Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

Ẩm thực theo ngũ hành giúp Nhật Bản trở thành 1 trong 5 dân tộc có tuổi thọ cao nhất thế giới

Ẩm thực theo ngũ hành giúp Nhật Bản trở thành 1 trong 5 dân tộc có tuổi thọ cao nhất thế giới

Có tuổi thọ trung bình là 83 tuổi, lâu nay người Nhật vẫn là một trong những dân tộc sống thọ nhất thế giới. Đảo Okinawa, vốn thường được gọi là ‘vùng đất của những người bất tử’, lâu nay vẫn là một trung tâm nghiên cứu về tuổi thọ toàn cầu. Hơn nữa, Nhật là một dân tộc có những món ăn đặc sắc nội tiếng, điều này hẳn là có mối tương quan chặt chẽ.
Chúng ta đã biết dưỡng sinh quan “nhất vật toàn thể” của Nhật Bản, mục đích là dựa vào ẩm thực thường ngày để đạt đến cơ thể âm dương cân bằng. Có người có thể hỏi, trong cuộc sống hiện thực, suy cho cùng không cách nào làm được việc là mỗi loại thực phẩm đều có thể ăn hết toàn bộ, ví như cả con cá to. Hoặc tuy trứng gà và gạo lứt có thể bảo đảm cân bằng dinh dưỡng, nhưng mà suốt ngày ăn như vậy sẽ không tránh khỏi đơn điệu.
Vậy thì người Nhật giải quyết vấn đề này như thế nào? Đây cũng là lúc đề cập đến phương pháp nấu ăn ngũ sắc ngũ vị theo ngũ hành của họ.
Người Nhật không chỉ nổi tiếng về tuổi thọ mà nổi tiếng cả về nghệ thuật ẩm thực. (Ảnh: dkn.tv)
Tại sao Nhật Bản chú trọng dưỡng sinh bằng ẩm thực?
Phương pháp nấu ăn Nhật Bản chú trọng phương pháp nấu nướng phối hợp ngũ sắc ngũ vị. Rất nhiều người tưởng là điều này chỉ để phối màu cho đẹp mắt và điều hòa hương vị. Thực ra nguyên nhân thực sự chính là ở điều chỉnh thân thể, cũng chính là lấy ngũ sắc và ngũ vị để đối ứng ngũ hành, điều chỉnh ngũ tạng, từ đó duy trì cân bằng âm dương cho cơ thể. Đây là phương pháp cân bằng âm dương đạt đến dưỡng sinh khỏe mạnh.
Chúng ta biết, Trung Quốc cổ đại, Trung y rất phát triển, châm cứu và thảo dược chữa bệnh có lịch sử từ lâu đời, hệ thống toàn diện và hoàn chỉnh, có nhiều Đại phu (thầy thuốc) kiệt xuất, mỗi người đều hiển lộ một thần thông, xuất hiện nhiều trường phái, thần y thần thuật tại các triều các đại cũng không hiếm gặp. Vì vậy, cuộc sống sinh hoạt của người dân trên vùng đất này tự nhiên cũng thấy an tâm.
Theo văn hóa truyền thống, ẩm thực và trị bệnh đều vận dụng theo học thuyết ngũ hành. (Ảnh: sonviva)
Nhưng tình hình trong nước của Nhật Bản lại không giống vậy. Trước khi Tây y truyền nhập vào Nhật Bản, Đại phu hiểu được trị bệnh bằng Trung y rất ít, Nhật Bản không nói đến “thượng y”, vô cùng hiếm gặp, mà ngay cả “trung y” (thầy thuốc bậc trung) không tùy tiện dùng thuốc, tương đối thận trọng dùng thuốc; đại đa số là “hạ y”, lạm dụng khai thuốc, loạn dùng thuốc, làm cho thân thể do uống thuốc mà bị thương tổn. Như Tôn Tư Mạc trong “Thiên kim yếu phương” nói: Cổ nhân giỏi về y thuật, thượng y trị bệnh chưa tới, trung y trị bệnh sắp phát, hạ y trị bệnh đã rồi”.
Nhật Bản tuy là trị bệnh không phải sở trường, nhưng từ đó trong ẩm thực cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, đã kế thừa phép dưỡng sinh của Trung y cổ đại, chú trọng âm dương ngũ hành, biểu hiện cụ thể của nó chính là “Nhất vật toàn thể” và phương pháp nấu ăn phối hợp ngũ sắc ngũ vị.
Giống với các hiện tượng văn hóa khác của Nhật Bản, bộ phương pháp nấu ăn này, nguyên lai từ Trung Quốc cổ đại, theo đà Y thư bản thảo học… truyền nhập vào Nhật Bản, nhưng thực sự phổ cập dân gian, vẫn là thời đại Edo trước khi văn hóa bình dân phồn thịnh. Bộ phương pháp nấu nướng này được hệ thống hóa, lưu truyền cho đến nay.
ẩm thực văn hóa Nhật Bản. (Ảnh: dreamstime.com)
Quan hệ giữa ngũ hành và ngũ tạng
Học thuyết ngũ hành là vũ trụ quan của Trung Quốc cổ đại, bởi vì vạn sự vạn vật trước tiên phân thành 2 nhân tố lớn là Âm và Dương. Do đó Trung y cho rằng, 2 nhân tố lớn cấu thành nhân thể này nếu mà mất cân bằng, thì sẽ làm cho chức năng của ngũ tạng và vận hành của kinh lạc xuất hiện hỗn loạn, cơ chế chỉnh thể của cơ thể không thể vận chuyển bình thường, tất nhiên phải sinh bệnh rồi. Nếu không nhanh chóng phục hồi cân bằng, thì có thể sẽ ngày càng nghiêm trọng, cuối cùng âm dương phân ly, điều này có nghĩa là sinh mệnh kết thúc rồi.
Do đó, bất luận là châm cứu huyệt vị để điều chỉnh kinh lạc, hay là dùng thuốc uống hoặc âm nhạc điều dưỡng, mục đích đều là hồi phục cơ chế của cơ thể về bình thường.
Nhưng mà chỉ hiểu được lý âm dương, làm cho mọi người có chút không biết bắt đầu từ đâu, thế là Đế vương thượng cổ lại truyền xuất ra phương pháp trị bệnh ngũ hành. Dưới âm dương, lại phân nhỏ ra ngũ hành, ngũ hành chính là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, 5 nhân tố lớn cấu thành vũ trụ, vạn sự vạn vật.
Năm hành này đối ứng ngũ tạng – Phế, Can, Thận, Tâm, Tỳ, liên đới cả toàn bộ hệ thống. Nếu một tạng khí trong 5 tạng bị thương tổn, thì có thể sẽ làm cho một nhân tố trong ngũ hành suy nhược hoặc xuất hiện bất thường. Điều này làm cho sự cân bằng của ngũ hành tương sinh tương khắc bị phá vỡ, cả bộ hệ thống cơ thể sẽ rơi vào trạng thái hỗn loạn, do đó ngũ hành liên quan đến âm dương cân bằng.
Quan hệ ngũ hành với tạng phủ, sắc vị… (Ảnh: Ydvn.net)
Đại phu có thể căn cứ các mạch tượng khác nhau mà phán đoán tạng khí nào bị thương tổn, thông qua đường kinh lạc nào dùng thuốc hay kim châm cứu, để phù trì (giúp đỡ nâng đỡ) cơ quan tạng bị thương tổn, hoặc đồng thời khắc chế tạng khí quá cường (thịnh), hồi phục lại cân bằng.
Vì để đạt được mục đích này, Đại phu cần phải làm sao để phương pháp chẩn đoán phải chuẩn xác, và sau khi chẩn đoán xong, làm sao lợi dụng tính năng khác nhau của dược vật và tác dụng khác nhau của huyệt vị, đạt được mục đích điều chỉnh ngũ tạng hướng về thế cân bằng, chính là một việc không hề dễ dàng.
Ngoài việc phải nắm rõ toàn thể kinh lạc, huyệt vị, cho đến tính năng của thuốc Trung dược, còn phải nắm được thói quen sinh hoạt của bệnh nhân, đối ứng bốn mùa, đối ứng tính chất khác nhau của nam – nữ, người già – trẻ em, cẩn thận trị liệu. Kinh nghiệm và yêu cầu y thuật là vô cùng cao. Người bình thường rất khó nắm bắt. Thế là Nhật Bản liền áp dụng một phương pháp dưỡng sinh đơn giản nhất.
Ngũ sắc ngũ vị đối ứng ngũ hành điều chỉnh ngũ tạng
Nhật Bản thời cổ đại, thường người dân không phải lúc nào cũng tìm được thầy được thuốc để trị bệnh, vậy nên tuân thủ theo chỉ đạo của dưỡng sinh. Để phòng bệnh dưỡng sinh chính là duy trì cân bằng của ngũ hành, chú trọng khi nấu nướng cần chú ý ngũ sắc ngũ vị phối hợp hợp lý.
Ngũ sắc, ngũ vị có trong ẩm thực Nhật Bản. (Ảnh: epochtimes.com)
Ngũ sắc chính là trắng, xanh, đen, đỏ, vàng. Ngũ vị là cay, chua, mặn, đắng, ngọt. Lần lượt đối ứng kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cũng chính là 5 tạng phế, can, thận, tâm, tỳ. Mỗi ngày trong ăn uống ẩm thực, ăn đầy đủ ngũ sắc và ngũ vị này, thì có thể giúp cơ thể duy trì trạng thái cân bằng khỏe mạnh.
Do đó mọi người chú ý quan sát sẽ thấy, màu sắc thức ăn của Nhật Bản phối hợp hết sức mỹ quan đẹp mắt, còn sẵn có phong vị tự nhiên theo mùa. Đặc biệt đến ngày Tết nấu nướng, càng rõ ràng, chúng ta xem trong hộp cơm Nhật Bản thích phối hợp đậu đen, đậu đỏ, đậu tương, thích ngũ cốc hoa màu ngũ sắc đều phải đầy đủ, đều là nguyên nhân này. Màu sắc đen trắng, thường các dân tộc khác không chú trọng lắm, nhưng Nhật Bản lại vô cùng chú trọng, đối với dưỡng phế và thận rất dụng tâm.
Lại xem ngũ vị, mặn, ngọt, chua, mọi người có thể cảm thấy rất quen thuộc, nhưng mà vị cay và vị đắng, thể hiện ở đâu? Rất đơn giản, thể hiện trong các gia vị, dược vị mà họ thường dùng như gừng, hành, củ cải ngựa, củ cải xay, bưởi chanh… Còn có “Thất vị hương” (shichimi togarashi: Gia vị nêm tổng hợp gồm 7 vị khác nhau – hạt tiêu, ớt đỏ, hạt gai, vỏ quýt khô, rong biển, vừng đen và vừng trắng, hạt anh túc) tùy thời  lúc nào cũng có thể rắc lên món ăn.
Đậu phụ ăn sống phối với bột gừng hành, tính chất hàn lạnh của đậu tương do đó mà được trung hòa, không tổn thương cơ thể. Cá và thịt, phối hợp với củ cải xay và chanh để giúp tiêu hóa khử mùi hôi tanh và phân giải chất béo, phối với củ cải ngựa để khử khuẩn, đều là phương pháp ẩm thực âm dương cân bằng và vô cùng lành mạnh.
Sự kết hợp hài hòa sắc, vị trong món ăn giúp tái lập quân bình cho cơ thể. (Ảnh: life-rhythm.net)
Nói về vị đắng, là vị mà trong ăn uống khó tiếp xúc nhất, mọi người ăn quá ít, tương ứng với người hiện đại chịu khổ quá ít, đồ ngọt lại ăn quá nhiều, do đó rất dễ khiến cơ năng tạng thận bị yếu đi (vị ngọt thuộc thổ khắc thận thủy), làm xương răng có thể không chắc chắn, sức chịu đựng tâm lý cũng yếu đi.
Rất may là Nhật Bản để lại tập quán uống trà truyền thống, mỗi ngày sau ăn cơm uống trà, thế là vị đắng được thụ nạp thêm để cân bằng ngũ hành. Người Tây phương uống cà phê, nạp vào cũng là vị đắng, đều có đạo lý khác trong đó. Nhưng mà vị gì thì cũng không được thái quá, cũng như không được ít quá. Lấy “trung dung” (quân bình) mà truyền thống đề xướng làm chuẩn, bảo trì cân bằng ngũ hành tương sinh tương khắc của cơ thể.
Nhật Bản ăn dưa chuột cả vỏ, như vậy sẽ không tích thực thiêu đốt tâm; ép nước cam, nước táo ép cả vỏ và hạt, ép toàn bộ nguyên quả; ăn cá thích ăn cả con cá nhỏ, còn thích giã xay cả con sau đó làm thành bánh cá (món Oden mùa lạnh là món ăn bánh cá phối rau củ, đậu phụ). Chú trọng nấu ăn dùng trứng, đều thể hiện dưỡng sinh quan “nhất vật toàn thể”, mà ngũ sắc ngũ vị lại vận dụng lý ngũ hành.
Dân tộc Nhật Bản không có sở trường trị bệnh bằng Trung y, nhưng trong ẩm thực lại vận dụng lý luận Trung y căn bản là âm dương ngũ hành cân bằng một cách có trí huệ, giúp cho người dân của họ đời đời thọ ích, ăn uống mà đạt được khỏe mạnh một cách không ý thức, ăn uống hợp lý trường thọ.
Theo epochtimes.comLiên Hoa
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/3/2018

Tên thuốc Đông y: Mỗi vị đều là tinh hoa trí tuệ của cổ nhân

Tên thuốc Đông y: Mỗi vị đều là tinh hoa trí tuệ của cổ nhân

Ích mẫu, Địa long, Sa sâm, Đỗ trọng… không chỉ đơn giản là tên gọi, mà sau đó là những lịch sử truyền thuyết, nguồn gốc xa xưa, xuất xứ và công dụng của từng vị, từng vị. Nắm được tên gọi của thuốc giống như nắm được tinh hoa và ý chỉ của người xưa
Sự khác biệt Đông Tây y nằm ngay trong cách đặt tên cho các vị thuốc. Nhiều tên đều là miêu tả hình thái vốn có của thuốc, gắn liền với vùng miền xuất xứ, khí hậu và các yếu tố về thổ nhưỡng…
Tên gọi thú vị của các loại thuốc Đông y
Tên gọi của các loại thuốc vừa sinh động hình tượng lại vừa chính xác thỏa đáng, chắt lọc tinh hoa dễ nhớ lại vừa hàm chứa ngụ ý sâu xa phong phú thể hiện sự ý nhị độc đáo của văn hóa Trung Hoa truyền thống.
Đỗ Trọng: Tưởng nhớ một lão nông có tên gọi Đỗ Trọng.
(Ảnh: thucvatduoc.com)
Tương truyền ở Tứ Xuyên có một lão nông tên gọi Đỗ Trọng, ông bị đau lưng kinh niên khi làm đồng trở về nhà thường hay có thói quen đứng dựa lưng vào một cái cây to trước cổng nhà để nghỉ ngơi. Lâu dần bệnh đau lưng của ông không chữa tự nhiên mà khỏi, sau khi quan sát mọi người phát hiện hóa ra trong quá trình hằng ngày dựa lưng vào cái cây đó ông đã mài mòn đi vỏ ngoài của thân cây và để lộ ra thân cây màu như chỉ bạc, chính phần vỏ cây này đã phát huy tác dụng giúp ông khỏi bệnh.
Sau này khi phát hiện tác dụng điều trị các bệnh phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối của loại dược liệu quan trọng này nên lấy tên ông để đặt tên cho thuốc và nó được lưu truyền cho tới ngày nay.
Lưu Kỳ Nô: Tên cúng cơm của Tướng Quân Lưu Dụ, tức Vua Tống Cao Tổ
Lưu kỳ Nô. (Ảnh: commons.wikimedia.org)
Trong một cuộc hành quân, Lưu Dụ là người đầu tiên đã phát hiện ra một loại thảo dược nhỏ vô danh có tác dụng làm thuốc tan ứ huyết, thông kinh, liền vết thương, xẹp chỗ sưng mưng mủ, làm hẹp miệng vết thương, vết bỏng, vết thương bị đánh đập, bị gươm dao đâm chém vô cùng hiệu quả nên lấy tên “Kỳ Nô” là tên cúng cơm của ông để đặt tên cho loại thuốc này.
Đông trùng hạ thảo: Cặp đôi trùng – thảo tuyệt vời
(Ảnh: Zing.vn)
Đây được xem là tên thuốc có ý nghĩa nhất trong những tên gọi các loại thuốc Đông y, khi thấy vào mùa hè nấm Ophiocordyceps sinensis mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn. Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bồi bổ hết sức quý giá, có tác dụng tích cực với các bệnh như thận hư, liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối, ho hen do phế hư hoặc cả phế, thận đều hư, và có tác dụng tốt đối với trẻ em chậm lớn.
Tinh hoa Đông y từ trong tên thuốc
Đông y xây dựng trên nền tảng ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tên gọi của nhiều thuốc cũng xoay vần theo đó mà ra.
Ví như Âm địa quyết (cây dương xỉ), dương khởi thạch, kim thạch hộc, mộc thông, thủy ngân, hỏa ma nhân, thổ phục linh…
Lại nữa, y học cổ truyền cho rằng: Vị chua thuộc mộc nhập vào gan, đắng thuộc hỏa nhập vào tâm, ngọt thuộc thổ nhập vào tì, cay thuộc kim nhập vào phế, mặn thuộc thủy nhập vào thận. Nên trong Đông y có Toan táo nhân, khổ tham, điềm thạch liên, lạt liễu, hàm thu thạch, và ngũ vị câu toàn của “ngũ vị tử”.
Không chỉ vậy, màu sắc cũng có liên quan tới tạng phủ trong cơ thể người: màu xanh thuộc mộc nhập vào gan, màu đỏ thuộc hỏa nhập vào tâm, màu vàng thuộc thổ nhập vào tì, màu trắng thuộc kim nhập vào phế, màu đen thuộc thủy nhập vào thận, đó là ý nghĩa của 5 loại màu sắc và mối liên quan tới tạng phủ của thân thể.
Ảnh: Vforum.vn
Các loại thuốc Đông y lấy sắc để đặt tên có rất nhiều ví dụ như: thanh mộc hương, chu sa, hoàng biên, bạch truật, tạo giác. Ngoài ra còn có tên các loại vật phẩm như đậu xanh, tử hà xa…
Không những vậy, tên của 12 con giáp cũng được đặt đối ứng với tên các loại thuốc, ví dụ: Thừ niêm tử, ngưu tất, hổ trượng, thỏ ty tử, long cốt, xà sàng tử, mã bột, dương hoắc, hầu táo, kê huyết đằng, cẩu tích, trư nha tạo.
Tên một số loại thuốc lại có liên quan tới phương hướng trời đấtmùa vụ, ví dụ như Thiên nhật hồng, nguyệt quý hoa, xuân sa nhân, hạ khô thảo, thu quy tử, đông tang diệp, đông bạch thược, tây hồng hoa, nam sa sâm, bắc sa sâm…
Rồi cũng có loại thuốc lại được đặt dựa vào tính chất dược lý của chúng, chỉ cần thông qua tên gọi có thể biết được thuốc đó có tác dụng gì.
Ví dụ “Ích mẫu thảo” là tên loại thuốc dùng trong phụ khoa; “địa long” thực tế là con giun đất; “nhân trung bạch” chính là cặn của nước tiểu của người để lâu trong chậu, nước bốc hơi đi còn lại cặn đọng thành bánh, dòn và khai cũng có tác dụng làm thuốc; “Phục long can” là đất lấy ở bếp do đun nhiều bị nung khô cứng mà có, màu đất phía ngoài đỏ, trong vàng hay tía.
Ích mẫu thảo. (Ảnh: tapchidongy.vn)
“Bách thảo sương” là muội đen cạo ở đáy nồi. Muội nồi do rơm rạ, các cây cỏ đốt cháy thành khói lâu ngày hợp thành.
Các thầy thuốc Đông y khi kê đơn bốc thuốc cũng thường coi trọng nơi sản xuất của thuốc để thuốc có công dụng tốt nhất.
Ví dụ “Ngô thù du” sản xuất ở Giang Tô là có tác dụng tốt nhất. “xuyên liên” tức “hoàng liên” được sản xuất ở Tứ Xuyên là có công hiệu tốt nhất; thực phẩm đại bổ “A giao” phải chọn loại được sản xuất ở huyện Đông A tỉnh Sơn Đông; “Đảng sâm” chọn loại được sản xuất ở khu Thượng Đảng Sơn Tây; còn “Đương quy” thì phải chọn loại được sản xuất ở huyện Định Tây Mân tỉnh Cam Túc.
Thông qua tên gọi nho nhã ý nghĩa của các loại thuốc đông y đủ thấy được trí tuệ sáng láng của cổ nhân xưa, người đời đến nay vẫn khâm phục bội phần.
Kiên Định
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/3/2018

14 CÁCH BẤM HUYỆT ĐƠN GIẢN TẠI NHÀ TẠM BIỆT CÁC CƠN ĐAU NHỨC CHỈ SAU 1 PHÚT

14 CÁCH BẤM HUYỆT

ĐƠN GIẢN TẠI NHÀ

TẠM BIỆT CÁC CƠN ĐAU NHỨC CHỈ SAU 1 PHÚT

Liệu pháp bấm huyệt đã được sử dụng ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay, và lựa chọn đúng điểm để bấm có thể giúp cơ thể giảm đau hoặc cải thiện tình trạng mất cân bằng tinh thần, cũng như nâng cao sức khỏe.
Theo Bright Side, có một vài huyệt vị phổ biến mà bạn có thể thực hiện thao tác bấm huyệt để xử lý các cơn đau nhức thường gặp hàng ngày.
1/. Huyệt tam cúc : Vị trí : huyệt nằm dưới khoảng 4cm và phía ngoài đầu gối. Tác dụng : Nó có thể giúp cải thiện hoạt động của hệ tiêu hóa và giúp điều trị các chứng đau dạ dày , nôn mửa và buồn nôn. Cách bấm : Bạn hãy gập chân và bấm vào huyệt trong một phút.











2/. Huyệt con mắt thứ ba :Vị trí : Huyệt con mắt thứ ba có thể dễ dàng xác định giữa lông mày của bạn. Tác dụng : Tác động đến huyệt vị này giúp bạn điều trị nhức đầu, trầm cảm, mệt mỏi mãn tính, và căng thẳng. Cách bấm : Dùng đầu ngón tay cái ấn huyệt trong một phút.
3/. Huyệt nội quan hay “cánh cổng phía trong” :Vị trí . Điểm áp lực nằm trên cẳng tay bên trong, vị trí cách khoảng 3 ngón tay từ cổ tay, ngay giữa hai gân. Tác dụng . Nó giúp giảm bớt buồn nôn, nôn mửa và say tàu xe. Cách bấm : Ấn một lực lên điểm này và massage trong 4-5 giây.
4/. Huyệt Đồng tử lieu : Vị trí . Huyệt đồng tử liêu nằm ở góc mắt. Tác dụng : có thể giúp giảm đau nửa đầu và nhức mỏi mắt. Cách bấm : Day chậm điểm này bằng đầu ngón tay của bạn cho đến khi bạn cảm thấy nhẹ nhõm.
5/. Huyệt Thái xung : Vị trí : Huyệt thái xung nằm giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai, lùi xuống dưới khoảng 4cm. Công dụng : Đó là huyệt vị rất phổ biến để làm giảm đau đầu, mỏi mắt và chuột rút, và cũng có thể giúp cải thiện khả năng tập trung. Cách bấm : Ấn huyệt và giữ trong một phút.
6/. Huyệt thiên chung hay “biển yên tĩnh” : Vị trí :Huyệt thiên trung có thể dễ dàng xác định ở trung tâm ngực. Tác dụng : rất có ích lợi trong việc phục hồi sức khỏe tinh thần và tâm lý, giúp an định và giải tỏa những cơn lo lắng, bồn chồn, trầm cảm, kích động và những triệu chứng bất bình thường khác về tâm lý. Cách bấm : Ấn vào đó và xoa bóp trong một phút.
7/. Huyệt hợp cốc : Vị trí : Huyệt hợp cốc nằm giữa ngón cái và ngón trỏ. Tác dụng :rất hữu ích trong giảm đau răng, đau cổ và vai, và nhức đầu. Cách bấm: Bấm và giữ huyệt hoặc xoa bóp trong một phút.
8/. Huyệt Dũng tuyền : Vị trí : Huyệt dũng tuyền nằm trên gan bàn chân giữa ngón thứ hai và thứ ba. Tác dụng : Có tác dụng giảm nhức đầu, buồn nôn, và ngất xỉu. Cách bấm : Ấn lên điểm này dưới áp lực bằng đầu ngón tay và giữ trong một phút.
9/. Huyệt phong trì : Vị trí : Điểm này nằm trên rãnh giao tiếp của bắp thịt cổ và phần sọ. Tác dụng : Nó có thể giúp điều trị nhức đầu, đau nửa đầu và chóng mặt. Cách bấm : Ấn điểm này và giữ trong một phút.
10/. Huyệt phong phủ : Vị trí : Huyệt phong phủ nằm ở giữa gáy, dưới sọ. Tác dụng : Bấm huyệt phong phủ giúp làm giảm đau đầu, đau họng, và chảy máu cam. Cách bấm : Tác động một lực bằng đầu ngón tay của bạn và giữ trong một đến hai phút.
11/. Huyệt ở lưng dưới : Vị trí : Điểm này nằm trên đường hông, cách khoảng 2 – 4 ngón tay ở mỗi bên tính từ xương sống. Tác dụng : Nó giúp giảm đau bụng và khó tiêu. Cách bấm : Tác động lên mỗi điểm trong một phút.
12/. Huyệt Triple Heater 6 : Vị trí : Điểm này nằm trên cổ tay khoảng 8cm. Tác dụng :có thể giúp giảm bớt trướng bụng. Cách bấm : Bấm huyệt trong một phút, đầu tiên trên một cánh tay, sau đó chuyển sang tay bên kia, cho đến khi bạn cảm thấy nhẹ nhõm.
13/. Huyệt Côn Lôn : Vị trí : Tại giao điểm của bờ ngoài gót chân và đường kéo từ nơi cao nhất của mắt cá chân, chỗ lõm giữa khe gân cơ mác bên ngắn và gân cơ mác bên dài, trước gân gót chân, ở sau đầu dưới xương chầy. Tác dụng : hữu ích trong điều trị đau cổ, vai và đau lưng. Cách bấm : Bấm và day huyệt trong một phút.
14/. Huyệt khúc trì : Vị trí : Co khuỷu tay vào ngực, huyệt ở đầu lằn chỉ nếp gấp khuỷu, nơi bám của cơ ngửa dài, cơ quay 1, cơ ngửa ngắn khớp khủyu. Tác dụng :giúp giảm bớt cảm lạnh và sốt cao, đau họng. Nó cũng giúp cải thiện chức năng của hệ thống miễn dịch. Cách bấm : Gập khuỷu tay, ấn điểm này với ngón tay cái của bạn và massage hoặc giữ trong một phút. Thay đổi cánh tay và lặp lại. (theo Minh Khuê)
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/3/2018

12 LOÀI HOA TƯỢNG TRƯNG CHO THÁNG SINH TIẾT LỘ VỀ CON NGƯỜI CỦA BẠN ?

12 LOÀI HOA

TƯỢNG TRƯNG CHO THÁNG SINH

TIẾT LỘ VỀ CON NGƯỜI CỦA BẠN ?

Mỗi loài hoa đều biểu trưng cho từng tháng, thể hiện phần nào tính cách của con người sinh ra trong tháng đó. Hoa thủy tiên luôn mang lại may mắn cho người sinh tháng 3, còn người sinh tháng 4 tinh khiết và ngây thơ như những những bông hoa cúc.
Tháng 1 – Hoa cẩm chướng : Hoa cẩm chướng có nhiều màu sắc, phổ biến nhất là màu hồng. Mỗi màu đều có ý nghĩa riêng song những đóa hoa cẩm chướng thường tượng trưng cho tình yêu, tình cảm và sự quyến rũ.
Loài hoa đại diện của tháng 1 nói cho mọi người biết bạn sống trung thành, tình cảm và khiêm tốn. Trong cuộc sống, gia đình và tình bạn là những điều bạn quan tâm hơn cả.
Tháng 2 – Violet : Violet là loài hoa tượng trưng cho sự thuần khiết, trung thành, thông minh và khiêm tốn. Những người sinh trong tháng này có cảm nhận sâu sắc, trực giác nhạy bén và khôn ngoan hơn người cùng lứa tuổi. Vì vậy, họ thường trở thành “chuyên gia tư vấn” cho người khác về bất kỳ vấn đề gì. Ngoài ra, những người sinh tháng 2 có khả năng che giấu cảm xúc khá tốt và chỉ những người thân thiết mới hiểu được họ.
Tháng 3 – Hoa thủy tiên : Hoa thủy tiên là loài hoa mang lại may mắn. Người dân xứ Wales – Vương quốc Anh tương truyền rằng, ai đó nhìn thấy một đóa hoa trong dịp đầu năm sẽ nhận được may mắn trong suốt 12 tháng. Người sinh ra trong tháng 3 có trí sáng tạo hơn người. Họ sống khá bình tĩnh, suy nghĩ mọi chuyện theo chiều hướng đơn giản nên dễ thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào.
Tháng 4 – Hoa cúc : Sự tinh khiết và ngây thơ tượng trưng cho những bông hoa cúc dại. Vì vậy, nhiều bậc phụ huynh ở các nước phương Tây thường lấy tên loài hoa này để đặt cho con gái của họ. Những người sinh ra trong tháng 4 luôn sống trong sự vui vẻ, thuần khiết nhưng lại có chút ưa thích mạo hiểm. Ở họ còn có sự lạc quan đem lại nguồn cảm hứng sống cho những người khác. Vì vậy, những người xung quanh không bao giờ cảm thấy buồn tẻ khi bên cạnh họ.
Tháng 5 – Hoa Linh lan : Hoa Linh lan tượng trưng cho sự ngọt ngào, khiêm tốn và hạnh phúc. Các cô gái sinh trong tháng 5 thường khiến người xung quanh cảm thấy được sống trong sự an toàn và yêu thương. Họ cũng là những người đáng tin cậy, sống đầy tham vọng và có kỹ năng giải quyết vấn đề sâu sắc.
Tháng 6 – Hoa hồng : Hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, niềm đam mê và sự riêng tư. Song mỗi màu sắc lại có ý nghĩa riêng. Ví dụ, màu trắng biểu tượng của sự trong trắng, còn màu tím tượng trưng cho tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Những người sinh ra trong tháng 6 cũng giống như loài hoa này, yêu thích sự lãng mạn, mong muốn tìm được mối quan hệ sâu sắc. Họ tinh tế và coi trọng nét truyền thống nhưng cũng dễ dàng điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh. Ở họ còn có sự tự tin và mạnh mẽ như đóa hoa hồng có gai, kể cả khi bị tổn thương cũng cố gắng để che giấu đi.
Tháng 7 – Hoa Chi thúy tước : Hoa Chi thúy tước mang ý nghĩa tích cực, cởi mở và cơ hội mới. Vì vậy, người sinh ra trong tháng 7 có một tầm nhìn xa trông rộng và đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội mới và làm bất cứ điều gì để đạt được thành công. Họ cũng là một người dí dỏm, biết cách nói chuyện, người xung quanh cảm thấy khá thoải mái khi bên cạnh họ.
Tháng 8 – Hoa Lay ơn : Hoa Lay ơn trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “thanh kiếm”, thể hiện sức mạnh, sự chân thành, sự tận tâm và đạo đức. Những người sinh trong tháng 8 cũng có nét tính cách tương tự loài hoa này. Họ có tố chất lãnh đạo tự nhiên và được mọi người rất tôn trọng. Họ thông minh, quyến rũ, luôn cố gắng sống để hoàn thành những mục tiêu đã đặt ra.
Tháng 9 – Hoa Cúc tây : Theo thần thoại Hy Lạp, hoa Cúc tây được tạo nên từ những giọt nước mắt của nữ thần Astraea. Loài hoa của tháng 9 biểu tượng cho sự kiên nhẫn và ảm đạm. Bên cạnh đó, hoa Cúc tây màu tím còn là biểu tượng của sự khôn ngoan.
Tháng 10 – Hoa Cúc xuxi : Hoa Cúc xuxi thường làm nổi bật cho những ngày mùa thu u ám, ảm đạm. Hoa Cúc xuxi còn được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh tật. Bên cạnh đó, loài hoa này còn tượng trưng cho sự ấm áp, bảo vệ. Giống như những người sinh vào tháng 10 luôn tạo cảm giác ấm áp cho người xung quanh, thân thiện, sống hòa hợp.
Tháng 11 – Hoa cúc : Hoa cúc là biểu tượng của sự vui vẻ, bình tĩnh và lạc quan. Theo thuyết Phong thủy, những bông hoa này mang lại tiếng cười và hạnh phúc. Cũng giống như loài hoa này, những người sinh vào tháng 11 có một vẻ ngoài khá mạnh mẽ và cứng rắn, nhưng ẩn sâu bên trong là tâm hồn thuần khiết, nhẹ nhàng.
Tháng 12 – Hoa mộc lan :Hoa mộc lan trắng là loài hoa của tháng 12, biểu tượng cho sự hy vọng và giàu có. Cho nên người sinh tháng 12 rất tự tin và quyết đoán. Họ có sự ảnh hưởng lớn đối với người khác. Thay vì chờ đợi may mắn tìm đến, họ thường tự tìm cách tạo ra chúng. (theo Ngọc Bích)
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/3/2018

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2018

Tôm có nhiều giá trị dinh dưỡng, phòng ngừa bệnh tim mạch

Tôm có nhiều giá trị dinh dưỡng, phòng ngừa bệnh tim mạch

Tôm là loại thực phẩm rất quen thuộc với chúng ta, trong thịt tôm chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, có tác dụng bổ sung protein, bảo vệ huyết quản và phòng ngừa bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, v.v.
(Ảnh: Pixabay)

Giá trị dinh dưỡng cao

Tôm không chỉ có vị tươi ngon, mà giá trị dinh dưỡng cũng rất cao, có tác dụng tốt cho việc bảo vệ tim mạch. Tôm chứa nhiều chất dinh dưỡng như protein, chất béo, cacbohydrat, axit glutamic, đường, các loại vitamin, niacin, các loại muối vô cơ như sắt, caxi, phốt pho, trong đó hàm lượng axit glutamic là cao nhất.

Astaxanthin trong tôm là một trong những chất chống ô xi hóa tự nhiên mạnh nhất

Trong tôm có chứa astaxanthin, đây là một trong những chất chống ô xi hóa tự nhiên mạnh nhất.
Astaxanthin giúp nâng cao khả năng miễn dịch, phòng chống bệnh mạn tính về tim mạch, tiểu đường, u bướu.

Phòng chống các bệnh về tim mạch

Trong tôm chứa nhiều magie, có tác dụng điều tiết quan trọng đối với tim, có tác dụng bảo vệ rất tốt đối với hệ tim mạch, phòng chống cao huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh mạch vành tim, nhồi máu cơ tim. Đồng thời astaxanthin là một loại beta-carotene duy nhất có thể đi qua hàng rào máu não, giúp bảo vệ nơron thần kinh và làm chậm quá trình thoái hóa các tế bào não.
Vỏ tôm chứa nhiều astaxanthin nhất, nhưng thường bị bỏ đi. Nếu cảm thấy vỏ tôm khó ăn, có thể xay nhỏ, cũng có thể bóc ra để nấu canh, nước canh cũng sẽ có vị rất ngon.
Nhiều nghiên cứu cho thấy: Astaxanthin có tác dụng xóa bỏ gốc tự do gấp 6000 lần so với vitamin C, gấp 800 lần so với coenzyme Q10, gấp 3100 lần so với nattokinase, gấp 700 lần so với anthocyanidins.

Tôm thích hợp cho các độ tuổi và phụ nữ mang thai

Tôm là loại thực phẩm bổ dưỡng từ trẻ nhỏ cho đến người lớn tuổi, phụ nữ mang thai đều có thể ăn được (Ảnh: Pixabay)
Đông y cho rằng, tẩm bổ bằng ăn uống là phương thức tẩm bổ an toàn không thể thay thế được. Tôm là thực phẩm rất phổ biến, có thể nói là từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi, phụ nữ mang thai đều thích hợp sử dụng để tẩm bổ.
Tôm còn có thể giúp tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, bổ thận, chống lão hóa; có tác dụng cải thiện triệu chứng suy nhược thận, sợ lạnh, người mệt mỏi, lưng và đầu gối đau mỏi. Tôm còn có tác dụng giúp thông sữa, đồng thời chứa nhiều phốt pho, canxi, có tác dụng rất tốt đối với trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.

Cách ăn tôm

So với cá, thịt gia súc, tôm chứa ít chất béo, giúp giảm cholesterol, còn chứa nhiều khoáng chất kali, iot, magie, phốt pho và vitamin A.
Thịt tôm mềm, dễ tiêu hóa, là thực phẩm rất tốt đối với người hư nhược cơ thể và sau khi bị ốm dậy cần điều dưỡng.
1. Tôm luộc
Phương pháp ăn tôm tốt nhất chính là luộc, bởi vì trong thịt tôm có rất nhiều chất dinh dưỡng tương đối yếu, không chịu được nhiệt độ cao. Luộc tôm còn nguyên vỏ đến khi vỏ tôm đổi màu là được.
2. Canh vỏ tôm
Astaxanthin có nhiều trong vỏ tôm. nhưng vỏ tôm lại rất khó ăn và không dễ tiêu hóa. Sau khi luộc qua tôm, bóc vỏ thì bạn đừng vội bỏ đi. Để ráo nước, cho thêm dầu ăn vào xao qua, sau đó cho thêm nước, cho thêm đậu phụ và rau xanh vào cùng nấu, vậy là bạn đã có một món canh vỏ tôm.
Mỗi tuần ăn ít nhất một lần tôm luộc hoặc canh vỏ tôm, không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn có thể bảo vệ huyết quản và tim, phòng chống ung thư.
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/3/2018