Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020

Đinh Quang Anh Thái: Sinh hoạt văn học miền Nam tr...

Đinh Quang Anh Thái: Sinh hoạt văn học miền Nam trước 1975, ghi chép những ý nghĩ rời

Lời Tòa Soạn : Từ thập niên 1990 đến nay, Đinh Quang Anh Thái là nhà truyền thông từ Hoa Kỳ đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, đặc biệt với các nhân vật tranh đấu cho dân chủ trong nước Việt Nam. Là người quảng giao và theo sát thời sự, ông đã tạo được lòng tin cậy nơi người đối thoại, và gặt hái được nhiều nội dung trung thực và phong phú.

Nhân kỷ niệm ngày 30 tháng Tư năm nay 2020, nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã ghi lại các buổi trò chuyện với một số nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hiện đang sống tại Việt Nam hay đã ra hải ngoại, để biết ký ức và cảm nhận của họ về cái ngày “làm cho triệu người vui và triệu người buồn” này. DĐTK

*

VÕ ĐẮC DANH là người cầm bút đã thành danh ở Việt Nam sau 1975. Anh viết nhiều, các tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút sắc bén của Danh là Nỗi Niềm U Minh Hạ, Đồng Cỏ Chát, Thế Giới Người Điên, Canh Bạc, Đồi Chợ Chợ Đời…

Võ Đắc Danh tại căn nhà ở Nam California Tháng Giêng 2020 (Hình: ĐQAT)
Danh sinh ra trong một gia đình “rặt cộng sản.” Nói theo cách của nhà văn Lê Phú Khải trong cuốn Lời Ai Điếu “những lần họp mặt gia đình ngày giỗ tết, trừ cái cột nhà, ai cũng là đảng viên cộng sản.”

Vậy mà tối 30 Tháng Tư 2019, ngồi với nhau tại nhà tôi, Danh nâng chén rượu, giọng dưng dưng nói “anh em mình cùng mất nước; anh Thái mất miền Nam, còn tui, Việt Nam bây giờ không còn là Việt Nam của tui nữa.”

Tôi bảo Danh, thực ra đất nước mình nào có mất, mà chỉ bị một tập đoàn cưỡng chiếm, cướp đoạt khát vọng của người dân muốn được sống đúng nhân phẩm.

Lần đầu gặp Danh năm 2011, Danh dẫn theo con gái đang học bên Mỹ, anh bảo con “tía muốn con nghe câu chuyện của những người như bác Thái để hiểu tại sao đất nước mình thống nhất mà nhiều người phải bỏ nước ra đi như vậy.”

Danh chào đời vào thời điểm chiến tranh ác liệt nhất; và lớn lên ở Cà Mau, trong vùng “giải phóng”, những phần đất mà Việt Nam Cộng Hòa gọi là vùng mất an ninh hoặc vùng Việt Cộng. Danh nói, phía Việt Cộng gọi vùng Quốc Gia là vùng Ngụy quân Ngụy quyền hoặc là vùng "tạm chiếm."

Tháng Giêng 2020, từ Xẻo Lá gần Sài Gòn, vợ chồng Danh chạy ngược chạy xuôi lo mua vé máy bay để sang Mỹ ‘trốn dịch Covid 19” đang có nguy cơ bùng phát ở Việt Nam và để đoàn tụ với 2 con gái đã định cư tại Nam California từ nhiều năm qua.

Đến thăm Danh, vợ Danh nấu cho ăn mấy món thuần quê Nam Bộ: Cá kèo kho tiêu, canh bầu, thịt luộc chấm mắm ớt. Câu chuyện miên man dẫn đến đề tài sinh hoạt văn hóa của miền Nam trước 1975, Danh nói, ba Danh và cả dòng họ đều đi theo kháng chiến. Ba của Danh hồi ấy là xã ủy viên, trưởng ban binh vận xã nên nhà Danh thường là điểm hội họp của cơ quan ba Danh và có khi cũng là điểm họp của xã ủy. “Vì thế mà những câu nói mang tính ‘thời sự’ của mấy chú, mấy bác sớm gieo vào trí nhớ tôi đến mức thuộc lòng. Những buổi tối, tôi hay bày ra một trò chơi, lấy gối chất thành một vòng tròn trên giường giả làm các ‘nhân sự’ trong cuộc họp, và tôi đóng vai người lãnh đạo, phát biểu với các ‘đồng chí’ trong chi bộ.”

Giọng “rặt” Nam Bộ, Danh hồi tưởng nguyên văn lời đã từng phát biểu trong trò chơi thời thơ ấu: "Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . ."

Tuổi thơ của Danh gắn liền với hình ảnh các “chú Việt Cộng” đêm đêm đem súng về làng. Sau đó, vì chiến tranh ngày càng leo thang, mẹ Danh gởi Danh về quê ngoại để đi học trường tiểu học cộng đồng ở một vùng "tạm chiếm". Danh nói, gọi là vùng tạm chiếm nhưng chỉ cách tỉnh lỵ An Xuyên chưa đến mười cây số. Một vùng ven trù phú và rất bình yên. Thỉnh thoảng có mấy anh mặc đồ đen từ ngoài chợ chạy xe đạp vô dạy đám trẻ cùng tuổi với Danh múa hát, và gọi là đoàn thiếu nhi nông thôn. Sau mỗi buổi sinh hoạt, ông xã trưởng mặc quân phục tới phát cho đám mỗi đứa một ổ bánh mì, ông luôn dặn dò các em phải cố gắng học giỏi, phải biết vâng lời ông bà cha mẹ, phải biết lễ phép với người lớn tuổi, phải biết ôn hòa với bè bạn và em út trong gia đình. Có khi ông đến sớm và cùng vỗ tay và hát với đám Danh:

Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
Cùng vui sống bên bờ tre ruộng đồng
Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
Biết mến yêu quê mình
Em áo rách nhưng lòng không rách
Em biết yêu cha mẹ khó nhọc
Đổ mồ hôi cho nhà em no ấm
Đổ mồ hôi cho đồng thêm lúa xanh

Danh nói, hàng năm, khi bãi trường thì Danh lại khăn gói về quê, tạm biệt ngôi trường, tạm biệt "vùng tạm chiếm" để về với gia đình ở "vùng giải phóng". 

Danh kể “Những chiều êm tiếng súng giao tranh, các anh bộ đội thường ra xóm vui chơi với bà con, tối tối, các anh thường gọi mấy đưa trẻ chúng tôi lại quây quần dạy múa hát: 

Qua miền Tân Đức cây là dừa xanh mát
Bóng tre vườn cau đã chứa bao hờn căm
Bộ đội ta về đây giải phóng quê nhà
Quân với dân một lòng
Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù

Sau ba tháng hè, ngày tựu trường lại đến, tôi lại trở về ‘vùng tạm chiếm’, lại hát:

Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
Em biết yêu cha mẹ khó nhọc . . .

Và cứ thế, tuổi thơ tôi cứ trôi theo dòng chảy của cuộc đời như đám lục bình trôi theo dòng nước, không thể lựa chọn bến bờ.

Thế rồi cái dòng chảy ấy dừng lại thành cái mốc lịch sử 30 Tháng Tư như cái định mệnh cho " triệu người vui và triệu người buồn.”

Danh uống nhiều, và trong vài ba lần gặp nhau, lúc ngà ngà hơi men, có khi Danh còn hát vọng cổ cho tôi nghe. Chất giọng mạnh, sang sảng, Danh hát bài “Ghe Chiếu Cà Mau” hay tuyệt.

Hỏi Danh về kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong ngày 30 tháng Tư năm 75, Danh nói, lúc hơn 10 giờ trưa, “tôi ôm chiếc radio, mở hết volume chạy trong mưa, chạy dài theo xóm, vừa chạy vừa la: Dương Văn Minh đầu hàng rồi bà con ơi ! Giải phóng rồi bà con ơi! Nhưng rồi sau đó không lâu, bỗng một ngày, mấy đứa bạn học cùng trường cùng lớp với tôi mặt mày biến sắc, có đứa khóc ròng vì một sự cố xảy ra: Đánh tư sản! Đang giàu có bỗng trở thành kẻ trắng tay, đang nhà cao cửa rộng bỗng trở thành kẻ vô gia cư. Đứa thì theo cha mẹ vô sân chùa căng lều che mưa che nắng, đứa về quê tá túc với họ hàng, đứa vượt biên, đứa bỏ thây ngoài biển.

Tôi rùng mình nhớ lại trò chơi tuổi thơ, giả làm lãnh đạo phát biểu hùng hồn với mấy chiếc gối quanh giường: . . . Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . ."

***

TUẤN KHANH từng tốt nghiệp Nhạc Viện ở Sài Gòn bộ môn flute và sáng tác nhạc từ năm 17 tuổi. Nhiều năm gần đây, anh là facebooker nổi tiếng với rất nhiều bài viết nêu lên những thảm trạng của đất nước và con người Việt Nam, và vạch trần những dối trá của chế độ. Có lần, nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn Bên Thắng Cuộc, nói với tôi, Khanh viết hay đến độ, nhiều người trong giới cầm bút ở Sài Gòn nói với nhau, sáng sáng thức dậy mong đọc bài của Khanh.

Tuấn Khanh (hình Uyên Nguyên)
Mỗi lần Khanh từ Việt Nam sang Mỹ thăm gia đình, chúng tôi thường tìm đến nhau để hỏi han tin tức “quê nhà quê người.” Những đêm trò chuyện, nghe Khanh nói, tôi có cảm tưởng lửa đang hừng hực cháy trong lòng Khanh khi Khanh bầy tỏ nỗi phẫn uất về những chuyện xẩy ra cho người dân trong nước.

Năm nay, dịch Covid 19 đang tàn phá nhiều quốc gia, không thấy Khanh sang chơi. Tôi email về Sài Gòn hỏi Khanh, rằng trong mắt Khanh, sinh hoạt văn học miền Nam ra sao, Khanh email trả lời:

Mùa hè năm 2000, trong một lần trò chuyện với một biên tập viên văn học có tên tuổi từ miền Bắc vào, tôi có nhắc đến việc sắp kỷ niệm 3 năm mất của Bùi Giáng, một thi sĩ lừng danh của miền Nam.

Đó là lần trò chuyện tổn thương đến mức, tôi không sao quên được. Người biên tập viên đầy ắp các tác phẩm văn học cổ điển của Pháp, Đức và Nga đã cười nhẹ, như chừng thương hại tôi ‘Nói thật, Bùi Giáng có gì đâu mà xuất sắc. Chỉ là người miền Nam mấy anh cứ nống lên.’ Tôi sững người, vì chưa bao giờ trong đời đối mặt với một sự phủ nhận tàn khốc đến vậy. Sự phủ nhận cứ như xô tôi – một người miền Nam hoàn toàn trung dung – vào bờ biển như một người bị đắm tàu, trôi dạt và kiệt sức. Để thuyết phục tôi về sự vĩ đại của nền văn học miền Bắc, người biên tập viên ấy kể không ngớt về Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân, Xuân Quỳnh, Viễn Phương… tôi im lặng nghe, nhưng trong đầu cứ quay cuồng với suy nghĩ về cái hố sâu thẳm chia rẽ nhận thức của người Việt với người Việt đến vậy. Nhưng tôi quyết định không thuyết phục người đối diện. Bởi, văn hóa hay tri thức, là điều phải tự đến, không phải bằng thắng ở một cuộc tranh cãi.

Gần 10 năm sau, tôi gặp lại người biên tập viên ấy, ở đường sách Sài Gòn đối diện Vương Cung Thánh Đường, nơi các nhà sách đương thời xếp hàng nhau trưng bày các ấn phẩm mới. Nhưng nơi đó, đặc biệt có những quầy sách cũ của miền Nam Việt Nam trước 1975, lúc nào cũng có người cắm cúi tìm, lật, đọc. Người biên tập viên ấy cười, chào và nói anh đang tìm mua một số sách cũ. ‘Ở đây thì đắt nhưng còn chịu được, chứ bọn con buôn vác ra Hà Nội thì đắt gấp mấy lần.’ Trong những chồng sách cũ ấy, có đủ các tác giả được nhà nước cho phép lẫn không vui khi thấy tên. Tôi kéo ra cuốn Hoàng Tử Bé của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch, và nói rằng bao nhiêu năm đọc lại vẫn thú vị. ‘Vâng, Bùi Giáng thì siêu rồi,’ người biên tập viên ấy nói, hào hứng.

Tôi không nhắc lại câu chuyện mà tôi như bị rạch trong tim từ 10 năm trước. Như vậy chắc là đủ. Nhận thức là thời gian, và sự khác biệt của văn học miền Nam là thấm sâu và chiếm trọn trái tim, không cần một sự thuyết phục nào. Văn hóa miền Nam bị giằng xé rách rưới, đứng giữ đống bùn lầy, vẫn mỉm cười kiêu hãnh, bất chấp đạo quân chiến thắng năm 1975 đã trút mọi căm thù lên bằng cách đốt, cấm, bắt cả những người viết sách đi tù.

Tôi được nghe rằng sau năm 1990, có một chỉ đạo từ Hà Nội, rằng những gì mà miền Nam đã có, nguồn lực của chế độ mới có thể thay thế, thì phải ra sức thay, để nhấn chìm văn hóa miền Nam vào quên lãng. Chẳng hạn như sách dịch: cuốn Hoàng Tử Bé, bản gốc Le Petit Prince của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch được thay bằng bản mới là Hoàng Tử Nhỏ. Bố Già, nguyên tác The Godfather của Mario Puzo, bản dịch của Ngọc Thứ Lang, thì được thay bằng bản mới là Ông Trùm. Đỉnh Gió Hú, nguyên bản của Emily Bronté do Nhất Linh chuyển sang Việt ngữ thì thay bằng Đồi Gió Hú… 

Rõ ràng, có một chủ trương muốn thay thế và cào bằng đối với văn học miền Nam, nhưng có vẻ như sức sống của một giai đoạn văn chương và tri thức của hai nền Cộng Hòa vẫn đứng vững. Những ấn bản được nhặt lên từ bùn lầy, bị xô giật rách rưới, vẫn tỏa sáng kỳ lạ đến tận hôm nay.

Chuyện kể, để thay sự diễn giải khô cằn. Và thú vị thay, tôi còn nhìn thấy những người bạn trẻ quanh mình, từ phía Bắc, lớn lên và được tắm mát từ những gì đã bị phế bỏ ấy.

***

THÚY HÀ, từng có thời làm thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Sau đó Thúy Hà lấy chồng là con một ông sĩ quan “ngụy” cao cấp, cùng chồng sang Mỹ định cư. Hà viết nhiều, và đã viết một số bài về văn học Miền Nam, đặc biệt là về thơ Cao Tần (Lê Tất Điều). Có lần nói chuyện với Hà về thơ Cao Tần, cả hai chúng tôi đều rất tâm đắc 4 câu trong bài “Mai Mốt Anh Trở Về”:

Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa 
Ông anh hùng ông cứu được quê hương 
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo 
Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Thúy Hà (hình tư liệu ĐQAT)
Tháng Tư 2020, cả thế giới chao đảo vì con virus Covid-19, không ai ra khỏi nhà, nên chỉ nói chuyện với nhau bằng phone, bằng email. Gọi cho Hà hỏi thăm sinh hoạt gia đình cô ra sao, rồi câu chuyện đẩy đưa đến đề tài văn học Miền Nam trước 1975 đối với lớp trẻ sinh ra và lớn lên sau thời điểm đó. 

Hai ngày sau, Thúy Hà gửi cho tôi những giòng sau đây:

Covid chợt bùng lên, Chiều Trên Phá Tam Giang còn dai dẳng...

Trong những tuần qua trên Facebook, tôi thấy một số bạn bè mình ở Sài Gòn, ở Hà Nội... đăng tải những tấm ảnh thành phố vắng người kèm theo lời hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" như một sự liên tưởng thú vị và thi vị. "Giờ này thương xá sắp đóng cửa... Giờ này thành phố chợt bùng lên..."

Thật lạ, khi một bài tình ca thời chiến lại in dấu trong tiềm thức những người Việt ở lứa tuổi thậm chí còn chưa hề trải qua chiến tranh, ở cả những người sinh ra và lớn lên bên kia chiến tuyến nơi bài hát xuất xứ- một bài hát từng bị cấm đoán tại Việt Nam sau 1975.

"Thật lạ"- đó là cảm giác của tôi năm 18 tuổi lần đầu nghe bài hát này ở một quán cà phê Thủ Đức khi đang là sinh viên Văn khoa năm thứ hai (cuối thập niên 90). Lời tự sự yêu đương, khắc khoải, xao xuyến ấy tự nhiên đi vào lòng người nghe- một cô gái trẻ, là tôi. Lúc đó tôi không hề biết bài hát phổ thơ Tô Thuỳ Yên- trong giáo trình đại học khoa Ngữ văn không hề có tên ông và bóng dáng nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Khoảng trắng về học thuật đó cũng không hề gợi nên thắc mắc nào trong thế hệ sinh viên-cừu non chúng tôi thời bấy giờ.

"Thật lạ" ở cấp độ cao hơn- "sửng sốt"- là cảm giác hơn 20 năm sau đó, khi tôi lần đầu đọc được nguyên bản bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang trên một trang mạng. Bài thơ nằm ngoài sự tưởng tượng của tôi về Chiều Trên Phá Tam Giang mà tôi chỉ biết lâu nay qua ca khúc. 

Bài thơ dài 155 câu, đầy đặn, truyền cảm và sống động như một cuộn phim màn ảnh rộng. Thơ của một người từng là trưởng phòng tâm lý chiến quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà lại tự vấn hoang mang thế này ư? Giữa thời điểm 1972 khốc liệt mà người lính ấy lại độc thoại, trăn trở, suy tư về thân phận, về chiến tranh, về sống chết, về tuổi trẻ, về tình yêu và về sự thương xót đến như vậy ư? Nhất là cái tình con người thương xót con người- với kẻ thù bên kia chiến tuyến, khi cả hai đều không thoát khỏi bánh xe lịch sử và cùng phải đối mặt với tử thần.

Điều gây ấn tượng mạnh với tôi về bài thơ ngoài nghệ thuật ngôn từ chính là cái chất Người lộng lẫy ấy. Con Người được bày tỏ tận cùng tâm trạng của mình trước thời cuộc mà không bị trói buộc bởi ý thức hệ, mưu toan chính trị hay chế độ kiểm duyệt nào. Tôi tìm đọc thơ Tô Thùy Yên cũng từ đó, và yêu thích thơ ông cũng từ đó, tuy trễ tràng nhưng vẫn kịp. Sau này tôi biết thêm: Chiều Trên Phá Tam Giang được coi là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của nền thi ca miền Nam giữa cuộc chiến.

Những tuần qua, việc lock down, cách ly xã hội diễn ra gần như trên toàn cầu và nhu cầu bày tỏ tâm trạng của con người trước biến loạn thời cuộc bằng văn chương nghệ thuật lại trỗi dậy. Và không phải ngẫu nhiên những người bạn của tôi những ngày này bỗng nhắc lại bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên, và Trần Thiện Thanh phổ thành ca khúc, xem lại những bức tranh về sự khủng hoảng cô đơn của Edward Hopper...

Nghệ thuật đích thực về con người sẽ trường tồn dai dẳng, mà Covid-19 chỉ là cơn dịch có nhiệm vụ nhắc nhớ chúng ta...

***

TỐNG VĂN CÔNG từng có 56 năm là đảng viên Cộng Sản và từng là tổng biên tập báo Lao Động, một trong những cơ quan tuyên truyền “mũi nhọn” của chế độ. Ông bỏ đảng năm 2014 và xuất bản tại Mỹ cuốn hồi ký 'Đến già mới chợt tỉnh - Từ theo cộng đến chống cộng'.

Tống Văn Công (hình Uyên Nguyên)
Đến thăm ông vào một chiều cuối Tháng Năm 2016 khi vợ chồng ông vừa từ Việt Nam sang định cư tại căn nhà người con gái ông ở thành phố Stanton-California. Tuổi đã ngoài 80, ông nhìn vẫn khỏe, đôi mắt tinh anh, nước da “như còn bám chút phèn” của vùng quê Bến Tre của ông. 

Gặp lần đầu tiên nhưng bản tính xởi lởi Nam Bộ của ông làm tôi không còn rụt rè. “Chú ở lại ăn cơm với anh chị nhé,” ông Công nói “thẳng như ruột ngựa” và coi như đương nhiên tôi nhận lời. Bữa cơm có Thúy Hà, từng một thời là thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Chính nhờ Hà và một nhà báo còn ở trong nước nên tôi mới có dịp gặp ông Công.

Ba năm liền, tôi đến thăm ông Công nhiều lần và thường là ở lại ăn cơm với hai ông bà để có nhiều giờ nghe ông nói chuyện. Có lần, cả buổi ăn, ông nói về nhận xét của ông đối với sinh hoạt văn học của miền Nam thời 1954-1975. 

Nhấp chút rượu vang đỏ, ông Công từ tốn nói, “trước khi cầm bút, tôi được dạy rằng ‘báo chí là tiếng nói của Đảng’. Do làm đúng như thế, tôi trở thành Tổng biên tập ba tờ báo của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tháng Chín năm 1969, khi ông Hồ qua đời, báo chí miền Bắc đăng lại bài viết của giáo sư Lý Chánh Trung đã đăng trên báo ở Sài Gòn, ca ngợi ông Hồ là một nhà ái quốc. Tôi hết sức kinh ngạc: ‘Ồ lạ nhỉ, báo chí của họ là tiếng nói của ai ? Tại sao họ có thể đăng bài ca ngợi kẻ thù của chế độ?’

Sau này tôi mới được biết ông Hoàng Đức Nhã, Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố : "Ở Việt Nam Cộng Hòa không có báo chí viết tốt cho chính quyền. Báo chí chỉ viết tốt cho các cương lĩnh của cá nhân, của các nhóm chính trị, của các tôn giáo và thuần túy vì mục đích thương mại. Tức là báo chí được tự do nói lên quan điểm của mình đối với mọi sự kiện mà không bị chính quyền ràng buộc.

Hỏi ông, thế lúc bấy giờ, ngoài Bắc thì sao, ông cho biết, ông và những người cầm bút khác được dạy là văn học phải sáng tác theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa , tác phẩm có giá trị trước hết phải "có tính Đảng sâu sắc". Nhưng theo ông thì các tác phẩm “được đảng đánh giá là xuất sắc sao mà quá tẻ nhạt!”

Ông nghĩ sao về giai đoạn sau Tháng Tư năm 1975, các loại sách của miền Nam bị tiêu hủy khiến nhiều người buộc phải đem sách ra bán trên vỉa hè như bán giấy lộn với giá rẻ như cho, ông nói, “Tôi cũng như nhiều người yêu sách được dịp mua nhiều quyển sách quý : Âm Thanh Và Cuồng Nộ của William Faulkner, Dr. Zhivago của Pasternak, Mùa Hè Sa Mạc của Albert Camus... Đặc biệt là sách của các nhà văn Miền Nam như Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Chuyện Bé Phượng của Nhật Tiến, Tiếng Chim Vườn Cũ của Nguyễn Mộng Giác, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng ... Thơ của Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Du Tử Lê...

Sau này tôi được biết, trong lễ phát giải văn chương toàn quốc năm 1961-1962 , ông Trương Công Cừu, Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa và Xã hội của Việt Nam Cộng Hòa đã chúc các nhà văn miền Nam xây đắp xã hội mới ‘một thế giới gấm vóc mỹ lệ, dệt bằng tình bác ái không vụ lợi, bằng đức liêm khiết không xảo trá, và bằng tài trí không tự tôn tự đại.’ Trong một bài viết của Tiến sĩ Lubomir Svoboda, nhà phê bình văn học của Tiệp Khắc thời cộng sản nhận xét tác phẩm Người Kéo Màn của nhà văn Nhật Tiến: ‘Với bút pháp đầy trí lực, và cao hơn, tính nhân văn hay nói một cách chính xác là ông đã viết tác phẩm này bằng một trái tim nhân hậu, biết yêu thương và biết cả căm giận...’ 

Tôi nghĩ, có thể dùng hai nhận định nói trên để đánh giá chung cho nền văn học của Việt Nam Cộng Hòa.” 

***

NGUYỄN THANH BÌNH chào đời tại tỉnh Thái Nguyên, Việt Bắc, nơi là căn cứ địa của Việt Minh. Gốc gác gia đình Bình là dân Nam Bộ và “tập kết” ra Bắc năm 48. Lúc Hội Nghị Genève đang diễn ra ở Thụy Sĩ, thân sinh của Bình, ông Nguyễn Thanh Hà (tên thật là Nguyễn Thành A), đang ở Genève với cương vị tổng thư ký đoàn đại diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thân mẫu Bình, bà Huỳnh Thị Phi, người Vĩnh Long, sau đó mới ra Bắc, và sau năm 1954, làm nhân viên hành chánh của bộ Ngoại giao.

Hai đứa tôi sinh cùng năm. Chỉ hơn kém nhau 8 tháng.

Hai đứa tôi quen rồi thân nhau đúng là do “duyên nghiệp”, như cách Bình thường nói.

Nhà báo Huy Đức là người giới thiệu hai đứa tôi với nhau.

Nguyễn Thanh Bình tại Buôn Mê Thuột năm 1973
(Hình tư liệu ĐQAT)
Năm 2015, tác giả “Bên Thắng Cuộc” đến thăm tôi. Thấy trên bàn tôi có cái tẩu hút thuốc màu trắng, Huy Đức nói, anh cho em đem về biếu một người bạn ở Việt Nam.

Khoảng một tháng sau đó, trên trang Facebook của Họa Sĩ Nguyễn Thanh Bình ở Sài Gòn có đăng hình cái tẩu với giòng chữ: Cám ơn Thái Đinh.

Vỏn vẹn 4 chữ, thế thôi. Sau đó, thản hoặc chúng tôi có liên lạc với nhau thì cũng chỉ là những câu ngắn gọn, nhưng tôi đọc nhiều bài viết của Bình và nghe bằng hữu ở quê nhà nói về chàng họa sĩ nổi danh này, tôi hình dung được Bình, một người đôn hậu, cởi mở, có lòng nhân. 

Một buổi tối đầu Tháng Tám 2019, lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau khi tôi đón Bình từ Việt Nam sang Mỹ chơi. 

Ba tuần ở với nhau, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, chuyện đời, chuyện đất nước, chuyện người, chuyện mình… và nói về sinh hoạt văn học miền Nam. Bình nhận xét: “1954, người ta lấy một dòng sông chia đôi đất nước, một nửa phía Bắc, đứt lìa khỏi dòng chảy của Nam Phong, Tự Lực Văn Đoàn, nửa phía Nam vẫn tiếp nối và song hành cùng văn học thế giới. Những ai quan tâm đến văn học Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng (giai đoạn 1954 - 1975) không thể không biết những tên tuổi như Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Trần Hữu Tá, Võ Hồng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên ... duy trì một nền văn chương chuyên nghiệp. Đó là một nền văn học đúng nghĩa, đúng chức năng đối với xã hội, chỉ nhằm vào đối tượng duy nhất là con người.

Diện mạo văn học miền Nam (1954 - 1975) có nhiều gương mặt nổi bật, tuy nhiên, cũng giống như hội hội họa hay âm nhạc ở miền nam trước 75, nó không tạo ra được sức mạnh có tầm ảnh hưởng sâu đậm như Tự Lực Văn Đoàn và văn nghệ tiền chiến. Những cây bút xuất sắc nhất, tự mình tỏa sáng, tài năng của mỗi người được bảo toàn, hợp thành mảng văn học Việt Nam phong phú, đầy màu sắc, nhưng chưa đủ để soi rọi những ngóc ngách sâu xa của dân tộc đau khổ, oằn mình vì thời cuộc, bởi cuộc nội chiến tương tàn, thảm khốc ấy, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình lịch sử của đất nước. Tự Lực Văn Đoàn là sự xuất hiện một văn đàn mang hồn cốt của dân tộc, trong bối cảnh nô lệ, điều ấy, nói ngắn gọn là ‘hồn dân tộc’ không bao giờ mất, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mà điều kiện của nó là sự tự do ngôn luận. Miền Nam trước 1975, quyền tự do ngôn luận được thể chế dân chủ bảo đảm, các nhà văn đã làm hết trách nhiệm của mình, đã đặt những dấu ấn không phai mờ, nhưng uy lực đã không còn rực rỡ như các bậc tiền bối.

Tuy nhiên, lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, sẽ tạc tên những người như Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu và cả Bùi Giáng ... lên tượng đài của mình, như là một phần tất yếu của hồn dân tộc những năm tháng khói lửa, đau thương ...

Và Bình đọc 4 câu thơ của Bùi Giáng để kết cho buổi nói chuyện kéo dài quá nửa đêm giữa hai đứa:

"Em từ vô tận dư vang
Kết chùm cỏ mọc đá vàng thiên thâu
Em đi từ tình mộng đầu
Trùng lai chất vấn biết đâu điệu chào ... " 

(Bùi Giáng)

***

TRẦN ĐĨNH là tác giả cuốn “Đèn Cù, số phận Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh” xuất bản tại Mỹ năm 2014.

Tết Trung Thu 2014, nhà văn Nhật Tuấn, tác giả cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã lúc bấy giờ sống ở Bình Dương viết cho tôi một email ngắn: “Trung Thu năm nay tại Việt Nam trẻ con rước đèn lồng, còn người lớn bận rước Đèn Cù của Trần Đĩnh”.

Nhà văn Trần Đĩnh tại Mỹ năm 2015 (Hình ĐQAT)
Cuốn sách gây tiếng vang lớn cả trong lẫn ngoài nước vì tác giả tham gia Việt Minh vào lúc mới 16 tuổi và thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Và cũng vì ông còn là nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật từ những ngày đầu tiên khi báo này thành lập do Trường Chinh làm Tổng biên tập.

Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật phía sau chiếc mặt nạ của các chóp bu cộng sản.

Trong vụ án mà chế độ quy chụp là “Xét lại chống đảng”, ông cũng là một nạn nhân, tuy lao tù nhẹ hơn những người khác như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Lê Trọng Nghĩa, Vũ Thư Hiên…nhưng đủ để ông thấy được sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa hai chủ trương trong nội bộ đảng là theo Tầu hay theo Liên Xô cùng với Nghị quyết 9 dẫn tới cuộc chiến xâm lăng miền Nam bằng võ lực và đẩy Đảng Cộng sản Việt Nam lún sâu vào vòng kềm tỏa của Trung Cộng.

Là người chấp bút tiểu sử Hồ Chí Minh, Trần Đĩnh có nhiều cơ hội gần gũi và tiếp xúc với nhân vật này, đủ để cho ông nêu một nhận định ngắn gọn nhưng rõ nét về ông Hồ: “Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.”

Suốt thời gian Đèn Cù còn trong dạng bản thảo, tác giả thường xuyên trao đổi với tôi về những đoạn cần thêm vào, hoặc cần cắt ngắn, nhờ vậy, tôi thấy được điểm đáng quý nhất của ông là tuyệt đối không bảo thủ ý kiến của mình mà rất tôn trọng ý người khác. Trong một email viết cho tôi, ông nói, bản thân ông đã sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói,” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, mà “ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Vì vậy, ông chủ trương, tác giả có công đẻ ra tác phẩm, nhưng chăm bón cho nó thành hoàn hảo để ra mắt độc giả là có bàn tay nhà xuất bản, nên nhà xuất bản có quyền tỉa bớt “những cành lá làm mất đẹp cái cây.”

Đầu năm 2015, tác giả Đèn Cù từ Việt Nam sang thăm Mỹ. Gần một tháng ông ngao du thăm bà con, bạn bè và văn hữu chỉ mới nghe tiếng nhau mà chưa bao giờ gặp mặt. Những ngày được hầu chuyện với ông, ông cho tôi nghe những nhận xét hết sức sâu sắc về người và việc.

Đối với sinh hoạt văn học miền Nam thời trước 1975, ông nói "Tôi là người được hoàn cảnh ưu ái có lẽ đặc biệt. Từ bé tôi đã sống trong môi trường sách hàng nghìn quyển của gia đình-cũng như có thể mỗi tuần xem điện ảnh đều đặn vài ba buổi không mất tiền. Được đọc, được xem với tôi gần như đã thành sự thường tình. Ở căn cứ địa Tân Trào, dưới trướng tổng bí thư Trường Chinh, tôi xem các báo Pháp, Mỹ cùng hàng giá tiểu thuyết Pháp, Mỹ trong tay Đức Sáu Ngón, bạn tôi, cai quản thư viện của Trung ương. Nói thế để nhấn rằng với việc đọc, tôi như đã quen không chấp nhận rào cản cho cái đọc. Do đó ở Bắc Kinh học xong về nước, trong hai năm 1961, 62, tôi đã nhót lấy hầu hết các báo chí, tập san văn nghệ, văn học của Sài Gòn để đọc. Và xin nói thật, thấy ngụp ngay vào cái dòng chảy văn học dân tộc đậm đà chất hiện sinh chủ nghĩa Sartre và Camus nầy hơn cái dòng chảy cuồn cuộn nhưng giả tạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi đã thích những Võ Phiến, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thế Uyên, Nguyễn Thị Hoàng, Bình Nguyên Lộc, Uyên Thao, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng, Túy Hồng, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Thụy Ý, … Các anh chị em trong Nam lôi cuốn tôi vì họ thổ lộ chân thực đầy đủ lòng dạ. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài là ở đây. Còn anh chị em nhà văn ngoài bắc thì khác, cứ phải dựa vào cái lý tưởng chưa có, để thêu dệt ra những điều viển vông để ca ngợi...Và cuối cùng rồi sao? Xôi hỏng, bỏng không. 

Đêm đưa ông Trần Đĩnh ra phi trường bay về Sài Gòn, có một thoáng tôi buột miệng hát mấy câu trong một ca khúc mà chính tôi không nhớ tên: “Dù rằng sau mưa bão gió hiền hòa lại về vẫn thấy lòng hoang vu, cuộc đời là hư vô bôn ba chi xứ người khi mình còn đôi tay.” 

Nghe tôi ư ử trong cổ họng, ông nói, này, nghe cháu hát Xin Thời Gian Qua Mau của Lam Phương, bác có cảm tưởng cháu đang lao theo một nỗi buồn đau nào đó đang chạy phía trước. 

***

KIM CHI là khuôn mặt lớn của sinh hoạt điện ảnh miền Bắc trong cuộc chiến. Tên thật và đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Chi. Nghệ danh của cô văn công Kim Chi trong 10 năm ở chiến trường miền Nam từ 1964 đến 1974 là Hồng Anh. Sau đó bà trở lại miền Bắc. Những năm tháng bom đạn đó, Kim Chi vừa là MC giới thiệu chương trình, vừa là diễn viên kịch, khi thiếu người, bà cũng múa hát. Bà được bộ đội đặt cho cái biệt danh là “người đẹp rừng xanh.”

Kim Chi, vai chính Băng Tâm trong phim Biển Sáng

Kim Chi nổi tiếng với những bộ phim như Nước Về Bắc Hưng Hải, Mùa Gió Chướng, Cánh Đồng Hoang. Tháng Giêng năm 2013, bà Kim Chi đã từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng ông Dũng đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân.

Nguyên văn lời tuyên bố của bà là: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

Ngày 4 Tháng11 năm 2018, nghệ sĩ Kim Chi chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong lá thư gửi đảng, bà viết, “Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng CSVN. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi CNXH - con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại. 

Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh - cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Giáo sư Chu Hảo, và chồng tôi (ô. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng CSVN nhận biết lẽ phải. 

Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
- Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống...
- Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
- An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan...

Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

Nhưng đáp lại thiện chí của chúng tôi là sự đàn áp ngày càng khốc liệt người bất đồng chính kiến; là ý đồ muốn biến nhân dân thành bầy cừu; thù ghét, khủng bố những người dấn thân tranh đấu vì những quyền cơ bản, chính đáng của con người, những giá trị phổ quát của nhân loại; hãm hại những trí thức ưu tú muốn khai trí nhân dân.

Trải qua tuổi trẻ ở chiến trường, tôi khát khao giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng than ôi! Khi nhận ra mình đã góp tuổi xanh vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do mâu thuẫn ý thức hệ quốc tế, tôi vô cùng đau đớn. Nhiều đêm trắng tôi thao thức, khi những người ưu tú lần lượt vào tù. Hàng triệu dân oan không nhà làm nhói tim tôi. Im lặng là đồng loã cái ác, là có tội…”

Một đoạn khác trong lá thư, bà viết: “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, mà Đảng CSVN lấy làm nền tảng tư tưởng, chỉ là một học thuyết phản khoa học, phi thực tế, cổ xúy bạo lực ‘đấu tranh giai cấp’, hiếu chiến, tạo bất công, gieo rắc đói nghèo lạc hậu, độc đoán thủ tiêu mọi quyền tự do chính đáng của nhân dân…

…Phần lớn lãnh đạo Đảng CSVN tự hoang tưởng, tha hóa biến chất ngày một tồi tệ, làm đất nước ngày càng tụt hậu, nhân dân lầm than. Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cái đội ngũ mà thế lực hắc ám ngự trị trong Đảng CSVN đang lạm dụng làm bình phong che chắn cho động cơ vị kỷ, tệ hại của họ.

Tôi thành tâm mong mỏi ngày càng có nhiều đảng viên có lương tri, còn tâm huyết với dân, với nước, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục rời bỏ Đảng CSVN, rời bỏ Đoàn TN CSVN. 

Vận nước, tương lai dân tộc tùy thuộc mỗi người Việt Nam chúng ta.”

Kim Chi thăm vấn an sức khỏe Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ
Bà Kim Chi sang Mỹ nhiều lần, thăm con, thăm các học trò cũ và gặp gỡ những người có thời từng bà từng khác chiến tuyến. Gặp bà, nghe những câu chuyện của bà, quan sát bà, tôi thấy bà là một nhân cách đôn hậu, chân thật, tiêu biểu cho những mẫu người trong thơ Phùng Quán “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét.”

Một lần, bà tâm sự: “Trước 75, tôi ở rừng miền Đông Nam bộ. Thỉnh thoảng mới đọc lén được một tờ báo của miền Nam, do một ai đó vừa đi thăm gia đình móc về. Ấn tượng của tôi là những tờ báo ấy được trình bày đẹp mắt và phong phú hơn rất nhiều báo chí ở miền Bắc lúc bấy giờ. Nhưng tôi không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với báo chí miền Nam trong giai đoạn đó.

Cho mãi tới năm 1978, sau khi học xong khóa đạo diễn Sân Khấu ở Bungaria trở về, tôi có dịp sống và làm việc ở Sài Gòn. Khi ấy tôi dạy ở trường nghệ thuật sân khấu 2 ở 125 Cống Quỳnh. Đây là cơ hội vàng để tôi tìm hiểu về đời sống văn hóa của người miền Nam trước 75. Thỉnh thoảng tôi lang thang tới những cửa hiệu bán sách cũ. Tôi ngớ ra vì thấy mình có quá nhiều điều không biết. Thì ra báo chí miền Nam khi đó khá tự do. Nó được viết ra theo suy nghĩ của những người cầm bút. Nó được tỏ bày theo chính kiến của nhà báo. Báo chí của nhà nước cộng sản thì phải viết theo định hướng của đường lối cách mạng và sự chỉ dẫn của lãnh đạo. Các nhà báo ăn lương của nhà nước và thường viết theo lệnh của các tổng biên tập. Mà các tổng biên tập thì lại nhận lệnh từ cấp trên (Ban văn hoá tư tưởng) về những chủ đề trên trang báo ấy phải phản ánh. Họ chỉ được phép viết ca ngợi chế độ. Thỉnh thoảng đưa ra vài câu chuyện tiêu cực, nhưng phải tránh những nhân vật có tên tuổi. Luận điệu của họ là ‘phải bảo vệ uy tín cán bộ để cho họ lãnh đạo.’ Miền Bắc ngày ấy có nhiều tòa soạn: Thanh Niên, Phụ Nữ, Thiếu Nhi, Tiền Phong... nhưng toà soạn báo Nhân Dân là quyền uy nhất. Nhiệm vụ của tờ báo này là đưa ra chủ trương chính sách của đảng. Đội ngũ phóng viên của tờ báo này 100% là ăn lương nhà nước. Có nhiều nội dung quan trọng như phổ biến chính sách thì bài viết là của phóng viên, nhưng nó lại được ký tên bởi một ông to nào đó. Báo chí miền Bắc khi đó nhiều khi phải làm nhiệm vụ lái dư luận xã hội qua những chuyện ‘cướp, hiếp’ để tránh một vụ bê bối của một quan chức nào đó. Với luận điệu của họ rằng ‘để xử lý nội bộ’... 

Không phải báo chí miền Nam trước 75 là tuyệt đối tự do. Nhưng nếu so sánh với báo chí miền Bắc ngày ấy và ngay cả bây giờ thì báo chí miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa hơn hẳn báo chí cộng sản Việt Nam.

Đó là sự khác biệt cơ bản của hai nền báo chí: VNCH và CHXHCNVN. 

Năm tháng qua đi, tôi càng thấm thía rằng những người cầm bút mà không được viết theo mệnh lệnh của trái tim mình, lại phải viết theo sự sai khiến của ai đó thì chẳng có gì đáng buồn hơn. Tự do tư tưởng là niềm khát vọng cho những người sống có lý tưởng. Người cầm bút phải có TỰ DO TƯ TƯỞNG. Không để cho người ta biến mình thành những con Robo.

Hỏi bà, bà có lo sợ cho an ninh bản thân khi lớn tiếng kết án chế độ bằng những lời lẽ như thế, nữ nghệ sĩ có khuôn mặt khả ái này nói, bà “từng đi chiến trường 10 năm, không sợ chết vì bom đạn thì bây giờ coi mọi việc nhẹ như lông hồng.”

***

NGUYỄN THỊ HẬU là tiến sĩ khảo cổ học, được nhiều người biết tới với tên Hậu "khảo cổ”. Bà có nhiều công trình nghiên cứu về các nền Văn hóa Óc Eo, Đồng Nai, Sa Huỳnh, khảo cổ học đô thị... Bà cũng xuất bản nhiều cuốn sách ở các thể loại như ký, truyện ngắn, tản văn…Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Thế Giới Mạng Và Tôi, Ngắn & Rất Ngắn, Sài Gòn Bao Giờ Cũng Thế… 

Từ trái : Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Nguyễn Thị Hậu và Hồng Ánh
Nguyễn Thị Hậu sang Mỹ lần gần đây nhất trước khi thế giới bị cuốn vào trận đại dịch Covid-19 là năm 2019. 

Gia đình tập kết từ Nam ra Bắc năm 1954, bốn năm sau, Hậu “khảo cổ” chào đời tại Hà Nội. Lớn lên ngoài Bắc và chỉ nhìn thấy miền Nam sau 1975, nên Nguyễn Thị Hậu có giọng nói “thuần Bắc.” 

Nhiều lần gặp, ăn uống, trò chuyện, thậm chí còn đi với nhau cả một đoạn đường xa từ Nam lên Bắc Cali, có cả nữ nghệ sĩ trung hồ cầm Hồng Ánh, họa sĩ Nguyễn Thanh Bình và nhà báo Mặc Lâm, nhiều câu chuyện Hậu “khảo cổ” kể đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng về sinh hoạt xã hội miền Bắc. Nhất là những cảm nghĩ của Hậu về văn học miền Nam trước 1975. 

“Sau năm 1975, nhiều người lần đầu vào Sài Gòn choáng váng khi nhìn thấy cuộc sống của thành phố này: nhà cửa, xe cộ, quần áo và hàng ngàn loại vật dụng sinh hoạt... mà hầu như gia đình nào ở Sài Gòn cũng có, trong khi đó ở miền Bắc chỉ có thể nhìn thấy vài thứ trên phim ảnh “Liên xô”, thậm chí có thứ chưa từng biết đến như TV, tủ lạnh, đồ dùng trong toilet... Có thể đọc những cảm nhận này qua hồi ký của một số người nổi tiếng mới xuất bản gần đây.

Giữa năm 1975 gia đình tôi – một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 – đoàn tụ ở Sài Gòn. Những tháng đầu cả nhà ở tạm trong một căn phòng tại cơ quan của ba tôi (là một biệt thự trên đường Trần Quý Cáp). Trong căn phòng chừng hơn 30m vuông có một tủ sách lớn dựng suốt một bức tường. So với tủ sách đơn sơ của nhà tôi ở Hà Nội được đóng bằng những mảnh gỗ tạp, cũng chứa đầy sách, thì cái tủ sách “vĩ đại” này đã thỏa mãn ước mơ lớn nhất của tôi khi ấy! Tôi bỡ ngỡ và sung sướng làm sao khi trên đó đầy ắp các loại sách truyện, tạp chí... còn phía dưới giá sách là một dàn máy AKAI với một cuốn băng đang nghe dở “Sơn ca 7”. Đây là cơ duyên đầu tiên của tôi với văn học miền Nam và với nhạc Trịnh Công Sơn.

Từ cái tủ sách đó giờ rảnh rỗi tôi chỉ ôm sách đọc ngấu nghiến, đầu tiên là sách văn học. Lâu rồi tôi không nhớ hết tác giả và tác phẩm, nhưng tôi còn nhớ các tác giả Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thụy Long, Hồ Trường An, Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Hoàng Hải Thủy, Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ... Vài tác giả chuyên sáng tác chuyện miền Tây như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, An Khê, Lê Xuyên... Những tác giả của Tự Lực Văn Đoàn mà ngoài Bắc chỉ giới thiệu rất ít... Ngoài ra còn nhiều truyện dịch mà ba tôi rất thích; chị tôi mê mải với Quỳnh Dao còn anh tôi thì nghiền Kim Dung...

Từ năm 1976 vào học đại học Văn Khoa tôi còn được bạn bè giới thiệu và cho mượn sách của các tác giả Mai Thảo, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ... lúc này đã bị cấm lưu hành. Rồi khi nhiều thư viện “thanh lý” sách xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 ba tôi đã xin được mấy thùng sách về lịch sử của Kim Định, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, các bộ sử thời Nguyễn... Thế giới văn học của tôi trở nên rộng mở và cũng mang đến cho tôi bao điều mới mẻ, cả những nỗi hoài nghi mà tôi phải mất nhiều năm mới giải đáp được.

Lúc đầu tôi không thích lắm vì phần lớn các đầu sách là loại “tiểu thuyết gia đình” với tựa sách gợi cảm và hình bìa nhiều màu sắc, cốt truyện thường đơn giản, xoay quanh những cuộc tình éo le không lối thoát do thân phận, do cuộc chiến, nhiều tình tiết “lâm ly bi đát” giống tuồng tích cải lương khi ấy. Đọc xong không để lại ấn tượng gì ngoài một kết thúc buồn, hiếm khi nào “có hậu”. Phải chăng sự thật về chiến tranh luôn hiện diện trên báo chí truyền thông làm cho xã hội bất an, cuộc chiến ngấp nghé bên ngoài đô thành đã làm cho con người mất niềm tin vào tương lai? 

Nhưng rồi, dần dần một thế giới mới đến với tôi, rất khác với các tác phẩm văn học tôi từng đọc ở miền Bắc. Từ cao sang đến nghèo hèn, từ quan chức tướng lĩnh đến công chức, buôn gánh bán bưng, thế giới của các tay anh chị, tướng cướp hay gái điếm... tất cả đều hiện diện trong văn chương, không loại trừ “kiêng cữ” một ai. Trong nhiều tác phẩm không có ai thật tốt hoặc thật xấu, nhưng ở vào thời điểm khó khăn thì họ đều bộc lộ phần nhân văn ẩn sâu bên trong... Vì vậy, dù kết thúc buồn nhưng vẫn mang lại cho người đọc cảm xúc đẹp về tình người.

Các tác phẩm về cuộc chiến thực sự khốc liệt, trần trụi, ác liệt... hầu như không có bóng dáng của những lời tuyên truyền “lý tưởng cao đẹp” như ngoài Bắc mà chỉ thấy trong mỗi người lính đầy ắp nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương, tình đồng đội... Cũng không thiếu vắng cái chết đau đớn của những người lính, nỗi đau giằng xé của vợ góa con côi, nhưng ước mơ một ngày giản dị bên gia đình, bên “người yêu bé nhỏ” khi đã “tàn cơn binh đao”... là hy vọng sống sót cho những người lính trận. Bởi vì, khi cuộc chiến kết thúc thì người lính lại trở về làm dân, nếu may mắn không “xanh cỏ” thì cũng có mấy ai được “đỏ ngực”.

Để lại nhiều ấn tượng với tôi là các tác phẩm của Duyên Anh như : Dzũng Đakao, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Điệu ru nước mắt; của Nhã Ca: Truyện cho những cặp tình nhân, Thành phố buồn, Đêm nghe tiếng đại bác, Giải khăn sô cho Huế. Truyện của Nguyễn Thị Hoàng rất lạ với tôi như: Vòng tay học trò, Tuổi Sài Gòn. Còn Nguyễn Thụy Long hay nhất là Loan mắt nhung. Đặc biệt là Mùa hè đỏ lửa của tác giả Phan Nhật Nam hay bộ ba tập “Đường đi không đến” của nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ... Tôi đặc biệt thích Bình Nguyên Lộc với các công trình biên khảo công phu của ông và những trang tản văn, tùy bút đẹp đến nao lòng...

Tuy nhiên, cái hấp dẫn tôi nhất chính là mỗi tác giả có phong cách riêng, dễ nhận biết qua chủ đề, cốt truyện và ngôn ngữ. Nhà văn Nam bộ hóm hỉnh, giản dị câu chữ, nhà văn miền Bắc sắc sảo, bóng bẩy, nhà văn và cũng là nhà báo thì sinh động, trực diện... Ngôn ngữ vùng miền, phương ngữ được sử dụng phổ biến. Cả một xã hội phân hóa sâu sắc, phong phú, đa dạng và cũng khắc nghiệt, tàn nhẫn như cuộc sống hiện ra, thôi thúc tôi tò mò tìm đọc và luôn ngạc nhiên mỗi khi bước vào “khu rừng” văn học miền Nam khi ấy.

Đặc biệt sách văn học cho tuổi thanh thiếu niên rất nhiều, có lẽ nổi bật nhất là Tủ sách Tuổi Hoa. Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Tôi còn nhớ sách Hoa Đỏ là loại trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình yêu giữa nam nữ một cách trong sáng. Dấu hiệu thân thuộc của tủ sách là bông hoa tám cánh giản dị và xinh xắn. 

Cũng phải nói đến những tiệm cho thuê sách và cửa hàng sách cũ luôn là nơi hấp dẫn với tôi chứ không phải là cửa hàng thời trang hay mỹ phẩm. Tôi còn nhớ hoài có bạn học người Sài Gòn khá kỳ thị tôi bởi cái giọng Hà Nội 75 và trang phục giản dị có phần “hổng giống ai”. Một lần không biết có việc gì bạn đến nhà tôi, nhìn thấy tủ sách bạn rất ngạc nhiên vì bên cạnh những cuốn sách tôi mang vào từ Hà Nội là rất nhiều sách xuất bản tại Sài Gòn. “Nhà Việt Cộng mà cũng có sách như nhà ‘Ngụy’ à?!” nhưng từ đó thái độ của bạn với tôi khác hẳn. Đặc biệt bạn bắt đầu đọc và rồi cũng thích nhiều tác phẩm văn học của miền Bắc.

Văn học miền Nam trước 1975 đa dạng và phong phú về tác giả, thể loại, khuynh hướng, trường phái… Đó là nhờ sự khai phóng của môi trường xã hội nói chung và môi trường sáng tác nói riêng, sự cởi mở của giới cầm bút chấp nhận những thử nghiệm, sáng tạo, tinh thần tự do dân chủ của giáo dục – nhất là giáo dục đại học. Những tác phẩm văn học tôi đọc tuy còn ít ỏi nhưng đủ để nhận biết giá trị nhân văn của một nền văn học, qua đó hiểu biết về xã hội và con người miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Điều đó góp phần giúp tôi thoát khỏi định kiến mặc cảm về “bên này – bên kia, thắng – thua, ta – địch” mà nhiều người cùng thời với tôi còn đang mang nặng trong lòng.”

*** 

DƯƠNG THU HƯƠNG tự nhận mình là “người rừng”, “mụ nhà quê răng đen, mắt toét”.

Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”.

Còn lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn ở Paris năm 2005. (Hình: ĐQAT)
Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới mạng Internet, bỗ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic) 

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”. 

Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”… 

Dương Thu Hương là một trong những người cầm bút đã can đảm “bước qua lời nguyền”, giành lại quyền suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình với những bài phát biểu, bài viết; và nhất là với tác phẩm “Những Thiên Đường Mù.” 

Tôi chỉ biết Dương Thu Hương qua tác phẩm, mãi tới khoảng giữa tháng Tư 1997, lần đầu tiên tôi mới có dịp – qua điện thoại - nói chuyện với “Con Sói Đơn Độc.” 

Sau rất nhiều lần trò chuyện thăm hỏi, Dương Thu Hương mới trải lòng nói về dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời bà là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trả lời cuộc phỏng vấn bằng điện thoại, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cả mọi người trong toán quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. 

Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

Nhiều năm sau cuộc phỏng vấn lần đầu tiên đó, tôi thường xuyên điện thoại về Hà Nội nói chuyện với bà Dương Thu Hương; và thậm chí còn sang tận Paris thăm bà vào trung tuần Tháng Hai năm 2005, khi bà nhận lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn “No man’s land”, được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”. 

Trong suốt 8 năm được trò chuyện qua điện thoại và những lần gặp mặt trực tiếp, tác giả Thiên Đường Mù đã dành cho tôi nhiều cuộc phỏng vấn dài.

Tháng Tư 2020, nước Pháp và riêng thủ đô Paris đang bị dịch Covid-19 hoành hành khiến người dân ai cũng ru rú trong nhà để tránh dịch, tôi gọi điện thăm Dương Thu Hương, bà nói “Con sói đơn độc” vốn đã đơn độc nay càng đơn độc hơn và đang dành trọn thì giờ góp phần cho cuộc đấu tranh dân chủ của đồng bào tại quê nhà. Tôi nhắc lại câu bà nói với tôi Tháng Tư năm 2007:

“Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do, người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ...nếu người ta muốn. 

Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

--------------

Chú thích :

*“Bên Thắng Cuộc” là tựa cuốn sách của Nhà báo Huy Đức

Vĩnh Bảo sưu tầm 11/5/2020.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

ĐỌC THƠ NGUYỄN BẢO SINH


Ng Bao SinhĐỌC THƠ

NGUYỄN BẢO SINH

Cả đêm nghĩ mãi không ra
Tại sao thằng ấy lại là nhà thơ”
Một ông bạn đọc cho tôi hai câu thơ trên khi nhắc đến Nguyễn Bảo Sinh. Ông có biệt danh “Sinh chó” vì ông là chủ khách sạn chó mèo tại Hà Nội. Ông rất thích biệt danh này vì nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết thế. Về thơ, Nguyễn Bảo Sinh lấy bút hiệu là Huyền Thi. Dân Hà thành biết nhiều còn trong Nam thì ít người biết Trong một buổi trà dư tửu hậu, không nhớ là tổng kết hay tiễn một lãnh đạo nghỉ hưu, khi bàn về “cơm và phở”, một cô bạn có đọc đoạn thơ sau tựa như thơ dân gian :
Tr hi hoa 7Vợ là cửa cái,
Bạn gái là cửa sổ.
Càng nhiều cửa sổ càng sang,
Cửa cái anh vẫn đàng hoàng vào ra.
Vợ là cửa cái nhà ta,
Lại là cửa sổ thằng cha láng giềng.
Nhưng đọc lâu mới thấy thấm thía, nhiều bồ là niềm hãnh diện của đàn ông vì có tiền, có chức danh, lại có tài ăn nói. Nghèo kiết xác thì tìm một mảnh tình qua đêm cũng không có
Thơ Nguyễn Bảo Sinh có chất quái quái, vừa như thơ dân gian, lại nhuốm một chút thiền, lại như đầy ắp đắng cay cuộc đời. Có lẽ vì thế, nhà thơ xây khách sạn để phục vụ chó mèo, chứ chả them để ý đến loài người. Ông bạn hỏi tôi “thế anh thích nhất bài thơ nào ?”. Tôi thấy thơ hay nhưng thích nhất đoạn thơ sau :
Tr cau hoi 2“Con ta không phải của ta
Tai họa của nó mới là của ta
Của chìm của nổi trong nhà
Của ta rồi sẽ lại là của con”
Mà thôi, post vài bài thơ để các bạn xem chọn cho mình câu thơ đắc ý, để mà trà dư tửu hậu. Đừng như ông bạn tôi
“Cả đêm nghĩ mãi không ra
Tại sao thằng ấy lại là nhà thơ”
oOo

Ng Bao Sinh 21- Mê ngộ

Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ ra mới biết trong bùn có sen
Khi mê tiền chỉ là tiền
Ngộ ra mới biết trong tiền có tâm
Khi mê dâm chỉ là dâm
Ngộ ra mới biết trong dâm có tình
Khi mê tình chỉ là tình
Ngộ ra mới biết trong tình có dâm!
Khi yêu cái xích dưới chân
Thì xiềng xích ấy là thần Tự do !

3- Tự do

Tự do sướng nhất trên đời
Tự lừa lại sướng hơn mười tự do !

Ganh nuoc 23- Sang, về ?

Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến, người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang

4- Ly thân

Vì yêu tha thiết con người,
Cho nên mới lánh về nơi không người.
Quạnh hiu ngay giữa đất trời,
Còn hơn hiu quạnh giữa người thân thương.

5- Tự Tại

Ng Bao Sinh 3Không mong đến, chẳng cầu đi
Không phân khôn dại, còn chi để buồn .
Tâm như nước chảy trên nguồn
Soi hình tạo hoá mà không lưu hình .

6- Vô Thường 1

Người xưa vẫn sống như nay
Thì mình đã chẳng có ngày sinh ra.
9 Uong thuoc 3Nếu gương lưu bóng hình qua,
Thì đâu còn chỗ để mà soi gương

7- Vô thường 2

Người ghi bia đá để đời
Còn tôi tìm chỗ tôi ngồi để quên
Nhìn trời nước dưới, mây trên
Cúi xem lại thấy nước trên mây trời
9 Uong thuoc 2Ngồi quên, quên hết mây trời
Hỏi thăm chẳng biết tên tôi là gì

8-Tu

Tôi tu với vợ tại gia
Vợ dài dằng dặc đâu là bến mơ
Khi tình khi ý cùng thơ
Đường trơn gánh thực, gánh hư trĩu đầy
Tinh giaNằm mơ trên tấm thân gầy
Gánh vàng đi đổ lấp đầy sông mê

9- Vuông tròn

Ngày xưa trái đất hình vuông
Cho nên đi đứng trên đường thẳng hơn
Bây giờ trái đất hình tròn
ho nên bao kẻ lom khom định bò.

10- Yêu

Yêu là nhớ ít tưởng nhiều
Tr tuoi gia 1Yêu là chẳng biết mình yêu cái gì
Yêu nhau đâu bởi hàng mi
Đắm say đâu phải chỉ vì đôi môi
Yêu là yêu, có thế thôi

11- Tự hiểu

Nếu mình tự hiểu được mình,
Tr Ong gia 4Trương Chi đâu có thất tình Mỵ Nương.
Nếu mình tự hiểu quê hương,
Thì Từ Thức chẳng lạc đường trần gian.

12- Tình đầu

Tình nào cũng mối tình đầu,
Không ai đến được nơi đâu hai lần.
Không gì cũ như mùa xuân,
Mỗi khi xuân đến vẫn lần đầu tiên.
Gần chùa gọi bụt bằng anh,
Anh hùng nhìn mãi cũng thành thường thôi.
Tiên nữ cũng chỉ là người,
Từ Thức yêu chán bỏ trời về quê

LẤY ĐĨ LÀM CHỒNG

CHỨ KHÔNG LẤY CHỒNG LÀM ĐĨ

Chiều nóng tôi ra cà phê ngồi tí cho mát thì gặp nhau 1 anh 2 chị cùng nhau đi vào và ngồi xuống 1 cái bàn. Anh kia quay sang 1 chị (chắc là vợ) bảo:
Tr chui the 11– Thôi em ơi ! Về nhà rồi nói chuyện”
Chị vợ bảo:
– Nhà không phải là chỗ để tao nói chuyện với loại như mày
3 người ngồi im, chị vợ mạnh dạn gọi 3 ly nước cam ra. Chị uống một hơi hết ly nước trong khi 2 người kia ngồi im. Xong chị quay ra anh chồng, vẻ mặt bình thản ‘phát biểu':
– Anh ạ, người ta bảo lấy đĩ về làm vợ, không ai lấy vợ về làm đĩ cả. Nhưng tao trước khi làm vợ mày cũng không là đĩ, giờ tao với mày 2 mặt con, tiền nuôi con không đủ tao cũng không đi làm đĩ. Trước khi lấy mày, mày ngủ với bao nhiêu con tao không quan tâm. Nhưng tao không lấy chồng về cho chồng đi làm đĩ. Mà ví dụ cuộc sống khó khăn quá, mày thương vợ, thương con mày đi làm đĩ thì mày phải mang tiền về chứ. Sao mày toàn lấy tiền mua sữa, mua quần áo, mua sách vở cho con đi cho đĩ thế hả ?
Tao không hiểu ngày xưa mẹ mày chắt chiu từng đồng cho mày đi học 12 năm phổ thông với 5 năm đại học mà sao mày ngu thế hả chồng. Con sắp thi học kỳ, mày phải để dành tiền bồi dưỡng cho con đi học thêm, cho con ăn uống chứ. Mày phải làm cho nó khôn hơn mày để sau nó không đi làm đĩ như mày chứ. Người ta đi làm đĩ người ta khôn người ta mang tiền về, mày đi làm đĩ thì toàn mang tiền đi là sao thế ?
Tr Cuoi 12Xong chị quay sang nhìn con đàn bà bên cạnh:
– Em thấy chị nói có đúng không ? Em đi làm đĩ với chồng chị em còn biết mang tiền về thế mà thằng chồng chị… Em thấy nó có ngu không ? Mà chị còn không biết em có học cao bằng nó hay không nữa đấy !
Chị lại quay sang chồng :
– Thôi tao về đón con, còn mày giải quyết với con đĩ này cho xong đi. Nhà sắp phải nộp tiền điện tiền nước, tiền mạng rồi đấy. Rồi cảm thấy mình muốn đi làm đĩ, không muốn yên ổn với mẹ con tao nữa thì bảo tao viết đơn cho mà ký. Chứ tao lấy đĩ về làm chồng chứ không lấy chồng về làm đĩ.
– Em ơi, em lấy tiền đi làm đĩ ra trả tiền nước hộ chị nhé ! Mà uống hết đi không phí em nhé.
2 người ngồi đấy mặt tái mét…
Tôi nhìn theo mà muốn cầm giấy bút đuổi theo chị vợ xin học cách chửi chồng. Ôi hay không chịu được.

CÔ EM VỢ  “DỄ THƯƠNG” 

Tôi và bạn gái xinh đẹp của tôi đã hẹn hò được hơn 1 năm và chúng tôi đã yêu nhau say đắm. Tôi đã quyết định đi đến hôn nhân trong thời gian tới. Co em voMọi thứ đều tươi đẹp đối với tôi trong thời gian này – chỉ có một điều duy nhất làm tôi phân tâm đó là … cô em gái xinh đẹp của bạn gái tôi.
Cô em vợ tương lai của tôi năm nay 22 tuổi, hay mặc những chiếc áo bó sát người và thường không mặc áo xú chiên. Cô ấy luôn cúi thấp người mỗi khi đứng cạnh tôi và dường như luôn để cho tôi 1 góc nhìn không thể “chuẩn” hơn,…. thật là chết người. Tôi không thể không ngắm những gì ngồn ngộn trước mắt
Vào một ngày đẹp trời, cô em vợ tương lai bé bỏng và xinh đẹp của tôi gọi điện thoại cho tôi và mời tôi đến nhà để kiểm tra lại giấy mời cho đám cưới. Khi tôi đến, chỉ có mình cô ở nhà, cô đến bên tôi và thì thầm với tôi rằng cô rất yêu tôi và không thể cưỡng lại được tình cảm của mình.
Cô nói rằng cô muốn lên giường cùng tôi làm chuyện kia .. .với tôi dù chỉ một lần trong đời trước khi tôi làm đám cưới với chị của cô ta. Cô em vợ kéo tay tôi đi vào phòng củaTr hi hoa 2cô ấy, cô cởi áo và nằm xuống
Lúc đó tôi không thể thốt ra một lời nào và cảm thấy rất lúng túng thì cô ta nói “Anh ơi lẹ lên…. đi anh em …. muốn quá àh “
Tôi đứng im như pho tượng và nhìn cô rất thèm khát. Tôi đứng đó như vậy một lúc rồi quyết định quay lại thẳng tiến ra cửa trước. Tôi mở cửa và đi thẳng đến chiếc xe của mình.
Thì lạ chưa kìa, trước mắt của tôi là cả gia đình nhà vợ chưa cưới của tôi đang đứng đó và vỗ tay…! Với đôi mắt rơm rớm nước và giọng nói xúc động, Bố vợ tương lai của tôi nói :
– Gia đình ta rất vui sướng khi con đã vượt qua được thử thách đầu tiên của gia đình. Ta sẽ không thể tìm đâu ra được thằng rể nào xứng đáng hơn  cho con gái của ta !
Lúc đó tôi lẩm bẩm và nhủ thầm ! May quá, mình để quên bao cao su ở ngoài xe, chứ không thì … bỏ mẹ rồi !

Tr Bac siCHUYỆN  CƯỜI

Có ông Bác sĩ kia ế khách, bèn nghĩ ra một kế. Ông ta trưng tấm biển trước phòng mạch, nói rằng : trị dứt bịnh thì tính 20 Mỹ-kim, còn không dứt bịnh thì bồi thường cho bệnh nhơn 100 Mỹ-kim.
Bên cạnh phòng mạch có một ông luật sư ế khách đói dài, thấy vậy bèn tới phòng mạch Bác sĩ đó định kiếm 100 bạc xài chơi.
Luật sư: Tôi bị mất khứu giác, ông trị giùm tôi.
Đốc tưa: Y tá, lấy lọ thuốc số 9 và nhỏ vô lỗ mũi ông này ba giọt.
Luật sư: Ê, cái này là nước mắm mà.
Đốc tưa: Xin chúc mừng ông đã lấy lại được khứu giác. Trả tui 20 đô.
Luật sư cả giận, ba ngày sau trở lại phục hận.
Luật sư: Tui mất trí nhớ, ông trị giùm tui.
Luat su 1Đốc tưa: Y tá, lấy lọ thuốc số 9 và nhỏ vô mồm ông này ba giọt.
Luật sư: Đừng, đừng. Cái này là nước mắm, tôi nhớ mà.
Đốc tưa: Ông đã lấy lại được trí nhớ. Trả tui 20 đô tiền trị bịnh.
Tuần sau, luật sư tới phục hận một lần nữa.
Luật sư: Tui bị giảm thị giác, ông trị giùm tui.
Đốc tưa: Cái này thì tui chịu thua. Đây là tờ 100 đô tui bồi thường cho ông.
Luật sư nhìn tờ giấy bạc rồi nói: Đây là tờ 10 đô mà, đâu phải 100 đô ?
Đốc tưa cười hề hề: Tui đã lấy lại được thị giác cho ông. Trả tui 20 đô lẹ lên ông Luật sư .
2 Thu gian 1
2 Thu gian 2

TOI KỂ BÀ NGHE…

Ke ba ngheLũ trẻ bây giờ yêu nhau buồn cười lắm !
Chúng mình bên nhau cả đời chưa chán,
Chúng nó bên nhau tính tháng, tính ngày.
Tôi kể bà nghe…
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau lạ lắm thay
Thời chúng mình, cái nắm tay cũng làm cả làng dị nghị,
Chúng nó thì nhận lời hôm trước, hôm sau đã đưa nhau vào nhà nghỉ,
Làm cái chuyện động trời !
Hoc sinh 3Tôi kể bà nghe…
Chẳng biết tôi với bà đã quá lỗi thời,
Hay là vì lũ trẻ bây giờ học đòi tân tiến.
Chúng nó nghĩ yêu là phải hết mình dâng hiến,
Thế là mặc sức cho đi mà chẳng nghĩ đến cha mẹ, họ hàng…
Tôi kể bà nghe…
Ngày xưa chúng mình tìm hiểu nhau đứng đắn, đàng hoàng,
Bây giờ lũ trẻ nứt mắt ra, học cấp ba đã học đòi yêu đương dấm dúi,
Điện thoại tân thời, áo quần cũn cỡn, xe số xe ga…
Hon nhan 1chúng nó đưa nhau vào bờ, vào bụi…
Chẳng ra cái thể thống gì !
Tôi kể bà nghe…
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau rất lạ kỳ.
Chúng nó bảo yêu say đắm, yêu hết mình,
mà chẳng có bao nhiêu đôi đi được với nhau đến cùng trời cuối đất.
Chúng nó lướt qua cuộc đời nhau như chẳng có gì để mất,
Biến “Tình yêu” thành cái định nghĩa hết sức tầm thường…
Tôi kể bà nghe…
Tôi với bà tình thương mến thương
Hơn sáu chục năm trời mà thấy vẫn còn chưa đủ…
Lũ trẻ bây giờ chán rồi bỏ nhau, thất tình khóc xong rồi ngủ,
Sáng mai tỉnh dậy lại tươi tắn rêu rao :”Tìm một nửa thất lạc của đời mình”.
Tr Yamaham 2Tôi kể bà nghe…
Ngày xưa chúng mình cứ phải cân nhắc bên hiếu, bên nghĩa, bên tình.
Bây giờ chúng nó nhắm mắt đưa chân mà chẳng một lần nhìn lại,
Chúng nó cứ mù quáng buông mình trôi đi mãi
Chẳng biết đâu mới là giới hạn, để dừng lại cho những tháng ngày sau…
Tôi kể bà nghe…
Tuy chúng mình già nhưng chẳng yếu lắm đâu!
Trái tim tôi với bà vẫn còn đập những nhịp nguyên lành cho những yêu thương ngọt ngào phía trước,
Lũ trẻ bây giờ trao cho nhau trái tim đã bao lần bị ném, vùi, vỡ xước…
Tr Yamaham 4Rồi chúng nó tự hỏi mình, đau khổ tại vì đâu?
Tôi kể bà nghe…
Tại vì chúng nó không biết trân trọng nhau!
Ở thời của chúng mình, cái gì vỡ thì cùng nhau hàn gắn,
Chúng nó thích tân thời, chúng nó ham vứt đi để mua cái mới…
Nên chúng nó chẳng giữ được cái gì bền vững vượt thời gian…
Tr Tuoi giaTôi kể bà nghe…
Có một câu nói dân gian:
“Dẫu cho chẳng có bạc vàng,
Bên anh chỉ có mình nàng, anh vui !
Người ta sống ở trên đời,
Quý nhân, trọng nghĩa, là người an yên”.
(khuyết danh)
CHÍ LÝ
Phóng viên phỏng vấn một cụ già :
– Thưa cụ, xin cụ cho biết vì sao cụ chưa bao giờ có ý định lập gia đình ?
– Vô cùng dễ hiểu : Tôi thà suốt đời muốn cái mình không có còn hơn có cái mình không muốn !
Tr Ba gia 2ĐEO KÍNH
Bà nọ gọi điện cho bác sĩ
– Tôi cầu xin ngài, bác sĩ ! Chồng tôi đang trên đường đến chỗ ông để khám mắt. Xin ông làm ơn đừng cho chồng tôi đeo kính. Cuộc hôn nhân của chúng tôi kể từ 10 năm nay rất là…

Chỉ tại 2 quả cân

Trong giờ sinh học, cô giáo hỏi học sinh : “Tại sao ở lứa tuổi nhỏ, các bạn nữ thườngHai qua cancó xu hướng cao hơn các bạn nam ?”
– Thưa cô, bởi vì con trai có 2 quả cân níu lại ạ.
Cô giáo (hơi bực) hỏi tiếp :
– Thế tại sao ở tuổi trưởng thành, con trai lại cao lớn hơn con gái ?
– Bởi vì lúc ấy 2 quả cân của con gái mới lớn lên và nặng hơn 2 quả cân của con trại ạ.
– !!!!!

Dạy vẹt biết nói

Tèo mua một con vẹt về cho học nói. Tèo dạy nó: “Tôi biết đi”
Con vẹt nhắc lại: – Tôi biết đi.
Tèo nói: – Tôi biết nói.
Con vẹt nhắc lại: – Tôi biết nói.
Tèo nói: – Tôi biết bay.
Con vẹt nói lại: – Xạo mày.
– !!!!!
Yên Huỳnh tổng hợp
Vĩnh Bảo sưu tầm 19/4/2015