Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

TỪ VIỆT CỔ

TỪ VIỆT CỔ

Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 

Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.

Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. (Ảnh qua facebook)

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’.

Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?

‘Búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. (Ảnh qua facebook)

‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.

‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?

‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn lớn cũng là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.(Ảnh qua facebook)

‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này [㭲]. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?

Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.

‘Han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. (Ảnh qua facebook)

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?

‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.’Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. (Ảnh qua facebook)

‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên, ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.

‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tác’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.

Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,…

Riêng từ ‘to tác’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.

Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘Cù’ có nghĩa gì không?

‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả. (Ảnh qua facebook)

‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.

Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ (劬劳) chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao).
Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

‘Núc’ là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’ và có thể hiểu núc chính là ông Táo. (Ảnh qua facebook)

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)

'Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa

Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. (Ảnh qua facebook)

– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm.

Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

‘Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa

Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may. (Ảnh qua facebook)

– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.


Vĩnh bảo sưu tầm 21/8/2019)

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

TRUNG NGUYÊN TIẾT

TRUNG NGUYÊN TIẾT


Trung nguyên tiết 中元节 còn có biệt danh là “Thất nguyệt bán” 七月半, “Thất nguyệt thập tứ” 七月十四, “Tế tổ tiết” 祭祖节, Vu lan bồn tiết” 盂兰盆会, “Địa quan tiết” 地官节. Tập tục ngày tiết này chủ yếu có tế tổ, thả đèn trên sông, tế vong hồn, đốt vàng mã, tế tự Thổ địa ... “Trung nguyên tiết” là cách gọi theo Đạo giáo, dân gian thế tục xưng là “Thất nguyệt bán” (hoặc “Thất nguyệt thập tứ”), sự ra đời của nó có thể truy ngược lên đến việc sùng bái tổ linh thời thượng cổ cùng với những thời tế tương quan. Tiết kì của nó liên quan đến sự tuần hoàn tiêu trưởng âm dương trong văn hoá cổ, trong Dịch kinh 易经có nói “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân. “Thất nguyệt bán” là tiết nhật dân gian mừng được mùa, tạ ơn đất đai, một số nông sản được dân gian bày ra để tế tổ, dùng gạo mới để dâng cúng, hướng đến tổ tiên báo cáo thành quả thu được vào mùa thu. Tiết này là một lễ tết truyền thống văn hoá tưởng nhớ tổ tiên, hạt nhân văn hoá của nó chính là “kính tổ tận hiếu” 敬祖尽孝.

Nguồn gốc của “Thất nguyệt bán” là Tế tổ tiết trong dân gian thời cổ, còn gọi là “Trung nguyên tiết” là cách nói của Đạo giáo khởi nguồn từ sau thời Đông Hán. Đạo giáo có “Tam nguyên thuyết” 三元说: “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Tên gọi “Trung nguyên” từ đó mà ra, còn Phật giáo gọi là “Vu lan bồn tiết”. Vào thời Đường giai cấp thống trị tôn sùng Đạo giáo, Trung nguyên tiết của Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh, từ “Trung nguyên” dần được cố định thành tên tiết, tiết kì tại ngày rằm tháng 7, rồi truyền đến ngày nay.


Nguồn gốc sâu xa của Trung nguyên tiết

Trong Dịch kinh có nói, “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. “Thất” là dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. “Thất” cũng mang theo sắc thái thần bí, như trên trời có “thất tinh” 七星 (Thất tinh cao chiếu 七星高照), tình cảm của con người có “thất tình” 七情, màu có “thất sắc” 七色, âm nhạc có “thất âm” 七音, thi ca có “thất luật” 七律, nhân thể có “thất khiếu” 七窍 v.v... “Thất” cũng là chu kì sinh mệnh của con người, 7 tuổi bắt đầu được dạy dỗ, 14 tuổi bước vào thời kì thanh xuân, 21 tuổi thân thể hoàn toàn thành thục .... Số 7 trong dân gian biểu hiện tính giai đoạn về thời gian, khi tính toán thời gian thường lấy “bảy bảy” làm chung cuộc, cuộc phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân, còn ngày 14 (nhị thất) là số chu kì của số 7. Người xưa chọn ngày 14 tháng 7 (thất nguyệt bán) tế tổ có liên quan đến số phục sinh này của số 7.


Sự dung hợp nội hàm của Trung nguyên tiết

Tập tục tế tổ vào giữa tháng 7 đã có từ thời cổ, vốn là “Tế tổ tiết” của dân gian, không phải là “Quỷ tiết” 鬼节 (“Quỷ tiết” là cách nói sau này, có thể là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” 中元普渡开鬼门关 trong Đạo giáo diễn biến mà ra). Thất nguyệt bán tế tổ tiết được gọi là “Trung nguyên tiết”, thì bắt nguồn cách nói của Đạo giáo từ sau thời Đông Hán (khoảng thời Nguỵ Tấn). Trong chư thần của Đạo giáo có Thiên quan, Địa quan, Thuỷ quan, hợp xưng là “Tam quan đại đế”. Họ là đại biểu được Thiên đế phái xuống nhân gian, lần lượt tại “tam nguyên nhật” kiểm hiệu công tội để định ra thưởng phạt giúp Thiên đế. “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Nơi mà Địa quan cai quản là địa phủ, trọng điểm sở nghiệm đương nhiên là chúng quỷ của các lộ. Đem Trung nguyên cùng Thượng nguyên, Hạ nguyên hợp xưng là “tam nguyên”. Theo truyền thuyết, vào ngày Trung nguyên, địa cung mở cửa, cũng là ngày địa ngục mở cửa, chúng quỷ rời khỏi cõi u minh, bị khảo hiệu. Quỷ có chủ sẽ về nhà, quỷ không có chủ sẽ phiêu bạt chốn nhân gian, lẩn quẩn các nơi để tìm thức ăn, do đó mà ngày này cũng gọi là “Quỷ tiết”, tiến hành phổ biến hoạt động tế tự hồn quỷ, thả đèn trên sông để vong hồn quỷ theo đó mà tìm đường về nhà. Các Đạo quán cử hành đại pháp hội long trọng, lập đạo tràng cầu phúc, nội dung là siêu độ linh quỷ vong hồn.


Tháng 7 âm lịch cũng là tháng báo ân, trong Phật giáo có “thiền thất” 禅七, “tịnh thất” 净七, đến bảy bảy bốn mươi chín biểu thị ý nghĩa vô hạn. “Thất” là số biến hoá vô cùng, bao hàm vô tận. Theo cách nói của Phật giáo, ngày rằm tháng 7 là ngày tăng đồ công đức viên mãn. Vào ngày này, đệ tử Phật môn cử hành “Vu lan bồn pháp hội” 盂兰盆法会. Theo ghi chép trong Đại tạng kinh 大藏经, Vu lan bồn là Phạn ngữ, ý nghĩa của “Vu lan” là “đảo huyền” 倒悬 (treo ngược); “bồn” 盆 (chậu) là “pháp khí”. Ý nghĩa của “Vu lan bồn” là khí vật dùng để cứu khổ nạn bị treo ngược, tức ý nói dùng “bồn” đựng đầy trăm vị ngũ quả, cúng dường Phật Đà và chư tăng, để cứu vớt chúng sinh bị khổ nạn chốn địa ngục. Nghi thức này sớm nhất là từ pháp hội Mục Liên 目连 cứu mẹ bắt đầu lưu hành.

Từ xưa tới nay, mọi người rất coi trọng tế tự. Tiết nhật này khởi nguồn từ 3 loại văn hoá: thế tục dân gian, Đạo giáo, Phật giáo, văn hoá tế tự của nó lưu truyền lâu đời, địa vực ảnh hưởng rộng lớn. “Thất” trong chữ số Trung Quốc là một kì số: thất xảo 七巧, thất tinh 七星, thất thái 七彩, thất luật 七律. “Thất” là dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. Nhưng lâu dần, một số nơi ở Trung Quốc cho rằng tháng 7 là tháng quỷ, là tháng không cát tường, có lẽ là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” trong Đạo giáo diễn biến mà ra, từ đó lấy ngoa truyền ngoa, thế là có một số nơi cho tháng 7 là tháng “chư sự bất nghi” 诸事不宜 (muôn việc không thích hợp), ví dụ tháng 7 không xuất hành, không khai đao, không kết hôn, không xây nhà, không dọn nhà v.v... Kì thực, tháng 7 là tháng cát tường.


Theo thế tục dân gian, “Thất nguyệt bán” là lễ tết truyền thống văn hoá truy niệm tổ tiên, hạt nhân của nó là “kính tổ tận hiếu”, không quên nguồn gốc. Theo Phật giáo, tháng 7 lại gọi là “Song hỉ nguyệt” 双喜月, “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, “Cát tường nguyệt” 吉祥月. Ý nghĩa về tiết nhật này ở Phật giáo và Đạo giáo có sự giải thích khác nhau, Đạo giáo cường điệu hiếu đạo, Phật giáo coi trọng việc “phổ độ” các cô hồn vô chủ được thả ra từ cõi âm. Tập tục hậu kì của “Thất nguyệt bán” có thể nói là sự dung hợp giữa Đạo giáo và Phật giáo....

Trung nguyên tiết tam tục hợp nhất

Mọi người thường cho rằng, Trung nguyên tiết cũng tức là “Vu lan bồn tiết”; kì thực nhận thức này tồn tại rất nhiều sai lầm. Nói một cách chính xác, Thất nguyệt thập tứ Tế tổ tiết, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết được phân ra là tục tín dân gian, Đạo giáo và Phật giáo, cả 3 có quan hệ với nhau chứ không phải là danh xưng khác nhau của một tiết nhật. Từ sau khi Đạo giáo hưng khởi, 2 chữ “Trung nguyên” 中元 trong “tam nguyên thuyết” 三元说 vào thời trung và hậu kì nhà Đường được chính thức cố định thành tên gọi của tiết, đồng thời đem tiết kì ấn định vào ngày 15 tháng 7. Tiết nhật này là tiết nhật tam tục hợp nhất.


Trước khi “Trung nguyên tiết” hình thành, ngày 15 tháng 7 sớm đã được Phật giáo trưng dụng. Tháng 7 theo Phật giáo, nguyên là “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, chứ không phải “Quỷ tiết” 鬼节. Nhưng vì sao Vu lan bồn tiết của tháng 7 trở thành “Quỷ tiết”? Vu lan bồn, là dịch âm từ Phạn văn Ulambana, có nghĩa là “cứu đảo huyền” 救倒悬, tức giải cứu những hồn quỷ bị khổ nạn ở địa ngục. Vào thời Nguỵ Tấn, kinh Phật Vu lan bồn kinh 盂兰盆经 được phiên dịch truyền vào Trung Quốc, trong kinh có câu chuyện “Mục Liên cứu mẫu” 目连救母, đã ngầm hợp với quan niệm đạo hiếu vẫn tồn tại lúc bấy giờ, về sau được Lương Vũ Đế Tiêu Diễn 梁武帝萧衍thời Nam triều đề xướng “tam giáo đồng nguyên thuyết” 三教同源说, đem tiết nhật đó định thành một tiết nhật dân tục. Công năng chủ yếu lúc bấy giờ là cung phụng Phật Tổ. Đến đời Tống mới phát sinh biến hoá, phát triển thành “tiến vong độ quỷ” 荐亡度鬼. Không biết là trùng hợp hay là Đạo giáo phụ hoạ “Vu lan bồn tiết” của Phật giáo, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết đều thiết định vào ngày 15 tháng 7. Cho đến hậu thế sau này vẫn cho rằng, cả 2 là hai danh xưng của cùng một tiết nhật. Đồng thời cũng do bởi ý nghĩa và tập tục sớm đã khó phân định, tập tục của cả 2 bắt đầu dùng lẫn lộn.


Sự phát triển lịch sử của Trung nguyên tiết

Nhìn từ những ghi chép trong sách vở, hoạt động tế tổ vào mùa thu đã có từ thời Tiên Tần. Tập tục Thất nguyệt bán tế tổ vốn là sản vật văn hoá bản địa, tiết tục bao hàm trong đó tương đối phức tạp, vừa là thu thường tế tổ tiết của dân gian, lại là Trung nguyên tiết của Đạo gia, Vu lan bồn tiết của Phật giáo, tục Đạo Tăng tam lưu hợp nhất. Trong dân gian có truyền thống “thận chung truy viễn” 慎终追远 (1), cho nên cần tế tổ, nghi thức tế bái thường là cử hành vào trung tuần tháng 7. Như trong Phổ Ninh huyện chí 普宁县志 thời Càn Long 乾隆nhà Thanh có ghi:

Tục vị tổ khảo hồn quy, hàm cụ thần y, tửu soạn dĩ tiến, tuy bần vô cảm khuyết.
俗谓祖考魂归, 咸具神衣, 酒馔以荐, 虽贫无敢缺
(Tục cho là hồn của tổ khảo trở về, chuẩn bị đầy đủ áo giấy, rượu, thức ăn để dâng lên, nhà tuy nghèo nhưng không dám thiếu)

Trong tế phẩm, áo giấy là thứ không thể thiếu. Nhân vì tháng 7 cái nóng bắt đầu dứt, cần phải có áo để chống rét, ở nhân gian thì:

Thất nguyệt lưu Hoả, cửu nguyệt thụ y (2)
七月流火, 九月授衣
(Tháng 7 sao Đại hoả xuống thấp, tháng 9 may áo chống rét)

Thời cổ, Trung nguyên tiết không chỉ mang ý nghĩa quan trọng về độ tín ngưỡng, mà về phương diện thế tục, cũng là tiết nhật có công năng vui chơi được quần chúng tham dự rất đông... (trích) (hết).


Chú của người dịch:

1- Thận chung truy viễn慎终追远:
Câu này xuất xứ từ thiên Học nhi 学而 trong Luận ngữ 论语:
Tăng tử viết: Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.
曾子曰: 慎终追远, 民德归厚矣
(Thận trọng trong tang lễ cha mẹ, tưởng nhớ đến tổ tiên đời trước, việc đó sẽ khiến bách tính đi đến chỗ trung hậu thành thực)

2- Lưu Hoả 流火: Đại hoả tinh từ hướng nam cao đi dần xuống hướng tây thấp.
Thụ y 授衣: cắt may áo rét. Mã Thuỵ Thần 马瑞辰trong Mao thi truyện tiên thông thích 毛诗传笺通释có nói:
“Phàm nói “thụ y” là đều giao việc làm áo. Thụ y ở đây, cũng là nói là giao việc làm áo. Tháng 9 công việc của phụ nữ đã xong, việc kéo sợi cũng đã hoàn tất, bắt đầu may áo. Không phải nói áo đông vào tháng đó đã thành mà trao áo cho người.”


Dịch giả: Huỳnh Chương Hưng
Vĩnh Bảo sưu tầm 19/8/2019

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

7 ĐẶC SẢN VIỆT NGON NỨC TIẾNG NHƯNG "CÀNG ĂN CÀNG ĐỘC".


7 ĐẶC SẢN VIỆT NGON NỨC TIẾNG NHƯNG "CÀNG ĂN CÀNG ĐỘC"

Dù đều là đặc sản vùng miền, là những món ăn được nhiều thực khách ưa chuộng nhưng nem chua, cóc, sứa hay cháo ấu tẩu,… lại tiềm ẩn nhiều nguy hiểm nếu không được chế biến đúng cách.

Tiết canh

Từ lâu, tiết canh đã là món ăn độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Những người “nghiện” tiết canh thì khẳng định, chỉ cần ít lòng băm nhỏ, rau húng, lạc và miếng chanh vắt vào thì loại “huyết đông” này ngon miệng chẳng kém các món gỏi sống của người Nhật.

Tiết canh là món ăn của riêng người Việt.

Tiết canh là món ăn của riêng người Việt. Tuy nhiên, không phải du khách nào cũng có can đảm thưởng thức món ăn này. Thậm chí, một số trang báo nước ngoài còn liệt kê tiết canh vào danh sách Những món ăn khó nuốt nhất hành tinh.

Bản chất tiết canh là tiết sống nên tiềm ẩn rất nhiều mầm bệnh. Các bệnh dễ gặp khi ăn tiết canh là liên cầu lợn, nhiễm khuẩn huyết, viêm não mô cầu, giun, sán... Bởi vậy, tốt nhất nên lựa chọn các địa chỉ tin cậy để thưởng thức món tiết canh.

Nem chua

Nem chua là món ăn được ưa chuộng khắp từ Bắc vào Nam, nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến nem chua Thanh Hóa. Du khách phương xa đến vùng đất này cũng thường mua nem về làm quà cho người thân.

Nem chua Thanh Hóa có giá bán không quá cao.

Nem chua được làm từ thịt lợn sống trộn với thính, tỏi, ớt, sau 3 ngày lên men thì có thể ăn được. Người biết thưởng thức trước khi ăn sẽ đưa lên mũi hít thử một hơi. Nem ngon và “chuẩn” Thanh Hóa sẽ có mùi vị thơm chua phảng phất, có thoáng qua cái cay cay của hạt tiêu và hăng hăng của lá đinh lăng.

Tuy nhiên, vì là món ăn làm từ thịt lợn, thính gạo, cơ chế chủ yếu là ủ men tự chín, lại không qua chế biến lửa nên nem chua có thể bị nhiễm mốc, các vi khuẩn gây bệnh. Tốt nhất, thực khách nên loại bỏ những nem chua đã để quá hạn dùng hoặc không đảm bảo về chất lượng.

Cóc

Nếu về thăm miền Tây mùa mưa, thi thoảng du khách sẽ bắt gặp từng tốp thanh niên xách đèn đi “săn” cóc đem về nấu cháo. Thông thường, người ta sẽ lựa những con to, có màu đen (cóc vườn) hay màu vàng (cóc ruộng), trên lưng có nhiều sần, chân mập, mắt sáng...

Bát cháo cóc có hương đậm đà, thịt cóc ăn như thịt ếch nhưng dai hơn. Đối với dân miền Tây, thịt cóc là món ngon và bổ dưỡng. Theo Đông y, thịt cóc mát bổ, chứa nhiều chất dinh dưỡng chữa bệnh, tốt cho trẻ em suy dinh dưỡng và người mới ốm dậy.

Cóc cần được sơ chế kĩ lưỡng trước khi chế biến.

Nhưng trên thực tế, đã có không ít trường hợp nguy kịch khi ăn thịt cóc. Thành phần chứa độc tố nằm ở mật cóc, trứng cóc hay nhựa tiết ra từ mang tai cóc. Chính vì vậy nên khi sơ chế, đầu bếp sẽ bỏ đi toàn bộ phần da, đầu, nội tạng. Thịt cóc cũng nên được rửa thật nhiều lần trước khi chế biến.

Nếu ăn phải cóc chứa độc tố với lượng lớn, 1 - 2 giờ sau khi ăn thực khách sẽ gặp phải các triệu chứng đau bụng, buồn nôn, tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim nặng, suy hô hấp và ngừng thở, trụy mạch…

Cháo ấu tẩu

Cháo ấu tẩu là một trong những món ăn lọt vào top "kinh dị" của vùng cao Tây Bắc khiến nhiều du khách nghe tên cũng đủ sợ tái mặt. Nếu ăn tươi, nhai sống ấu tẩu thì người dùng sẽ "tắc tử" vô phương cứu chữa. Nhưng nếu được bào chế cẩn thận, củ ấu tẩu lại trở thành dược liệu quý

.
Món đặc sản riêng của Hà Giang đã gây tò mò cho biết bao du khách.

Để có được bát cháo ấu tẩu sền sệt, thơm lừng, vừa có vị ngai ngái, bùi bùi, lại có chút đăng đắng rồi ngọt lịm nơi cuống họng thì khâu chế biến phải cực kỳ công phu. Theo kinh nghiệm của người dân vùng cao, thời gian chuẩn bị và nấu nướng có thể kéo dài suốt một ngày trời.

Cháo ấu tẩu ăn kèm thịt băm, các loại rau thơm, tiêu, hay măng chua. Là món “độc” nên khi sử dụng, người dân tộc đưa ra khuyến cáo: cháo ấu tẩu chỉ tốt nhất cho người trưởng thành. Nếu thực khách dưới 18 tuổi, đặc biệt là trẻ em thì không nên lạm dụng vì ăn nhiều dễ bị giòn xương.

Thịt chuột

Nhắc đến chuột, nhiều người sẽ chỉ thấy rùng mình chứ ít ai nghĩ rằng đây lại là món đặc sản trứ danh của miền Tây. Khi mùa gặt kết thúc cũng là lúc mùa săn chuột chính thức khởi động.

Người dân sử dụng những cách thức dân dã để chế biến chuột như nướng, chiên giòn... Một số địa phương lại có các món “đặc sản” như chuột giả cầy, chuột xào chua ngọt, chuột rán, chuột sốt cà chua, chuột nhúng giấm…

Người Việt rất cầu kì và sáng tạo khi chế biến được trên 30 món ăn công phu từ thịt chuột.

Tuy nhiên trong chuột, đặc biệt là trong nước tiểu, thận cũng như các phủ tạng khác của chúng chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm như dịch hạch, phó thương hàn, viêm cầu khuẩn, lao... Trong đó, nguy hiểm nhất là virus dịch hạch.

Ngoài ra, môi trường sinh sống của chuột cũng có thể bị ô nhiễm nặng. Lâu dần, các chất độc sẽ tích tụ dần trong cơ thể của người sử dụng, làm gia tăng khả năng mắc các bệnh nguy hiểm như bệnh về gan, thận, ung thư.

Các loại côn trùng

Món ăn từ côn trùng từ lâu đã không còn xa lạ với đồng bào miền núi. Khi được chế biến thành các món ăn đậm chất quê, côn trùng khá kén người ăn nhưng lại hấp dẫn với những thực khách ưa tìm hiểu hương vị mới lạ.

Tùy theo từng mùa mà có các loại côn trùng để chế biến thành những món khác nhau.

Các loài côn trùng như dế, ve, nhộng sầu, đuông dừa... từ lâu vẫn được coi là những món ăn rất thơm ngon, hấp dẫn. Tuy nhiên, các loại côn trùng này có thể bị nhiễm nấm độc kí sinh, người ăn phải sẽ bị rối loạn tiêu hóa, hôn mê và dẫn đến tử vong.

Thêm nữa, côn trùng bắt ngoài tự nhiên không phải là côn trùng sạch như nhiều người tưởng. Trên thân của chúng chứa các loại nấm độc, giun tròn, bọ chét, rận, ve… Vì thế, khi sử dụng làm thức ăn, nếu không xử lý sạch sẽ có thể dẫn đến ngộ độc.

Sứa

Sứa là loài hải sản nhiều tua, thân dạng keo trong suốt, chứa nhiều nước, sống trôi nổi trên biển, nhiều nhất ở vùng biển lặng sóng. Tại Việt Nam, sứa biển được sử dụng khá phổ biến để chế biến một số món như nộm, lẩu, canh,… Nhưng cách chế biến công phu, đặc sắc nhất phải kể đến gỏi sứa đỏ Hà Nội và bún giấm nước Huế.

Sứa có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau.

Tuy nhiên, thực khách nên lưu ý, ăn sứa vào mùa chúng sinh sản – tức mùa xuân, mùa hè rất nguy hiểm. Thời điểm này, cơ thể sứa thường tích lũy nhiều độc tố có thể gây ngộ độc thực phẩm, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Thêm vào đó, sứa phải được ngâm qua 3 lần trong nước muối và phèn, đến khi thịt sứa chuyển sang màu đỏ nhạt hoặc vàng nhạt thì mới có thể đem chế biến làm thức ăn.Hiếu Anh
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/8/2019




Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

Rươi và những bí ẩn chưa lời giải

Rươi và những bí ẩn chưa lời giải



Ai cũng biết rươi là một đặc sản quý và hiếm, không phải vùng đất nào cũng có và không phải mùa nào cũng có, không phải cứ có tiền là mua được ngay. Bởi đơn giản, rươi là một sinh vật hiếm, với rất nhiều bí ẩn.
Những ai đã từng ăn rươi, từng thấy rươi (rươi sống) thậm chí như chúng tôi là những người dân địa phương từ khi sinh ra đã thấy rươi, đi vớt rươi hàng mấy chục năm nay, nhưng rươi vẫn là một ẩn số. Mỗi lần nhắc đến rươi là cả một câu chuyện dài, cả một cuộc tranh luận không lời kết, mỗi người, mỗi cách. Tất cả, chỉ dừng lại ở phỏng đoán, kinh nghiệm chứ chưa có bất cứ giải thích khoa học nào cả.

Rươi sinh sản và phát triển bí ẩn
Rươi chỉ có rải rác ở một số tỉnh địa phương đồng bằng vùng trũng, có diện tích đất ngập úng, có con nước thủy triều lên xuống của các con sông, con lạch nhỏ, nước lợ như một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ.
Ở Hà Tĩnh, rươi chỉ có ở một ít vùng gần hạ lưu sông Lam: xã Xuân Hồng, Xuân Lam, huyện Nghi Xuân. Thậm chí trong cùng một cánh đồng, vùng có rươi, vùng không; thửa ruộng có rươi, thửa ruộng lại không có.
Có những cụ già ở các địa phương sống gần hết cả đời người, đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần rươi nổi, nhưng cũng không biết rươi sinh sản như thế nào, khi nào, sống ở đâu và ăn thức ăn gì. Cũng chưa có một nghiên cứu khoa học nào giải thích về loại sinh vật này. Chỉ biết vào những tháng mùa đông, rươi lại nổi lên mặt nước khoảng 1-2 giờ đồng hồ, rồi lại biến mất.
Rươi nổi và bơi trên mặt nước như con đỉa. Có khi nổi dày đặc, đỏ cả mặt nước.
Những người nông dân đã không biết bao nhiêu người, bao nhiêu lần xới đất sâu, tỉ mỉ ở những vùng đất có rươi nổi để tìm. Nhưng sau khi nổi và biến mất người ta không tìm thấy bất kỳ một dấu hiệu nào của rươi sót lại. Kể cả những thửa ruộng đắp bờ kín không cho nước chảy ra.
Nhiều người giải thích huyền bí cho rằng, nó sống ở tầng đất thứ 9, nhưng thân rươi lại vô cùng mềm và dễ vỡ. Chỉ cần chạm nhẹ vào thân nó, là nó có thể vỡ ra và chết. Nên rươi không thể chui nhanh xuống đất như vậy được.
Hàng năm, rươi lại càng ít dần đi. Nhưng theo kinh nghiệm của dân dịa phương, những thửa ruộng nào phun nhiều thuốc cỏ, thuốc trừ sâu thì năm sau ở thửa ruộng đó, rươi sẽ nổi ít hơn.
Rươi xuất hiện lạ lùng
Không ai biết nó sinh sản vào mùa nào, như thế nào, con nào là con đực, con nào là con cái hay là lưỡng tính. Nên cũng không ai biết khi rươi xuất hiện trên mặt nước là lúc bắt đầu hay kết thúc cuộc đời của nó. Chỉ biết rằng khi xuất hiện, nó nổi đồng loạt trên mặt nước, thấy đỏ cả mặt ruộng như ổ cá tràu con, khoảng 1-2 giờ, rồi tất cả “biến mất”. không ai biết chắc chắn nó nổi ngày nào, giờ nào.
Chỉ theo kinh nghiệm bao nhiêu năm của người dân địa phương chúng tôi, thì rươi chỉ xuất hiện vào 3 tháng là tháng 9,10,11 âm lịch hàng năm.
Rươi thường nổi nhiều vào các ngày cuối, đầu và giữa tháng như ngày 29, 30; mồng 1, mồng 2: ngày 14, 15 rằm. Các ngày khác chỉ nổi rải rác, ít và khi có, khi không.
Những ngày cuối tháng, rươi lại thường nổi vào lúc 1-2 giờ sáng; những ngày giữa tháng, ngày rằm, rươi lại thường nổi đồng loạt lúc 19-20 giờ. Các ngày khác có khi lại nổi lúc 7-8 giờ sáng. Tuy nhiên, các ngày, giờ rươi nổi cũng rất thất thường, thay đổi, không cố định. Không ai biết mà giải thích.
Nhiều khi đến ngày rươi nổi, cả xóm, làng đều ra đồng, chờ để vớt, nhưng lại không thấy. Có khi bỗng nhiên thấy rươi nổi nhiều đỏ cả đồng, cả xóm, làng lại ùn ùn kéo nhau ra đồng vớt rươi.
Cách đánh bắt độc đáo
Rươi chỉ nổi ở những cánh đồng vùng nước lợ, có con thuỷ triều lên xuống của các con sông chảy qua các con hói, lạch vào đồng.
Vào trong cánh đồng, nó cũng chỉ có ở những vùng biển, thửa ruộng gần con nước lên xuống. Những nhà có ruộng vùng này, họ đắp bờ ruộng cao lên quá mặt nước và tháo cho nước chảy qua một chỗ, đồng thời dùng lưới nhỏ hứng rươi. Ở những vùng đất chung thì mọi người cùng nhau dùng vợt để vớt.
Ở các khúc hói, lạch, mỗi khúc một lại có một “trộ” rươi, được người ta ngăn lại đón rươi theo vùng nước. Các “trộ” rươi này được người ta thầu khoán với hợp tác xã. Thường đây là những chỗ có được nhiều rươi nhất. Sau khi đưa rươi về, ngươi ta phải chăm giữ cẩn thận trước khi nhập bán.
Rươi thích nhiệt độ lạnh từ 1-8C . Người ta phải dùng đá lạnh mới tan ra để cho rươi vào, có như vậy rươi mới sống được một thời gian vài ngày trước khi được lái buôn đưa đi để bán sang Trung Quốc.
Người dân địa phương không ai dám ăn rươi
Lúc trước rươi nhiều và rẻ. Đến mùa rươi, cả làng thơm phức mùi chả rươi. Chúng tôi, có khi ăn chả rươi cả tuần liên tục, làm thức ăn chính hàng ngày.
Gần 7-8 năm nay, rươi ít dần, giá cao vọt, dù thèm, nhưng hầu như trong làng không ai dám bỏ ra hàng trăm ngàn bỏ ra để mua rươi ăn. Những nhà đánh bắt được cũng chỉ dành bán đi lấy tiền. Chỉ cần 10kg là họ cũng đã có gần 1,5 triệu, bằng thu nhập bình thường của cả gia đình trong một tháng.
Món chả Rươi
 
Rươi là mặt hàng xa xỉ, siêu lợi nhuận
Trước đây, rươi nhiều, chưa có người buôn bán nơi khác đến nên rươi bán rẻ. Nhưng, trong khoảng 7-8 năm trở lại đây rươi càng ngày càng ít đi, trong khi đó có các lái buôn từ Thanh Hóa vào mua để bán sang Trung Quốc nên giá rươi tăng vọt và trở thành mặt hàng "xa xỉ” với giá 130 ngàn/1kg, có khi lên tới 160 ngàn đồng.
Trung bình các ngày nhiều rươi mỗi nhà vớt được 10-20kg, những người ít thì 4-5kg. Nhiều nhất có một số nhà, chỉ trong một đêm (hay đúng hơn là trong khoảng 2-3 tiếng đồng hồ) vớt được 100kg rươi và tính theo giá hiện nay tương đương thu lại 13-15 triệu đồng, ít nhất mỗi nhà cũng có 200-300 ngàn đồng mỗi đêm.
Những đêm rươi nổi nhiều cũng phải đến khoảng hơn 4 tạ rươi, đem lại cho người dân khoảng gần 60 triệu đồng/đêm. Tính qua 3 tháng mùa rươi, người dân ở đây thu về hơn 600 triệu đồng.
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/8/2019

10 Kiệt tác hội họa đắt giá nhất mọi thời đại

10 Kiệt tác hội họa đắt giá nhất mọi thời đại



1. Bức chân dung Adele Bloch- Bauer của Gustav Klimt (135.000.000 USD)
 
Đây là tác phẩm hội họa được bán đấu giá cao nhất thế giới từ trước tới nay, hiện nay thuộc sở hữu của Chính phủ Áo. Bức tranh gây nhiều tranh cãi trong hơn một năm và sau đó được trao trả cho Áo sau một thời gian bị Đức quốc xã chiếm trong Thế chiến thứ hai. Bức tranh được danh họa Gustav Klimt vẽ vào năm 1907. Năm 2006, bức họa được Ronald S. Lauder mua lại để làm tài sản thừa kế.

2. Bức tranh “Garçon à la Pipe” của Pablo Picasso (104.100.000 USD)
 
Bức tranh nổi tiếng này được sáng tác trong thời kỳ Hoa Hồng: Garçon à la Pipe (Cậu bé với ống điếu) thể hiện tài năng của danh họa Picasso qua việc phối hợp hai màu cam và hồng. Bức họa được vẽ bằng màu dầu trên vải có kích thước 100cm x 81,3cm, thể hiện hình ảnh của một cậu bé người Paris đang cầm một tẩu hút thuốc bằng tay trái. Kỷ lục của bức tranh này do nhà bán đấu giá Sotheby’s ghi nhận vào ngày 4 tháng 5 năm 2004, làm cho tất cả những người tham gia cuộc đấu giá ngạc nhiên vì không ai ngờ một danh họa chuyên vẽ tranh lập thể lại có thể sáng tác một bức tranh tả chân xuất thần như vậy.

3. Bức tranh “Dora Maar với mèo” của Pablo Picasso (95.200.000 USD)
 
Một kỷ lục khác về tranh nghệ thuật được xác lập vào năm 2006, khi một bức tranh của Picasso được mua với giá 95.200.000 USD tại phiên đấu giá do nhà đấu giá Sotheby’s tổ chức vào ngày 3 tháng 5 năm 2006. Bức tranh này được vẽ vào năm 1941, được xem là một trong những họa phẩm cuối cùng của danh họa Pablo Picasso, mô tả Dora Maar, nhân tình của ông. Hai người từng có quan hệ mặn nồng suốt 10 năm trong thập niên 1930 và 1940.

4. Bức “Chân dung bác sĩ Gachet” của Vincent Van Gogh (82.500.000 USD)
 
Bức tranh này được danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh sáng tác. Sau khi qua đời Vincent Van Gogh đột nhiên nổi tiếng khắp thế giới và tranh của ông có giá rất cao. Nhà tài phiệt Ryoei Saito Nhật Bản đã mua bức “Chân dung bác sĩ Gachet” với giá 82.500.000 USD trong một phiên đấu giá tại nhà đấu giá Christie’s ở New York (Mỹ). Saito có ý tưởng rất ngông là muốn bức tranh này được đốt sau khi ông qua đời. Saito qua đời vào năm 1996 nhưng may mắn thay bức tranh được “cứu” vì con cháu ông không ngông như ông. Vincent Van Gogh đã từng vẽ hai phiên bản của bức “Chân dung bác sĩ Gachet”.

5. Bức tranh “Bal au Moulin de la Galette” của Auguste Renoir (78.000.000 USD)
 
Bức tranh “Bal au Moulin de la Galette” (Vũ hội ở quán Moulin de la Galette) được Auguste Renoir sáng tác vào năm 1876. Ngày 17 tháng 5 năm 1990, nhà bán đấu giá Sotheby’s ở New York đã bán bức tranh này với giá 78.000.000 USD cho nhà tài phiệt người Nhật Ryoei Saito, người đã mua bức “Chân dung bác sĩ Gachet”.

6. Bức tranh “Vụ thảm sát người vô tội”, của Rubens (76.700.000 USD)
 
Bức tranh này được danh họa Peter Paul Rubens vẽ vào năm 1611, được bán cho Kenneth Thomson với giá 76.700.000 USD tại nhà đấu giá Sotheby’s vào năm 2002.

7. Bức tranh“Chân dung tự họa” của Vincent Van Gogh (71.500.000 USD)
 
Bức “Chân dung tự họa” này là một trong những bức chân dung tự họa nổi tiếng của danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh. Ông đã vẽ bức tranh này tại Saint Rémy de Provence (Pháp) vào tháng 9 năm 1889. Đây là bức tranh sơn dầu trên vải có kích thước 40cm x 31cm. Bức “Chân dung tự họa” đã lập kỷ lục bức tranh đắt giá nhất mọi thời đại khi được bán với giá 71,5 triệu USD vào năm 1998 ở New York (Mỹ).

8. Bức tranh “Những quả táo to” của Paul Cézanne (60.500.000 USD)
 
Bức tranh này được Paul Cézanne vẽ trong khoảng thời gian 1893-1894, được bán cho Whitney với giá kỷ lục 60.500.000 USD tại nhà đấu giá Sotheby’s ở New York vào ngày 10 tháng 5 năm 1999. Whitney sinh ra trong một trong những gia đình giàu có nhất nước Mỹ chuyên đầu tư vào các lĩnh vực có nhiều rủi ro, xuất bản sách báo, phim ảnh ở Hollywood và có nhiều đóng góp cho công tác từ thiện.

9. Bức tranh “Femme aux bras croisés” của Pablo Picasso (55.000.000 USD)
 
Bức tranh “Femme aux bras croisés” (Người phụ nữ khoanh tay) được vẽ vào năm 1901, là một trong những kiệt tác của Pablo DPicasso trong thời kỳ Xanh, với màu chủ đạo là màu đen, phản ảnh nỗi buồn của nhà danh họa. Bức tranh thể hiện một phụ nữ khoanh tay trước bụng, được bán với giá 55.000.000 USD vào ngày 8 tháng 11 năm 2000 tại nhà đấu giá Christie’s tại New York (Mỹ).

10. Bức tranh “Hoa diên vỹ” của Vincent Van Gogh (53.900.000 USD)
 
Vincent Van Gogh đã vẽ kiệt tác này tại Saint Paulde- Mausole ở Saint-Rémyde- Provence (Pháp) vào năm 1889, một năm trước khi qua đời. Năm 1987, bức tranh này trở thành họa phẩm đắt giá nhất thế giới khi được bán cho Alan Bond với giá cao ngất ngưỡng 54.000.000 USD, sau đó nó được bán lại cho Bảo tàng Getty ở Mỹ
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/8/2019.

Mẹ - Hình tượng thiêng liêng trên diễn đàn Văn Học

Mẹ - Hình tượng thiêng liêng trên diễn đàn Văn Học

Thích Nhật Hiếu

Tình Mẹ ! Một thứ tình cảm luôn chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng,…; luôn hi sinh, cam chịu trong mọi hoàn cảnh. Đây chính là thứ tình cảm ngọt ngào thiêng liêng, làm nảy sinh nên mọi tình cảm ở đời như: tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, tình yêu đồng bào, tình yêu con người,v.v… Nếu thiếu vắng thứ tình cảm này, cũng đồng nghĩa với sự vắng mặt hoàn toàn của mọi thứ tình cảm ở cõi đời, nếu có cũng chỉ là một sự giả tạo, lọc lừa mà thôi. 
Trên diễn đàn thi ca Việt Nam, có đến cả muôn ngàn áng văn chương tuyệt tác ca tụng tình cảm thiêng liêng này. Trong đó, hình ảnh của người Mẹ được khắc hoạ qua các hình tượng hết sức sống động, sống mãi cùng thời gian. 
Mẹ - Hình tượng chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng:
Mẹ và bé (Mai Trung Thu) 
Lòng Mẹ! Hai tiếng hết sức ngọt ngào, thân thương và thiêng liêng làm sao! Tình cảm này không phải là thứ tình cảm ngẫu nhiên, so đo và tính toán như các thứ tình cảm mà thế nhân thường ví von "có qua có lại mới toại lòng nhau” như tình cảm bạn bè, tình yêu lứa đôi, v.v… Mà tình mẫu tử này được gắn kết bằng sợi dây huyết thống, sự sống của con gắn liền với sự sống của mẹ; tình cảm ấy mang đầy chất liệu yêu thương ngọt ngào, chan chứa vô bờ, chỉ ban phát mà không mong cầu đáp trả. 
Thi ca Việt Nam đã không ngớt lời ca ngợi tình cảm này bằng các mỹ từ như, "lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào, lòng mẹ bất tận như nước trong nguồn chảy ra,v.v…” Thật ra, cho dù núi có cao, biển có rộng, sông có dài,… cũng không thể sánh ví với tình cảm cao cả và thiêng liêng của Mẹ đối với con. 
"Ai rằng công mẹ bằng non
Thật ra công mẹ lại còn hơn non,
Lòng mẹ như bát nước đầy,
Mai kia khôn lớn ơn này tính sao?
Nhớ ơn chín chữ cù lao,
Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình".
(Ca dao) 
Vâng! Nào là mang nặng đẻ đau, sú nước nhai cơm, nhường khô nằm ướt, con đau là mẹ đứng ngồi không yên,v.v… khi con còn bé bỏng; thế rồi để con lớn khôn và vững bước vào đời, mẹ lại làm thân cò lặn lội, bươn chải, vất vả nuôi con. 
"Nuôi con chẳng quản chi thân,
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
Nuôi con buôn tảo bán tần,
Chỉ mong con lớn nên thân với đời.
Những khi trái nắng trở trời,
Con đau là mẹ đứng ngồi không yên,
Trọn đời vất vả triền miên,
Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con;
Dẫu cho thân xác héo mòn,
Miễn sao con được đủ đầy ấm no.”
(Ca dao)
Bức tranh Xuân (Nguyễn Thị Hợp) 
Vất vả thế, cơ cực thế, mẹ không hề than van! Hình ảnh người mẹ tảo tần sớm hôm dưới mưa gió trên đồng ruộng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời; lam lũ, vất vả giữa chợ đời, gánh hàng rong trĩu nặng trên đôi vai gầy dạo khắp cùng đường cuối hẻm mong kiếm đồng lời để nuôi con ăn học thành tài cho khỏi thua sút với đời. 
"Nhớ xưa dưới mái nhà tranh,
Mẹ ngồi may áo cất dành cho con,
Tinh sương mẹ gánh hàng rong,
Mẹ hiền gian khổ đôi dòng lệ rơi,
Hạ qua thu lại đổi dời,
Tuyết sương điểm mái tóc người kính yêu,
Mẹ là nguồn suối dịu hiền,
Là người duy nhất trong đời của con".
"Mẹ già gom gánh rạ rơm,
Nuôi con ăn học để thơm tiếng đời,
Mẹ nghèo nón lá tả tơi,
Mong sao con trẻ vào đời bình yên!
(Ca dao) 
Từng bước chân dãi dầu thân cát bụi trên hành trình bôn ba khổ nhọc để tạo sinh kế vì những đứa con thơ đã oằn nặng trên vai gầy của Mẹ; ta thật sự nhận chân được tấm lòng yêu thương vô bờ của Mẹ. 
"Dấu chân mẹ dãi dầu thân cát bụi,
Gánh tình thương rong ruổi giữa chợ đời! 
Còn nữa, thời chinh chiến, cha phải mang trên vai chí nam nhi bên ngoài biên trường lửa đạn. Mẹ một mình gồng gánh nuôi con, vượt qua mọi hiểm nguy, ôm con chạy giặc, lấy thân mình che bom đạn cho con. Chiến tranh, nỗi đau đớn chung của dân tộc Việt Nam và nhân loại toàn cầu. Trong cảnh mạng sống bị đe doạ như vạn cân treo trên sợi tóc, ta lại nhìn thấy hình ảnh mẹ cao cả, bao la,… sự chở che an toàn cho con trong phút giây hiểm nguy nhất. Thật cảm động, hình ảnh của nhiều người mẹ đã ngã gục bên đường, lấy thân mình che đạn cho con. Mặt dù chinh chiến qua đi, cuộc sống đầy khó khăn trong thời hậu chiến, các con dần trưởng thành, thì càng ngày mẹ càng héo hắt, vầng trán mẹ nhiều nếp chân chim, lưng mẹ còm cỏi và yếu dần theo năm tháng; mẹ luôn nói: các con là sự sống của mẹ, là niềm tin và tự hào của mẹ; hãy ngẫng cao đầu và vững bước vào đời! Không nên làm gì để hổ thẹn đến gia phong, đến Đạo pháp! 
Con trưởng thành trong vòng tay cưu mang và che chở của mẹ, trong những lời ru dạy bảo ân tình của mẹ cho con lúc còn ấu thơ, dẫn dắt con từng bước vào đời. Mẹ đã trao tặng cho con dòng sữa ngọt, sự yêu thương nâng niu chăm sóc. Lớn lên chút, mẹ cũng chính là người dạy cho con từng bước đi đầu tiên, từng con chữ, từng bài học; khi con phạm lỗi, mẹ cũng là người sẵn sàng dang rộng vòng tay mình tha thứ, chở che cho con mỗi khi bất trắc, đau buồn. Nhưng đó chỉ là những gì mà con có thể thấy được. Những hi sinh của mẹ dành cho con còn hơn thế, mà dưới ánh mắt đơn giản của một đứa trẻ thơ, con không thể nào và cũng chẳng bao giờ hiểu được trọn lòng. Mẹ không đòi hỏi sự trả ơn, cũng chưa từng đem sự hi sinh của mình ra đong đếm. Điều mà mẹ mong chờ nhất chính là sự trưởng thành của con mình. 
"Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi,
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con thi trường học mẹ thi trường đời".
"Con ơi, mẹ bảo câu này:
Học buôn học bán cho tày người ta,
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười".
"Ra đi mẹ có dặn dò,
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua,
Gặp người đáng bậc mẹ cha,
Chào thưa vâng dạ mới là con ngoan".
(Ca dao) 
Những lời ru của mẹ đưa con vào giấc ngủ êm đềm theo những tháng ngày, cho con sức sống vô biên, cho con mang dòng máu thiêng liêng của mẹ. Lời ru đó mãi theo con suốt cả cuộc đời, để cho con biết tìm về cội nguồn yêu thương thân tình nơi cha mẹ đã sanh thành, dưỡng nuôi con khôn lớn. quả thật trên đời không có thứ tình nào bằng tình mẹ thương con. Dẫu có bao nhiêu nhọc nhằn gian lao, mẹ sẵn sàng đón nhận miễn sao cho con mình được khôn lớn trong sự bình yên hạnh phúc. Con là một phần thân thể và linh hồn của mẹ, mẹ với con tuy hai mà một, nên con đau là mẹ đau, con khổ là mẹ khổ, con ngã lòng mẹ lo, con khóc lòng mẹ sầu, thân con liền ruột mẹ mà con thơ nào biết đâu! 
Với ân nghĩa thâm trầm và cao cả trên, qua lời nhận định bất hủ của đức Phật: 
"Ân cha hơn núi lớn,
Nghĩa mẹ hơn đất dày;
Hy sinh lòng chẳng quản,
Mà vẫn không nguôi ngoai.
Mẹ già hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi,
Tình thương nào ngơi nghỉ,
Đến hơi thở cuối đời!"[1] 
Mẹ - Hình tượng hsinh, cam chịu : 
Trong vòng xoáy của đời, người phụ nữ nói chung, và các bà mẹ nói riêng, là những người mang lấy nhiều nỗi thiệt thòi và bất hạnh. Nhưng lại là những người gánh vác vai trò thiên chức làm mẹ hết sức cao cả. Không phải ngẫu nhiên mà làm con, ai cũng thiên về tình yêu mẹ hơn là tình cảm cha. Nếu tình cảm của mẹ dịu dàng toả mát như ánh trăng đêm rằm, thì tình cha khắc nghiệt chói chang như nắng ban trưa. Đức Phật cũng đã tán dương vai trò người Phụ nữ trong gia đình với thiên chức của một người mẹ đầy thi vị và hết sức cảm động: "Mẹ hiền còn sống là mặt trời giữa trưa sáng soi; mẹ hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn; mẹ hiền còn sống là trăng rằm sáng toả; mẹ hiền khuất bóng là đêm trường tối tăm."[2]
Mẹ ôm con (Bé Ký) 
Để thể hiện thiên chức cao cả, trong sáng và thiêng liêng này mà các bà mẹ vì con vì cháu đã phải tảo tần, vất vả và lao đao với cuộc đời. Hình ảnh người phụ nữ Việt qua đó thật rõ nét, mộc mạc nhưng thanh khiết, giản dị nhưng thanh cao! Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam nói chung, và các bà mẹ nói riêng luôn là những biểu tượng cao đẹp, trong sáng trong lòng mọi chúng ta. Hình ảnh của người phụ nữ trong vai trò nữ tướng cần cù đảm đang này đã được Tú Xương khắc hoạ trong thi phẩm "Thương Vợ" hết sức cảm động: 
"Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận.
Năm nắng mười mưa, dám quản công". 
Có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật lấy cảm hứng sáng tác từ cánh cò, từ thơ văn cho đến nhạc hoạ. Hình ảnh cánh cò trên cánh đồng quê đọng lại trong tôi bao ký ức trong thời thơ ấu. Những cánh cò trắng muốt, rất chăm chỉ, lặn lội đồng ruộng bắt cá mò cua… Hình ảnh người mẹ Việt Nam được khắc hoạ qua cánh cò trong trắng thuần khiết, chịu thương chịu khó, dãi gió dầm mưa, chăm sóc cho mái ấm gia đình. 
"Cánh cò bay lả bay la
Bay từ nẻo mộng bay ra nẻo đời.”
"Cái cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về."
(Ca dao) 
Nẻo mộng và đời thực thường là 2 trạng thái đối lập giữa cuộc sống lý tưởng và cuộc sống đời thường. Con người ai cũng có khung trời mơ mộng hi vọng cuộc sống tốt đẹp cho riêng mình, riêng thân phận người con gái - mười hai bến nước[3], theo truyền thống cõi mộng của họ lại thật sự khép kín, niềm hi vọng chỉ là tia chóp lẻ loi, chỉ cam chịu với thân phận trớ trêu mà không có quyền chọn lựa. Trong cuộc sống thực tại, nẻo đời luôn là nỗi truân chuyên, để thực thi thiên chức ấy, sứ mạng của người phụ nữ phải chăm lo cho mái ấm gia đình mình, lo lắng cho chồng và chăm sóc cho con; lấy hạnh phúc của chồng con làm niềm vui cho bản thân, lấy sự phục vụ gia đình làm hạnh phúc của chính mình; không nại gian lao, chẳng từ khổ nhọc. 
"Con cò lặn lội bờ ao,
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non".
(Ca dao) 
Làm con đôi khi chúng ta mải mê với thú vui hoa thơm cỏ lạ của lạc thú trên đường đời mà quên đi những ân tình thâm trầm và cao cả đang hiện hữu quanh mình. Đó là người mẹ, người chị… những người đã và vẫn sẽ tiếp tục âm thầm hi sinh cho sự thành công của chính chúng ta. Trong khi chúng ta đang say vùi trong giấc ngủ ngon lành của tuổi thơ, ngay cả khi chúng ta đang ngồi chiểm chệ trên giảng đường đại học,… có biết chăng các mẹ, các chị… của chúng ta đang vật lộn với cuộc sống, lam lủ với thân cò lặn lội, tảo tần kiếm từng đồng tiền bát gạo nuôi ta ăn học, rạng rỡ công danh với đời. Ngay cả những cảnh trớ trêu khốc liệt, nghiệt ngã của cuộc đời, nhiều bà mẹ đã phải dấn thân vào cuộc đời đầy phong ba một cách bất đắc dĩ, hi sinh thân mình để bảo vệ cho con cho cháu của mình có một cuộc sống bình yên. 
"Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cảnh mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi hãy vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông nỡ xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.”
 (Ca dao) 
Tác giả nhân gian khắc hoạ hình ảnh của Mẹ hết sức tài tình, "thân cò” mảnh mai yếu đuối, đâu đủ sức vật lộn với sự gian truân sóng gió của cuộc đời, thế mà với sức mạnh của tình yêu thương và sẵn sàng hi sinh cho con trẻ nên mẹ có ngại gì, cò vẫn có thể thay vạc ăn đêm. Cuộc đời đầy trắc trở, truân chuyên, trớ trêu như vậy, mẹ còn gì màng đến danh phận cho riêng mình! Trong cảnh đời lao lung đầy cạm bẫy, với thân cò yếu đuối không thể tự cứu lấy mình trong lúc dầu sôi lửa bỏng, nhưng mẹ không vì ham sống sợ chết cho riêng mình, mà có chết thì hãy chết cho trong sáng, không chết trong vẩn đục làm đau lòng con thơ thân yêu của mình!
Tác phẩm của Họa sĩ Bé Ký
Tôi vẫn còn nhớ, sau chiến tranh 1975, đất nước lâm vào thời kinh tế suy sụp; năm 1979, cảnh đói khát đã hoành hành khắp nơi. Cơ hàn sinh đạo tặc! Năm ấy, gia đình chúng tôi may mắn hơn, không đến nỗi rơi vào cảnh bất hạnh này. Rẫy nhà tôi hoa mầu, mì bắp,… bội thu. Nhưng cảnh mất trộm thường xuyên xảy ra. Tôi mới có dịp chứng kiến và thấm thía thế nào là "cò ăn đêm"! Vào một đêm tối trời, cha và 4 anh em chúng tôi cùng đàn chó săn đi bắt trộm. Chúng tôi vẫn đinh ninh kẻ trộm đêm vượt núi, trèo đèo, lội sông suối để hành sự thế này phải là bọn đàn ông lực lưỡng, nên chúng tôi tìm nhiều cách đối phó bằng cây gậy, dao mác và đàn chó săn hùng hậu. Thế nhưng không thể ngờ, tội phạm lại là một người mẹ mới sinh và 2 đứa con nhỏ bé! Khi bị đàn chó săn hung hãm vây quanh, hết đường chạy, 3 mẹ con khóc la thảm thiết, năn nỉ chịu tội thay cho nhau! Khi tìm hiểu thực hư, chúng tôi mới vỡ lẽ, người chồng - cha của 3 mẹ con này mới vừa bị tai nạn chết. Ba mẹ con không thể vượt qua được cái đói khát dằn vặt, mà phải bất đắc dĩ trở thành kẻ trộm ăn đêm. Chạnh lòng trắc ẩn cho hoàn cảnh trớ trêu này, cha con chúng tôi không những tha cho, mà còn phải gánh giùm đồ cho kẻ trộm xuống núi và sang sông. Từ đó, rẫy nhà chúng tôi cũng không còn cảnh trộm cắp tái diễn. 
Thật sự là một cảnh thương tâm nhưng rất đổi trớ trêu! Nếu gặp cảnh nghèo khó mẹ nhịn cơm cho con ăn, nhường áo cho con mặc, dành chỗ khô ráo cho con nằm. Chẳng may con lâm bệnh mẹ đứng ngồi không yên năm canh thao thức lo âu, van vái Trời Phật chạy thầy lo thuốc chẳng sợ tốn hao tiền của cho dù bán hết tài sản hay vay mượn mẹ vẫn sẵn sàng chấp nhận miễn sao con hết bệnh thì mẹ mới an lòng, đến khi con lành bệnh không có tiền trả nợ cho người ta bị người ta chửi mắng. Trong những lúc bi đác như thế này mới tỏ rõ lòng mẹ thâm trầm sâu xa, trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, sẵn sàng hi sinh vì con, để cho con có cái ăn cái mặc, có cuộc sống bình yên! Ở khía cạnh này, Đức Phật đã nhận xét về tình mẹ hi sinh hết sức thâm trầm trong Kinh Báo hiếu phụ mẫu ân: 
"Miễn làm sao cho con sung sướng,
Dù phải mang nghiệp chướng cũng cam!
Tính sao có lợi thì làm
Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm!" 
Mặc khác, từ ngàn xưa, hình ảnh người phụ nữ, người mẹ đã được khắc sâu vào tâm trí, con tim của mọi người con đất Việt; hình ảnh của sự thuỷ chung, của sự cam chịu và hi sinh. Trong thời chinh chiến, người phụ nữ đã phải khắc khoải trong sự mòn mỏi chờ đợi trong nỗi niềm của người chinh phụ; hết chờ chồng rồi lại trông con, nhiều cuộc chia li không có ngày hội ngộ. 
"Chiều chiều bìm bịp giao canh,
Trống chùa đã đánh sao anh chưa về?" 
Chiến tranh đã qua đi từ lâu, nhưng cứ chiều chiều, mẹ lại ôm gối nhìn ra đầu ngỏ, trông chồng đợi con, đôi mắt sâu thẳm của mẹ u buồn khắc khoải chờ mong, hoài vọng những đứa con trở về. Chiến tranh đã cày xới quê hương Việt Nam, đã làm cho xương máu của bao nhiêu người con đất Việt nằm xuống. Kẻ mất đi trong niềm uất ức, người còn lại trong nỗi niềm khắc khoải nhớ thương. Nhất là các bà mẹ Việt Nam có con nằm xuống các chiến tuyến nơi sa trường, đớn đau biết dường nào! 
"Chiều chiều, bên liếp lều tranh
Mẹ tôi đứng đợi đàn con
Trước gió tóc trắng loa xòa
Đôi mắt dịu hiền như bể tình thương."
(Mẹ tôi, Nhị Hà) 
Nhung nhớ, đợi chờ? Có nỗi khổ đau nào hơn nỗi trông đợi mòn mỏi! Người chinh phụ (vợ) ôm con trông chồng đến đổi hoá đá! Rất nhiều truyền thuyết nói về núi (hòn) Vọng Phu[4], rất nhiều núi vọng phu trên khắp các miền đất nước; hình người phụ nữ ôm con chờ chồng đến hóa đá; hình tượng đẹp đầy tính nhân văn của Việt Nam. Hòn Vọng Phu đã đi vào thơ ca, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, ca ngợi lòng chung thủy, nhân hậu của người phụ nữ đất Việt. 
"Mẹ bồng con lên ngồi cầu Ái Tử
Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu
Một mai bóng xế trăng lu
Ve kêu mùa hạ, biết mấy thu mới gặp chàng!"
"Bồng con ngồi dựa trên non.
Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông.”
(Ca dao) 
Hình ảnh người chinh phụ (vợ) bồng con đứng trên ngọn núi, trơ như đá, vững như đồng, đăm đăm chờ đợi người chinh phu (chồng) về. Đây cũng chính là hình ảnh tiêu biểu của muôn ngàn phụ nữ phải gánh chịu trong thời chinh chiến loạn lạc phải trông chồng ở ngoài ải quan sang. Nhưng người ra đi không bao giờ trở lại, mặc cho người chinh phụ trông chờ mỏi mòn tuyệt vọng. 
"Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về, bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề, người tung hoành bên núi xa xăm, người mong chồng còn đứng muôn năm…"
"Người vọng phu trong lúc gió mưa, bế con đã hoài công để đứng chờ. Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về. Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ…"
"Nơi phía Nam giữa núi mờ, Ai bế con mãi đứng chờ, như nước non xưa đến giờ?..."
(Trường ca Hòn vọng phu, Lê Thương) 
Mẹ - Hình tượng hoá thân của Đất nước, Quê hương : 
Tác phẩm của Họa sĩ Lê Văn Đệ
Biết bao người mẹ trở thành cô phụ trong thời chiến tranh hết chờ chồng rồi lại trông con, mỏi mòn héo hon. Hình ảnh người mẹ đã khắc hoạ nên hòn vọng phu, đã đi vào trang sử vàng cũng như lòng dân Việt. Người mẹ Việt Nam, người phụ nữ quả cảm, dâng cả đứa con thân yêu, là kết tinh của xương trắng máu đào của chính mình cho quê hương yên ổn và đất nước thái bình, để không còn cảnh ngoại xâm giày xéo quê hương; vẫn biết rằng đó là sự mất mát to lớn, bao nhiêu người con yêu đã ra đi không bao giờ trở lại. Mẹ mong sao con mình thành nhân, phải sống cho có nghĩa, cho dù phải đánh đổi cái giá quá đắc cho đời mình. Theo Phật pháp đó là tinh thần Bồ tát đạo, là vị tha không chút vị kỉ, là vì người không chút toan tính cho mình, nâng tình thương yêu con đỏ lên ngang tầm tình yêu tổ quốc quê hương. Ôi, tình mẹ quê hương đất nước quả thật cao vời! Mẹ đã hoá mình vào đất nước, quê hương. Mẹ của ta cũng chính là bà mẹ Việt Nam. 
"Nước mắt mẹ không còn, vì khóc những đứa con lần lượt ra đi... đi mãi mãi...
Thời gian trôi qua, vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng
Nhưng vết thương lòng mẹ vẫn còn nặng mang
Mẹ Việt Nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi!
Đi con đi qua khắp nẻo đường, nghe đau thương chìm trong khói sương.
Mong sao cơn mưa vô tình không lung lay làm rớt hạt sương."
(Người mẹ của tôi, Như Hào) 
Đất nước lâm nguy dưới gót chân giày xéo của quân xâm lược, mọi người dân Việt Nam phụ, lão ấu đều đồng lòng đứng lên bảo vệ tổ quốc thành đồng thân yêu với lời hiệu triệu quốc hồn - quốc tuý muôn thuở: "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách", hay "giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh". Từ huyền sử cho đến thật sử, có rất nhiều tấm gương anh dũng làm sáng ngời hình ảnh Việt Nam - một dân tộc anh hùng bất khuất. Những trang sử hào hùng trong Đại Việt sử ký, xuất hiện nhiều bậc anh hùng, trong đó có anh hùng thiếu niên như: Thánh Gióng, Trần Quốc Toản, Kim Đồng,… anh hùng nhi nữ như: Bà Trưng, Bà Triệu,… Các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước oai hùng vừa qua, hình ảnh người mẹ đội mưa, đào hầm, tiếp tế và chở che cho những đứa con đánh giặc trên chiến trường bom đạn. 
"Mẹ về đứng dưới mưa
Che từng căn hầm nhỏ
Ngăn từng bước chân thù
Mẹ ngồi dưới cơn mưa
Mẹ lội qua con suối
Dưới mưa bom không ngại
Mẹ nhẹ nhàng đưa lối,
Tiễn con qua núi đồi
Mẹ chìm trong đêm tối,
Gió mưa tóc che lối con đi…"
(Huyền thoại mẹ, Trịnh Công Sơn) 
Mẹ đã hoá thân vào hồn thiêng sông núi, vào hồn thiêng tổ quốc. Cho dù con đi đâu, ở tận chân trời xa xăm nào, con vẫn nhớ về quê hương, nhớ về đất mẹ Việt Nam thân thương. Ai đó đã nói, "quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người". Thật vậy, quê hương thật thơ mộng, thật xao xuyến cõi lòng, khi nghe ai đó gợi nhắc lại quê hương. Có rất nhiều và rất nhiều tuyệt tác diễn tả về quê hương, nhưng không có tác phẩm nào làm rung động lòng người như bài quê hương sau đây: 
"Quê hương là một bến sông
Có con đò nhỏ đợi trông người về
Quê hương là câu ước thề
Từ ngày thơ dại cận kề bên nhau
Quê hương là cả niềm đau
Biệt ly mất mát bể dâu khôn lường
Quê hương là những con đường
Hàng cây rũ lá me vương tóc người
Quê hương là một buổi chiều
Em thơ tóc bím thả diều ước mơ
Quê hương là những vần thơ
Gieo trong đêm trắng ngẩn ngơ nhớ nhà
uê hương là bà mẹ già

Nghèo, quê, xấu, vụng - vẫn là mẹ ta
Trái tim mẹ vẫn bao la
Đẹp hơn tất cả bài ca trên đời".
(Bà Mẹ quê hương, Hà Huyền Chi) 
Vòng tay của Đất Mẹ Việt Nam đã ôm trọn các đứa con của người. 54 dân tộc đồng bào anh em có cùng chung một mẹ Âu Cơ, một Mẹ Việt Nam, đang quây quần chung sống. 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước, đất mẹ đã chứng kiến bao cảnh thương đau bị quân xâm lược giầy xéo. Đất mẹ thành đồng đã che chở cho những đứa con của người, quật khởi đạp đổ ách thống trị xích xiềng của quân xâm lược phương Bắc (Tàu) lẫn phương Tây. Ngày nay Đất nước Việt Nam đã hoàn toàn thanh bình, nhân dân chăm lo làm ăn, ổn định cuộc sống, kiến thiết đất nước. Nhưng những người mẹ già vẫn khắc khoải, những vết thương tâm đã hằn sâu trong lòng mẹ, nỗi đớn đau không bao giờ vơi; bao nước mắt của Mẹ đã rơi để khóc tiễn đưa những đứa con yêu của Mẹ đã ngã xuống nơi biên trường, nỗi đau của "đầu bạc đã phải khóc tiễn đầu xanh". 
"Lá vàng còn ở trên cây;
Lá xanh rụng xuống trời hay không trời?"
"Mẹ Việt Nam ơi! Mây khói tan rồi còn lại mẹ tôi
Đất nước, nay vẫn còn, còn có những đứa con
Dù đi xa muôn phương nhưng vẫn nhớ
Mẹ đang cô đơn, chúng con yêu mẹ hơn mỗi chiều nghiêng nghiêng bóng
Ghi khắc trong lòng hình dáng mẹ ngồi trông…
Mẹ Việt Nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi!
Xin cám ơn người, người mẹ của tôi!"
(Người mẹ của tôi, Xuân Hồng) 
Đặc biệt, tình yêu quê hương - Đất Mẹ, một lần nữa lại trào dâng, lại tha thiết và dặt dìu trong bài "Tình ca” của Phạm Duy, đã làm say bao lòng người. 
"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi, tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!...
Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành
Đất nước tôi! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn
Đất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi!
Đất nước tôi! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng
Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi!
Tôi yêu những sông trường
Biết ái tình ở dòng sông Hương
Sống no đầy là nhờ Cửu Long
Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong
Người yêu thế giới mịt mùng
Cùng tôi xây đắp ruộng đồng Việt Nam
Làm sao chắp cánh chim ngàn
Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau…" 
***
Tác phẩm của Họa sĩ Nguyễn Thị Hợp 
Mẹ - hình tượng thiêng liêng, trên diễn đàn văn học và thi ca Việt Nam đã khắc hoạ thật sống động và thiêng liêng: hình tượng Mẹ chở che, cưu mang, bao dung và độ lượng; hình tượng Mẹ hi sinh và cam chịu; hình tượng Mẹ hoá thân của đất nước và quê hương. Thật vậy, tình cảm mẹ bao la, tấm lòng mẹ chan chứa, tâm hồn mẹ bao dung; hơn nữa, tình mẹ cao cả ấy đã hoà mình vào đất trời quê hương, thành Đất mẹ thành đồng Việt Nam anh hùng, bất khuất thân thương. 
"Mẹ ơi! Bóng mẹ là nhà,
Để khi mệt lả con về náu thân,
Lời mẹ là tiếng chuông ngân,
Êm đềm dịu ngọt, lâng lâng cõi lòng." 
Từ đó, Mẹ là kho tàng yêu thương hạnh phúc, là tàng cây bóng mát che chở cho con nương náu trong những lúc vấp ngã hay cô đơn thất vọng, con lại tìm về suối nguồn yêu thương ấy để được nghe những lời an ủi, khuyên răn vỗ về sưởi ấm lòng con. Qua hình tượng thiêng liêng của Mẹ được khắc hoạ qua văn học và thi ca trên, ta cảm nhận được công lao khó nhọc của người mẹ. Nước mắt và mồ hôi của mẹ đã trở thành những dòng dịu mát, làm xanh tươi đồng quê VN. Mẹ đã hy sinh tất cả niềm vui, lẽ sống riêng tư của mình để lo cho con, ở mọi lúc mọi nơi, khi con cần là có mẹ ở bên cạnh. Mẹ vì con mà ngậm đắng nuốt cay chấp nhận hết tất cả không một lời than van. Quả thật tình mẹ cao cả biết nhường nào! Người Mẹ hiền, Mẹ Việt Nam, hình ảnh Mẹ bình dị nhưng thiêng liêng, yêu thương nhưng khả kính; mãi mãi là nơi che chở ấm áp và vững chắc của con, và sẽ sống mãi trong lòng mọi người con dân Đất Việt. 
"Ôi mẫu tử bao la ơn sâu nặng,
Nặng ân tình thơm ngát vạn niềm thương,
Lệ sầu đau năm tháng hóa kim cương,
Thành chuỗi ngọc tình thương ôi bất diệt".

Chú thích :
[1] Kinh Báo Ân Cha Mẹ thi hóa, Thích Nhật Từ 
[2] Kinh Đại thừa bổn ân tâm địa quán 
[3] Đại Nam quốc âm tự vị (Sài Gòn 1895, mục từ Bến) của Huỳnh Tịnh Của giảng "Con gái mười hai bến nước" là: "Thân con gái như chiếc đò, hoặc gặp bến trong, hoặc mắc bến đục, hoặc đưa người tốt, hoặc đưa người xấu, may thì nhờ, rủi thì chịu". 
[4] Tiếng Pháp gọi là La Mère et L'Enfant, dịch ra là Mẹ Bồng Con. Nhiều truyền thuyết nói về hòn Vọng Phu trên khắp miền đất nước: 
Núi Vọng Phu ở Ninh Tòng, Ninh Hòa, Khánh Hòa, tên là núi Mẫu Tử, giáp ranh xã Krong Hin, huyện Mơ Đrắc, cao 2.051m; có tên khác là Mông Công, đọc trại ra thành Bồng Con; đồng bào dân tộc trong vùng gọi là T'Yang Mtên. Đây là ngọn núi cao nhất của Khánh Hòa. Chóp núi là một khối đá hoa cương khổng lồ, bên cạnh có một khối nhỏ hơn, trông xa tựa hình người, đứng xa 40 km vẫn rõ hình ảnh mẹ bồng con ngóng ra biển Đông: "Bồng con ngồi dựa trên non/ Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông". 
Hòn Vọng Phu, Núi Tô Thị nằm gần sông Kỳ Cùng, động Tam Thanh, Lạng Sơn được biết đến qua ca dao: "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh..." 
Ở Thanh Hóa, núi Khế - Nhuệ Sơn (thôn Nhuệ), cách TP. Thanh Hóa 3 km về phía tây nam, chu vi khoảng 4.000m, trên đỉnh núi Nhồi một cột đá đứng sững cao khoảng 20 mét giống hình người phụ nữ ôm con, dân địa phương gọi là hòn Vọng phu. Có câu: "Vọng phu cảnh đẹp núi Nhồi/ Có người chinh phụ mắt ngời đăm đăm". 
Núi Vọng Phu, còn gọi Đá Chồng, hay ngọn Đá Bia (tên chữ Bi Sơn hay Thạc Bi Sơn) ở Phú Yên. Núi cao 706m nằm cạnh quốc lộ 1A, trên đỉnh dựng đứng một khối đá lớn giống hình người đàn bà. Có câu: "Sông kia núi nọ còn đây/ Mà người non nước ngày nay phương nào?"
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/8/2019