi hùng, càng ngày 18 khối u càng to lớn và đau đớn hành hạ.

Tất cả những vị lương y giỏi nào cũng được lần lượt mời đến, nhưng đều lắc đầu không tìm ra nguyên nhân bệnh gì cả. Thời gian trôi qua dù vẫn uống thuốc men nhưng có khi đỡ khi đau.

Một hôm nọ, vào một buổi chiều chập tối, bên hông chùa, sư bắt ghế ngồi tựa vách , trong thâm tâm rất đau buồn. Dưới ánh trăng non mờ Sư bỗng thấy có 1 đoàn người từ xa đi đến, dụi dụi cặp mắt sư nhìn kỹ tất cả trong đoàn người này có thân mà không có đầu . Ôi, thật là khủng khiếp.

Khi đến gần, trong đoàn người có tiếng hỏi:

-“ Chào ông ! Ông còn nhớ 18 người chúng tôi không ?”

-“ Không ! Không ! Tôi không biết mấy người là ai cả !” Vừa sợ sệt, Sư vừa khỏa tay trả lời thế.

-“ Phải rồi, nhiều kiếp trôi qua rồi làm sao ông nhớ được, mà chúng tôi thì không thể quên ông. Tôi nói cho ông biết, kiếp xưa kia ông là một vi quan tướng quân được lệnh vua cùng quân lính chúng tôi trấn ải một vùng biên cương.


Một hôm ông lệnh cho 20 người chúng tôi tuần tra vùng biên ải, khi đi ngang qua ngôi làng vùng sơn cước, trong nhóm chúng tôi có 2 người tự ý tách ra và phạm phải quân kỷ là hiếp dâm 1 người phụ nữ.

Sau buổi tuần tra trở về, thì người chồng phụ nữ đó đến gặp ông thưa kiện, là một vị quan tướng quân nên ông tức giận đem 20 người lính chúng tôi ra chém đầu hết . Chỉ có 2 người phạm quân kỷ mà ông chém cả 18 người chúng tôi hàm oan vô tội .

Đã trải qua bao nhiêu đời chúng tôi luôn tìm ông để đòi nợ, để báo mối thù xưa, nhưng vì bao nhiêu kiếp qua ông tu hành tịnh tấn nên chúng tôi không làm gì được ông.

Tháng vừa rồi ông khởi tâm tham ngửi mùi thịt chó nên cơ hội đó chúng tôi mới lọt vào được thân ông mà đòi nợ , thấy ông thành tâm sám hối chúng tôi cũng cảm động nhưng nghĩ đến việc ông giết oan chúng tôi từ kiếp xưa, nỗi uất hận nên không thể bỏ qua. Thôi thì ông cứ cố gắng tu hành đi, tạm thời 3 năm sau sẽ tính tiếp. !”

Nói xong 18 oan hồn biến mất, Sư hãi hùng chạy vội vào điện Phật quỳ lạy sám hối liên hồi, quả nhiên sau đó 18 khối u trong người của Sư không thuốc nhưng tự tiêu. Sau đó Sư tinh tấn tu hành, nhưng cho đến 3 năm sau bịnh cũ tái phát trở lại nặng hơn rồi Sư cũng qua đời.

Thế mới biết, nghiệp sát tội rất nặng dù trải qua bao nhiêu đời rồi mà cũng không tránh oan oan tương báo, phải chịu trả quả nghiệp bệnh như thế.

Người tu học Phật không ai mà không biết tích xưa, trong Pháp Từ Bi Thủy sám: chuyện 2 người tên Viên Án và Triệu Thố vì kết mối oan thù để rồi kiếp sau một người trở thành ngài Ngộ Đạt Quốc sư cũng phải chịu nỗi đau đớn mụt ghẻ mặt người nơi đầu gối. may mà nhờ công đức tu hành, gặp Bồ tát Ca Nhã Ca cứu giúp, nếu không thì nghiệp kia cũng khó mà tránh.

Tuy là những chuyện đã xa xưa, chuyện quá khứ, nhưng luật nhân quả trả vay xưa nay vẫn là sự thật.

Rồi mới đây sự việc xảy ra vào năm 2012 câu chuyện người thật việc thật tại Đức Trọng Lâm Đồng làm rúng động hàng phật tử khắp trong khắp đất nước Việt Nam và phật tử trên thế giới.

Câu chuyện cậu thiếu niên Nguyễn văn Công trải qua 3 năm mỗi ngày được thuê giết hại hàng trăm con gà, vịt, chó, mèo….kết cục phải trả một cái quả khi một khối ung mặt người đau đớn phát ra trên khớp gối của cậu ta, trải qua bao nhiều năm đau khổ đi hết bệnh viện này, đến bệnh viện khác nhưng có vị bác sĩ nào, có loại thuốc nào ở thế gian mà chữa được bịnh nghiệp (sát sinh)?

Thế nên chúng ta người có trí không thể không tin Nhân Quả, không thể không tin lời Phật dạy.

Nhân Quả không phải do Thượng Đế đặt ra. 

Nhân Quả không phải do Phật sáng chế.

Nhân Quả là lẽ tự nhiên! .

Hể gây Nhân là gặt Quả.

Bất kể anh là ai ? Theo tôn giáo nào?

Gây nhân Thiện sẽ có quả báo Thiện.

Gây nhân Ác sẽ gặt quả báo ác.

Sát sanh ắt phải thường mạng!

Phật nào cứu được ? Phật nào dung túng kẻ ác nhân?

Ngoại trừ người biết tin theo lời Phật dạy : Bỏ ác làm lành.


諸惡莫作
衆善奉行
自凈其意
是諸佛敎

Chư ác mạc tác.
Chúng thiện phụng hành.
Tự tịnh kỳ ý.
Thị chư Phật giáo.


Nghĩa là:

Các việc ác chớ làm
Những việc Thiện nên làm
Giữ ý mình trong sạch
Ấy là lời Phật dạy.

Tóm lại :

-Thân bệnh : dùng dược lý trị liệu (藥里治蓼 ).
-Tâm bệnh : dùng tâm lý trị liệu ( 心里治蓼 )
-Nghiệp bệnh dùng phước báo trị liệu (福報治蓼).


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Phật tử, lương y PHAN VĂN SANG

Vĩnh Bảo sưu tầm 23/9/2019

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2019

BÀN VỀ "HỒNG NHAN" VÀ HAI CHỮ "BẠC MỆNH"

BÀN VỀ "HỒNG NHAN" VÀ HAI CHỮ "BẠC MỆNH"

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân

天地風塵

紅顏多屯
悠悠彼蒼兮誰造因



Hồng nhan là người đàn bà trời ban sắc đẹp diễm lệ, đi đôi với tâm hồn tinh tế, tài hoa khiến cho nam giới không ngớt lời ca ngợi, nhưng vì sao hồng nhan thường hay bạc mệnh…?

Mở đầu tập Chinh phụ ngâm Đặng Trần Côn viết:

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân

Đoàn Thị Điểm dịch:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Hồng nhan bạc mệnh đã thành thiên cổ tục ngữ. Hồng nhan đa truân là lẽ thường tình trong vấn đề nhân sinh. Bạc mệnh là chết sớm, chết non, phận mỏng, lao đao. Đa truân nghĩa là phiêu bồng, lãng đãng. Hồng nhan là những người đàn bà trời ban cho một sắc đẹp cực kỳ diễm lệ. Hồng nhan cũng là những người đàn bà trời ban cho một tâm hồn mẫn tiệp tài hoa thu hút nam phái.


Sách tướng nói:

"Tất cả những gì thái quá cũng không tốt! Sắc đẹp quá hay xấu quá đều thuộc tướng sát phu nếu chính bản thân người đó không yểu! Có thể nói khác đi cái đẹp là nguyên nhân của đa truân, còn ai đa truân bằng những danh kỹ và nếu không đẹp thì làm sao trở thành danh kỹ?

Bạc mệnh không chỉ đơn thuần là non yểu như người ta vẫn quan niệm đã thành thói quen từ lâu nay.

Người đàn bà cần có vẻ đẹp đoan trang, quý phái và rất kỵ vẻ đẹp yêu mị tiện cách. Nếu đẹp yêu mị tiện cách thì đó chính là đẹp hồng nhan bạc mệnh. Nói đa truân, nói bạc mệnh không phải chỉ ở địa vị tầm thường như ca kỹ hay bần gia nữ mới phải gánh chịu. Một khi đã phạm tướng hồng nhan bạc mệnh rồi thì dù ở địa vị tột đỉnh cũng chẳng tài nào tránh khỏi!

"Tướng do tâm sinh, tướng do tâm cải.
Tâm tướng ảnh hưởng rất nhiều đến hình tướng."


Một cách đặt vấn đề: thuyết “Thiên mệnh” và thuyết “Tài mệnh tương đối”, thuyết “Hồng nhan bạc mệnh” cũng là một triết thuyết đã tồn tại hàng nghìn năm lịch sử và có ảnh hưởng lớn đến nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam.


Cụm từ “hồng nhan bạc mệnh?”“Nhan” như “nhan sắc”, “dung nhan” … là dáng mặt. “Mệnh” hay “phận” có nghĩa là số mệnh, số phận. Trong “hồng nhan bạc mệnh” người ta muốn nói lên một mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa nhan sắc và số phận của người con gái. “Hồng” (đỏ) có nghĩa là tốt, đẹp; “bạc” (trắng), có nghĩa là xấu. “Hồng nhan” là người con gái có sắc đẹp; “bạc mệnh”, hay “bạc phận” nghĩa là có số mệnh, số phận xấu.

Hồng nhan bạc mệnh là một thực tế không chỉ xảy ra trong quá khứ mà cả trong thế giới hiện đại nữa. Đó là một thực tế thường xảy ra, chứ không phải là một quy luật. Bởi vì, quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, mà hồng nhan thì không tất yếu dẫn đến bạc phận. Có rất nhiều người đẹp nhưng không bạc phận. Do đó, việc nghiên cứu nguyên nhân của hiện tượng này giúp các bạn gái “hồng nhan” mà không phải bạc phận.

Thời nay, người phụ nữ dần dần được bình đẳng với nam giới về lao động. Họ có quyền tham gia lao động xã hội, có địa vị và có thu nhập riêng, không phụ thuộc vào người chồng. Tuy nhiên để có được khả năng này, người phụ nữ cần phải học tập để đạt một trình độ văn hóa và chuyên môn nhất định giống như nam giới. Rất nhiều cô gái biết mình không có ưu thế về mặt hình thức nên đã cố gắng học hành để bù đắp lại, hơn nữa những cô gái này cũng ít bị chi phối bởi ngoại cảnh nên có thể tập trung tâm trí vào việc học. Nhiều cô gái đẹp thường ỉ lại vào ưu thế ngoại hình của mình, đồng thời cũng bị chi phối bởi tác động bên ngoài nhiều hơn nên khó tập trung vào việc học. Vốn có sắc đẹp, nên thường phát huy hết khả năng vốn có đó để phô bày hình thức của mình. Bên cạnh đó, những người con trai cũng luôn luôn không để các cô gái đẹp được yên. Cũng muôn vàn nguyên nhân và lý do khác nhau như: thiếu khả năng làm chủ bản thân, hoàn cảnh của gia đình,… là những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến.


“Hồng nhan bạc mệnh” là một hiện tượng xã hội tuy có chứng thực trong lịch sử nhưng không phải là một quy luật, vì nó chỉ là một mối liên hệ bên ngoài, không có tính tất yếu. Do đó, các bạn gái dù có hay không có “hồng nhan” đều không có gì phải lo lắng cả. Yếu tố quyết định đối với số phận của con người là nhân cách của mỗi cá nhân chứ không phải là hình thức bên ngoài và câu: “Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa” là 3 điều lợi cho sự trưởng thành, cho sự nghiệp của mỗi cá nhân.
(Sưu tầm trên mạng)

Vĩnh Baỏ sưu  tầm 18/9/2019

NÓI CHUYỆN THẦY BÓI SÀI GÒN

NÓI CHUYỆN THẦY BÓI SÀI GÒN

Mỗi năm, hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố đông người qua
Năm nay đào lại nở
Chẳng thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ!



Hai đoạn thơ giản dị của Vũ Đình Liên không ngờ ở lại với đời lâu đến thế. Lâu đến nỗi, hầu như mỗi lần Tết đến, có dịp viết bài về xuân, là mỗi lần ‘các nhà văn’ lại nhớ đến hoa đào nở với ông đồ già như biểu tượng một cài gì đẹp đẽ nhất đã đi qua, và không bao giờ trở lại.

Ngày Tết, nhớ ông đồ già. Nhớ những ông đồ già, những cụ đồ già với mực tàu giấy bản, với ngọn bút lông. Đó là các cụ xưa kia đã ngồi bên lề đường để viết câu đối bán cho khách mang về treo trong ba ngày Tết. Nhưng không phải chỉ có thế. Hình ảnh ấy còn gợi cho ta nhớ đến các ông thầy, thầy đoán mạng, thầy coi số, coi tướng, gọi chung là thầy bói, đã hàng chục năm hành nghề ở quê hương xưa, đã từng tạo nên một phong trào vô cùng phát đạt, đặc biệt tại Sàigòn.

Ngày Xuân đi lễ Lăng Ông là một hình ảnh đẹp làm sống lại cảnh phồn vinh đã thực sự có một thời tại miền Nam thân yêu. Ghi lại đầy đủ, càng đầy đủ càng hay, về các vị thầy bói đã một thời tạo nên một phong trào phát đạt như đã nói trên, cũng là một đóng góp đáng kể vào ‘công cuộc bảo tôn văn hóa’ vậy.

1.Các Thầy tại Lăng ông

Lăng Ông là lăng đức Tả Quân Lê Văn Duyệt ở Gia Định, còn gọi là Lăng Ông Bà Chiểu. Lăng không phải chỉ là một nấm mộ được xây thành chung quanh, mà là cả một dinh cơ rộng lớn, kiểu như lăng các vua nhà Nguyễn ngoài Huế vậy : lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức…Tại đây có rất nhiều thầy bói hành nghề. Có những người đi lại ngay trong lăng, giữa lúc thiện nam tín nữ nhân ngày xuân đi lễ đình chùa, và nhất là đến Lăng để xin xăm, gieo quẻ, cầu nguyện hôn nhân. Thường các thầy bói trong Lăng ngồi rải rác khắp nơi và tự động di chuyển. Trải ra một chiếc chiếu hoa và đặt ‘đồ lề’ lên trên. Có khi bày ra một chiếc bàn nhỏ với vài chiếc ghế nhẹ.

Phần đông các thầy bói đều thuộc lớp các cụ xưa, mặc áo dài đen và đội khăn đóng. Nhưng cũng có người muốn tỏ ra thuộc giới có tân học, mặc đồ tây và đeo kính ‘trí thức’. Cũng có người mặc bộ bà ba bình dân cho thoải mái và có vẻ ‘bất cần đời’. Tuy ăn mặc khác nhau, nhưng đã gọi là thầy bói thì vị nào cũng bày ra chỗ hành nghề các thứ giống nhau: một bộ bài tây, ít quyển sách chữ Hán, những xâu chân gà luộc phơi khô, cái mu rùa để bốc. Ngoài ra còn có đèn nhang, giấy màu đỏ và bút lông, mực xạ.


Các ông thầy này đón khách ngay cửa vào Lăng, trong khi các vị thầy khác đều có chỗ ngồi nhất định. Những chỗ ngồi này đều có đóng thuế môn bài hàng năm khoảng chừng một ngàn đồng cho chính phủ, và vì vậy họ có kê được bàn ghế đàng hoàng, có tấm ‘tăng’ để che mưa nắng, có khi còn có mái lợp như một phòng nhỏ, trên bãi cỏ.Bên hông trái Lăng Ông, trên một phía lề đường Trịnh Hoài Đức là nơi họ tập trung, chừng 20 vị. Thường là họ đoán vận mạng, tình duyên cho khách theo thẻ xăm rút được.

Lăng Ông nổi tiếng với vụ này đến nỗi trong một bài hát của ban hợp ca AVT có đoạn rất tếu :

Năm mới đừng để vợ la / Đừng chơi cờ bạc đừng ra bót nằm / Chi bằng đi lễ Lăng Ông / Đầu Xuân năm mới xin xăm cầu tài / Mồng một đi lễ Lăng Ông / Cầu anh đắc lộc bằng trăm ngày thường

2. Các Thầy Bói Người Tàu

Tại một số khách sạn sang trọng ở Chợ Lớn xưa kia như Bát Đạt, Phượng Hoàng, Đồng Khánh, có một số các ông thầy người Trung Hoa nổi tiếng đặt trụ sở hành nghề và cũng thu hút khách người Việt thuộc giới ‘tư sản mại bản’! Họ có những cái tên nghe thật quyến rũ (về phương diện huyền bí) như: Sơn Đầu Bạch Vân Đại Sư, Đại Lục Tiên, Hà Thiết Ngôn Đại Sư…

Các vị bốc sư người Trung Hoa này thường tự xưng là bốc sư đại tài từ Hồng Kông sang và tự tạo cho mình một vẻ tiên phong đạo cốt đặc biệt. Tuy vậy, một khi họ đã đặt trụ sở hành nghề thì điều trước tiên để đến với….các tiên ông vẫn là tiền! Các thầy này không biết nói tiếng việt nên tất nhiên phải có thông dịch viên nếu không phải là người Tàu. Ngoài ra, còn có mấy vị nữa cũng mang những đại danh rất là kiếm hiệp như: Sơn Đầu Mã Ngọc Long, Mã Cơ Sanh!

Vào khoảng năm 1971, 1972 quý vị thầy này chỉ coi tay tài lộc trong hai năm cũng đòi năm ngàn, chọn ngày làm ăn buôn bán thì mười ngàn, lấy số tử vi thì ba chục ngàn. Họ xưng danh đại sư từ bên ‘đại quốc’ qua, và dù chỉ một lần, họ cũng hấp dẫn được khách hiếu kỳ hay hữu sự tìm đến họ. Họ sống một cuộc đời sung túc, vương giả, bay từ nước nọ qua nước kia, suốt đời ở khách sạn, ăn cao lương mỹ vị tại các đại tửu lầu.


Thật ra các vị thầy Tàu này đến Việt Nam hay các nước vùng Đông Nam Á thì có thể bịp được, chứ riêng dân Trung Hoa ở Chợ Lớn thì không tin. Họ cho rằng đó chỉ là những tên vô tài bất tướng, không có nghề nghiệp gì để sống bên chính quốc nên mới phải đi tha phương cầu thực như vậy.

3. Thầy bói của các nhân vật chính trị

Vào khoảng năm 65-67 tại Sàigon, hễ dở những tờ báo ở trang quảng cáo ra, ai cũng phải để ý đến những dòng bốc thơm các vị thầy bói. Nào là ‘giáo sư thần học’, ‘chiêm tinh gia’, ‘maitre’, ‘quỷ cốc đại sư’…Họ làm ăn phát đạt, có uy thế mạnh mẽ, được trọng vọng nể vì bởi chính các nhân vật hàng đầu của quốc gia.

Không ai không biết chuyện đầu năm Nhâm Tý, đại tá Trần Văn Lâm giám đốc Việt Tấn Xã đã long trọng mời ba ông thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Cũng không ai quên (nếu đã được biết) thầy Vũ Hùng ở đường Nguyễn Trãi Sàigòn đã treo tại phòng khách của thầy một bức tranh sơn mài tuyệt đẹp, có khắc hàng chữ:’Ông Nguyễn Bá Lương, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, kính tặng nhà tướng số Vũ Hùng’

Người ta cũng được nghe nhiều giai thoại về những cuộc tiếp đón các nhân vật lớn của chính quyền miền Nam của một ông thầy nổi tiếng ở Cao Nguyên. Ông thầy Chiêm còn trẻ và không mặc áo dài, đội khăn xếp như ai. Ông mặc Âu Phục đúng mốt nhưng kiểu trẻ và luôn luôn diện kính ‘mát’, trông rất ‘bô trai’ .Nếu không biết ông từ trước thì khó ai trông thấy ông đi bát phố (khu Hòa Bình) mà lại ngờ được đó là một ông thầy bói! ông tỏ ra là một người khôn ngoan lanh lợi. Tuy vậy, với tư cách thầy bói, ông đã xử sự như người đời xưa, như trong chuyện Tàu. Người ta đồn rằng chính ông đã được hân hạnh đón tiếp các nhân vật lừng danh: Cụ Phan, ông Nguyễn, ông Hà… và đã làm một cử chỉ rất điệu là là sụp xuống lạy và nói: ‘Ngài quả là có chân mạng đế vương !’ Người ta cũng ghi nhận rằng do lời tiên đoán và sự xuất khấu đầu đảnh lễ của ông thầy, trong một năm nào đó , tại miền Nam, đã có tới 11 vị có chân mạng đế vương ra tranh chức tổng thống! Chừng đó, đủ chứng tỏ uy tín của ông thầy Chiêm lớn lao như thế nào.

Cụ Ngô Hùng Diễn và Giáo sư Trần Quang Quyến

Cũng không phải chỉ riêng ở nước ta, mà hình như ở đâu thì chính khách cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề bói toán. ‘Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.’ Không tin hẳn, nhưng nếu cứ bói thử thì vẫn còn hơn là tự quyết định vận mệnh quốc gia. Có lẽ ở quốc gia nào, dù Tây phương hay Đông phương, thì mỗi chính khách đều có riêng một ông thầy, cũng như một ông bác sĩ tư, một bà bí thư riêng nữa vậy!

Với các chính khách, các thầy không những bấm độn, coi tướng, mà còn đưa ra những lời khuyên để thay đổi tướng mạo cho được ông thành danh toại hơn. Ví dụ, một vị tướng có một khuôn mặt quá ngắn và lưỡng quyền cao, thì được ông thầy cho hay như vậy phúc đức sẽ từ lưỡng quyền trôi tuốt luốt hết. Muốn cho công danh phát triển được lâu bền thì phải làm cho khuôn mặt dài ra, bằng cách để một chòm râu thòng xuống. Quả nhiên khi để râu dài như vậy, khuôn mặt tướng quân thon hơn, tướng mạo đổi khác nhiều lắm. Cũng có trường hợp một chính khách đầu đã bạc phải nhuộm, nhưng ông thầy cho biết nếu nhuộm tóc sẽ ảnh hưởng xấu đến cái tướng đang phát rất tốt đẹp. Vì vậy nhà chính khách đành buộc lòng để nguyên đầu tóc bạc phơ, trong lòng buồn vô hạn!

Những anh em, phần lớn là văn nghệ sĩ, nhà báo, hay ngồi ở quán Givral ngày xưa còn nhớ chuyện người ta kháo nhau rằng đáng lẽ cuộc đảo chánh hay ‘cách mạng’ năm 1963 phát động sớm hơn, nhưng vì các thầy đã bấm độn thấy là không được, nên đã phải dời qua ngày 1/11/63 đấy!

Cũng có vị chính khách được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời. Những giai thoại trên chứng tỏ rằng ở một giai đoạn lịch sử đã qua, các vị thầy bói đã có ảnh hưởng thật lớn, nếu không nói là đã đóng những vai tro quan trọng trên chính trường.

4.Các thầy bói nổi tiếng nhất xưa nay

Lẽ tất nhiên, chúng ta không ai có thể dám nói rằng mình biết được hết tên tuổi các vị thầy bói Giao Chỉ, dù chỉ riêng tại Sài gòn và phụ cận, chứ đừng nói là ở khắp nước Việt Nam. Vậy, sau đây cũng chỉ là một số tên tuổi lẫy lừng nhất được nhiều người biết. Trước hết phải kể đến các Bà Thầy :

Bà Anna Phán, dường như xưa kia có chồng là người Pháp, đã nổi tiếng một thời từ ngoài Bắc, Hà nội. Khi bà theo làn sóng di cư trôi vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng lộc thánh hãy còn.

Trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà hình như là người Pháp và cũng mang cái tên rất đầm : Madame Claire.

Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá.


Cô Bích, một thiếu phụ nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng, là người Đà Nẵng. Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi đồng lên, cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 80.

Nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở Đường Đinh Công Tráng thuộc quận Tân Định. Vào khoảng cuốn năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi, hình như bà đã trúng tuyển kỳ thi hoa hậu do báo Đời Mới của ông Trần Văn Ân Tổ chức.

Cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao. Tuy các bà thầy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng ít hơn. Người ta còn nhớ tại Sàigòn có các thầy nổi tiếng như : Gia Cát Hồng, giáo sư Khánh Sơn, thầy Nguyễn Huy Bích, thầy Minh Lộc, thầy Minh Nguyệt, thầy Lanh, thầy Diễn và thầy Ba La.

Thầy Gia Cát Hồng tên thật là Phạm Bảo, nguyên là công chức thuộc nha cảnh sát công an Bắc Việt trước 1954. Sau khi di cư vào Nam, ông Bảo thôi nghề công chức, sau đó một thời gian mới mở văn phòng đoán vận mệnh tại đường Trần Quốc Toản, gần Việt Nam Quốc Tự. Thầy tự quảng cáo là nhà tiên tri xem tử vi, chữ ký. Nổi tiếng về tài xem tử vi mà nói đúng được diên mạo người xem, tầm vóc, lớn nhỏ, nghề nghiệp, màu da…mà không cần trông thấy mặt.

Ngoài việc bói toán, thầy Gia Cát Hồng kiêm luôn nghề thầy thuốc chữa những bệnh như: kinh phong, phong ngứa, phong tình…kết quả rất tốt. Thầy làm ăn phát đạt đến nỗi chẳng mấy chốc đã trở nên chủ nhân ông nhiều tài sản lớn.

Thầy Nguyễn Huy Bích: Cũng chánh quán Bắc Việt, là người bị mù từ thuở sơ sinh, đã hành nghề từ phố Huế Hà nội 36 năm, sau mới vào sàigòn theo đợt di cư. Trong các thầy lừng danh, cụ Bích nổi tiếng là người hiền lành đứng đắn. Cụ rất ngại mở rông sự giao tiếp, dù rằng thân chủ tìm đến rất đông. Cụ cũng chỉ xem cho người quen, để có thể nói thật mà không sợ mất lòng hay gây thù oán. Nhiều nhà văn ở Sàigòn là bạn thân của thầy Bích. Ngoài ra cụ Bích cũng là bạn thân của đạo sĩ Ba La. Không chủ trương kiếm nhiều tiền, cụ Bích không có của chìm của nổi như thầy Gia Cát Hồng.


Thầy Minh Nguyệt, không như thầy Gia Cát Hồng tự xưng là nhà tiên tri, thầy Minh Nguyệt tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ. Đặc biệt, riêng thầy Minh Nguyệt còn biết đủ thập bát ban võ nghệ, ngoài tài tử vi và xem chỉ tay.

Nhiều đồng hương đến nay đã ra nước ngoài mà xưa kia đã từng đến coi bói tại văn phòng giáo sư Minh Nguyệt vẫn nhớ giọng nói miền Nam rất vui vẻ của ông – giống như kịch sĩ Tùng Lâm – và cũng nhớ căn phòng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam trở về cố quốc. Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Trong số hàng chục ngàn thân chủ, có cả hàng chục cô mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư ‘Sáng Như Mặt Trăng’, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ ‘trăng hoa.’

Thầy Minh Lộc : cũng sinh quán từ Bắc Việt di cư vào Nam, mở văn phòng tại đường Lê Văn Duyệt Sàigòn. Thầy là người đã hành nghề lâu năm trước, từ ngoài Bắc, và có thụ giáo với một số thầy khác. Điểm đặc biệt là thầy Minh Lộc rất khó tính, nghĩa là nói thẳng, nói ngang, nói như tát nước vào mặt người đến năn nỉ xin thầy xem giúp. Đây cũng là đặc điểm chung của các thầy muốn tỏ ra tự trọng, áp dụng câu châm ngôn rút ra từ truyện Kiều : ‘Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm vàng’. Lắm khi thầy mắng người ta đến xấu hổ và xua tay đuổi như đuổi tà, nhiều người giận bỏ về, nhưng rồi lại cứ mò tới!

Tự trọng và treo giá là phải, vì thầy đoán rất hay. Có người đã tắt thở, thân nhân đã đặt hòm, mà thầy vẫn xem tử vi và bấm độn quả quyết số này chưa mãn. Quả nhiên người ấy hồi sinh, và thân nhân trả hòm lại mà không lấy tiền về, xem như là để ăn mừng vậy. Và cũng như phần đông các thầy đã nổi tiếng, thầy Minh Lộc không chạy được ra nước ngoài vào đợt di tản 30/4., kể cả thầy Chiêm và thầy Khánh Sơn cũng không!

Thầy Nguyễn Văn Canh, cũng là người sinh quán tại Bắc Việt (Nam Định). Thầy Canh cũng mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai. Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà nội, và đã di cư vào Nam sau 1954. Điểm đặc biệt của thầy Canh là có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy là một nghề rất sáng giá tại quê nhà, vào thời buổi ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri.

Dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khoẻ dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào. Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao! Đến nay, tại Mỹ, nhiều người còn nhớ được câu ‘mệnh vô chính diệu đắc tam không’ là nhờ học được của thầy Canh.

Thầy Lê Văn Diễn. Người viết bài này không dám tin chắc họ của thầy Diễn là họ Lê, chỉ nhớ là ngưòi ta đã gọi vậy, nhưng phần đông đều chỉ gọi là thầy Diễn. Không như các thầy ở ngoài Bắc di cư vào Nam, thầy Diễn là công chức miền Nam đã về hưu. Nhà riêng ở đường Hiền Vương gần đất Thánh Tây, nhưng thầy ít khi tiếp khách tại nhà, mà thường thân chủ muốn rước thầy phải hẹn trước hàng tháng, hàng tuần,và thỉnh thầy về nhà một cách long trọng.

Thầy không nổi tiếng với khoa tướng số tử vi hay bấm độn, hay bói tướng, mà tự nhiên có thể xuất thần nói được những điều huyền bí, tiên tri ghê gớm về quá khứ vị lai. Tây phương gọi loại thầy tiên tri này là Medium.

Điểm đặc biệt của thầy cũng lại là khó tính. Thầy tối kỵ nhận tiền bạc hay lễ lạc của thân chủ, dạy rằng nếu được trả tiền thì bao nhiêu cái hay sẽ mất hiệu nghiệm và việc làm của các thầy sẽ không còn phải là cứu nhân độ thế nữa. Mỗi khi khách có tang gia bối rối, lần mò vào được nhà thầy, liền bị người nhà ra mời đi, nói rằng thầy lúc này đã muốn nghỉ ngơi, các quý khách đã rước thầy đi ngao du sơn thủy, đâu có ở nhà mà giúp bà con được! Nhưng rồo cuối cùng thầy cũng giúp cho, và thân chủ phải nghĩ sao cho phải thì thôi, để gọi là lòng thành lễ bạc! Nhiều giai thoại về tài nhìn thấy vị lai của thầy đã được truyền tụng. Ngoài ra, thầy Diễn còn có tài địa lý, nhìn hướng nhà mà biết nhà có hợp để ăn nên làm ra không, cửa trổ về hướng nào thì có lợi. Những giai thoại về thầy Diễn cũng nhiều, nhưng xét ra cũng tương tự như các thầy khác.

Điểm đặc biệt là thầy được coi như một người có khả năng xuất hồn, chứ không phải chỉ bói toán tử vi hay địa lý. Cũng như thầy Chiêm ở Đà Lạt, thầy Diễn xuất hồn để tiếp xúc với hồn người quá vãng. Thầy Chiêm cầm ống điện thoại cũng kêu hêlô, hêlô và hai bên đối thoại, có cả những tiếng OK, OK nữa. Còn thầy Diễn thì thế nào, kẻ viết bài này chưa được chứng kiến.

Thầy Khánh Sơn : Có lẽ so với tất cả các thầy đã được kể trên, thì thầy Khánh sơn là người nổi tiếng nhiều nhất và lâu nhất.

Từ những năm nước nhà còn Pháp thuộc, các bậc tiên sinh đã nghe danh thầy, tự xưng là Mét (Maitre). Mét Khánh Sơn. Báo chí thời tiền chiến đã đăng hình thầy: đẹp trai, đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí chăng? Mét đã hành nghề đâu từ những năm 40-45 xa xưa, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số các ông ở bên Tàu qua, như đã nói ở trên

Kẻ viết bài này còn nhớ đã đọc đâu đó trên báo chí, hồi còn ở quê nhà, nhiều giai thoại đặc biệt về thầy Khánh Sơn. Nào là, thầy là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền dễ dàng nên đã sống cuộc đời của một Don Juan! của một công tử Bạc Liêu! của một ông hoàng! Mặc dầu có gia đình và những ngưòi con cũng rất đàng hoàng, thầy Khánh sơn vẫn được rất nhiều các bà, các cô mê mệt! Nào là, thầy đã từng xem quẻ mà cứu được mấy nhân vật trong chính giới thoát chết của viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936. Theo lời các cụ kể lại thì Mét Khánh sơn đã đưa ra một câu sấm như thế này để giải đoán trường hợp ông toàn quyền năm xưa :

Bao giờ hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây


Đại khái thầy Khánh Sơn cho rằng Tám Gà là Bát Kê, và trên mây là máy bay. Sau đó, máy bay trên có viên toàn quyền bay về Pháp đã bốc cháy và đốt cháy không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ. Chuyện khó tin, nếu mà đúng thế thì quả cái tài của Mét Khánh Sơn thật là vô địch. Sợ rằng sấm chỉ ra đời sau khi sự việc đã xảy ra. Dầu sao, cũng có tài liệu ghi chép rằng chính ông Pasquier đã được nghe câu sấm và lời giải đáp tại một phiên chợ ở Hà nội, trước khi tai nạn xảy ra. Thời gian hành nghề hốt bạc của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu. Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu hoàng Sihanouk…

Cho đến năm Nhâm Tý 1972, cá thầy Khánh sơn, Minh Nguyệt, và Huỳnh Liên được mời lên tivi tiên đoán vận mệnh nước nhà, thì cả ba đều nói những điều tốt đẹp, nhìn thấy hòa bình tiến lại gần, thật gần cho nhân dân miền Nam ! Tiếc thay, không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để mà tháo chạy !

Thầy Ba La: Danh xưng Ba La gợi nên hình ảnh một vị bốc sư Ấn Độ, hay Hồi Giáo, đầy vẻ huyền bí của xứ Nghìn Lẻ Một Đêm. Thật ra thầy Ba La cũng sinh quán ở Bắc Việt Nam, và cũng di cư vào Sài gòn sau năm 1954. Trước đó, thầy đã nổi danh tại miền Bắc lâu lắm rồi, vì đến nay, nếu thầy còn trường thọ ở quê nhà thì thầy đã ngoài 110 tuổi! Trước 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán tại đường Nguyễn Phi Khanh, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu.

Thầy Ba La chuyên về tử vi, bói dịch, nhưng cũng nổi tiếng như một nhà tiên tri vì thầy hành nghề quá lâu năm, tài nghệ không như những thầy tử vi, bói dịch thường tình. Thầy cũng bị lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống, và bởi vậy nghề của thầy có căn bản vững vàng, sở học tinh thông. Thông thạo Hán văn và là tiên chỉ trong làng, nên thầy rất được nể trọng bởi người cùng giới cũng như thân chủ, đồng bào nói chung. Có đến văn phòng thầy Ba La để thấy thầy tiếp khách, toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư, mới biết cái giá trị của người bói toán ở nước ta thời ấy như thế nào. Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Cụ Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ. Ai cần là cụ sẵn sàng xem cho, trong ý hướng giúp đỡ. Nhưng cụ khó tính trong cái nghĩa là hết sức thận trọng khi đặt một lá số, khi gieo một quẻ bói. có khi kéo dài rất lâu, nghiên cứu rất tỉ mỉ.


Mỗi vị thầy bói đều có riêng những giai thoại về mình. Cụ Ba La thì được nhiều người thành tâm khâm phục vì đích thân chứng kiến tài năng của cụ, đích thân là người được cụ cứu thoát chết nhờ chỉ dẫn cách sinh sống sao cho hợp với tướng số của mình v.v…

Cũng trên một giai phẩm nào đó, người ta được biết một giai thoại ly kỳ về tài năng xuất chúng của cụ về giải đoán số tử vi.

Một thanh niên người miền Bắc, con của một gia đình giầu có nhưng bà mẹ chỉ sinh được một lô con gái, vào thời buổi mà xã hội còn đánh giá người đàn bà thật thấp với câu: ‘Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô’ (một con trai cũng đáng kể là có, mười con gái có thể coi là số không). Vì lo toan không có con trai nối dõi tông đường sẽ cam tội bất hiếu, ông bà liền đi lễ chùa Hương để cầu tự. Trải qua nhiều năm tháng, chứng tỏ lòng thành, ông bà đã được toại nguyện. Trời Phật ban cho một đứa con trai. Mặc dầu được nuôi nấng cẩn thận, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, nhưng năm lên ba tuổi cậu bé cầu tự này bỗng nhiên bị bệnh nhẹ mà mất, làm cho cả đại gia đình vô cùng thương tiếc, đau khổ.

Họ không nản lòng, lại tiếp tục ngày đêm cầu nguyện, lòng thành dâng lễ vật lên chư vị thánh thần tại chùa Hương để xin các ngài xét lại, tha thứ cho những lỗi lầm đã phạm, nếu có, và xin được ‘trả lại’ đứa con trai cầu tự. Ba năm sau, nhờ ơn Trời Phật, bà mẹ lại sinh được một đứa con trai, mà cả nhà xem như là chính người con trước đã tái sinh. Mà họ tin như vậy là phải, vì dung mạo người em như khuôn đúc từ người anh, không khác một điểm nào, kể ca û nốt ruồi son ngay giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sanh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù rằng họ cách nhau ba tuổi.

Cậu bé lớn lên, học hành đỗ đạt, và vì biết chuyện đã xảy ra cho bản thân mình đầy tính cách mê tín dị đoan, huyền bí, khó tin, nên cậu ngày đêm thắc mắc muốn tìm ra sự thật. cậu một mình trôi dạt vào Nam, người thanh niên phải trải qua những năm tháng vật lộn với đời sống phồn hoa để sống còn. Người thanh niên, tạm gọi là anh X. luôn luôn nghĩ đến chuyện tìm đến một vị thầy tử vi, một nhà bói toán hay để nhờ giải đáp bài toán của cuộc đời mình.

Chính tại Sàigòn mà anh X. được nghe danh nhà tiên tri Ba La. Chẳng những đã đỗ cử nhân Hán học, cụ còn là một nhà ái quốc từng tham gia các phong trào chống Pháp. Được biết cụ Ba La không phải mù lòa từ thuở sơ sinh mà chỉ bị mù sau khi trèo đèo lội suối vô cùng gian khổ tại núi Ba Vì, lòng anh X. vô cùng cảm xúc ngưỡng mộ người thầy bói có một quá khứ đẹp và anh tin tưởng người ấy nhất định không dối gạt.

Anh X. tìm gặp được cụ Ba La tại Sàigòn. Anh đưa trình lá số tử vi của người anh đã chết để nhờ thầy giải đoán. Thầy Ba La càng coi kỹ lá số càng tháo mồ hôi, miệng không ngớt kêu : ‘lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng :

– Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba!

Thầy Ba La xem kỹ các vì sao chỉ tướng mệnh, rồi gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm : có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vó cao lớn như thế này…không? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực? Cụ Ba La lập lại :

– Có nốt ruồi đỏ thật à? Thế thì lạ quá! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh. Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác!

Trên nét mặt ông thầy đượm vẻ buồn và bực tức. Cụ Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật.

Anh X. cảm phục đến sợ hãi, lòng ăn năn vì đã dám thử thách một bậc tiền bối khả kính. Cuối cùng anh X. đã trở lại lần nữa, thành tâm xin lỗi cụ và trình ra lá số tử vi thật. Từ đó, anh hoàn toàn tin tưởng ở khoa tử vi như là một khoa học huyền bí, chứ không phải là một trò mê tín dị đoan.

Tiếc thay, cụ Ba La đã không được mời lên tivi tiên đoán vận mạng đất nước vào năm Nhâm Tý 1972, để nói những lời tiên tri xác thực hơn các vị đã được mời năm ấy.

Chiêm tinh gia Huỳnh Liên; Nhắc đến thầy Huỳnh Liên sau hết, không phải vì thầy ít nổi tiếng hơn các vị kia. Trái lại là khác. Nhưng để dành phần sau hết nói về thầy là vì trong số các nhà tử vi, tướng số lừng danh miền Nam trước năm 75, ông Huỳnh Liên là người duy nhất được báo chí Việt ngữ ở nước ngoài biết được tin tức ‘động trời’ về ông, qua một cái chết bất đắc kỳ tử gây ngạc nhiên và xúc động cho bà con ở bên này.

Số là, vào đầu tháng 10/1992, nhiều báo Việt ngữ ở đây loan tin về cái chết của ông, qua một hàng tít giật gân: ‘Thầy bói Huỳnh Liên bị cháu vợ giết chết để cướp của’. Tin này được truyền miệng nhanh chóng, và những người theo dõi, tò mò, đều tưởng rằng chuyện mới xảy ra ở Sàigòn. Về sau mới biết đó chỉ là tin viết lại từ báo Sông Bé, tờ báo xuất bản tại huyện Lái Thiêu tỉnh Bình Dương. Bài viết đầy đủ chi tiết về cái chết, về cuộc sống đã qua, mang hình thức một thiên phóng sự, có điều đáng tiếc là từ đầu đến cuối không thấy nói ngày kẻ cướp vào nhà sát hại ông là ngày nào, năm nào!

Theo bài này thì trong những năm làm ăn phát đạt ở Sàigòn xưa kia (trước 1975), ông Huỳnh Liên có tậu một khu vườn-nhà ở làng Vĩnh Phú – Lái Thiêu – để khi rảnh rỗi ông từ sàigòn về đây vui thú với bà vợ nhỏ, trong khi bà cả vẫn đóng đô ở ngôi nhà chính trên đường Phan Thanh Giản Sàigòn.


Sau năm 1975, nghề coi bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên cũng như tất cả các thầy khác, đều tỏ ra thức thời, viết bài cảnh tỉnh chối bỏ quá khứ để nạp cho nhà cầm quyền, hứa rằng ‘Từ nay thôi không lừa bịp bà con nữa’. Từ đó ông về ở hẳn với bà vợ nhỏ, một cuộc sống cũng lạnh lẽo đìu hiu như với bà vợ lớn vậy, vì cả hai bà đều không có con. Rồi thì, sau giai đoạn đầu hăng say của ‘cách mạng’, đâu lại vào đấy, bà con lại tìm đến các thầy bói để giải quyết những vấn nạn của đời sống.

Theo báo Sông Bé thì ông Huỳnh Liên không tin tưởng bà vợ nhỏ lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại trên lầu bị hư, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa cho chắc ăn. Tới chiều, hai anh thợ điện mới lên tới nhà và bảo ông Huỳnh Liên là bà ở lại Sàigòn chơi đến mai mới về. Vừa đến nhà, hai anh thợ điện liền xem xét chiếc xe hơi của ông chủ nhà nằm trong ga ra đã lâu năm coi còn tốt không. Sau đó, họ theo ông chủ lên lầu lo sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại thì nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên lầu thì thấy một cảnh tượng hãi hung: Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không la lối gì được. Chị bếp bỏ chạy xuống đường, vừa lúc gặp hai xe bộ đội từ chiến trường Tây Nam trở về, lính trên xe bắn súng chỉ thiên chơi. Hai tên giết người nghe súng nổ, tưởng rằng công an đã đến nơi, vội vàng lên xe tháo chạy.

Trong lúc quýnh quáng, chúng quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà. Chị giúp việc chạy đi cầu cứu. Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết. Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó mà công an khỏi phải mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ở Sàigòn ngay trong đêm.

Bài phiếm vãn về thầy bói này, có đoạn về thầy Ba La, thầy Lê Văn Diễn thì dài, về các thầy khác thì ngắn, vì người viết được biết về các thầy nhiều ít khác nhau. Hiện nay, sống trên đất Mỹ, được biết ‘càng ngày càng nhiều tài tử, ca sĩ, diễn viên và người mẫu Hollywood quay trở về với khoa học huyền bí, theo nhiều hệ phái và tín ngưỡng khác nhau’. Huống nữa là người Việt Nam, sao lại không thích chuyện thầy bói?
VI KHUÊ

Vĩnh Bảo sưu tầm 18/2019

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

TÀO THÁO TRONG LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI GIAN HÙNG

TÀO THÁO TRONG LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI GIAN HÙNG

“Tam Quốc Diễn Nghĩa” của tác giả La Quán Trung được xưng là một trong “tứ đại danh tác” của Trung Quốc, được người người biết đến. Nhưng tác phẩm này cũng bị nhiều sử học gia đời sau lên án, bởi một số nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử được đưa vào trong tác phẩm đã bị sai lệch, khiến hậu nhân có cái nhìn không đúng về nhân vật, sự kiện lịch sử có thật.


“Tam Quốc Diễn Nghĩa” là một tiểu thuyết lịch sử. Chúng ta không thể dùng tiểu thuyết, hý kịch mang sắc thái hư cấu để đánh giá, nhìn nhận lịch sử và nhân vật lịch sử, càng không thể dùng nó để làm chuẩn mực đánh giá nhân vật lịch sử. Xem “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, nhiều người đánh giá nhân vật Tào Tháo hung ác độc địa, gian giảo, gian hùng, là một nhân vật phản diện có dã tâm lớn. Vậy tìm hiểu lại các tư liệu lịch sử, chúng ta xem Tào Tháo thực sự có phải người như vậy không?

Trong chính sử, Tào Tháo được khắc họa là vị thiên cổ anh hùng, cái thế hào kiệt, công cao đức rộng. Trong “Tam Quốc Chí” ca ngợi Tào Tháo: “Phi thường chi nhân, siêu thế chi kiệt” (tạm dịch: Người phi thường, là người tài giỏi xuất chúng). Các học giả đời sau nhận xét rằng: “Tào Tháo trong các tác phẩm văn học, hý kịch không phải là nhân vật Tào Tháo trong lịch sử.”

Có gan có trí, lâm nguy mà không sợ

Thời đầu Tam Quốc, Đổng Trác là quyền thần nhà Đông Hán, nổi tiếng là một gian thần, một quân phiệt tàn bạo. Khi nắm quyền trong tay, Đổng Trác độc tài, ngang ngược, lạm sát đại thần, khiến triều đình ai cũng thấp thỏm lo âu. Vì quá ngang ngược, Đổng Trác đã khơi gợi lòng oán hận trong các đại thần, vì thế đại Tư Đồ Vương Doãn đã bàn bạc với các đại thần kế hoạch giết chết Đổng Trác. Nhưng sau khi bàn bạc xong, các đại thần ai nấy đều lo sợ chỉ có Tào Tháo là nghe xong chẳng những không sợ hãi mà còn mỉm cười vỗ tay, xung phong nhận việc ám sát Đổng Trác.

Mặc dù việc ám sát Đổng Trác không thành công, nhưng Tào Tháo lại dựa vào tài trí của mình mà gạt được Đổng Trác, thoát khỏi miệng hùm. Đây chính là “có gan có trí”, lâm nguy mà không sợ.

Tào Tháo còn rất giỏi trong thuật dùng binh, dùng người. “Vọng mai chỉ khát” là một câu chuyện thể hiện tài trí của Tào Tháo. Trong “Thế thuyết tân ngữ” viết: Một lần vào mùa hè, Tào Tháo dẫn quân đi qua một địa phương không có nước. Giữa bầu trời nắng chói chang, gay gắt, tướng sĩ vừa mệt vừa khát, thậm chí có một số binh sĩ vì khát nước quá mà ngã xuống. Tào Tháo thấy sự tình thật sự nghiêm trọng, nếu tình trạng này diễn ra lâu hơn sẽ khiến binh sĩ nhụt chí, không thể kiên trì đi tiếp. Tào Tháo liền đứng lên một chỗ cao hô lớn: “Có nước rồi! Có nước rồi!”

Các tướng sĩ nghe nói có nước, tất cả đều hỏi: “Nước đâu? Nước đâu?”

Tào Tháo vừa chỉ tay về phía trước vừa nói: “Con đường này trước đây ta đã từng đi qua rồi, ở địa phương phía trước cách đây không xa có một vườn mơ lớn, trong đó có rất nhiều quả mơ vừa to mọng vừa ngọt thơm, chúng ta hãy nhanh chóng đi đến đó thôi!”

Các tướng sĩ nghe thấy có nhiều quả mơ to mọng ở phía trước thì mừng rỡ, tự nhiên trong miệng tiết ra vị chua, nhất thời không bị khát nữa. Tào Tháo lập tức chỉ huy binh sĩ lên đường, sau khi đi qua địa phương khô hạn này, họ đến một con sông lớn. Mọi người được uống nước, tinh thần sáng khoái tiếp tục hành quân, khí thế tăng lên bội phần.


Quý trọng nhân tài, tìm cầu người tài đức

Tào Tháo có một đặc điểm lớn nhất chính là quý trọng nhân tài. Chính vì đặc điểm này mà một số nhân tài đã tìm đến ông để nương tựa. Mối quan hệ giữa những nhân tài ấy với Tào Tháo giống như anh em một nhà.

Điển Vi là một ví dụ nổi bật. Điển Vi vì bảo hộ Tào Tháo mà chết trận. Khi nghe tin Điển Vi chết, Tào Tháo bật khóc nức nở, thống thiết. Ông còn chiêu mộ gián điệp thu hồi thi thể của Điển Vi về an táng. Ông sai người lập đền thờ và bày bàn cúng tế rồi nói với các tướng rằng: “Ta mất một con trưởng và một cháu yêu, cũng không thương là mấy, chỉ thương khóc Ðiển Vi mà thôi”.

Tấm lòng trọng dụng nhân tài của Tào Tháo còn thể hiện ở cách ông đối đãi với họ khi lập được chiến công. Trong lịch sử, có không ít tướng lĩnh khi có được chiến công liền tìm cách chiếm lấy và trừ khử những người thuộc hạ thân tín, nhưng Tào Tháo không làm như vậy. Ví như, vào năm 207 (tức Kiến An năm thứ 12), tháng 2, Tào Tháo từ đất Hung Nô trở về Nghiệp Thành, liền lệnh rằng: “Ta khởi nghĩa binh trừ bạo loạn, đến nay trải qua 19 năm, đánh đâu thắng đó, há phải công lao riêng mình? Đó thảy đều là sức lực của các bậc hiền sĩ đại phu vậy. Nay thiên hạ vẫn còn chưa yên, ta đang muốn cùng hiền sĩ đại phu hợp sức bình định, nếu hưởng công lao một mình, sao ta có thể yên lòng? Vậy gấp rút định công, phong thưởng cho những người ấy“.

Sau trận chiến ấy, Tào Tháo phong thưởng rất hậu cho hơn 20 người, tất cả đều được làm Liệt hầu. Những người còn lại cũng theo thứ bậc mà nhận thưởng, thụ phong. Ngay cả đến con côi của những binh tướng tử trận vì việc công cũng được ban ân nặng nhẹ khác nhau, chẳng hề sơ suất. Ông lại dâng biểu lên Hán đế xin phong cho Tuân Úc làm Vạn Tuế đình hầu, tháng 3 lại cho Tuân Úc thực ấp 1000 hộ.


Quyết đoán, kiên nghị

Trong trận chiến Quan Độ, khi đối mặt với đại quân của Viên Thiệu, quân Tào lần lượt bị bại lui, ngay cả sứ giả vận chuyển lương thảo đến Hứa Xương cũng bị quân của Viên Thiệu bắt giữ, cướp đoạt lương thảo. Lúc này, quân Tào có thể nói là rơi vào tình cảnh “đạn tận lương tuyệt” (hết sạch cả đạn lẫn lương thực).

Dưới tình huống như vậy, mưu sĩ thân tín của Viên Thiệu là Hứa Du đã hiến kế cho Viên Thiệu: “Chủ lực của quân Tào ở Quan Độ, nếu chúng ta phái một toán binh mã tập kích ở Hứa Xương thì nhất định có thể chiếm lĩnh được Hứa Xương, đến lúc đó chúng ta có thể bắt cả Tào Tháo”. Nhưng Viên Thiệu không những không nghe theo lời của Hứa Du, mà thậm chí còn nghi ngờ Hứa Du là gian tế của Tào Tháo.

Vì tài năng không được trọng dụng, lại bị khinh thường, nghi ngờ nên Hứa Du quyết định tìm đến Tào Tháo nương tựa. Tào Tháo biết tin Hứa Du đến, ngay cả giày cũng không kịp xỏ, nhanh chóng ra đón tiếp Hứa Du. Nghe xong thượng sách phá địch của Hứa Du, Tào Tháo không do dự, thiếu quyết đoán và hoài nghi Hứa Du như Viên Thiệu, mà nhanh chóng phán đoán rồi đưa ra quyết định nghe theo mưu của Hứa Du.

Cuối cùng nhờ nghe theo mưu của Hứa Du mà Tào Tháo đả bại được quân Viên Thiệu đông đảo hơn rất nhiều, cơ bản thống nhất được phương bắc. Điều này thể hiện tài nhìn người, đánh giá tình hình và sự kiên nghị quyết đoán của Tào Tháo.

Tài năng học tập uyên bác



Tào Tháo chẳng những hơn người ở tài năng dùng binh mà trong tài năng thơ ca cũng hơn người. Năm Kiến An thứ 12 (năm 207), Tào Tháo dẫn đại quân tiến lên phía bắc, đại phá Ô Hoàn, giành được thắng lợi mang tính quyết định, đồng thời loại trừ được chướng ngại cuối cùng cho việc thống nhất phương bắc.

Lúc bấy giờ Tào Tháo 53 tuổi. Tuy tuổi gần xế chiều nhưng tráng chí vẫn còn, hào khí không hề giảm. Vì thế, ông đã viết ra bài thơ “Quy Tuy Thọ” để khích lệ bản thân tích cực tiến thủ, lập được công mới.

Trong “Quy Tuy Thọ” viết: “Lão ký phục lịch, chí tại thiên lí. Liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ” (Tạm dịch: Thiên lý mã tuy già nằm bên máng cỏ, nhưng vẫn luôn có chí rong ruổi ngàn dặm. Người có hoài bão to lớn tuy đến tuổi về chiều, nhưng hùng tâm tráng chí không hề suy giảm). Những câu thơ này biểu đạt chủ đề thi ca và sự nghiệp của thi nhân cùng thái độ nhân sinh, tràn đầy tinh thần tích cực tiến thủ. Các tác phẩm văn thơ của Tào Tháo đều thể hiện ra chí hướng cao xa rộng lớn và hùng tâm tráng trí của ông.

Có thể thấy, thời Tam Quốc, vô luận là ở phương diện quân sự hay văn chương, Tào Tháo đều là ngôi sao sáng chói về trí tuệ, tài năng, mưu lược hơn người, là một anh hùng chứ không phải gian hùng như nhiều người vẫn lầm tưởng hàng ngàn năm qua.
An Hòa

Vĩnh Bảo sưu tầm 16/9/2019

ÁO YẾM... MỘT QUYẾN RŨ NGẤT NGÂY TRÁNG SĨ

ÁO YẾM... MỘT QUYẾN RŨ NGẤT NGÂY TRÁNG SĨ

Hình ảnh những cô gái thướt tha trong tà áo dài duyên dáng từ lâu đã trở thành biểu tượng của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển lịch sử trang phục dân tộc, Việt Nam không chỉ có áo dài mà còn có áo yếm – thứ trang phục không thể thiếu của người con gái xưa. 


Ngày xưa áo yếm thường chỉ được gọi với cái tên nôm na là cái yếm, đó là thứ trang phục đã có từ bao đời nay và vẫn còn giữ được cho đến ngày hôm nay. Yếm là một thứ trang phục nội y không thể thiếu của người phụ nữ Việt xưa. Nó là một tấm vải hình thoi hoặc hình vuông có sợi dây để quàng vào cổ và buộc vào sau lưng, được dùng để che ngực.

Không chỉ vào chốn cung đình với các mệnh phụ công nương, cái yếm còn ra ruộng đồng “dầm mưa dãi nắng” với người nông dân và cùng với chiếc áo tứ thân, cái yếm theo chị em đến với hội đình đám, góp phần tạo nên bộ “quốc phục” của quý bà thời xưa.

Khi xưa ở với mẹ cha
Một năm chín yếm xót xa trong lòng

Từ khi em về nhà chồng

Chín năm một yếm, em lật trong ra ngoài. 


Một số nhà nghiên cứu cho rằng chiếc yếm được ra đời là để tôn lên cái lưng ong vốn được xem là một nét đẹp của người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam.


Theo quan niệm truyền thống của người Việt, một cô gái đẹp là phải có cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn như cái lưng ong. Người Việt xưa cho rằng những cô gái với cái lưng ong không chỉ mang một dáng hình đẹp mà còn có đầy đủ tất cả những đức hạnh của một người vợ, người mẹ.

Đàn bà thắt đáy lưng ong
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con. 

Cái yếm xuất hiện trong cuộc sống của người dân Việt Nam không biết tự lúc nào và mãi tới đời nhà Lý (Thế kỷ 12) cái yếm mới “định hình” về cơ bản. Theo dòng lịch sử, cái yếm không ngừng biến đổi, nâng cao tính thẩm mỹ qua những lần cải tiến.

Thuyền anh ngược thác lên đây
Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền.


*

Ở gần mà chẳng sang chơi

Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu.

Mồng tơi chẳng bắc được đâu
Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang


Ở thế kỷ 17, cái yếm vẫn chưa có sự thay đổi lớn lao về hình thức. Thế kỷ 19, cái yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét lỗ làm cổ, hai đầu của lỗ, đính hai mẩu dây để cột ra sau gáy.

Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xẻ, đít chữ V mà xẻ sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn. Bước sang thế kỷ 20, áo yếm càng được sử dụng phổ biến với nhiều kiểu dáng và mẫu mã phong phú.

Dành cho người lao động có yếm màu nâu dệt bằng vải thô. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm.

Con gái nhà gia giáo mặc yếm nhiều màu, trang nhã và kín đáo. Loại yếm “ỡm ờ”, màu sặc sỡ, cổ cắm sâu trễ quá bờ ngực, “thách thức” chỉ dân “trời ơi” dạng Thị Mầu mới mặc. Thời kỳ “cách tân” này, cổ yếm thường được “dằn” thêm ba đường chỉ để “bảo hiểm” hoặc may viền lằn vải, thêu hoa cặp theo đường biên cổ.

“Em đeo giải yếm đào
Quần lĩnh áo the mới

Tay cầm nón quai thao”. 


Em thắt làm chi giải yếm tơ
Sao không thả lỏng để anh nhờ

Rắc rối cho đời thêm cái gút

Gỡ mãi xuân tàn tóc bạc phơ 


Một loại yếm hay được các cô gái sử dụng nữa là “yếm đeo bùa”. Gọi là yếm đeo bùa bởi người mặc chúng thường để xạ hương vào trong túi vải nhỏ đeo cạnh yếm, đó chính là thứ vũ khí vô cùng lợi hại của các cô gái thời xưa…

Không chỉ vậy, chiếc yếm còn làm nên những câu chuyện tình yêu vô cùng độc đáo. Xưa, các cô gái khi hẹn hò người mình yêu thường “ém” một miếng trầu trong chiếc yếm của mình, dân gian gọi đó là “khẩu trầu dải yếm”. Có lẽ không có thứ trầu nào “linh thiêng” hơn loại trầu dải yếm này.

Để trở thành “quốc phục” của quý bà quý cô trước khi chiếc áo dài ra đời, đi kèm với cái yếm là chiếc áo cánh khoác ngoài không cài cúc.

Khi ra ngoài bên ngoài chiếc yếm phải có thêm chiếc áo dài, chiếc váy lưỡi trai bằng lĩnh, dải lụa đào hoặc màu mỡ gà thắt ngang lưng, cái xà tích bạc lủng lẳng, bộ “độ nghề” ǎn trầu bên phía cạnh sườn, chân mang dép.

Gió xuân tốc dải yếm đào
Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương. 



Chưa hết, phục trang ra đường còn phải kể đến là hai chiếc khăn đội đầu: khăn nhiễu (quấn bên trong) và khăn mỏ quạ (trùm bên ngoài). Nếu đúng dịp hội hè đình đám các cô gái thường trang bị thêm cho mình chiếc nón quai thao, tóc vấn cao cài lược.

Suốt chiều dài lịch sử, cái yếm đã đi vào “giấc mơ” của biết bao thế hệ mày râu. 

“Trời mưa lấy yếm mà che 
Có anh đứng gác còn e nỗi gì?”. 

Đáp lại, các nàng cũng chẳng vừa: 

“Ước gì sông hẹp tày gang 
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. 


Hỡi cô mặc áo yếm hồng
Đi trong đám hội có chồng hay chưa?…


*

Cô kia yếm trắng lòa lòa

Lại đây đập đất trồng cà với anh.

Bao giờ cà chín cà xanh
Anh cho một quả để dành mớm con. 


Cho đến câu nhớ nhung, mong đợi của kẻ xa quê :

Mình về mình có nhớ chăng

Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình.

Ta về ta cũng nhớ mình
Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao 

Cái yếm là thứ trang phục vừa kín đáo, vừa… “ỡm ờ” một cách nghệ thuật và độc đáo. Chả thế mà Thị Mầu nói với chàng nô: “Gió xuân tốc dải yếm đào – Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương!”…

Hay như thơ Hồ Xuân Hương:

Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Ðôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,

Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.


Cuộc cách mạng yếm xảy ra vào thế 20 khi các kiểu áo Tây phương xâm nhập vào Việt Nam với sự ra đời của rất nhiều kiểu yếm và áo ngực mới lạ. Trang phục du nhập vào có tính tiện dụng hơn hẳn nên Yếm không còn được sử dụng rộng rãi nữa, yếm thường chỉ được dùng cùng với các trang phục cổ trong các dịp lễ hội truyền thống.

Ngày nay chiếc yếm đã được cải tiến gọi là áo yếm để dùng cho các em gái mới lớn. Áo yếm dùng mặc trong có hai dây đeo lên vai thay vì trước đây chiếc yếm có hai dây buộc quanh cổ và hai dây bên buộc ngang lưng… nhưng chiếc áo yếm ngày xưa vẫn xứng đáng là một di sản trang phục của Việt Nam.

Đàn ông đóng khố đuôi lươn
Đàn bà mặc áo hở lườn mới xinh

(Ca dao) 


Mặn mà môi thắm má hồng
Em vào ca hát giữa dòng trời mây

Yếm đào theo gió vờn bay

Quai thao che mặt bàn tay thon mềm.



Hội lim đến hẹn lại lên…

Thuyền trôi xuôi bến êm đềm thuyền xuôi…

Trai tài gái sắc sánh đôi
Còn em buông mãi những lời hát ca…



Bây giờ giã hội…mình ta

Đừng theo em nhé để mà…bén duyên

Hẹn rằng đến hội lại lên
Tìm em cô gái dịu hiền…năm xưa…

Nguồn : Cuuhocsinhphuyen

Vĩnh Bảo sưu tầm 16/9/2019

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT TÔN THỜ CỌP MÀ KHÔNG THỜ SƯ TỬ?

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT TÔN THỜ CỌP MÀ KHÔNG THỜ SƯ TỬ?

Giữa hai con vật này tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về tôn thờ. Trong khi cọp được gọi kính cẩn bằng những tên gọi như “Ông Ba Mươi”, “Thần Hổ”, “Chúa Sơn Lâm” thì sư tử chỉ là linh vật trang trí trong các công trình tín ngưỡng, tâm linh với vị thế là canh giữ công trình. Xin phép được lý giải thử vấn đề này từ phương pháp tiếp cận 3 góc độ: Sinh học - Lịch sử - Văn hóa.


Thứ nhất, từ góc độ sinh học, cọp (hổ) là loài động vật sống đơn độc, không theo bầy đàn. Trong khi đó, sư tử lại là động vật sống theo lối bầy đàn. Chính đặc tính này đã làm cho nhiều người ngộ nhận sức mạnh của cọp là không bằng sư tử. Khi có cơ hội đối đầu với nhau trong môi trường hoang dã, một bầy sư tử hiển nhiên là chiếm ưu thế hơn một con sư tử đơ độc. Tuy nhiên, thực tế từ nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra đã cho thấy đây là một nhận định sai lầm. Sức bền, sự dẻo dai của cọp là cao hơn hẳn so với loài sư tử. Ngay từ thời La Mã, cuộc chiến giữa cọp và sư tử đã được xem là thú vui giải trí của các tầng lớp quý tộc và sự thật đã cho thấy: Cọp luôn là kẻ giành phần thắng. Một số nhà sinh thái học qua thực nghiệm đã khẳng định về trọng lượng cơ thể, sức mạnh cơ bắp, khả năng tấn công của sư tử xếp sau voi và cọp. Mặt khác, sống trong điều kiện tự nhiên khác nhau thì việc phân biệt rạch ròi sức mạnh của hai loài vật này là điều không đơn giản. Trong khi sư tử với lối sống bầy đàn, phân bố chủ yếu ở khu vực thảo nguyên ở Châu Phi thì hổ lại là loài động vật phân bố chủ yếu ở núi rừng của Châu Á (danh hiệu “Chúa Sơn Lâm” cũng đã cho thấy rất rõ địa bàn cư trú của loài hổ). Việt Nam chúng ta là một quốc gia Châu Á và do đó, ở một chừng mực nhất định, hổ là loài động vật phổ biến hơn trong tâm thức cùa cộng đồng người dân.


Thứ hai, từ góc độ lịch sử, ở Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng, khi mà cộng đồng người Việt từ khu vực miền Trung di cư vào đây theo quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, đây vốn là vùng đất hoang sơ và rất hiểm trở. Một trong những biểu hiện cho sự hiểm trở và hoang sơ chính là sự hiện diện của loài cọp. Trong các tác phẩm viết về lịch sử và văn hóa của vùng đất Nam Bộ, không khó để ta thấy được sự khó khăn của cư dân tại vùng đất mới khi phải đương đầu với “Ông Ba Mươi”. Truyền thuyết về sự hóa thân của Phạm Nhĩ để biến thành ông Ba Mươi cũng là một phương thức để người Việt lý giải cho sự tôn sùng của mình dành cho loài động vật này. Quy luật tâm lý cho thấy khi con người phải đương đầu với những khó khăn gì, những hiểm họa từ gì thì sẽ có xu hướng tôn sùng, e dè trước nó. Và sự tôn thờ hổ là một ví dụ điển hình. Do vậy, tại một số địa phương thì hổ trở thành ông Hương cả – một chức quan lúc bấy giờ ở Nam Bộ; hay sự sắc phong các danh hiệu “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân chúa xứ”, “Sơn quân mãnh hổ”… Mối hiểm nguy từ con hổ ngay từ thời gian đầu vào khẩn hoang vẫn còn để lại dấu ấn và hiện hữu cho đến ngày nay thông qua những địa danh ở Nam Bộ. Dần dần về sau này, khi mà điều kiện môi sinh của con người đã dần được định hình, hổ không còn hiện diện một cách công khai như trước, song, con người vẫn còn giữ được sự tôn trọng của mình loài động vật này. Tại một số đình, chùa ở Nam Bộ vẫn còn cho khắc hình tượng hổ lên trên các tấm bình phong đặt ngay trước cổng của công trình với mục đích là hù dọa các ông Ba Mươi không dám đến quấy phá dân làng. Đây là biểu hiện của sự phức tạp trong nhận thức của cư dân khi vừa tôn thờ cọp nhưng cũng đồng thời phải đối đầu để có được cuộc sống bình yên.


Thứ ba, từ góc độ văn hóa, sư tử là loài vật có hiện diện tại Ấn Độ và do đó, ngay từ sớm, nó đã nhập thân vào văn hóa Ấn Độ để trở thành biểu tượng cho sức mạnh. Chính sự giao thoa văn hóa giữa Ấn Độ và Việt Nam đã tạo điều kiện cho sư tử du nhập vào các công trình tâm linh, tín ngưỡng ở nước ta. Về vấn đề này, Đinh Hồng Hải đã có nhận xét:“… Biểu tượng sư tử được cho là linh vật có sức mạnh siêu việt trong văn hóa Ấn Độ nên nó đã được sử dụng khá phổ biến từ thời vua A Dục (Asoka) đặt trên đỉnh các cột kinh…”. Sự đối sánh giữa hình tượng cọp và sư tử mà tôi dẫn giải ở trên cũng lý giải thực tế là sư tử được du nhập vào Việt Nam do sự giao thoa văn hóa, trong khi đó, việc thờ cọp được nảy sinh như một nhu cầu tất yếu trong quá trình đấu tranh chống lại điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Do đó, vị thế của cọp cao hơn sư tử cũng là điều dễ hiểu. Ngoài ra, trong tín ngưỡng thờ Mẫu, “Quan Ngũ Hổ” cũng trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó với các đối tượng khác trong tín ngưỡng này; do vậy, trong quá trình di dân vào vùng đất mới, chúng đã tích hợp lại với nhau và tạo ra dạng thức thờ Hổ rất đặc sắc. Hình tượng “Hổ” được tôn thờ chính là một bước phát triển mới trong nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng người Việt.


Tóm lại, từ 3 góc độ sinh học-lịch sử-văn hóa, tôi thử lý giải vài nguyên nhân cơ bản nhất khi giải thích nguyên nhân người Việt thờ cọp chứ không thờ sư tử. Là một dạng tín ngưỡng dân gian, nhưng giá trị văn hóa ẩn chứa trong dạng thức tín ngưỡng này đã phản ánh một lịch sử khẩn hoang đầy cực nhọc của cha ông ta, đó chính là sự tích hợp các giá trị nhận thức để đấu tranh và sinh tồn trên vùng đất mới. Dấu ẩn ngày nay vẫn còn phản chiếu trong các địa danh, các truyền thuyết về con vật này. Hi vọng hữu ích cho người đọc.
HUỲNH THIỆU PHONG

Vĩnh Bảo sưu tầm 16/9/2019

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

TINH TÚY NGHỆ THUẬT ẨM THỰC TRUNG HOA TRUYỀN THỐNG

TINH TÚY NGHỆ THUẬT ẨM THỰC TRUNG HOA TRUYỀN THỐNG

Nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa nổi tiếng khắp nơi trên thế giới như là một trong những biểu hiện của nền văn hóa đặc sắc có lịch sử hơn 5000 năm. Ẩm thực Trung Hoa truyền thống không chỉ là nhu cầu ăn uống thông thường mà hàm chứa trong đó các triết lý sâu sắc.


Ẩm thực vốn là nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của con người, tuy nhiên, người Trung Quốc cổ đại thường liên hệ ẩm thực với cuộc sống tinh thần, họ trải nghiệm cuộc sống thông qua ẩm thực, tìm hiểu về hiện tượng tự nhiên và xã hội cũng thông qua ẩm thực.

Ảnh: pinterest.com

Nghệ thuật ẩm thực hàm chứa nguyên lý của Đạo gia: âm dương ngũ hành

Từ xa xưa người Trung Quốc đã vận dụng tư tưởng nguyên lý “Âm dương ngũ hành” vào ẩm thực và đã thiết kế một hệ thống lý luận hoàn chỉnh.

Các nhà triết gia cổ đại cho rằng, vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều cấu thành, tồn tại và phát triển dưới sự thống nhất và cân bằng âm dương,

“Ngũ hành” chính là nhận thức của người Trung Quốc cổ đại về năm yếu tố cơ bản hình thành những quy luật trong vụ trụ.

Trong ẩm thực truyền thống của Trung Quốc, nguyên lý âm dương ngũ hành được xem là nền tảng của mọi vật trong tự nhiên, có câu “Vạn vật trong tự nhiên, có sự điều hòa âm dương, thì là quân bình”. Con người chính là một trong “Tam tài”, nếu như con người không có sự cân bằng về âm dương, tất sẽ sinh bệnh.

Vì vậy trong quyển “Hoàng đế nội kinh tố vấn, âm dương ứng tượng đại luận” có nói: “Dương thắng tắc âm bệnh, âm thắng tắc dương bệnh. Dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn.Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn”.

Có nghĩa là trong cơ thể con người nếu dương khí quá mạnh thì âm khí sẽ yếu, ngược lại nếu âm khí quá mạnh thì dương khí cũng yếu. Dương khí mạnh sẽ sinh bệnh về nhiệt, âm khí mạnh sẽ sinh chứng bệnh về hàn, hàn đến cực điểm sẽ sinh bệnh về nội nhiệt, nhiệt đến cực điểm cũng sinh chứng nội hàn.

Âm dương ngũ hành (Ảnh: phongthuy)
Ẩm thực là hoạt động không thể thiếu để duy trì sự sống cho con người, vì vậy chế độ ăn uống cũng phải tuân theo nguyên lý “âm dương ngũ hành”.
Do đó, văn hóa ẩm thực của Trung Quốc không chỉ đơn giản là chia thành năm hương vị, còn gọi là “ngũ vị”, mà còn phân chia các loại thực phẩm, rau , thịt, củ, quả thành “ ngũ cốc”; “ ngũ nhục”; “ngũ thái”; “ngũ quả”. “Ngũ khí” thuộc dương gồm có các mùi như mùi khai, mùi khét, mùi thơm, mùi tanh, mùi thối; “ngũ vị” thuộc âm gồm các vị như ngọt, chua, cay, đắng, mặn.

Thuốc và thực phẩm cùng có nguồn gốc từ “ngũ khí” và “ngũ vị”, hàng ngày con người hấp thụ “ngũ vị” chính là để thỏa mãn nhu cầu ăn uống của mình, nhưng cũng đồng thời là để dung hòa sự cân bằng âm dương,thuận theo triết lý “âm dương ngũ hành”, mục đích là để cân bằng âm dương trong ngũ tạng của cơ thể con người.

Chính vì thế, trong cuộc sống hàng ngày, người Trung Quốc luôn tuân theo nguyên lý “âm dương ngũ hành” trong việc phân chia thực phẩm thành hai loại là âm và dương để định vị chức năng sử dụng của thực phẩm.

Chứng bệnh thuộc về “âm” như “thiếu máu” cần phải dùng thực phẩm thuộc “dương” để bổ sung. Những thực phẩm loại này gồm có gan, trứng, đường nâu hoặc đỏ, táo tàu…có tác dụng tiêu hàn bổ khí. Chứng bệnh thuộc “dương” như huyết áp cao, viêm nhiễm, cần bổ sung thực phẩm có tính “âm” như dưa hấu, đậu xanh, hạt sen, dưa chuột… các loại thực phẩm này có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, hạ hỏa.

Tất cả các loại nguyên liệu thực phẩm có chức năng điều hòa sự cân bằng âm dương trong cơ thể được chia thành “nhiệt, ôn, lương, hàn”, nhiều loại thảo dược Trung Quốc cũng được xếp vào bốn loại thuộc tính như chức năng của các loại thực phẩm này.

Trong cuộc sống hàng ngày, người Trung Quốc luôn tuân theo nguyên lý “âm dương ngũ hành” trong việc phân chia thực phẩm (ảnh: elle.vn)

Chế độ ăn uống cần dựa trên tình trạng sức khỏe “hàn giả nhiệt chi”, “nhiệt giả hàn chi”, “hư tắc bổ chi”, “thực tắc tả chi”.

Ví dụ, da vàng nhợt nhạt phản ánh có bệnh về lá lách và dạ dày (chứng hư và hàn), nên ăn các loại thực phẩm có tính “ôn và nhiệt” như gừng, sả; mặt đỏ miệng khô nóng là chứng “thượng hỏa” (bốc hỏa, nóng) cần ăn thực phẩm có tính “hàn” như dưa hấu để giải nhiệt, ngược lại, nếu ăn những thực phẩm có tính “nóng” như ớt thì sẽ làm cho bệnh càng trở nên trầm trọng hơn.

Những nguyên tắc về chế độ ăn uống này, có thể được tạm hiểu là “âm suy” cần bổ sung những loại thực phẩm dễ tiêu hóa, nhiều chất dinh dưỡng và có tính “dương”; “dương thịnh” hay còn được gọi là chứng “bốc hỏa” cần phải ăn một số loại thực phẩm có hàm lượng calo thấp, chất xơ và có tính “âm”.

Lý Thời Trân cũng đưa ra một số loại thực phẩm có tác dụng điều trị bệnh gan, bệnh tim, lá lách, bệnh phổi, bệnh thận, trong đó ông đã vận dụng tư tưởng nguyên lý âm dương ngũ hành để nói rõ những ảnh hưởng và tác dụng của các loại thực phẩm đối với cơ thể con người.

Không chỉ có Lý Thời Trân, các thầy thuốc đông y, những nhà dưỡng sinh học, y dược học trong lịch sử y học Trung Hoa đều căn cứ vào triết lý âm dương ngũ hành để giải thích quan điểm chữa bệnh của mình.

Lý Thời Trân (Ảnh: pinterest.com)

Nguyên lý ‘’thiên nhân hợp nhất’’ thể hiện qua nghệ thuật ẩm thực

Văn hóa truyền thống Trung Quốc cho rằng con người và thiên nhiên là một tổng thể hợp nhất, con người muốn sinh tồn và phát triển thì phải dung hòa được mối quan hệ này, vì vậy mới có câu “Thiên nhân hợp nhất” ” và “dân dĩ thực vi thiên”.

Người xưa đặt con người trong môi trường tự nhiên để tìm hiểu về cuộc sống, yêu cầu con người phải dung hòa với thiên nhiên, con người và thiên nhiên phải là một thể thống nhất. “Hoàng Đế nội kinh” đã nói rõ: “Nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thời chi pháp thành”. Lão Tử cũng nói “Đạo đại, thiên đại, địa đại, nhân diệc đại, nhi nhân cư kỳ nhất yên”. Vì vậy, chế độ ăn uống của con người cũng phải hòa hợp với thiên nhiên, tuân theo nguyên lý “thiên nhân hợp nhất”.

Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; căn cứ vào thời khắc ngày và đêm, sáng, trưa, chiều, tối sẽ có những món ăn khác nhau, thậm chí cả phương thức nấu nướng cũng phải dựa theo các yếu tố về thời tiết khí hậu để chọn lựa những loại thực phẩm có tính chất và công dụng khác nhau.

Khổng Tử nói “Bất thực bất thời” hàm chứa hai ý nghĩa: thứ nhất là ăn uống phải tuân theo thời tiết, thứ hai là không ăn những thực phẩm trái mùa.

Khổng Tử nói “Bất thực bất thời”. (Ảnh: pinterest.com)

Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” là dấu hiệu thăng hoa trong nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc, chỉ ra rằng ăn uống không chỉ đơn giản có chức năng giảm đói hoặc duy trì sự sống, mà còn có chức năng phù hợp với sự chuyển động tuần hoàn của cuộc sống tự nhiên trong vũ trụ.

Nguyên lý “thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa ẩm thực Trung Quốc cổ đại có tính khoa học nhất định. Chúng ta biết rằng “Các chất dinh dưỡng cơ bản để duy trì sự sống của con người gồm bảy loại chính là protein,chất béo, carbohydrate (đường), khoáng chất (muối vô cơ), vitamin, xenlulo,nước và điện giải. Những chất này (thường được gọi là các chất dinh dưỡng) đều có nguồn gốc từ thiên nhiên, chủ yếu có trong các loại thực phẩm mà con người sử dụng hàng ngày.

Các chất dinh dưỡng mà con người hấp thu thông qua ẩm thực, sẽ qua quá trình vật lý, hóa học và sinh học mà tác động lên cơ thể con người, có tác dụng bồi bổ chất dinh dưỡng, duy trì và bảo vệ sức khỏe”.

Vì thế có thể nói một cách khoa học rằng, tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” không chỉ phản ánh ý nghĩa nội hàm triết học trong ẩm thực Trung Quốc, mà còn có tính khoa học.

Nguyên lý “Thiên nhân hợp nhất” (Ảnh: pinterest.com)

Nguyên lý “trung hòa vi mỹ” trong văn hóa ẩm thực Trung Hoa

“Trung hòa vi mỹ” là nguyên lý có giá trị cao nhất trong nghệ thuật ẩm thực truyền thống Trung Hoa. “Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã, hòa dã giả, thiên hạ chi đạt giả dã. Chí trung hòa, thiên hạ vị yên, vạn vật dục yên”.

Vậy “trung” là gì? Không thể chỉ đơn giản là hiểu theo nghĩa “trung gian” mà phải được hiểu theo nghĩa “vừa vặn”; “mức độ phù hợp”; “không thiếu không thừa”. “Hòa” cũng là một khái niệm trong nghệ thuật nấu nướng.

“Tả truyện- Thiệu công nhị thập niên” đã mượn chữ “Hòa” trong tư tưởng triết học để giải thích rất rõ ràng về nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc: “Hòa như canh yên, thủy, hỏa, hê, hải, diêm, mai, dĩ phanh ngư nhục. Chước chi dĩ tân, tể phu hòa chi, tề chi dĩ vị, tế kỳ bất cập, dĩ tả kỳ quá, quân tử thực chi, dĩ bình kỳ tâm. Quân thần diệc nhiên….nhược dĩ thủy tế thủy, thùy năng thực chi? Nhược tì bà chi chuyên nhất, thùy năng thính chi? Nhân chi bất khả dã như thị” (Ví như nấu món canh, phải điều chỉnh nước, lửa, dấm, muối, vị mặn, vị chua cho điều hòa vừa vặn, con người ăn vào sẽ rất tốt, làm quân bình cơ thể. Trong mối quan hệ vua tôi cũng giống như vậy).

Yến Anh thời Xuân Thu đã từng giải thích theo tư tưởng triết học một cách sâu sắc về ý nghĩa của chữ “hòa” trong nghệ thuật ẩm thực, đó là không nồng quá cũng không nhạt quá, không mặn quá cũng không chua quá, không đơn giản cũng không phức tạp quá mà tất cả đều vừa phải, cân bằng, hài hòa và thống nhất với nhau.

Yến Anh (Ảnh: Wikipedia)

Những người quen thuộc với việc nấu nướng đều biết, điểm đặc biệt nhất của người đầu bếp xuất sắc là ở chỗ họ biết cách sử dụng nhiều loại nguyên liệu, gia vị, có nhiều phương pháp nấu ăn khác nhau và tiến hành các bước một cách tinh tế thể hiện trong cùng một món ăn, từ đó tạo ra những món ăn với khẩu vị đặc biệt khác nhau.

Cần lưu ý rằng “hòa” các loại thực phẩm và gia vị với nhau nhưng không có nghĩa là “tạp”, mà là “tập hợp các hương vị lại với nhau và lấy ra cái chung nhất, tinh túy nhất”, do đó tạo ra một món có hương vị mới thể hiện nghệ thuật nấu nướng tuyệt vời.

Sự “trung hòa” ngoài việc giúp cho món ăn có vị ngon đặc biệt ra, còn có vai trò quan trọng trong điều tiết chức năng và chăm sóc sức khỏe con người.

Lý luận y học Trung Hoa cho rằng vị cay có tác dụng điều trị cảm lạnh, đau nhức gân cốt, bệnh về thận; vị ngọt (mật ong, táo tàu) có tác dụng bổ ích, cải thiện tâm trạng, giúp cho người bệnh suy nhược phục hồi sức khỏe nhanh chóng hơn; vị chua, giải khát, phòng ngừa cảm lạnh, dùng dấm chua luộc trứng gà cho người bệnh ăn có thể trị được bệnh ho là phương thuốc bí truyền trong dân gian và đã được y học hiện đại chứng minh rằng kết quả rất tốt; vị đắng có tác dụng giải nhiệt, tăng cường thị lực, giải độc.

“Trung hòa chi mỹ” (cái đẹp của sự trung hòa) của ngũ vị là điều kiện quan trọng để tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Mặc dù trong thực tế có một số người thích ăn quá mặn, quá chua, quá cay nhưng nếu ăn với chế độ như vậy trong thời gian dài sẽ có hại cho sức khỏe, điều đó càng chứng minh rằng triết lý “trung hòa chi mỹ” trong văn hóa ẩm thực truyền thống Trung Quốc là đúng đắn.

Tư tưởng triết học “trung hòa vi mỹ” nhấn mạnh rằng vạn vật trong tự nhiên đều tuân theo trạng thái “trung hòa” mà tìm được vị trí phù hợp của mình để sinh sôi phát triển.

Nguyên lý “dĩ thực liệu bệnh” trong văn hóa ẩm thực Trung Quốc

‘‘Dĩ thực liệu bệnh” còn gọi là “thực trị”, có nghĩa là lợi dụng những chức năng đặc thù của thực phẩm đối với cơ thể con người để đưa ra phương pháp phòng bệnh hoặc chữa bệnh phù hợp.

Chúng ta biết rằng thực phẩm chính là nguồn dinh dưỡng cần thiết giúp cho cơ thể mạnh khỏe và phát triển toàn diện. Nói cách khác, thực phẩm có vai trò cung cấp dinh dưỡng quan trọng nhất.

Trong thực tế, từ xa xưa người Trung Quốc đã nhận thức được rằng thực phẩm không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng mà còn có tác dụng phòng chữa bệnh rất hiệu quả.

Tư tưởng “dĩ thực liệu bệnh” là một phần quan trọng trong văn hóa ẩm thực truyền thống Trung Hoa, là “quốc hồn quốc túy Trung Hoa”. Thời Xuân thu Chiến quốc, quyển “Hoàng đế nội kinh”- là bộ sách trung y đầu tiên đã tổng kết toàn bộ những tri thức về y học cổ truyền, được coi là kinh điển y học – đã ghi chép một cách vô cùng khoa học rằng “ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ súc vi ích, ngũ thái vi sung” mà gạo, trái cây và rau là những thức ăn có nguồn gốc thực vật.

Danh y Biển Thước (Ảnh: .pinterest.com)

Danh y đương thời Biển Thước cho rằng “Quân tử hữu bệnh, kỳ tiên thực dĩ liệu chi, thực liệu bất dũ, nhiên hậu dụng dược” (Người có bệnh, trước tiên cần phải lấy thức ăn để chữa trị, nếu điều trị bằng thức ăn mà không khỏi, sau đó mới dùng thuốc để điều trị).

Danh y đời Đông Hán Trương Trọng Cảnh cũng đã từng nói: “Nhân thể bình hòa, duy tu hảo tương dưỡng, vật vọng phục dược, dược thế thiên hữu sở trợ, lệnh nhân tạng khí bất bình, dị thụ ngoại hoạn”( Cơ thể con người đã được cân bằng, chỉ cần nghỉ ngơi thoải mái, không cần dùng thuốc, thuốc tất nhiên là có tác dụng rất mạnh, khiến cho các cơ quan bộ phận trong cơ thể mất cân bằng, từ đó dễ dàng bị nhiễm bệnh).

Triều đại Tùy Đường xuất hiện rất nhiều những triết lý chuyên đề về tư tưởng triết học “dĩ thực liệu bệnh”, chẳng hạn như Tôn Tư Mạo với “ Thiên kim yếu phương” nói về “Thực trị”, ông chủ trương “Vi y giả, đương hiểu bệnh nguyên, tri kỳ sở phạm, dĩ thực trị trị chi, thực liệu bất dũ, nhiên hậu dụng dược” (Người có bệnh, trước tiên cần phải biết được nguồn gốc của bệnh, lấy thức ăn để chữa trị, nếu điều trị bằng thức ăn mà không khỏi, sau đó mới dùng thuốc để điều trị), điều này phản ánh quy tắc điều trị thuốc không tốt bằng thực phẩm.

Ảnh: .pinterest.com

Có thể thấy, tư tưởng triết học “dĩ thực liệu bệnh”là quan điểm truyền thống trong văn hóa ẩm thực Trung Quốc. Thần Nông nếm thử một trăm loại thảo mộc để tìm ra thuốc, thực chất là để tìm dược liệu trong thực phẩm. Trong tài liệu y học cổ đại Trung Quốc, nhiều loại thuốc cũng đồng thời là thực phẩm.

Tìm hiểu về nghệ thuật ẩm thực của người Trung Hoa cổ xưa, dường như là cả một kho tàng kiến thức ẩn sâu bên trong công việc tưởng chừng rất bình dị và thường nhật này. Điều đó minh chứng cho sự thâm sâu trong cảnh giới tư tưởng của người Trung Hoa xưa.

Có thể nói rằng Trung Hoa cổ xưa luôn chứa đựng hàm ý trong mọi việc, điều đó làm nên một nền văn minh chứa đầy sự thần bí và huyền kì mà trải qua hàng năm lịch sự, nó vẫn không ngừng là chủ đề khám phá của con người hiện đại.
Tịnh Tâm