Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019

GIAI THOẠI BÀI THƠ "CHÙA HƯƠNG" CỦA NGUYỄN NHƯỢC PHÁP.

GIAI THOẠI BÀI THƠ "CHÙA HƯƠNG" CỦA NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

Giai thoại bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp – Cô gái Chùa Hương sống mãi tuổi 15


Những người yêu nhạc hẳn nhiều người sẽ biết đến bài hát “Em Đi Chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức, phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp với những câu hát quen thuộc: Hôm nay em đi chùa Hương, hoa cỏ còn mờ hơi sương…

Bài thơ “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp cũng đã được giáo sư Trần Văn Khê phổ thành một bài hát dài mang tên Đi Chơi Chùa Hương từ thập niên 1940.

Thi phẩm “Chùa Hương” ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.


Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi:

“Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm phật nữa?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Nguyễn Nhược Pháp thấy vậy liền cố bắt chuyện để an ủi cô gái. Câu chuyện vẩn vơ đã diễn ra cùng họ cho đến chùa Ngoài. Mải chuyện với người đẹp, Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ bị hai cô bạn gái đi cùng bỏ rơi lúc nào không hay.

Không tìm được hai cô bạn trong đám đông trẩy hội, đêm ấy hai chàng bèn ngủ lại trong chùa Hương cùng hai mẹ con cô bé quê. Sáng hôm sau gặp lại hai cô bạn, Nguyễn Vỹ phải xin lỗi mãi, còn Nguyễn Nhược Pháp chỉ tủm tỉm cười. Về đến Hà Nội được mấy hôm, Nguyễn Nhược Pháp sáng tác nên bài thơ “Chùa Hương”. Trong bản chép tay đầu tiên, bài thơ có tên là “Cô Gái Chùa Hương”.


Bài thơ dài 34 khổ 136 dòng, lấy cuộc gặp gỡ lý thú của tác giả với cô gái quê ở Chùa Hương làm đề tài và tưởng tượng thêm. Điều đặc biệt là dưới tên bài thơ, Nguyễn Nhược Pháp mở ngoặc đơn dòng chữ “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”. Cuối bài thơ còn ghi thêm: “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người sẽ lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô gái còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện”.

Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không ủy mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hòa quyện vào nhau hài hòa khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trong thi đàn.


Trước năm 1945, bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc thành bài hát “Đi Chơi Chùa Hương”, bài hát này khá dài, chỉ có ca sĩ Mộc Lan ở Huế hát tthành công nhất, được nhiều người hâm mộ nhất. Giữa những năm 1980, nhạc sĩ Trung Đức phỏng theo mấy đoạn thơ phổ thành bài hát “Em Đi Chùa Hương” và được phổ biến rộng rãi hơn vì nó mộc mạc chân thành, đậm chất dân ca xứ Nghệ, dễ hát và dễ nhớ. Nhưng nếu Nguyễn Nhược Pháp sống lại để nghe bài hát này, chắc ông sẽ lại tủm tỉm cười khi thấy câu thơ “Chân đi đôi dép cong” của ông đã bị đổi thành “Chân em đi đôi guốc cao cao” bởi vì đi Chùa Hương phải leo dốc, xuống hang rất ghập ghềnh, đi guốc cao thì làm sao mà đi nổi.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là một trí thức con nhà dòng dõi. Cha ông là nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, từng dịch tập thơ “Ngụ ngôn” của La Fontaine ra tiếng Việt rất đặc sắc. Nguyễn Nhược Pháp sinh năm 1914 tại Hà Nội, đỗ bằng Tú tài Tây, làm thơ từ năm 16 tuổi. Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch, truyện ngắn và viết báo. Ông viết báo tiếng Pháp khá nhiều, năm 1935 xuất bản tập thơ “Ngày xưa”, trong đó có bài thơ “Chùa Hương” rất nổi tiếng. Nhưng tiếc thay, thi sĩ tài danh Nguyễn Nhược Pháp mất đột ngột khi mới 24 tuổi, vào năm 1938.


Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã tròn hơn 70 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 70 năm, song Chùa Hương cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với thời gian.

Nguồn: Nhạc Xưa Thời Báo

Đi Chơi  Chùa Hương - Ca sĩ: Thanh Lan

Em Đi Chùa Hương - Ca sĩ: Tâm Đoan


Vĩnh Bảo sưu tầm 8/11/2019

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

10 Kiệt tác hội họa đắt giá nhất mọi thời đại

10 Kiệt tác hội họa đắt giá nhất mọi thời đại



1. Bức chân dung Adele Bloch- Bauer của Gustav Klimt (135.000.000 USD)
 
Đây là tác phẩm hội họa được bán đấu giá cao nhất thế giới từ trước tới nay, hiện nay thuộc sở hữu của Chính phủ Áo. Bức tranh gây nhiều tranh cãi trong hơn một năm và sau đó được trao trả cho Áo sau một thời gian bị Đức quốc xã chiếm trong Thế chiến thứ hai. Bức tranh được danh họa Gustav Klimt vẽ vào năm 1907. Năm 2006, bức họa được Ronald S. Lauder mua lại để làm tài sản thừa kế.

2. Bức tranh “Garçon à la Pipe” của Pablo Picasso (104.100.000 USD)
 
Bức tranh nổi tiếng này được sáng tác trong thời kỳ Hoa Hồng: Garçon à la Pipe (Cậu bé với ống điếu) thể hiện tài năng của danh họa Picasso qua việc phối hợp hai màu cam và hồng. Bức họa được vẽ bằng màu dầu trên vải có kích thước 100cm x 81,3cm, thể hiện hình ảnh của một cậu bé người Paris đang cầm một tẩu hút thuốc bằng tay trái. Kỷ lục của bức tranh này do nhà bán đấu giá Sotheby’s ghi nhận vào ngày 4 tháng 5 năm 2004, làm cho tất cả những người tham gia cuộc đấu giá ngạc nhiên vì không ai ngờ một danh họa chuyên vẽ tranh lập thể lại có thể sáng tác một bức tranh tả chân xuất thần như vậy.

3. Bức tranh “Dora Maar với mèo” của Pablo Picasso (95.200.000 USD)
 
Một kỷ lục khác về tranh nghệ thuật được xác lập vào năm 2006, khi một bức tranh của Picasso được mua với giá 95.200.000 USD tại phiên đấu giá do nhà đấu giá Sotheby’s tổ chức vào ngày 3 tháng 5 năm 2006. Bức tranh này được vẽ vào năm 1941, được xem là một trong những họa phẩm cuối cùng của danh họa Pablo Picasso, mô tả Dora Maar, nhân tình của ông. Hai người từng có quan hệ mặn nồng suốt 10 năm trong thập niên 1930 và 1940.

4. Bức “Chân dung bác sĩ Gachet” của Vincent Van Gogh (82.500.000 USD)
 
Bức tranh này được danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh sáng tác. Sau khi qua đời Vincent Van Gogh đột nhiên nổi tiếng khắp thế giới và tranh của ông có giá rất cao. Nhà tài phiệt Ryoei Saito Nhật Bản đã mua bức “Chân dung bác sĩ Gachet” với giá 82.500.000 USD trong một phiên đấu giá tại nhà đấu giá Christie’s ở New York (Mỹ). Saito có ý tưởng rất ngông là muốn bức tranh này được đốt sau khi ông qua đời. Saito qua đời vào năm 1996 nhưng may mắn thay bức tranh được “cứu” vì con cháu ông không ngông như ông. Vincent Van Gogh đã từng vẽ hai phiên bản của bức “Chân dung bác sĩ Gachet”.

5. Bức tranh “Bal au Moulin de la Galette” của Auguste Renoir (78.000.000 USD)
 
Bức tranh “Bal au Moulin de la Galette” (Vũ hội ở quán Moulin de la Galette) được Auguste Renoir sáng tác vào năm 1876. Ngày 17 tháng 5 năm 1990, nhà bán đấu giá Sotheby’s ở New York đã bán bức tranh này với giá 78.000.000 USD cho nhà tài phiệt người Nhật Ryoei Saito, người đã mua bức “Chân dung bác sĩ Gachet”.

6. Bức tranh “Vụ thảm sát người vô tội”, của Rubens (76.700.000 USD)
 
Bức tranh này được danh họa Peter Paul Rubens vẽ vào năm 1611, được bán cho Kenneth Thomson với giá 76.700.000 USD tại nhà đấu giá Sotheby’s vào năm 2002.

7. Bức tranh“Chân dung tự họa” của Vincent Van Gogh (71.500.000 USD)
 
Bức “Chân dung tự họa” này là một trong những bức chân dung tự họa nổi tiếng của danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh. Ông đã vẽ bức tranh này tại Saint Rémy de Provence (Pháp) vào tháng 9 năm 1889. Đây là bức tranh sơn dầu trên vải có kích thước 40cm x 31cm. Bức “Chân dung tự họa” đã lập kỷ lục bức tranh đắt giá nhất mọi thời đại khi được bán với giá 71,5 triệu USD vào năm 1998 ở New York (Mỹ).

8. Bức tranh “Những quả táo to” của Paul Cézanne (60.500.000 USD)
 
Bức tranh này được Paul Cézanne vẽ trong khoảng thời gian 1893-1894, được bán cho Whitney với giá kỷ lục 60.500.000 USD tại nhà đấu giá Sotheby’s ở New York vào ngày 10 tháng 5 năm 1999. Whitney sinh ra trong một trong những gia đình giàu có nhất nước Mỹ chuyên đầu tư vào các lĩnh vực có nhiều rủi ro, xuất bản sách báo, phim ảnh ở Hollywood và có nhiều đóng góp cho công tác từ thiện.

9. Bức tranh “Femme aux bras croisés” của Pablo Picasso (55.000.000 USD)
 
Bức tranh “Femme aux bras croisés” (Người phụ nữ khoanh tay) được vẽ vào năm 1901, là một trong những kiệt tác của Pablo DPicasso trong thời kỳ Xanh, với màu chủ đạo là màu đen, phản ảnh nỗi buồn của nhà danh họa. Bức tranh thể hiện một phụ nữ khoanh tay trước bụng, được bán với giá 55.000.000 USD vào ngày 8 tháng 11 năm 2000 tại nhà đấu giá Christie’s tại New York (Mỹ).

10. Bức tranh “Hoa diên vỹ” của Vincent Van Gogh (53.900.000 USD)
 
Vincent Van Gogh đã vẽ kiệt tác này tại Saint Paulde- Mausole ở Saint-Rémyde- Provence (Pháp) vào năm 1889, một năm trước khi qua đời. Năm 1987, bức tranh này trở thành họa phẩm đắt giá nhất thế giới khi được bán cho Alan Bond với giá cao ngất ngưỡng 54.000.000 USD, sau đó nó được bán lại cho Bảo tàng Getty ở Mỹ
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/8/2019.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Vật lãng mạn nhất phương Đông – chiếc đòn gánh Việt Nam

Vật lãng mạn nhất phương Đông – chiếc đòn gánh Việt Nam

Hương sắc Việt Nam là món quà của ban biên tập Văn Hóa thời báo Đại Kỷ Nguyên tiếng Việt dành tặng những người con đất Việt gắn bó với văn hóa truyền thống nên thơ của nước nhà và mong muốn vẻ đẹp này được lưu giữ mãi không phai với thời gian…


Vừa đặt chân tới đất Sài Gòn mệnh danh “hòn ngọc viễn đông”, nhà văn Mỹ E.Shilture đã vội ghi vào sổ tay một cách hứng thú: “Bà bán hàng rong mang trên vai một vật lãng mạn nhất phương Đông – cái đòn gánh. Bà nhẹ nhàng nhún nhảy bên phải bên trái đi ra khỏi ngõ” (Đất nước- Nhà xuất bản Đại Học Massachuset-1997).
Hình ảnh thật là đẹp, lạ mắt đối với người ngoại quốc hiếu kỳ.
Trong tiềm thức sâu lắng của cộng đồng người Việt, chiếc đòn gánh bằng tre gợi nên cuộc sống hàng ngày của người nông dân truyền thống, niềm vui, và nhất là nỗi buồn, đặc biệt là nỗi đau khổ âm thầm, lòng can đảm, tính chịu đựng và đức hy sinh của các người vợ, người mẹ, người bà của các thế hệ kế tiếp nhau trong lịch sử.
Việt Nam thuộc về nền văn minh lúa nước. Bờ ruộng rất hẹp, đường làng lại nhỏ, vì vậy mới sản sinh ra đòn gánh- phương tiện vận chuyển phù hợp nhất. Nguyên liệu làm đòn gánh dồi dào nhất là tre. Các nhà thực vật học cho biết, châu Á là nơi trồng lúa nhiều nhất và tập trung nhất trên thế giới, diện tích tre mọc cũng gần bằng diện tích trồng lúa.
(Ảnh: Internet)[1]
(Ảnh: Internet)
Có được chiếc đòn gánh tốt và thích hợp với công việc cụ thể cũng công phu lắm. Nhà thơ Thanh Hào, một nhà thơ gắn bó với nông thôn cổ truyền đã miêu tả: “phải tìm cây tre không cần to lắm, không cộc ngọn, không bị kiến làm tổ trong ống. Đó là đoạn tre gốc, phải có đốt đều nhau. Đoạn tre gốc ấy, dóng dài là chín đốt, dóng trung bình là bảy đốt. .. Mọi người kiêng đòn gánh có đốt chẵn, có đòn gánh vênh, đòn gánh có đầu mặt vào giữa vai. Các bà các cô quan niệm rằng: đòn gánh chẵn đốt thì không có lộc buôn, lộc bán. Đòn gánh vênh, ngoài sự nghiến vào vai, đau vai, còn có nhiều chuyện không hay. Còn đòn gánh có đốt vào giữa vai, gian nan vất vả”
(Ảnh: Internet)[2]
(Ảnh: Internet)
Đầu đòn gánh có đốt chẵn hay đốt lẻ, vênh hay thẳng, có đốt vào giữa vai hay không thì bao giờ cũng là “đòn gánh tre chín rạn hai vai” (Nguyễn Du).
Đòn gánh và đôi quang gánh cũng là biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng (không thể “đứt gánh giữa đường”), sự đảm đang của người vợ “gánh vác giang sơn nhà chồng”.
Đòn gánh đã trở thành biểu tượng của nông thôn Việt Nam và có mặt trong suốt cuộc đời con người ở nông thôn: đi chợ, làm nhà, gánh lễ vật, lễ tết, đám cưới, đòn đám ma..
(Ảnh: Internet)[3]
(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)[4]
(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)[5]
(Ảnh: Internet)
Hữu Ngọc (theo “Lãng du trong văn hóa Việt Nam”)

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Tề Bạch Thạch

Tề Bạch Thạch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tề Bạch Thạch

Chân dung Tề Bạch Thạch trên một con tem Liên Xô
Sinh22 tháng 111864
Tương ĐàmHồ Nam
Mất16 tháng 91957 (92 tuổi)
Bắc Kinh
Tề Bạch Thạch (giản thể齐白石phồn thể齊白石bính âm: Qí Báishí, hay Ch'i Pai-shih), (22 tháng 111864 - 16 tháng 91957), tên thật là Tề Thuần Chi là một họa sĩ Trung Quốc. Ông còn có biệt hiệu là Tề Hoàng(齊璜) và Tề Vị Thanh (齐渭清)

Cuộc đời[sửa]

Ông sinh tại Tinh Đẩu, Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam. Tên của ông là do các thày dạy vẽ đặt cho ông bởi ông sinh ra ở núi Bạch Thạch. Ông xuất thân trong một gia đình thuần nông nghèo khó và ông bị đau ốm liên miên lúc thơ ấu. Năm 9 tuổi, ông đến trường của ông ngoại ông dạy để học chữ nhưng sau đó 1 năm ông đã phải nghỉ vì nhà quá nghèo. Ở nhà, ông làm ruộng, chăn trâu, cắt cỏ và tự học chữ, học vẽ lúc rảnh rỗi rất miệt mài. 12 tuổi, ông đi làm thợ mộc để kiếm sống. hững nét vẽ trên gỗ của ông được chạm khắc rất tinh vi và sáng tạo nên chẳng mấy chốc đã nổi tiếng khắp vùng. Năm 27 tuổi, tên tuổi ông đã có tiếng tăm trong giới nghệ thuật và ông đã được suy tôn là bậc thầy về hội họa. Đến năm 40 tuổi, ông đi tham quan nhiều thắng cảnh ở khắp Trung Quốc. Sau năm 1917, ông định cư tại Bắc Kinh và trong những năm tháng cuối đời, ông tiếp tục những "sáng tạo cuối đời." (衰年變法, suy niên biến pháp). Ông mất năm 1957 tại Bắc Kinh, hưởng thọ 94 tuổi.

Sự nghiệp[sửa]

Tài năng của ông là kết tinh của vốn sống thực tế với bản lĩnh vượt lên khó khăn, hết mình vì nghệ thuật. Ngay từ khi thơ ấu, ông đã khổ luyện, dành thời gian ghi chép, sưu tập, làm thơ. Sau đó, những chuyến đi xa thực tế đã cho ông một hành trangtri thức lớn lao. Đến khi tuổi cao, ông vẫn vẽ và không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đã có. Ông từng nói:
Tôi vẽ tranh mấy chục năm rồi mà chưa thấy có gì là của mình, nên tôi quyết định đại biến
Ông nổi tiếng là một danh họa Trung Quốc với các tác phẩm màu nước linh động đầy sức sống. Những bức tranh của ông là những bức họa về sơn thủy, nhân vật, hoa điểu, động vật. Ông vẽ tranh về những con tôm đạt đến độ siêu phàm nhờ việc nuôi tôm và dành nhiều thời gian để quan sát chúng. Hay là việc ông vẽ những chú ong rất phóng khoáng, bay bổng nhằm diễn ý.
Những bức tranh của ông thường được ông viết chữ, làm thơ, khắc dấu triện trên tranh của mình. Tất cả đều được làm rất tỉ mỉ. Vì thế, ông được mệnh danh là bậc đại danh họa "Tam biệt chi tài"
Năm 1949, Ông được phong làm giáo sư danh dự của Học viện nghệ thuật Bắc Kinh.
Năm 1955, Hội đồng hòa bình thế giới trao giải thưởng và công nhận ông là Danh nhân văn hóa thế giới.
Đối tượng trong tranh vẽ của ông rất phong phú, từ thú vật, cảnh vật, đồ vật, đồ chơi, rau quả, vân vân. Quan điểm hội họa của Tề Bạch Thạch là "hội họa nằm giữa thực và ảo". Những năm cuối đời, đa số các tác phẩm của ông là về chuột, tôm, và chim.
Ông cũng rất giỏi khắc triện và tự gọi mình là "phú ông của ba trăm triện đá" (tam bách thạch ấn phú ông).
Năm 1953 ông được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Hội họa Trung Quốc.

Tham khảo[sửa]

  • Boorman, Howard L., and Richard C. Howard. "Ch'I Pai-Shih." Biographical Dictionary of Republician China I (1967): 302-304.
  • Chao-Wen, Wang. "An Appreciation of Chi Pai-Shih's Paintings." 126-131.
  • Tsao, Jung Ying. The Paintings of Xugu and Qi Baishi. 1st ed. Seattle and London: Far East Fine Arts Inc, 1993. 5-447.
  • Xiangtan. "Qi Baishi [Ch'I Pai-Shi;Zi Huang; Hao Baishi Laoren, Baihi Shanweng]." Grove Art Online (2007): 1-3

  • Tề bạch Thạch Vietscience
    Ngày 23 tháng 11 năm 1863 (tức năm Đồng Trị thứ hai, đời Thanh) tại ngôi làng Tinh Đẩu, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam Trung Quốc, một bé trai đã chào đời trong một gia đình nông dân nghèo. Gia đình này bấy giờ đã có bốn người, gia chủ là ông Tề Quán Chánh (25 tuổi) và bà Chu (19 tuổi) cùng với song thân của gia chủ (56 tuổi và 51 tuổi.)
    Người thành viên thứ 5 bé nhỏ trong gia đình này là niềm hạnh phúc biết bao cho gia đình gồm bố mẹ và ông bà nội. Tiếc thay, cậu bé thật yếu ớt, bệnh hoạn, thiếu ăn, tưởng chừng không sống quá 4 tuổi. Nhưng rồi cậu cũng giành được sinh mệnh của mình trên tay tử thần. Đó là cuộc tranh đấu thứ nhất trong đời, mở đầu cho biết bao cuộc tranh đấu khác sau này, cuộc đấu tranh cho đời sống tinh thần đầy ý nghĩa mãi đến phút lìa trần, 16-9-1957.
    Tề Bạch Thạch 齊白石 tên thực là Tề Thuần Chi, tự là Vị Thanh, biệt hiệu Lan Đình. Năm 27 tuổi học vẽ, được thầy là Hồ Thâm Viên đặt tên cho là Hoàng (nghĩa là ngọc hình bán nguyệt), tự là Tần Sinh, hiệu là Bạch Thạch.
    Ông còn vô số tên hiệu khác, chẳng kém gì hai đại danh họa Nghê Vân Lâm (đời Nguyên) và Thạch Đào Hòa Thượng (đầu đời Thanh.) Đại khái có thể kể như: Tề Đại, A Chi, A Trường, Mộc Nhân, Lão Mộc, Lão Mộc Nhất, Mộc Cư Sĩ, Ký Viên, Ký Bình, Lão Bình, Bình Ông, Ký Bình Đường Lão Nhân, Bạch Thạch Sơn Ông, Bạch Thạch Lão Nhân, Tá Sơn Ngâm Quán Chủ Giả, Tinh Đường Lão Ốc Hậu Nhân, Hạnh Tử Ô Lão Dân, Tam Bách Thạch Ấn Phú Ông...
    Tề Bạch Thạch đã trải một tuổi thơ gian khổ như biết bao cậu bé khác chốn quê nghèo. Năm lên 8, cậu theo học ông ngoại, một ông đồ nghèo với dăm quyển Tam tự kinh, Bách gia tính, Thiên gia thi và Luận ngữ. Cậu nổi tiếng ngay, nhưng chẳng phải vì tài văn chương thi phú, mà vì tài năng hội họa. Năng khiếu hội họa của cậu đã bộc phát. Những hình ảnh, những đường nét ngẫu hứng vẽ ngư ông, điểu thú, thảo trùng... tuy còn non nớt nhưng cho thấy nhiều triển vọng sau này.
    Nhưng cái thời gian hồn nhiên với sách vở và vẽ vời như thế chẳng được lâu là bao. Mùa thu 1870, cảnh nhà sa sút, cậu bèn bỏ học, ở nhà phụ cha mẹ những việc như gánh nước, trồng rau, bổ củi, chăn trâu... Một năm học nơi ông ngoại, tuy ngắn ngủi, nhưng chính là những ngày tháng hạnh phúc nhất trong tuổi thơ của cậu. Cậu bé vừa lên 9 thuở ấy đã sớm hiểu thế nào là kiếp nghèo, là số phận con nhà nghèo. Niềm ao ước đơn sơ của cậu là mỗi ngày được xong việc sớm để xem lại những trang sách cũ, để hồi tưởng lại những lúc vui đùa cùng với chúng bạn và để rồi mơ ước, ước mơ...
    Theo cổ tục tảo hôn, cậu bé 12 tuổi này phải sánh duyên cùng cô bé Trần Xuân Quân, lớn hơn cậu một tuổi. Năm ấy cũng là năm ông nội cậu tạ thế. Gia cảnh càng ngày càng suy sụp, năm 13 tuổi cậu bắt đầu chân lấm tay bùn với việc đồng áng. Nhưng rồi vì thể lực yếu ớt, sau hai năm, cậu xoay qua học nghề thợ mộc nơi ông Tề Tiên Hựu, em ruột của ông nội cậu. Rồi công việc vất vả lao nhọc của nghề mộc cậu cũng không kham nổi, nên đeo đuổi được một năm cậu xoay qua học nghề chạm trổ gỗ nơi ông Chu Tử Mỹ. Sau 3 năm, thành nghề, cậu đủ khả năng gánh vác kinh tế gia đình. Năm ấy cậu 19 tuổi và bắt đầu làm lễ động phòng với vợ, cô Trần Xuân Quân, lễ này gọi là «Lễ Viên Phòng».
    Chàng thợ chạm gỗ họ Tề dần dần được làng trên xóm dưới biết danh, họ gọi chàng là «Chi mộc tượng» (Thợ mộc tên Chi). Tề Bạch Thạch thể chất nhu nhược, nhưng thông minh đĩnh ngộ. Ông không mô phỏng những mẫu mã có sẵn. Những hình chạm gỗ kỳ lân, long, phụng, trạng nguyên vinh qui, hoa lá... đã được ông thông minh khéo léo cải biên, thay đổi, thêm đẹp mắt, khiến khách hàng phải trầm trồ khen ngợi.
     
    Một hôm, tại nhà một thân chủ nọ, ông tình cờ thấy quyển Giới Tử Viên Họa Phổ – một bí kíp của người học vẽ. Ông bàng hoàng sửng sốt rụng rời, và cuốn sách danh tiếng này đã thay đổi cuộc đời của chàng thanh niên họ Tề từ đó. Ông mượn về và say sưa nghiền ngẫm. Phần họa luận và họa pháp cùng với những hình ảnh trong họa phổ đã khai tâm cho ông những qui tắc hội họa. Từ đó, ông áp dụng chúng vào nghề chạm gỗ, thế là tài nghệ đã tinh xảo lại càng tinh xảo hơn. Năm đó ông 20 tuổi. Cuộc sống gia đình bắt đầu khá giả hơn, gia đình đông vui hơn. Bấy giờ toàn gia đình có 14 người, riêng anh em ông có cả thảy 9 người: 6 trai, 3 gái. Danh tiếng của «Thợ mộc Chi» đã lẫy lừng, vượt qua mấy nương dâu, ruộng lúa, vươn qua mấy lũy tre xanh lan đến những thôn làng xa xôi. Có người tin cậy đến nỗi đặt ông vẽ tranh. Ông không dám nhận lời, nhưng điều này gợi ý cho ông bước vào lĩnh vực hội họa.
    Ông bắt đầu học vẽ tranh chân dung và bồi tranh nơi ông Tiêu Hương Cai. Năm ông 27 tuổi, một người đồng hương của ông tên là Hồ Thâm Viên – một họa sĩ chuyên về công bút vẽ hoa điểu thảo trùng – đã nhận ông làm đệ tử, đồng thời khuyên ông nên vẽ và bán tranh mưu sinh. Ông Hồ Thâm Viên mời thêm danh sĩ Trần Thiếu Phồn về dạy cho Tề văn chương thi phú. Ông Hồ Thâm Viên đặt tên cho Tề là Hoàng, tự là Tần Sinh. Vì gia đình ông ở gần phố Bạch Thạch nên ông lấy tên là Tề Bạch Thạch và Bạch Thạch Sơn Nhân... Dưới sự dạy dỗ tận tụy của hai lương sư Hồ và Trần – một hội họa, một thi phú – Tề Bạch Thạch tiến bộ rất nhanh. Rồi ông thầy họ Hồ lại nhiệt thành giới thiệu đệ tử ruột của mình theo học vẽ sơn thủy nơi một người bạn của thầy nữa. Thế là sau một thời gian khổ luyện, Tề Bạch Thạch bắt đầu sống bằng nghề vẽ và bán tranh, năm đó ông 30 tuổi. Ngoài các tranh thờ, ông còn vẽ phong cảnh (tranh sơn thủy), hoa điểu, nhân vật... ông vẽ thiếu nữ rất đẹp cho nên thiếu nữ trong tranh được người đời mệnh danh là «Tề Mỹ Nhân» (Người đẹp họ Tề.) Ngoài việc vẽ tranh, ông còn ngâm thơ vịnh phú với mặc khách tao nhân. Ông cùng 6 người bạn thành lập Long Sơn Thi Xã, và xưng nhóm là «Long Sơn Thất Tử» (Bảy Thi Nhân của Long Sơn Thi Xã). Năm 33 tuổi ông lập thêm nhóm La Sơn Thi Xã, tạo thêm dịp ngâm vịnh với bạn bè. Đến năm 34 tuổi, ông bắt đầu học thư pháp (viết chữ đẹp), đặc biệt chuyên tập luyện kiểu chữ Lệ và chữ Triện, đồng thời quyết tâm học nghề khắc ấn triện.
    Tên tuổi Tề Bạch Thạch đã vượt qua các thôn làng và lan đến huyện Tương Đàm. Một người trên huyện mời ông đến nhà để vẽ tranh. Thế là năm 35 tuổi, ông mới có dịp đi xa, từ Tương Đàm, rồi tiếp đó là Trường Sa, Nam Nhạc... Nhờ du lịch nhiều, ông kết giao được nhiều danh sĩ, nhiều bậc quyền thế như Vương Tương Y, Đàm Diên Hạp, anh em Trạch Khải và Vương Tương Y. Họ cực kỳ ái mộ Tề, hết lòng ca ngợi Tề bất cứ đâu có dịp, thành thử danh tiếng ông càng lan xa và địa vị xã hội càng được nâng cao thêm.
    Năm 43 tuổi, ông nhận ra rằng không thể nào cứ sao chép cổ nhân mãi, từ đường nét đến ý tứ. Thế là ông bỏ lối công bút (tức là lối vẽ công phu tỉ mỉ) mà theo lối ý bút (lối vẽ phóng khoáng, tả ý) đồng thời quyết định phải du lãm thật nhiều để tìm ý tứ mà sáng tác cũng như để làm giàu kinh nghiệm sống. Đúng lúc đó, một vị quan họ là Hạ mời ông đến Tây An làm gia sư. Thế là ông rời Hồ Nam đi Thiểm Tây. Tại Tây An, ông kết giao với đại thi nhân Phàn Phàn Sơn được chừng 3 tháng, vì quan họ Hạ phải thuyên chuyển về Bắc Kinh, Tề Bạch Thạch cũng đi theo, tiếp tục làm gia sư cho họ Hạ.
    Trên đường về Kinh đô, phong cảnh núi non sông nước hùng vĩ và hữu tình đã khơi nguồn sáng tạo đầy hứng khởi say mê cho ông. Tại Bắc Kinh, vị quan họ Hạ và đại nho Phàn Phàn Sơn hết lòng tiến cử ông vào làm họa sư của triều đình. Nhưng ông từ chối, cam chịu đạm bạc, không thích quan tước, bèn quay về cố hương là Hồ Nam.
    Bước phiêu lãng của Tề Bạch Thạch từng qua Hoa Sơn, Tây Nhạc, Trung Sơn, Tung Sơn, Lư Sơn, Nam Xương, Quảng Đông, Quảng Tây, Quảng Châu, Quế Lâm, Nam Kinh, Tô Châu, Giang Tây, Thiểm Tây, Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải, Hương Cảng... Năm 1907, ông sang Việt Nam, và ghi lại sông núi hoa gấm của nước Nam qua tác phẩm Lục Thiên Quá Khách. Năm 45-46 tuổi ông sống tại Quảng Châu, mưu sinh bằng nghề khắc triện. Tại đây ông hân hạnh kết giao với các danh họa gia Bát Đại Sơn Nhân, Từ Thanh Đằng, Kim Đông Tâm ... Sau 5 năm giang hồ phiêu lãng, từ năm 43 đến 48 tuổi, ông về quê cũ, chuyên rèn luyện cổ văn, thi từ, đồng thời son lại những bút ký và họa cảo qua các cuộc viễn du, viết thành tác phẩm Tá Sơn Đồ Quyển gồm 52 bức họa và 24 bức chuyên vẽ đá.
    Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ông cư gia bất xuất, tự tay trồng cây, hoa kiểng, và nuôi cá quanh nhà. Tháng 5 năm 1914, ông mang một cái tang đau đớn nhất: vị ân sư của ông là họa gia Hồ Thâm Viên lìa trần. Tình nghĩa sư đệ sâu dày như non cao bể thẳm, Tề Bạch Thạch nuốt lệ ngậm ngùi. Trong giây phút sinh ly tử biệt não nề, ông chọn 20 họa phẩm đắc ý của ông – cũng là những tác phẩm mà thầy từng khen ngợi – đem đốt trước linh sàng, mượn làn hương bay khói tỏa minh chứng lòng tri ân thành kính bậc tôn sư đã nhiệt tâm giáo huấn tài bồi.
    Năm 1917, tức năm Dân Quốc thứ 6, giặc giã loạn lạc nổi lên. Ông đơn thân đi Bắc Kinh. Nhân dịp này ông kết giao với những danh họa gia như Trần Sư Tăng, Trần Bán Đinh, Vương Mộng Bạch, Dao Mang Phu. Lúc trở về quê, đau lòng trước cảnh quê hương điêu linh, cửa nhà bị thổ phỉ cướp sạch, ông di tản gia đình về chân núi Từ Kinh Sơn. Bấy giờ cha ông 81 tuổi, mẹ ông 75 tuổi. Nhưng ông chẳng ở chung với gia đình lâu, được vài tháng lại lên đường về Bắc Kinh. Năm sau vợ ông cũng theo về Bắc Kinh và chủ trương lấy vợ lẽ cho ông. Cô vợ lẽ mới 18 tuổi, tên Hồ Bảo Châu, người huyện Phong Đô tỉnh Tứ Xuyên, lúc đó Tề Bạch Thạch đã 57 tuổi.
    Năm 58 tuổi, ông kết giao với Từ Bi Hồng, Lâm Cầm Nam, Mai Lan Phương... Nhân dịp này, vâng lời khuyên của Trần Sư Tăng, ông cải biến họa pháp và tự sáng chế lối vẽ «Hồng Hoa Mặc Diệp» (Hoa đỏ, lá đen) rất độc đáo.
    Hai năm sau, 1922, ông lại vâng lời Trần Sư Tăng, cùng với họ Trần đi Paris tham gia cuộc triển lãm tranh. Trở về cố quốc, ông viết hồi ký «Tam Bách Thạch Ấn Tề Ký Sự» (Ký sự của gã họ Tề, biệt hiệu Tam Bách Thạch Ấn.) Cũng chính năm đó người bạn tri kỷ của ông là Trần Sư Tăng qua đời. Quả là một tổn thất lớn lao. Trong đời ông, chỉ có Từ Bi Hồng và Trần Sư Tăng là kẻ tri kỷ, thân thiết tâm giao. Đó là hai cố vấn tối cao trong đời ông, nay mất một làm sao không đớn đau đứt ruột.
    Hai năm sau, 1924, ông bị bệnh thập tử nhất sinh, mê man 7 ngày 7 đêm. Nhưng một lần nữa, ông lại giành được sinh mệnh của mình trên tay tử thần. Rồi năm sau, ông trở về quê cũ viếng thăm cha mẹ để rồi chẳng bao lâu chứng kiến đấng sinh thành ra đi trong cùng một năm (1926): mẹ chết hồi tháng 3, thọ 82 tuổi, đến tháng 7 thì cha cũng ra đi, thọ 88 tuổi.
    Đến năm 1927 thì danh tiếng Tề Bạch Thạch lẫy lừng chốn đế đô. Ông được mời giảng dạy tại Quốc Lập Bắc Kinh Nghệ Thuật Chuyên Môn Học Hiệu (năm 1928, trường đổi tên là Mỹ Thuật Học Viện.) Nhân dịp này ông xuất bản «Tá Sơn Ngâm Quán Thi Cảo Ấn Phổ». Tề Bạch Thạch nổi tiếng không kém đại danh họa tiền bối là Ngô Xương Thạc, bấy giờ người đời xưng tụng câu «Nam Ngô Bắc Tề» (phương Nam có Ngô Xương Thạc, phương Bắc có Tề Bạch Thạch) đủ thấy thanh thế của ông uy chấn giang hồ thế nào. Nhưng họ Ngô tạ thế trong năm 1927 này, thọ 84 tuổi. Thành thử chỉ còn «Bắc Tề», bấy giờ 65 tuổi, lừng lẫy một phương.
    Nhưng đó chỉ là cái thế giới hội họa, nhìn ra xã hội, Trung Quốc đang phân loạn điêu linh do ảnh hưởng của Đại Chiến Thế Giới thứ nhất (1914-1918), thực dân Tây phương nhiễu nhương xâm lấn, chiến tranh Quốc-Cộng, Nhật Bản xâm lược... Nhân dân lầm than trước cảnh thù trong giặc ngoài, bọn Hán gian đầy rẫy, chánh ngụy bất phân. Thành thử quá ngao ngán chán chường, ông đóng cửa tạ khách, lúc đó 70 tuổi (1932).
    Năm 1933, Hoa Bắc rơi vào tay bọn quân phiệt Nhật, nhân dân đã lầm than lại thêm lầm than, đã thống khổ lại càng thống khổ. Tề Bạch Thạch bỏ dạy học hẳn, bế môn bất xuất, chỉ ngâm thơ vẽ tranh, khắc ấn triện, cự tuyệt bán tranh. Để tránh sự dòm ngó theo dõi của giặc Nhật Bản và bọn Hán gian, ông treo trước cửa nhà mấy chữ «Bạch Thạch Lão Nhân tâm bệnh phục phát, đình chỉ kiến khách» (Tâm bệnh của Tề Bạch Thạch tái phát, miễn tiếp khách) và bốn chữ «Đình chỉ mại họa» (Ngưng bán tranh). Trong lúc đất nước điêu linh, nhân tâm điên đảo, và tự lượng sức già nhu nhược, ông đành chọn thái độ bất hợp tác, vừa giữ được tiết tháo kẻ sĩ phu vừa ngầm tỏ tinh thần phản kháng. Nhưng bọn sĩ quan Nhật và bọn tay sai biết danh tiếng ông, vẫn ghé luôn, vừa mua tranh vừa mua chuộc. Ông thẳng thắn từ khước. Năm ấy ông 75 tuổi (1937). Ở đây tưởng cũng nên nhắc một chi tiết mà các nhà nghiên cứu mỹ thuật Trung Quốc thường sơ ý, chẳng hạn báo ảnh Liên Xô số 9 năm 1984, bài của tác giả L. Smôticôva viết rằng: Tề Bạch Thạch (1860-1957). Thật sự, ông sinh năm 1863, đến năm 1937 (Dân Quốc thứ 26) do tin tưởng số mệnh, ông tăng hai tuổi, tức là 77 tuổi. Tính đến năm ông mất 1957, hưởng thọ 97 tuổi (thực tế là 95 tuổi). Vì không rõ chi tiết này nên tác giả L. Smôticôva đã tính ngược lên và viết năm sinh của ông là 1860.
    Ngày 14-8 năm Ất Dậu (1945) quân Nhật đại bại, Tề Bạch Thạch sung sướng đến nỗi không ngủ được, ông liền mở cửa bán tranh và khắc ấn triện trở lại. Năm ông 86 tuổi (1946), ông đi Nam Kinh tổ chức triển lãm. Đợt triển lãm này do Trung Hoa Toàn Quốc Mỹ Thuật Hội đỡ đầu. Toàn bộ tranh của ông đem triển lãm được chiếu cố nhiệt liệt và bán sạch. Tiền bạc và danh vọng ở cái tuổi gần đất xa trời này có làm ông vui chăng? Chúng ta không rõ. Có điều, cậu bé èo uột thuở nào chung cuộc lại trường thọ và biết bao lần bi thương tống biệt những người thân thiết nhất của mình, ông bà, bố mẹ, con cái, thê thiếp và cả bằng hữu văn thơ, những trần ai tri kỷ nữa.
    Năm lên 12, ông nội mất. Năm ông 39 tuổi, bà nội qua đời. Năm ông 51 tuổi, cậu con trai thứ mới 20 tuổi đã yểu mệnh. Tiếp ngay năm sau, thêm cái tang ân sư Hồ Thâm Viên. Năm ông 54 tuổi, lại vĩnh biệt bạn tri kỷ Vương Tương Y. Rồi năm ông 61 tuổi, thêm một bạn trần ai tri kỷ nữa ra đi: Họa gia Trần Sư Tăng, người mà Tề Bạch Thạch hết lòng yêu mến thâm giao cũng như Từ Bi Hồng. Nỗi đau chưa nguôi thì 3 năm sau ông chịu luôn hai cái tang của mẹ rồi đến cha. Hai năm sau, người em trai thứ năm cũng theo bước phụ mẫu mà đi. Hai năm nữa, người em trai thứ hai lại ra đi nốt, lúc bấy giờ ông 68 tuổi. Và đúng một năm sau, thi hữu rất mực thân thiết là Phàn Phàn Sơn qua đời. Năm ông 77 tuổi, gánh luôn cái tang của thi nhân Trần Tam Vị, cha của người bạn thân là Trần Sư Tăng, rồi năm sau ông lại đau đớn tiễn biệt đứa con trai thứ sáu đoản mệnh mới có 5 tuổi. Năm ông 80 tuổi, con mất được hai năm, nỗi bi thống chưa tan thì phải khóc vợ là Xuân Quân qua đời. Rồi đúng 3 năm sau, kế thất là Hồ Bảo Châu cũng lìa trần. Năm ông 86 tuổi, cô con gái mới 19 tuổi đã vội theo mẹ về nơi miên viễn.
    Bi thống chập chùng bi thống, thương đau nối tiếp thương đau, và ngày 16-9-1957, Tề Bạch Thạch đã ra đi mãi mãi, để lại nỗi thương tiếc ngậm ngùi trong lòng thân bằng quyến thuộc cũng như người ái mộ bốn phương.
    Tề Bạch Thạch là một tấm gương vươn lên từ nghịch cảnh. Ông có một tuổi thơ vất vả gian lao chốn điền dã nghèo nàn. Thời gian học tập của cậu bé họ Tề quá ngắn ngủi, độ một năm. Dù là học nơi ông ngoại, cậu cũng không có cơ hội đeo đuổi sách đèn, bởi lẽ cảnh nhà suy sụp đã đẩy cậu đến chỗ lam lũ ruộng đồng, gánh nước, bổ củi, chăn trâu... Nhưng tâm hồn Tề Bạch Thạch đã phong phú thêm, ông đã biết thưởng thức cái đẹp lúc bình minh hay bóng xế chiều hôm, cảnh vật thiên nhiên bốn mùa thay đổi, cảnh nước chảy hoa trôi, cây cỏ thảo trùng. Chính sự tiếp cận với thiên nhiên trong cảnh hòa âm điền dã đã giúp ông sớm có nhận thức khách quan về cuộc sống và thẩm mỹ trước khi bắt đầu vào ngành hội họa. Và chính cái cảnh ngộ nghèo khó đã giúp ông thông cảm sâu sắc với đại chúng bình dân. Thành thử đề tài trong tranh ông bao giờ cũng gắn liền với thiên nhiên, với cuộc sống của dân quê, và toát ra vẻ dung dị mộc mạc rất gần gũi đời thường.
    Tề Bạch Thạch là tấm gương hiếu học. Ông luôn học hỏi ở bạn bè, ở thầy, và ở quần chúng xung quanh. Ông đã từng phiêu lãng giang hồ để mở mang nhãn kiến, từng sao chép tranh của các danh gia kim cổ như Thạch Đào, Bát Đại Sơn Nhân, Từ Vị, Kim Đông Tâm, Ngô Xương Thạc, Trần Sư Tăng, Từ Bi Hồng... để phân tích lối vẽ của các nhà danh họa trên đồng thời biết thoát ra khỏi khuôn mẫu có sẵn để độc sáng một họa pháp riêng. Ông đã từng trồng hoa cá kiểng, từng nuôi tôm cua, v.v... để nghiên cứu mà tải được tinh thần của thảo trùng hoa điểu vào trong tranh. Tranh ông đơn sơ mộc mạc mà linh động đầy sức sống, đặc biệt loại tranh về cua, tôm, cá, v.v... Nhờ ông chuyên tâm rèn luyện nơi các đại nho, danh sĩ, cho nên những tư tưởng và đạo đức truyền thống Trung Quốc đã góp phần hình thành nhân cách ông, giúp ông đủ trí tuệ để biện minh phân biệt, đủ lòng nhân ái bao dung với quần chúng nhân dân, đủ ý chí quật cường không khuất phục quyền uy vũ bạo cường. Khi đất nước điêu linh ly loạn, đủ tự trọng để giữ tiết tháo kẻ sĩ trong cảnh nguy vong, đủ khiêm nhường lấy hư tâm mà thỉnh giáo mọi người, đủ tự tin để vượt qua nghịch cảnh và đủ tự do để thoát khỏi những mô thức, những định kiến cũ kỹ mà khai phóng một con đường nghệ thuật riêng, không ảnh hưởng bất cứ ai.
    Nhờ vậy, ông đã cứu lấy môn hội họa truyền thống ra khỏi biển chết. Bởi lẽ mấy ngàn năm trôi qua, người sau cứ bắt chước cổ nhân, từ bút pháp đến ý tưởng, thành thử mọi đề tài đều đã quá cũ, mọi ước lệ đều quá sáo mòn. Người họa sĩ luôn lúng túng tìm một hướng sáng tác riêng, bởi tất tất mọi thứ thì cổ nhân đã sáng tác quá nhiều rồi, không còn gì mới lạ nữa. Tề Bạch Thạch đã nhận ra điều này, và ông đã từ bỏ lối công bút nô lệ cổ nhân đi để chuyên lối ý bút đầy sáng tạo. Cái họa pháp tả ý của Tề Bạch Thạch phần nào gần gũi với lối vẽ của tranh Thiền mà D.T Suzuki gọi là «bút pháp một góc» (one-corner style), bút pháp này chừa một khoảng trống thoáng cho tranh và rất là gợi ý. Tranh ông vẽ như đùa, nguệch ngoạc dăm ba nét, phóng bút mấy dòng thơ, nhưng xem chữ viết của ông đề «Bạch Thạch Lão Nhân, 80-90 tuổi», mới biết nét bút nguệch ngoạc ấy là cả một quá trình điêu luyện mấy mươi năm trời. Dường như ở cái tuổi gần đất xa trời hơn thì con người chất phác hơn, đã bỏ đi thói hoa mỹ giả dối chăng? Những giác ngộ nào về cuộc sống, về kiếp người, đã khiến ông từ bỏ những đường nét cầu kỳ lòe loẹt hoặc khuôn sáo giả dối, để mà trực nhập vào chân lý vi diệu, đối diện cuộc đời?
    Chính họa pháp độc đáo của Tề Bạch Thạch làm giới phê bình mỹ thuật ở Tây phương phải kinh ngạc. L. Smôticôva, nhà phê bình mỹ thuật của Liên Xô, nơi Báo Ảnh Liên Xô (số 9-1984) nhận định về Tề Bạch Thạch như sau: «Sống giữa hai thế kỷ, khi nhiều họa sĩ Trung Quốc quay sang nghệ thuật Châu Âu, Tề Bạch Thạch đã chọn những người thợ dân gian lão luyện làm thầy. Và kết quả thật ngược đời: Không liên quan tới một khuynh hướng hội họa mới mẻ nào, thế nhưng ông đã trở thành họa sĩ hiện đại một cách lạ kỳ, tên tuổi của ông đã trở thành vốn quý của nền văn hóa thế giới.» Một nhà phê bình khác thì bảo: «Khi người ta còn yêu hòa bình, mặt trời, và vẻ đẹp của thiên nhiên thì nghệ thuật của Tề Bạch Thạch còn cần cho con người.» Xin mượn lời trên để kết thúc bài viết này
  • Tề Bạch Thạch với tranh vẽ sen

     (13/08/2013)
    Tề Bạch Thạch (1864-1957) tên thật là Tề Hoàng, tự là Bạch Thạch, quê ở Hồ Nam, nổi tiếng thế giới với biệt tài vẽ tôm.

    Tề Bạch Thạch lúc đầu là thợ mộc và nghệ nhân vẽ tranh dân gian, sau rồi đi khắp nơi trong nước để tham quan các phong cảnh đẹp và học hỏi về hội họa, văn học. Đến khoảng năm 40 tuổi ông mới bắt đầu vẽ như một họa sĩ thực sự. Không giống như các thiên tài hội họa khác vốn bộc lộ tài năng thiên bẩm từ trẻ, Bạch Thạch là một ví dụ điển hình của tinh thần làm việc và học hỏi không ngừng nghỉ để hướng tới cái Đạo trong nghệ thuật.

    Các bức tranh tôm sống động của Bạch Thạch thì ai cũng biết, nhưng các bức tranh vẽ sen của ông cũng rất hấp dẫn.

    Tề Bạch Thạch có lối vẽ rất phóng khoáng, giàu chất biểu hiện và chịu ảnh hưởng nhiều từ Bát Đại Sơn Nhân, Thạch Đào. Ông mạnh dạn vẽ những mảng lớn đen đậm tự do để tả lá sen, những đường tự nhiên để tả thân sen, và màu đỏ hoa sen nổi bật lên với vẻ rất …vu vơ. Nét bút của ông hình như không bị gò bó gì cả, rất sắc xảo, điêu luyện mà vẫn giữ được sự vô tư trong sáng.




        




     theo covattinhhoa.vn
    .
  • Tề Bạch Thạch với tranh vẽ tôm


    Tề Bạch Thạch (Qi Baishi, 齐白石, 1863-1957) là một trong những họa sĩ nổi tiếng của hội họa đương đại Trung Quốc. Các bút danh của ông là Qi Hoàng (齐璜) và Qi Wèiqīng (齐渭清). Ông tên thực là Tề Thuần Chi. Năm 27 tuổi học vẽ, được thầy đặt tên là Hoàng, tự là Tần Sinh, hiệu là Bạch Thạch. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở quận Tương Đàm (湘潭), tỉnh Hồ Nam. Tề Bạch Thạch học trễ một năm do bệnh, cơ thể ốm yếu. Năm 15 tuổi, ông học nghề thợ mộc với ông Tề Tiện Hựu, là em ruột của ông nội. Năm sau chuyển qua học chạm gỗ với ông Chu tử Mỹ và sớm trở thành một bậc thầy trong nghề này. Người ta gọi ông là «Chi mộc tượng» (Thợ mộc tên Chi). Năm 19 tuổi ông kết hôn với cô Trần Xuân Quân, lớn hơn ông một tuổi. Sau này bà còn cưới cho ông thêm cô vợ lẽ, mới 18 tuổi, tên là Hồ Bảo Châu, người huyện Phong Đô, tỉnh Tứ Xuyên, lúc đó Tề Bạch Thạch đã 57 tuổi.
    Tề Bạch Thạch là tấm gương hiếu học, ông luôn nỗ lực để trở nên lão luyện với các bộ môn nghệ thuật : thơ ca, thư pháp, hội họa, khắc dấu.... ông vẽ thiếu nữ rất đẹp cho nên những thiếu nữ trong tranh của ông được người đời mệnh danh là «Tề Mỹ Nhân» (Người đẹp họ Tề.). Ông tự học bằng cách sao chép các họa tiết từ bức “Vườn giống mù tạt" (芥子 园 画 传) - tranh nổi tiếng thời nhà Thanh.Các hình tượng trong tranh của ông là những loại thú vật, côn trùng, phong cảnh, đồ chơi, cây cỏ, các loại rau... Những năm sau này, ông có nhiều tác phẩm mô tả những con chuột, tôm hoặc chim. Tề Bạch Thạch đặc biệt nổi tiếng với những bức tranh vẽ tôm, đến mức khi nói đến Tề Bạch Thạch là nói về tranh vẽ tôm hoặc nói đến họa sĩ Từ Bi Hồng là tranh vẽ ngựa, cả hai nghệ sĩ đã thể hiện rất đặc trưng và ấn tượng với những con vật này, cả hai ông đều có ảnh hưởng lớn trong sự phát triển của nghệ thuật Trung Quốc hiện đại.
    Tề Bạch Thạch không được đào tạo chính thức trong lĩnh vực nghệ thuật, tuy nhiên, ông cố gắng để làm chủ các kỹ thuật khác nhau như thư pháp và khắc dấu. Tề Bạch Thạch chịu ảnh hưởng nhiều từ các họa sĩ Xu Wei (徐渭), vào thời nhà Minh và họa sĩ Zhu Da (朱耷,即"八大山人"), triều đại nhà Thanh. Ông cố gắng tự học tập bằng cách sao chép tranh của các họa sĩ nổi tiếng như Thạch Đào, Bát Đại Sơn Nhân, Từ Vị, Kim Đông Tâm, Ngô Xương Thạc, Trần Sư Tăng, Từ Bi Hồng... Sau này ông theo học ở Thượng Hải, và gặp Changshuo Wu (吴昌硕), người sau đó đã trở thành cố vấn và nhiều tác phẩm của ông đã truyền cảm hứng cho Tề Bạch Thạch. Khoảng mười lăm năm sau, ông gặp Qi Chen Shizeng (陈师曾) và ảnh hưởng một phần từ họa sĩ này, sau khi ông định cư tại Bắc Kinh.
    Tề Bạch Thạch thích đi đó đây để tìm kiếm cảm hứng vẽ tranh, lúc này ông độ tuổi 40, ông đã đến những nơi như Hoa Sơn, Tây Nhạc, Trung Sơn, Tung Sơn, Lư Sơn, Nam Xương, Quảng Đông, Quảng Tây, Quảng Châu, Quế Lâm, Nam Kinh, Tô Châu, Giang Tây, Thiểm Tây, Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải, Hương Cảng... năm 1907 ông có sang Việt Nam . Năm 45-46 tuổi ông sống tại Quảng Châu, sống bằng nghề khắc triện. Ông thường kết giao với các danh họa gia như Bát Đại Sơn Nhân, Từ Thanh Đằng, Kim Đông Tâm...Trong đời ông, có họa sĩ Từ Bi Hồng và Trần Sư Tăng là người tri kỷ, bạn thân thiết tâm giao của ông. Năm 48 tuổi, ông về quê xây dựng một ngôi nhà và sống ổn định. Ông bắt đầu vẽ tranh phong cảnh, nguồn tư liệu là những ghi nhận từ những chuyến chu du. Cũng từ đây, ông nghiên cứu cổ văn, thi từ và  viết tác phẩm Tá Sơn Đồ Quyển, gồm 52 bức họa và 24 bức vẽ đá.
    Với độ tuổi năm mươi, ông đã được coi là một họa sĩ trưởng thành với phong cách hội họa của mình. Tề Bạch Thạch phân tích lối vẽ của các danh họa trước đây, đồng thời thoát ra khỏi khuôn mẫu truyền thống đó, để sáng tạo một họa pháp riêng. Tề Bạch Thạch nhận ra rằng hội họa hiện tại của Trung Quốc luôn đi theo những khuôn mẫu, bút pháp trước đây, không thay đổi, sáng tạo. Ông đã bỏ lối Công bút (Tề tất họa - Xieyi ), tức là lối vẽ công phu tỉ mỉ, tả chi tiết sát với cảnh thực của cổ nhân, những tranh này thường gắn với thơ từ, lời đề, chữ khắc cổ,  loại tranh này đẹp mắt, hào hoa, có giá trị trang trí, bề thế, nên trong lịch sử Trung Hoa nhiều họa sĩ cung đình đều áp dụng lối vẽ này để thể hiện sự quý phái của triều đình.
     Tề Bạch Thạch không theo phong cách trên mà dùng lối Ý bút  (Thô tất họa - Đà Xieyi), là tranh thủy mặc ngụ ý dùng đường nét giản đơn, phóng khoáng, ngụ ý vào cảnh vật, một lối vẽ với cái nhìn bao quát để nắm bắt tinh thần đối tượng, với cách “phóng bút” theo cảm giác, nhấn mạnh cái tinh thần của vật và cảnh Lối vẽ này không cần cảnh vật trong tranh có sát đúng với đối tượng được miêu tả hay không, mà là áp dụng rộng rãi các thủ pháp: khái quát, khuếch đại, vận dụng suy tưởng với mức độ lớn nhất, gửi gắm tình cảm, cá tính của mình vào đối tượng được phác họa. Tác phẩm dạng này mang tính tức cảnh, tùy hứng, nhấn mạnh hiệu quả bất ngờ, ngẫu hợp, vì thế không dễ sao lại những tác phẩm này.
    Tề Bạch Thạch trồng hoa, nuôi cá kiểng, nuôi tôm cua quanh nhà của mình, để nghiên cứu tinh thần của thảo trùng, hoa điểu vào trong tranh.Tranh ông đơn sơ mộc mạc mà sinh động, đầy sức sống. Ông dựa trên thực tế để thử nghiệm, không ngừng tìm những cách thức mới, tích hợp sự thật và cái đẹp tạo ra một cái gì đó khó mà tưởng tượng ra, và tạo nên một phong cách riêng độc đáo của mình. Các nghệ sĩ khác ca ngợi ông đã mang đến sự tươi mát cho những hình ảnh quen thuộc thông thường hằng ngày, với các loài chim, hoa, côn trùng và cây cỏ... các ẩn sĩ, học giả và các phong cảnh của mình. Sự đơn giản và  mạnh mẽ của ông hòa với tính ngây thơ như trẻ con được kết hợp để mang lại cho người xem những hình ảnh đẹp nhất trong nghệ thuật Trung Quốc. Tranh của ông nổi tiếng nhất và hấp dẫn nhất vẫn là vẽ tôm. Tề Bạch Thạch giả thuyết rằng "bức tranh phải là cái gì đó giữa ảnh thật và làm cho khác đi". Tề Bạch Thạch còn thử nghiệm với các loại cọ vẽ riêng biệt của mình mà rất ít nghệ sĩ khác dùng. Số lượng tranh của ông rất nhiều và đa dạng, tập trung vào những điều nhỏ nhặt, không phải là những quanq cảnh lớn của thế giới tự nhiên mà là tìm kiếm những đối tượng yêu thích của mình như tôm, cá, cua, ếch, côn trùng ... Sử dụng mực đậm, màu sắc tươi sáng, mạnh mẽ và dứt khoát, ông đã tạo ra tác phẩm một cách tươi mới và sống động, thể hiện tình yêu của mình với thiên nhiên và cuộc sống.
    Tề Bạch Thạch đã nhanh chóng trở thành nghệ sĩ hiện đại của Trung Quốc, nổi tiếng nhất và thực sự là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất thế giới. Tề Bạch Thạch là một Picasso của Trung Quốc. Tề Bạch Thạch nổi tiếng không kém đại danh họa tiền bối là Ngô Xương Thạc, lúc bấy giờ người đời xưng tụng câu "Nam Ngô Bắc Tề" (phương Nam có Ngô Xương Thạc, phương Bắc có Tề Bạch Thạch). Chính họa pháp độc đáo của Tề BạchThạch làm giới phê bình mỹ thuật ở Tây phương phải kinh ngạc, L.Smôticôva, nhà phê bình mỹ thuật của Liên Xô, trong Báo Ảnh Liên Xô (số 9-1984) nhận định về Tề Bạch Thạch như sau: «Sống giữa hai thế kỷ, khi nhiều họa sĩ Trung Quốc quay sang nghệ thuật Châu Âu, Tề Bạch Thạch đã chọn những người thợ dân gian lão luyện làm thầy. Và kết quả thật ngược đời: Không liên quan tới một khuynh hướng hội họa mới mẻ nào, thế nhưng ông đã trở thành họa sĩ hiện đại một cách lạ kỳ, tên tuổi của ông đã trở thành vốn quý của nền văn hóa thế giới.» Một nhà phê bình khác thì bảo: «Khi người ta còn yêu hòa bình, mặt trời và vẻ đẹp của thiên nhiên thì nghệ thuật của Tề Bạch Thạch còn cần cho con người.»
    Với tài năng của mình, Tề Bạch Thạch đã trở thành một tên tuổi lớn của hội họa Trung Quốc, ông được mời giảng dạy tại trường quốc lập Nghệ Thuật Bắc Kinh (đến năm 1928 trường đổi tên là Học Viện Mỹ Thuật). Dịp này ông xuất bản "Tá Sơn Ngâm Quán Thi Cảo Ấn Phổ". Năm ông 86 tuổi (1946), ông đi Nam Kinh tổ chức triển lãm. Đợt triển lãm này do Hội Mỹ Thuật Toàn Quốc Trung Hoa đỡ đầu. Toàn bộ tranh của ông đem triển lãm được chiếu cố nhiệt liệt và được mua hết. Năm 1953 Tề Bạch Thạch được bầu làm chủ tịch của Hội Nghệ sĩ Trung Quốc.Ông đã hoạt động nghệ thuật đến hết cuộc đời của mình và phục vụ một thời gian ngắn với vai trò Chủ tịch danh dự của Học viện Hội họa Bắc Kinh, thành lập vào tháng 5, năm 1957.
    Ông qua đời tại Bắc Kinh vào ngày 16 tháng 9 năm 1957, thọ 94 tuổi.

     









    Họa sĩ Nguyễn MInh sưu tầm từ nguồn tư liệu sách báo, tự điển Wiki, web site Trung Hoa

    Xem tranh Tề Bạch Thạch (Huy Cận, Việt Nam) 



    Bạn xem tranh tôm của Tề Bạch Thạch
    Bầy tôm thông minh trăm cách đùa vui
    Chằng chịt chân đan ẩy tới giật lui
    Tưởng khoé mắt ông Tề nhấp nháy
    Lòng yêu sống cùng đàn tôm run rẩy
    Nét bút đi hay sự sống đang đi
    Những bước rất đời rất mộng rất si.
    Tiên sinh vẽ hình ? Tiên sinh vẽ bóng ?
    Tiên sinh vẽ đời ? Tiên sinh vẽ mộng ?
    Đàn tôm vui. Hẳn buổi ấy tiên sinh
    Nghe xốn xang trong dạ dáng hình
    Của vạn vật như một lòng Tạo hoá.
    Nét bút mát như cỏ cây hoa lá
    Đang ra xuân, như chân đá nước nguồn.
    Mắt tiên sinh: suối trẻ dạt dào tuôn,
    Lòng yêu sống vẽ vời muôn điệu sống.
    Tôm hay tiên sinh trập trùng đời với mộng ?
    Tiên sinh đã nghỉ rồi. Tôm mãi tung tăng
    Trong ánh  mặt trời, trong ánh mặt trăng.

    5-1959


  • Tề Bạch Thạch

    Không còn nhớ chính xác tôi đã xem tranh Tề Bạch Thạch từ bao giờ nhưng chắc chắn thời điểm đó xẩy ra trước khi vào cấp 2, tôi đã xem và thích tranh của ông. Hồi đó ở Vinh thường có báo ảnh của Trung Quốc, trong đó thỉnh thoảng có tác phẩm của ông. Tôi đã không biết nhiều về ông nhưng mê tranh của ông nhất là những bức vẽ tôm. Nếu ai hỏi tôi những lúc mệt mỏi nhất anh nên làm gì, câu trả lời là: Hãy xem tranh Tề Bạch Thạch...

    Càng về sau tôi được xem nhiều hơn tranh của ông, nhưng sự thích thú (nói đúng ra là niềm đam mê) không hề giảm mà ngược lại mặc dù hiểu biết về mĩ thuật của tôi cũng đã tăng lên theo năm tháng.Tôi suy ngẫm nhiều về việc sau: Gần 30 tuổi Tề Bạch Thạch đã kiếm sống được bằng nghề vẽ tranh. Chuyên tâm nghiên cứu, miệt mài khổ luyện, cuối cùng Tề Bạch Thạch đã nắm bắt được bí quyết của tranh quốc họa. Từ đó, tranh ông là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, mang đậm dấu ấn của một phong cách tài hoa. Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, một thời gian dài Tề Bạch Thạch tắm mình trong cuộc sống của nhân dân lao động. Vì vậy các sản vật vùng quê như cải bẹ trắng, củ cải, chim, tôm cua và hoa cỏ trên đồng ruộng hiện lên trong tranh ông vô cùng sinh động. Vừa khiêm tốn học tập các nhà nghệ thuật tiền bối vừa không ngừng tìm tòi sáng tạo nghiên cứu tỉ mỉ đối tượng miêu tả trước khi đặt bút vẽ, tranh của Tề Bạch Thạch càng ngày càng nổi tiếng. Từ nhỏ Tề Bạch Thạch đã rất yêu thích loài tôm và đề tài này luôn trở đi trở lại trong tranh ông. Ông thường đến bên bờ nước để quan sát chúng. Tuy năm 57 tuổi Tề Bạch Thạch đã vẽ tôm hết sức thành công nhưng ông cho rằng những con tôm ấy chỉ mới giống về bề ngoài còn "đặc điểm tinh thần" của chúng thì vẫn chưa được thể hiện đầy đủ. Thế là, Tề Bạch Thạch mua tôm sống về nuôi. Ông quan sát rất kỹ và phát hiện ra rằng khi tôm bơi trong nước, hai mắt nó đưa ngang ra, lại nữa, thân tôm sống thường trong suốt. Tề Bạch Thạch đã dùng mực có độ đậm nhạt khác nhau để vẽ thân tôm. 23 năm sau, tôm trong tranh ông đạt đến đỉnh điểm tuyệt vời của nghệ thuật hội họa.và chuyện sau đây nữa Ngoài sáng tác hội họa, ông còn thích thú với việc bếp núc, và thường xuyên tự đi chợ để mua thức ăn. Một buổi sớm, Tề Bạch Thạch xách giỏ đi mua rau. Giữa chợ, thấy hàng rau cải trắng của một nông dân trông to bắp mà tươi rói, ông liền hỏi: “Cải trắng này anh bán bao nhiêu một cây?” anh chàng nông dân nhận ra Tề Bạch Thạch, liền cười ranh mãnh và nói: “Cụ muốn mua rau à, cháu không bán đâu.” Ông nghe vậy thấy hẫng, ông hỏi: “Không bán thì anh ra đây làm gì?” anh ta trả lời: “Cụ muốn ăn rau của cháu thì phải đổi lấy bằng tranh vẽ.” Tề Bạch Thạch hơi ngớ ra, nhưng rồi hiểu ngay, biết anh chàng đã nhận ra mình, ông liền nói: “Đổi bằng tranh ư? Được thôi, nhưng không biết sẽ phải đổi bằng cách nào?”. Anh ta trả lời: “Cụ vẽ cho cháu một cây rau cải trắng, cháu sẽ biếu cả xe rau này cho cụ”. Tề Bạch Thạch cười khoái chí: “Anh bạn trẻ ơi, như vậy là anh bị hớ to rồi!” - “Không, không có hớ đâu, cụ vẽ là cháu đổi ngay.” “Được!” Tề Bạch Thạch cũng đã hứng chí, “Mau đem giấy bút đây!” Chàng trai hớn hở chạy đi mua giấy tuyên với bút mực, rồi dọn mượn một chiếc bàn, và mời Tề Bạch Thạch tác họa. Ông Tề nhấc bút vung tay, vẽ tranh ngay giữa công chúng…. Chỉ một lát sau, một bức thủy mặc tao nhã thanh đạm, vẽ rau cải trắng đã thành hình trước sự trầm trồ thán phục của người xem. Tề Bạch Thạch buông bút nói với người bán rau: “Anh bạn trẻ, tranh này là của anh, còn rau kia nay đã thuộc về tôi rồi.” “ Vâng, vâng, xe rau này là của cụ cả đấy ạ!” Tề Bạch Thạch nhìn xe rau đầy ự, nói: “Anh bạn ơi, đống rau tú hụ thế này tôi biết vác về cách nào đây?”. Anh chàng nghĩ ngợi rồi nói: “Thế này vậy, cụ vẽ thêm cho cháu con châu chấu lên tranh rồi cháu xin biếu cả chiếc xe này cho cụ.” chẳng nói chẳng rằng, ông cầm bút vẽ luôn một chú châu chấu sống động, to bự lên tranh. Người bán rau nhìn tranh và không ngớt lời khen đẹp, anh ta vừa cẩn thận cất tranh vừa nói: “Xin cụ đợi chút, cháu đưa rau đến nhà cụ ngay đây ạ”. Dọn dẹp qua loa, rồi anh chàng nhấc càng xe đi liền. Tề Bạch Thạch vội ngăn lại, ông tiện tay lấy một cây rau bỏ vào trong giỏ, và nói: “Anh bạn trẻ, rau cải trắng nên một đổi lấy một thôi, chỗ còn lại anh cứ để mà bán!” Anh ta nghe thế vội nói: “Đâu có được, đã giao kèo trước rồi, rau và cả xe này đều là của cụ rồi.” Tề Bạch Thạch nói: “Nhưng làm sao mà nhà tôi ăn hết được ngần này rau kia chứ?” “Cụ cứ để ăn dần.” “Không được…..” Hai người cứ thế tranh chấp mãi, rồi chàng trai đột nhiên buông xe xuống, ôm một đống cải trắng, vừa bỏ vào làn giỏ của những người chung quanh, vừa lớn tiếng: “Cầm giúp, xin cứ cầm giúp, bữa nay cụ Tề mời mọi người ăn rau cải trắng vừa tươi vừa bự này đây!”. Chỉ một lát, xe rau đã chẳng còn lại bao, Anh ta cười tươi tắn và nói với Tề Bạch Thạch: “Bây giờ thì không nhiều nữa đâu nhé, để cháu đưa về cho cụ đây!” Nhìn vẻ mặt hiền hậu chân chất của anh nông dân trẻ tuổi, Tề Bạch Thạch chỉ còn biết cười và cùng anh ta đi về phía ngõ nhỏ nhà mình. Từ đó, cứ cách vài hôm là anh chàng lại đưa một ít rau tươi lên biếu Tề Bạch Thạch, và ông Tề cũng tặng lại anh ta một vài bức tranh. Lâu dần, hai người đã kết bạn vong niên. Nhân chuyện Tề Bạch Thạch, xin kể một chuyện về họa sĩ Bùi Xuân Phái: Mấy anh thợ điện ở CN Điện Hoàn Kiếm có lần đến sửa điện cho họa sĩ. Xong việc họa sĩ muốn cám ơn bằng mấy bức vẽ của mình. Mấy anh thợ điện cám ơn nhưng không nhận tranh vì lúc đó chưa nhận biết giá trị mấy bức vẽ loằng ngoằng của họa sĩ. Chính mấy bức "loằng ngoằng" đó mà sau này đã đưa ra đấu giá trên thị trường tranh ở nước ngoài.Đôi điều về ông Ngày 23 tháng 11 năm 1863 (tức năm Đồng Trị thứ hai, đời Thanh) tại ngôi làng Tinh Đẩu, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam Trung Quốc, một bé trai đã chào đời trong một gia đình nông dân nghèo. Gia đình này bấy giờ đã có bốn người, gia chủ là ông Tề Quán Chánh (25 tuổi) và bà Chu (19 tuổi) cùng với song thân của gia chủ (56 tuổi và 51 tuổi.) Người thành viên thứ 5 bé nhỏ trong gia đình này là niềm hạnh phúc biết bao cho gia đình gồm bố mẹ và ông bà nội. Tiếc thay, cậu bé thật yếu ớt, bệnh hoạn, thiếu ăn, tưởng chừng không sống quá 4 tuổi. Nhưng rồi cậu cũng giành được sinh mệnh của mình trên tay tử thần. Đó là cuộc tranh đấu thứ nhất trong đời, mở đầu cho biết bao cuộc tranh đấu khác sau này, cuộc đấu tranh cho đời sống tinh thần đầy ý nghĩa mãi đến phút lìa trần, 16-9-1957. Tề Bạch Thạch 齊白石tên thực là Tề Thuần Chi, tự là Vị Thanh, biệt hiệu Lan Đình. Năm 27 tuổi học vẽ, được thầy là Hồ Thâm Viên đặt tên cho là Hoàng (nghĩa là ngọc hình bán nguyệt), tự là Tần Sinh, hiệu là Bạch Thạch. Tề Bạch Thạch đã trải một tuổi thơ gian khổ như biết bao cậu bé khác chốn quê nghèo. Năm lên 8, cậu theo học ông ngoại, một ông đồ nghèo với dăm quyển Tam tự kinh, Bách gia tính, Thiên gia thi và Luận ngữ. Cậu nổi tiếng ngay, nhưng chẳng phải vì tài văn chương thi phú, mà vì tài năng hội họa. Năng khiếu hội họa của cậu đã bộc phát. Những hình ảnh, những đường nét ngẫu hứng vẽ ngư ông, điểu thú, thảo trùng... tuy còn non nớt nhưng cho thấy nhiều triển vọng sau này. Nhưng cái thời gian hồn nhiên với sách vở và vẽ vời như thế chẳng được lâu là bao. Mùa thu 1870, cảnh nhà sa sút, cậu bèn bỏ học, ở nhà phụ cha mẹ những việc như gánh nước, trồng rau, bổ củi, chăn trâu... Một năm học nơi ông ngoại, tuy ngắn ngủi, nhưng chính là những ngày tháng hạnh phúc nhất trong tuổi thơ của cậu. Cậu bé vừa lên 9 thuở ấy đã sớm hiểu thế nào là kiếp nghèo, là số phận con nhà nghèo. Niềm ao ước đơn sơ của cậu là mỗi ngày được xong việc sớm để xem lại những trang sách cũ, để hồi tưởng lại những lúc vui đùa cùng với chúng bạn và để rồi mơ ước, ước mơ... Theo cổ tục tảo hôn, cậu bé 12 tuổi này phải sánh duyên cùng cô bé Trần Xuân Quân, lớn hơn cậu một tuổi. Năm ấy cũng là năm ông nội cậu tạ thế. Gia cảnh càng ngày càng suy sụp, năm 13 tuổi cậu bắt đầu chân lấm tay bùn với việc đồng áng. Nhưng rồi vì thể lực yếu ớt, sau hai năm, cậu xoay qua học nghề thợ mộc nơi ông Tề Tiên Hựu, em ruột của ông nội cậu. Rồi công việc vất vả lao nhọc của nghề mộc cậu cũng không kham nổi, nên đeo đuổi được một năm cậu xoay qua học nghề chạm trổ gỗ nơi ông Chu Tử Mỹ. Sau 3 năm, thành nghề, cậu đủ khả năng gánh vác kinh tế gia đình. Năm ấy cậu 19 tuổi và bắt đầu làm lễ động phòng với vợ, cô Trần Xuân Quân, lễ này gọi là «Lễ Viên Phòng». Chàng thợ chạm gỗ họ Tề dần dần được làng trên xóm dưới biết danh, họ gọi chàng là «Chi mộc tượng» (Thợ mộc tên Chi). Tề Bạch Thạch thể chất nhu nhược, nhưng thông minh đĩnh ngộ. Ông không mô phỏng những mẫu mã có sẵn. Những hình chạm gỗ kỳ lân, long, phụng, trạng nguyên vinh qui, hoa lá... đã được ông thông minh khéo léo cải biên, thay đổi, thêm đẹp mắt, khiến khách hàng phải trầm trồ khen ngợi. Một hôm, tại nhà một thân chủ nọ, ông tình cờ thấy quyển Giới Tử Viên Họa Phổ – một bí kíp của người học vẽ. Ông bàng hoàng sửng sốt rụng rời, và cuốn sách danh tiếng này đã thay đổi cuộc đời của chàng thanh niên họ Tề từ đó. Ông mượn về và say sưa nghiền ngẫm. Phần họa luận và họa pháp cùng với những hình ảnh trong họa phổ đã khai tâm cho ông những qui tắc hội họa. Từ đó, ông áp dụng chúng vào nghề chạm gỗ, thế là tài nghệ đã tinh xảo lại càng tinh xảo hơn. Năm đó ông 20 tuổi. Cuộc sống gia đình bắt đầu khá giả hơn, gia đình đông vui hơn. Bấy giờ toàn gia đình có 14 người, riêng anh em ông có cả thảy 9 người: 6 trai, 3 gái. Danh tiếng của «Thợ mộc Chi» đã lẫy lừng, vượt qua mấy nương dâu, ruộng lúa, vươn qua mấy lũy tre xanh lan đến những thôn làng xa xôi. Có người tin cậy đến nỗi đặt ông vẽ tranh. Ông không dám nhận lời, nhưng điều này gợi ý cho ông bước vào lĩnh vực hội họa. Ông bắt đầu học vẽ tranh chân dung và bồi tranh. Năm ông 27 tuổi, một người đồng hương của ông tên là Hồ Thâm Viên – một họa sĩ chuyên về công bút vẽ hoa điểu thảo trùng – đã nhận ông làm đệ tử, đồng thời khuyên ông nên vẽ và bán tranh mưu sinh. Ông Hồ Thâm Viên mời thêm danh sĩ Trần Thiếu Phồn về dạy cho Tề văn chương thi phú, ông lấy tên là Tề Bạch Thạch. Dưới sự dạy dỗ tận tụy của hai lương sư Hồ và Trần – một hội họa, một thi phú – Tề Bạch Thạch tiến bộ rất nhanh. Rồi ông thầy họ Hồ lại nhiệt thành giới thiệu đệ tử ruột của mình theo học vẽ sơn thủy nơi một người bạn của thầy nữa. Thế là sau một thời gian khổ luyện, Tề Bạch Thạch bắt đầu sống bằng nghề vẽ và bán tranh, năm đó ông 30 tuổi. Ngoài các tranh thờ, ông còn vẽ tranh sơn thủy, hoa điểu, nhân vật... ông vẽ thiếu nữ rất đẹp cho nên thiếu nữ trong tranh được người đời mệnh danh là «Tề Mỹ Nhân» (Người đẹp họ Tề.) Ngoài việc vẽ tranh, ông còn ngâm thơ vịnh phú với mặc khách tao nhân. Ông cùng 6 người bạn thành lập Long Sơn Thi Xã, và xưng nhóm là «Long Sơn Thất Tử» (Bảy Thi Nhân của Long Sơn Thi Xã). Năm 33 tuổi ông lập thêm nhóm La Sơn Thi Xã, tạo thêm dịp ngâm vịnh với bạn bè. Đến năm 34 tuổi, ông bắt đầu học thư pháp, đặc biệt chuyên tập luyện kiểu chữ Lệ và chữ Triện, đồng thời quyết tâm học nghề khắc ấn triện Năm 43 tuổi, ông nhận ra rằng không thể nào cứ sao chép cổ nhân mãi, từ đường nét đến ý tứ. Thế là ông bỏ lối công bút (tức là lối vẽ công phu tỉ mỉ) mà theo lối ý bút (lối vẽ phóng khoáng, tả ý) đồng thời quyết định phải du lãm thật nhiều để tìm ý tứ mà sáng tác cũng như để làm giàu kinh nghiệm sống. Đúng lúc đó, một vị quan họ là Hạ mời ông đến Tây An làm gia sư. Thế là ông rời Hồ Nam đi Thiểm Tây. Tại Tây An, ông kết giao với đại thi nhân Phàn Phàn Sơn được chừng 3 tháng, vì quan họ Hạ phải thuyên chuyển về Bắc Kinh, Tề Bạch Thạch cũng đi theo, tiếp tục làm gia sư cho họ Hạ. Trên đường về Kinh đô, phong cảnh núi non sông nước hùng vĩ và hữu tình đã khơi nguồn sáng tạo đầy hứng khởi say mê cho ông. Tại Bắc Kinh, vị quan họ Hạ và đại nho Phàn Phàn Sơn hết lòng tiến cử ông vào làm họa sư của triều đình. Nhưng ông từ chối, cam chịu đạm bạc, không thích quan tước, bèn quay về cố hương là Hồ Nam. Bước phiêu lãng của Tề Bạch Thạch từng qua Hoa Sơn, Tây Nhạc, Trung Sơn, Tung Sơn, Lư Sơn, Nam Xương, Quảng Đông, Quảng Tây, Quảng Châu, Quế Lâm, Nam Kinh, Tô Châu, Giang Tây, Thiểm Tây, Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải, Hương Cảng... Năm 1907, ông sang Việt Nam, và ghi lại sông núi hoa gấm của nước Nam qua tác phẩm Lục Thiên Quá Khách. Năm 45-46 tuổi ông sống tại Quảng Châu, mưu sinh bằng nghề khắc triện. Tại đây ông hân hạnh kết giao với các danh họa gia Bát Đại Sơn Nhân, Từ Thanh Đằng, Kim Đông Tâm ... Sau 5 năm giang hồ phiêu lãng, từ năm 43 đến 48 tuổi, ông về quê cũ, chuyên rèn luyện cổ văn, thi từ, đồng thời soạn lại những bút ký và họa cảo qua các cuộc viễn du, viết thành tác phẩm Tá Sơn Đồ Quyển gồm 52 bức họa và 24 bức chuyên vẽ đá. Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ông ở lại nhà, tự tay trồng cây, hoa kiểng, và nuôi cá quanh nhà. Tháng 5 năm 1914, vị ân sư của ông là họa gia Hồ Thâm Viên mất. Trong giây phút sinh ly tử biệt não nề, ông chọn 20 họa phẩm đắc ý của ông – cũng là những tác phẩm mà thầy từng khen ngợi – đem đốt trước linh sàng, mượn làn hương bay khói tỏa minh chứng lòng tri ân thành kính bậc tôn sư đã nhiệt tâm giáo huấn tài bồi. Năm 1917, tức năm Dân Quốc thứ 6, giặc giã loạn lạc nổi lên. Ông đơn thân đi Bắc Kinh. Nhân dịp này ông kết giao với những danh họa gia như Trần Sư Tăng, Trần Bán Đinh, Vương Mộng Bạch. Lúc trở về quê, đau lòng trước cảnh quê hương điêu linh, cửa nhà bị thổ phỉ cướp sạch, ông di tản gia đình về chân núi Từ Kinh Sơn. Bấy giờ cha ông 81 tuổi, mẹ ông 75 tuổi. Nhưng ông chẳng ở chung với gia đình lâu, được vài tháng lại lên đường về Bắc Kinh. Năm sau vợ ông cũng theo về Bắc Kinh và chủ trương lấy vợ lẽ cho ông. Cô vợ lẽ mới 18 tuổi, tên Hồ Bảo Châu, người huyện Phong Đô tỉnh Tứ Xuyên, lúc đó Tề Bạch Thạch đã 57 tuổi. Năm 58 tuổi, ông kết giao với Từ Bi Hồng (chuyên vẽ ngựa- tôi cũng rất thích tranh ông. Hồi đó chưa có máy ảnh như bây giờ nhưng tranh ngựa của ông rất sống động ở mọi tư thế), Lâm Cầm Nam, Mai Lan Phương... Nhân dịp này, vâng lời khuyên của Trần Sư Tăng, ông cải biến họa pháp và tự sáng chế lối vẽ «Hồng Hoa Mặc Diệp» (Hoa đỏ, lá đen) rất độc đáo. Hai năm sau, 1922, ông lại vâng lời Trần Sư Tăng, cùng với họ Trần đi Paris tham gia cuộc triển lãm tranh. Trở về cố quốc, ông viết hồi ký «Tam Bách Thạch Ấn Tề Ký Sự» (Ký sự của gã họ Tề, biệt hiệu Tam Bách Thạch Ấn.). Năm 1927 danh tiếng Tề Bạch Thạch đã lẫy lừng chốn đế đô. Ông được mời giảng dạy tại Quốc Lập Bắc Kinh Nghệ Thuật Chuyên Môn Học Hiệu (năm 1928, trường đổi tên là Mỹ Thuật Học Viện.) Nhân dịp này ông xuất bản «Tá Sơn Ngâm Quán Thi Cảo Ấn Phổ». Tề Bạch Thạch nổi tiếng không kém đại danh họa tiền bối là Ngô Xương Thạc, bấy giờ người đời xưng tụng câu «Nam Ngô Bắc Tề» (phương Nam có Ngô Xương Thạc, phương Bắc có Tề Bạch Thạch). Nhưng họ Ngô tạ thế trong năm 1927 này, thọ 84 tuổi. Thành thử chỉ còn «Bắc Tề», bấy giờ 65 tuổi, lừng lẫy một phương. Ngày 16-9-1957, Tề Bạch Thạch đã ra đi mãi mãi, để lại nỗi thương tiếc ngậm ngùi trong lòng những người ái mộ bốn phương.Tranh của Tề Bạch Thạch đứng hàng thứ mấy? Bảng xếp hạng của Art Price năm 2009 kết hợp số liệu từ 6.000 nhà đấu giá trên toàn thế giới. Pablo Picasso và Andy Warhol với giá trị tranh tiêu thụ lên tới hơn 143 triệu bảng, tiếp tục đứng ở hai vị trí đầu bảng. Tề Bạch Thạch là đứng hàng thứ 3 của giới sưu tầm nghệ thuật. Vị trí của Tề Bạch Thạch năm nay dựa trên số tranh bán ra trị giá hơn 40 triệu bảng của ông. Theo Art Price, lý do Tề Bạch Thạch được ưa thích là bởi những tác phẩm của ông đều rất đặc trưng và rất ấn tượng. Ngoài ra, nguồn cung tranh Tề Bạch Thạch trên thị trường cũng ổn định do lúc sinh thời, ông sáng tác khá đều tay về cả chất lượng và số lượng. Năm ngoái, những nhà đấu giá hàng đầu thế giới tại New York và London đều trải qua một trong những thời khắc tồi tệ nhất trong lịch sử hoạt động của mình. Tuy nhiên, cùng lúc đó, thị trường nghệ thuật Trung Quốc nói chung và tranh Tề Bạch Thạch nói riêng lại khá sôi nổi, chủ yếu là do nguồn tài chính đổ vào của các nhà sưu tập địa phương. Patti Wong - chủ tịch của Sotheby tại Châu Á - cho biết, 20 năm trước, hầu như chỉ những người Mỹ từng làm việc tại Trung Quốc mới tìm mua tranh của Tề Bạch Thạch. Nhưng hiện tại, tranh của ông đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ bộ sưu tập lớn nào về nghệ thuật Trung Hoa. Trong vòng 2 thập kỷ, giá trị tranh của Tề Bạch Thạch tăng với tốc độ chóng mặt; đặc biệt năm 2009, lượng tiêu thụ tác phẩm của ông nhiều hơn năm 2008 tới 73%, trong đó chỉ riêng loạt tranh Hoa và Côn trùng đã được bán với giá kỷ lục 8,1 triệu bảng. Cho đến nay, tác phẩm có giá cao nhất của Tề Bạch Thạch là bức “Đào và Pháo hoa” được định giá 850.000 bảng tại Sotheby Hồng Kông năm 2007. Shelagh Vainker - một curator tại Bảo tàng Ashmolean (Oxford, Anh), nơi có bộ sưu tập lớn nhất tại Anh về tranh Trung Hoa thế kỷ XX - cho biết, Tề Bạch Thạch thường vẽ với một thủ pháp rất nhẹ nhàng, bay bướm nhưng không vì thế mà tranh của ông thiếu chiều sâu. “Nhiều nhà chuyên môn tại Trung Quốc đều công nhận Tề là họa sĩ người Hoa số một trong thế kỷ XX”, Vainker nói. Ngay cả Picasso cũng đã gọi Tề Bạch Thạch “họa sĩ phương Đông vĩ đại nhất”; thậm chí từng thổ lộ rằng mình “không dám” đến Trung Quốc vì “sợ” sẽ phải giáp mặt với người họa sĩ tài hoa.Ghi chú: Tôi viết bài này (4.10.2010) xuất phát từ một câu hỏi: Những lúc mệt mỏi nhất anh thường làm gì?
    Vĩnh Bảo sưu tầm 17/12.2013