Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Chạm vào bí ẩn đào thất thốn


Chạm vào bí ẩn đào thất thốn


Báo TTVH - 
Cham vao bi an dao that thon
Ở Việt Nam, chỉ Nhật Tân mới trồng được đào Thất thốn. Ở Nhật Tân chỉ Lê Hàm mới biết bí mật của giống đào này. Bí mật của kẻ tự khai phá, không ai truyền dạy. Hoặc giả có, thì cũng đã thất truyền. Đó là bí mật về một đời sống khác thường của thứ hoa Xuân khác thường.

Khác với tất cả những thứ hoa đào thông thường mà ai cũng biết (đào phai, đào bích, đào rừng...), đào Thất thốn ưa cái sự “ít”, thân cô độc, ít cành. Mầm nhỏ xanh tía như lưỡi kiếm vung lên. Hoa đỏ thắm tươi, nếu cây ít hoa thì bền kỳ lạ, nếu hoa nở nhiều thì chóng tàn hơn đào thường. Mỗi thốn, tức mỗi tấc theo cách gọi của các cụ có thể có 7 hoa đào, vì thế mới có tên gọi Thất thốn.
21 năm mới nở hoa 3 lần
Dáng hình trầm mặc, cổ kính. Vẻ phong trần sương gió tựa tùng bách trong tranh thủy mặc xưa. Không đợi tới cành, những lá non tơ như lưỡi kiếm, những hoa thắm sắc hơn hoa hồng bật ra từ gốc và thân. Đào Thất thốn mê hoặc người chơi ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Vẻ đẹp của Thất thốn, ngoài sắc đỏ thắm lạ lùng hơn sắc hồng nhung mà chưa bút nào tả xiết, còn ở cách đâm hoa. Khác với đào thường, hoa chỉ nở từ những cành nhỏ, Thất thốn nở hoa từ những trụ gốc xù xì, dáng cổ thụ, có cây, hoa nở kề mặt đất. Vì thế, người ta dễ liên tưởng, Thất thốn từ tranh thủy mặc mà vươn ra ngoài đời, những thứ cây khác không thể nào có được.
Lê Hàm bảo, dăm ba năm nữa, trước sau gì người Nhật Tân cũng biết hết về bí mật Thất thốn. Còn bây giờ, anh phải giữ nó cho riêng mình đã. Nhưng bỏ thời gian sống với nghệ nhân trồng đào này, tôi cảm nhận, đấy sẽ là bí mật anh đào sâu chôn chặt trong lòng, sống để dạ chết mang theo. Hoặc có thể sẽ là bí quyết chân truyền, chỉ duy nhất cho người kế nghiệp anh.
Ở Nhật Tân, Lê Hàm vẫn thuộc hàng con cháu so với lớp nghệ nhân trồng đào cao niên, nhưng độ say đào thì chẳng chịu kém ai. Định gắn đời với binh nghiệp, giải ngũ tận năm 26 tuổi, năm 1989, anh “mới” trồng đào được 22 năm thì 21 năm sống chết cùng Thất thốn. Suốt 21 năm trời, anh mới vài ba lần được “toại nguyện”. Năm 1994, không hiểu vì sao Thất thốn đồng loạt ra hoa, bẵng đi hơn chục năm trời, năm 2007 một cây Thất thốn duy nhất trổ một bông hoa. Dù chỉ một hoa, cũng bừng cho anh một niềm hy vọng, cũng đủ để gã đàn ông đã quá nửa đời người rơi nước mắt. Kỷ Sửu 2009, vài cây Thất thốn lại nở hoa, tin này khiến những người chơi đào kinh ngạc. Nhà văn Băng Sơn đã đạp xe lên Nhật Tân để tận mắt chứng kiến cảnh tượng những bông hoa Thất thốn bừng nở. Tết Canh Dần 2010, Thất thốn nở chưa từng thấy trong sau 21 năm anh chắt chiu, chăm bón.
Hoa nở, anh đếm từng ngày, 2009 Thất thốn nở đúng ngày cúng ông Công, ông Táo. 2010 hoa nở từ Rằm tháng Chạp. Sự đong đếm từng ngày, bởi không phải Thất thốn không nở hoa, mà nó vốn là thứ “hoa muộn”. Nó chỉ nở khi Xuân đã cạn ngày, vào độ Giêng, Hai, khi tất cả những loại đào bích, đào phai, đào bạch, đào vườn, đào đá… đã bắt đầu rữa cánh dưới nắng ngày Xuân cuối thì nó mới kiêu hùng khoe sắc. Bí mật là ở chỗ, Hàm bắt Thất thốn phải khai nhụy đúng ngày Xuân. Điều đến bây giờ, ngoài anh chưa ai làm được.
Cái Đẹp ngoài tầm với?
Không biết Thất thốn có tự bao giờ, nó vẫn tồn tại ở xứ đào Nhật Tân, cô độc riêng mình nơi góc vườn như một kẻ bị “ghẻ lạnh”, không vì xấu mà bởi kiêu kỳ, bất phục. Như người đẹp, nhưng xa lánh, bất tuân không chiều lòng thế chủ thì cũng đành để “khóa Xuân” một chỗ mà thôi.
Thứ hoa ám ảnh nỗi muộn Xuân, làm dai dẳng những suy tư, liên tưởng đến nhị Kiều bạc mệnh. “Đông phong bất dữ Chu lang tiện/ Đồng tước Xuân thâm tỏa nhị Kiều”.
Hoa Đào chỉ có ý nghĩa với dịp Tết, ngày Xuân, Thất thốn trễ hẹn, khi đã khai hoa thì cũng không người thưởng lãm. Như nỗi cô đơn, thấy hoa không thấy người đâu mà xưa Thôi Hộ và Nguyễn Du đồng cảm “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông”. Cứ thế, Thất thốn mất dần đi, tàn lụi dần đi. Lê Hàm khiến ta nhớ đến một Marcel Proust cứ “đi tìm thời gian đã mất”, dù ai cho là gàn dở, bỏ công, bỏ đời làm điều không tưởng. Nhưng rồi, anh tìm thấy điều không tưởng ở chính cái lẽ sống của mình là cả cuộc đời dâng hiến cho hoa.
Chạm vào bí mật của đào Thất thốn
Như bao người Nhật Tân, Lê Hàm trồng rất nhiều đào, tới 7 sào Bắc bộ, vừa đất nhà, vừa đất thuê. Khi anh “ép” Thất thốn nở thành công, có nhiều người đến hỏi han. Anh dẫn họ ra những chậu Thất thốn để bâng quơ giữa cơ man nào là đào để họ nhìn ngắm, thỏa mãn. Nhưng tôi biết, bí quyết của anh không nằm ở những cây Thất thốn ấy.
Sau bữa cơm tối, làm chút rượu cho ấm người, chúng tôi ngồi uống nước trà bên hiên chòi. Gió cuối Đông thổi buốt, ánh trăng thanh lạnh của mùa Đông chiếu chênh chếch, lơ thơ những vệt nhẹ hờ xuyên qua giàn gấc trước hiên chòi. Bất giác Hàm bảo muốn nói với tôi về đào Thất thốn, chắc cảnh ấy khiến người ta muốn chia sẻ.
“Hang đào” nhân tạo - nơi Lê Hàm “ép” Thất thốn ra hoa
Năm 1989, sau khi phục viên, tiền giải ngũ cộng với vay mượn, bao nhiêu vốn liếng anh dồn vào mua đào giống từ Sa Pa về trồng. Người ta trồng thì sống, anh trồng thì chết sạch. Trong vườn chỉ còn chơ vơ mấy gốc Thất thốn không tuổi, không biết đã đứng đấy tự bao giờ. Thứ đào kiêu kỳ, vương giả bậc nhất trong các loại hoa đào mà không ai “chinh phục” được. Sau thất bại, anh bỗng “cay”, mình sẽ làm cái người ta không làm được.
Anh lao vào đào Thất thốn, nhưng mọi cách từ tuốt lá, chiết, ghép, tỉa cành, khoanh gốc đều vô dụng. Hết Xuân đào mới kết nụ, nở hoa. Trước anh, nhiều người đã nản chí, họ bảo đừng cố gắng vô ích, về làm đào thường để kiếm cơm, không thì “chết đói”. Hàm vẫn bám trụ cùng Thất thốn, lúc này người ta bảo anh hâm, gàn dở. Cả chục năm trôi qua, thất bại vẫn hoàn thất bại.
“Căn phòng”, như hộp diêm nằm ngang, chỉ cao bằng đầu người, kín mít chỉ có vài lỗ thoáng phía đầu hồi. Phía trên là trần bằng tôn, có nhựa cách nhiệt với những thanh gỗ dày đụp làm giá đỡ. Hàm nhẹ nhàng bê tấm cửa sắt hàn tôn. Trong bóng tối lờ mờ, là hàng chục chậu đào Thất thốn xù xì, cổ quái. Hàm mỉm cười: “Tất cả bí mật để Thất thốn nở hoa đều nằm ở đây”.
Anh suy nghĩ lung lắm, thất bại bởi không ai biết gốc tích của đào Thất thốn, không biết gốc tích thì không biết cách chăm sóc, không có bí quyết. Cứ gần Xuân, anh bỏ lại vườn đào, lên đường tìm thân thế của Thất thốn. Cây trong vườn có, ắt hẳn trong rừng phải có, nhưng đào rừng vô tận, Hàm đi miết hết cánh rừng này đến cánh rừng khác ở miền Tây Bắc. Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang… đâu đâu anh cũng đến, ăn rừng ngủ lán “săn đào”. Có lúc, kiểm lâm tưởng anh là lâm tặc, có người tưởng anh là con buôn đi săn đồ cổ của đồng bào dân tộc, có người tưởng anh là kẻ đi săn vàng. Hàm không biết ngỏ cùng ai, nói đi “săn” hoa đào, người ta lại bảo “thằng hâm”.
Đã mấy mùa Xuân trôi qua, khi đào nở lại mò mẫm vào rừng, nhưng Hàm tuyệt nhiên không tìm thấy bông hoa đào nào giống hoa Thất thốn. Từ vách đá cheo leo, bên bờ suối hay đất đồi cằn cỗi, hoa đào đều khác, khác đến nhàm chán, đến nản lòng.
Một ngày, gần như muốn từ giã cuộc chơi, giữa cánh rừng đào của Sơn La (địa điểm cụ thể Hàm nói giữ bí mật), sau cuộc săn tìm, Hàm uể oải trèo vào vào một cái hang để nghỉ chân. Nền đất khô, xen kẽ những phiến đá, hang nhỏ thông ra phía sau núi, trần có những hốc thông thiên khiến ánh sáng chiếu vào. Hàm giật nảy mình, giữa luồng sáng chiếu từ trần hang xuống, một sắc đỏ thắm như nhói lên trong mắt. Anh tiến lại gần, một bông hoa và hai cái nụ như được dính vào một gốc cây xù xì. Nó giống hệt đào Thất thốn trong vườn nhà anh, không thể nhầm lẫn. Anh đào đất trong hang, hít hà để cảm nhận hơi ẩm, đo nhiệt độ, rồi Hàm cẩn thận đánh dấu lại địa danh ấy trên bản đồ, ngày hôm sau bắt xe về Hà Nội.
Anh nhờ chuyên gia nông nghiệp phân tích, so sánh vi chất dinh dưỡng đất mẫu anh lấy về với đất bãi sông Hồng, và bắt tay vào gây dựng lại nghiệp đào Thất thốn. Hàm bảo, đấy là bí mật giúp anh khám phá ra cách “chinh phục” đào Thất thốn.
Mạnh Cường


Đào thất thốn

(Petrotimes) - Đào thất thốn - tên gọi này còn nhiều bàn cãi nhưng có lẽ chỉ vì cây đào thường rất nhỏ, thấp cao khoảng 7 thốn (hơn 20cm nên được gọi là "thất thốn" chăng?)


Hiếm hoa và hiếm người…
Đào thất thốn được xem còn quý giá nhiều hơn thế. Cũng không ai biết rõ loài hoa vương giả nhất trong các loại đào này vì sao lại có mặt ở Nhật Tân, và có tự bao giờ? Nhiều người yêu loài hoa này đến nỗi đã đặt cho nó thêm những cái tên như đào thờ, đào bói, đào tiến vua… Cứ sau Rằm tháng Giêng mới nở, thế mới khó chịu, nên người trồng thất thốn ở Nhật Tân cũng nản lòng dần. Nhiều nhà ở Nhật Tân đầu tư vào loại đào này mất tiền, mất thời gian vô kể mà chưa ai thành công, nên gọi nó là “đào Thất thoát” và để mặc thất thốn đứng cong queo đơn độc ở góc vườn, góc ao nào đó.

Đào thất thốn
Tôi tìm “lão đào” Chu Tử Thành, danh tiếng một thời ở vùng Nhật Tân bởi tài trồng, ghép các loại đào. Mấy năm về trước ông có lần còn tặng gia đình tôi một chậu đào đơm 3 loại hoa (đào, mai, mận) trên một cây. Ông già râu dài được xem giỏi về “cầm, kỳ, thi, họa” vừa cắt tỉa, sang chiết đào ở vùng cánh đồng “ciputra” nay đã trở thành “ẩn nhân” chỉ trồng vui vài ba gốc trong 4 bề nhà cao tầng, ông bảo: “Cho đỡ nhớ nghề”. Hỏi về đào giống đào thất thốn nức tiếng, ông vuốt chòm râu dài trả lời bằng mấy dòng thơ:
“…Hồ Tây liễu rủ chim bay lượn
Sông Nhị ru thuyền khách mắt xanh
Ngắm cảnh Nhật Tân đô thị hóa
Hoa đào nở đẹp ở… trong tranh”
Ông bảo rằng, giờ người chơi đào xô bồ, ăn sổi, thiếu sự tinh tế không hiểu hết được giá trị về giống đào này, thế nên người trồng cũng mất sự kiên nhẫn sợ cái chữ “Thất” của đào thất thốn sẽ thành… thất thu, thất thoát và lo rằng nó đang thất truyền.
So với lão đào Chu Tử Thành đã gắn bó 50 năm trong nghề, anh Lê Hàm là người trồng đào thuộc lớp con cháu, nhưng hậu sinh khả úy, anh là người duy nhất sở hữu bí quyết ươm trồng giống đào quý này. Có gần chục hécta đất trồng đào với rất nhiều giống đào quý hay như loại đào bông trắng cũng thuộc dạng hiếm ở làng đào này. Ngoài ra, anh Hàm còn có một gốc đào mà đến giờ cũng chưa biết đặt tên cho nó là gì. Ở thời điểm, khi hoa đào thất thốn đã bung nở, điều đặc biệt là những bông hoa ấy khổng lồ với đường kính lên đến 5cm trông to như cái chén. Nói chẳng ngoa, đúng là tìm khắp miền Bắc chứ đừng nói ở vùng Nhật Tân này “có gốc thứ hai”, nếu cho thuê cũng không dưới 50 triệu đồng.
Anh cho biết, trên hai chục năm theo đuổi trồng loại đào này, mà anh mới được chứng kiến nó nở được 4 lần. Gắn bó với giống đào này như duyên nghiệp. Khi hỏi về giá thuê, anh Hàm chỉ cười: Công phu lắm, hiếm khi trúng vào vụ nên giá cả nó phải cao hơn các loại đào thường. Có những gốc đào thất thốn đã được khách mặc cả giá lên tới 10 triệu đồng/bông hoa. Họ “treo thưởng” như thế cũng hứng khởi, nhưng xem như một canh bạc với giời, có năm được có năm không!
Nín thở chờ hoa
Khác với tất cả những thứ hoa đào thông thường mà ai cũng biết, đào thất thốn có thân, cành tương đối khiêm tốn, ít cánh. Mầm nhỏ xanh tía như lưỡi kiếm vung lên. Hoa đỏ thắm tươi, nếu cây ít hoa thì bền kỳ lạ, nếu hoa nở nhiều thì chóng tàn hơn đào thường. Hoa đào là loài có một đặc điểm riêng mà không một loại cây nào có được: dù bị cắt lìa cành vẫn trổ hoa, kết quả. Đất càng cằn cỗi hoa càng đẹp nhưng điều kiện phải trồng ở đất sét, đất thịt trong đồng chứ không trồng ngoài đất bãi lắm phù sa và thất thốn phải được bón bằng phân bắc “xịn”.

Nghệ nhân Lê Hàm
Thất thốn còn có sức sống mãnh liệt hơn cả, có thể trồng được trong chậu, trong khi đào thường chỉ khoảng 3 năm là chết. thất thốn thân ngắn, gốc xùi phồng xù xì, lá to dài xanh đậm, vỏ cây nếu bóc ra thì tím màu mận chín chứ không trắng xanh màu gỗ như các loại đào thường. Giống đào xù xì, rêu mốc này có sức hút người yêu hoa kỳ lạ, mỗi thốn cành cây, tức là độ dài bằng đốt ngón tay, có thể trổ tới 7 bông hoa, nên gọi là thất thốn.
Thất thốn đỏ từ rễ đỏ lên tới búp, mầm cứng cáp và nhọn như lưỡi kiếm. Hoa đỏ vô cùng, tựa như hoa hồng nhung vậy, có thể trổ bông từ gốc. Thất thốn sở hữu một vẻ đẹp không một loại đào nào sánh được. Cánh hoa dày, màu đỏ nhung, sáng nở một bông, trưa nở tiếp một bông, có người sợ cây nở hết mà không được ngắm nên không dám ngủ. Cây nhiều bông thì chóng tàn hơn đào thường, nhưng cây ít bông thì bền đến lạ lùng.
Người đàn ông trồng thứ đào độc này đang nín thở: “Nếu từ giờ đến tết chỉ có một đợt rét nhẹ nữa thì thất thốn sẽ bung nở đúng vụ”. Anh đã biết bí mật của loài hoa lạ lùng này. Một bí mật mà từ trước đến nay chưa ai tỏ tường về nó. Anh đã làm cho chính người trồng đào Nhật Tân kinh ngạc.
Còn ông Công Văn Tung, cũng đã nhiều năm trồng đào thất thốn bên làng Phú Gia, phường Phú Thượng cho hay: “Đúng là chẳng có giống đào nào lại khó tính như đào thất thốn. Vừa khó trồng, lúc được lúc không cho nên dân trồng đào nếu tính công chăm bón cho giống cây này thì không có hiệu quả về kinh tế. Cho nên, đào thất thốn giờ đang ngày trở nên quý hiếm, đúng là vừa sợ thất thu rồi lo nhất là giống đào này đang có nguy cơ thất truyền”.
M.K 

Ngắm đào Thất Thốn nở hoa



(NLĐO)- Trong số hơn 6.000 hiện vật có mặt tại Hội hoa xuân Tân Mão 2011, nếu tinh ý, du khách có thể phát hiện kha khá loài cây, loài hoa vừa quý hiếm lại vừa ngộ nghĩnh.

Trong khu trưng bày cây quý hiếm, hiện vật thu hút nhiều ống kính máy ảnh nhất chính là cây đào Thất Thốn.
Xuấn thân từ Thung lũng Đào hoa của cố nghệ nhân Mười Lời (Đà Lạt, Lâm Đồng), cây đào thất thốn được chính con trai của ông Mười Lời – anh Bùi Văn Sang – đưa đến Hội hoa xuân Tân Mão.



Đào Thất Thốn thu hút nhiều sự chú ý
Theo lời giới thiệu của anh Sang, đào Thất Thốn là một giống đào cổ ở Nhật Tân (Hà Nội). Mỗi thốn, tức mỗi tấc theo cách gọi của các cụ, của thân cây có thể trổ 7 hoa nên mới có tên gọi là “Thất Thốn”.
Đào thất thốn có dáng lùn, đẹp tự nhiên, tuổi thọ cao và có nhiều hoa, sai quả. Khác với những giống đào bích, đào phai, đào Thất Thốn nở hoa muộn vào sau rằm tháng giêng, hiếm khi chịu nở hoa đúng Tết Nguyên đán.
Cây đào thất thốn Đà Lạt đầu tiên được nghệ nhân Vũ Hữu Sửu gây giống vào năm 1968. Đến năm 1996, nghệ nhân Mười Lời đã ghép thành công đào thất thốn lên cây đào Đà Lạt. Và tiếp tục thành công của cha mình, anh Bùi Văn Sang đã cho cây ra hoa được đúng vào dịp Tết Tân Mão 2011.
Là giống đào cổ Nhật Tân, đào Thất Thốn hiếm khi trổ hoa đúng dịp Tết Nguyên đán
“Mỗi năm thân đào chỉ cao thêm được 3cm, hoa kép gồm 7 cánh có màu đỏ, còn hoa đơn gồm 5 cánh có màu hồng. Nghe nói sau 30 năm tồn tại, màu hoa đơn sẽ chuyển hóa thành hoa kép, nhưng điều này chưa ai kiểm chứng được”, anh Sang nói.
Quả đào Thất Thốn Đà Lạt lớn, đường kính khoảng 4-6cm, màu vàng có má hồng sậm, vỏ mỏng và rất ít lông. Khoảng tháng tư âm lịch thì quả chín hồng trĩu cây, nhìn rất đáng yêu.
Cây khế đoạt giải vàng của nghệ nhân Liêu Hồng Việt
Còn tại khu cây có trái, rất dễ nhận ra cây khế lúc lỉu quả đoạt giải vàng của nghệ nhân Liêu Hồng Phong (TPHCM). “Hổ phụ sinh hổ tử”, cha của nghệ nhân Liêu Hồng Phong – nghệ nhân Liêu Hồng Việt – cũng rinh giải vàng bộ môn cây có trái Hội hoa xuân Canh Dần 2010 với hiện vật cây vú sữa.
Không chỉ có khế, du khách còn tha hồ chiêm ngưỡng đủ loại cây trái, từ ổi, vú sữa, sung đến dâu tằm, phật thủ, cơm nguội lông… Cây nào cũng nho nhỏ nhưng rất sai quả, tạo hứng thú cho người xem.   
Các cây me, ổi, vú sữa, sung tại Hội hoa xuân Tân Mão
Bài và ảnh: Bằng Vy

Vĩnh Bảo sưu tầm 31/12/2012

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

NHỮNG NGÀY GIỖ


Sắp sửa đến ngày Giỗ của Bố Vĩnh Sinh kính yêu, khép lại một năm âm lịch để chuẩn bị đón xuân mới.

Xin chép ra đây những ngày GIỖ của gia đình ta để mọi người cùng nhớ.


                CÁC NGÀY GIỖ


Ngày giỗ
Các ngài
18-1
CỤ TỔ ÔNG (CỤ MẬU)
19-1
Bà nội (cụ Bi)
27-2
Ông nội (cụ đồ Hoan)
30-3
ông Hỷ (bác)
23-4
Ông ngoại (cụ Bá – Nam Quất)
12-7
bác Thanh
26-7
bà Ngũ (bác)
29-7
chú Rôm
12-8
Mẹ (bà Kim)
28-9
bà Kỷ (bác Mùn)
12-10
bác Tuấn
  8-11
bác Mệnh
21-11
Bố (ông Sinh)

(Blog VinhSinh  & Thang Long khoi nghiep)



Blog liên quan: http://sinhhy120.blogspot.com/
-----------------------------

(Vĩnh Thuận - Ngọc hà - 29/12/2012 - 18 tháng Mười Một Nhâm Thìn)

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

7 dược thảo cực tốt cho hệ tiêu hoá


7 dược thảo cực tốt cho hệ tiêu hoá

Có thể trong cuộc sống của bạn đặc biệt là trong chuyện ăn uống, đã một vài lần bạn có cảm giác ăn uống khó tiêu hoá, bụng cứ ì ạch khó chịu vô cùng..


7 dược thảo cực tốt cho hệ tiêu hoá.
Những nguyên nhân thường gặp đối với chứng khó tiêu hoá bao gồm việc ăn quá nhiều, ăn quá nhanh, những thực phẩm có chứa nhiều dầu mỡ, thức ăn quá nhiều caffeine, uống quá nhiều rượu, ăn nhiều sôcôla, tâm trạng căng thẳng trong lúc ăn uống và đang bị tổn thương tình cảm.
Chứng khó tiêu hoá còn được gọi là chứng “rối loạn tiêu hoá”, là một thuật ngữ dùng để mô tả một hoặc nhiều triệu chứng bao gồm cảm giác no trong suốt bữa ăn mặc dù ăn không nhiều, cảm giác khó chịu sau khi kết thúc bữa ăn, cảm giác đau hoặc rát ở vùng bụng trên; nó có thể gây chứng đầy hơi, ợ hơi và buồn nôn. Trong hàng ngàn năm qua, người ta đã dùng một số loại dược thảo để điều trị một số chứng bệnh mà trong đó chứng khó tiêu hoá dường như lại tỏ ra rất thích hợp trong việc dùng dược thảo chữa bệnh:
Thì Là / Hạt Thì Là
Nhiều nhà hàng ở Ấn Độ thường có thói quen sử dụng hạt thì là cho những món ăn được chế biến vào buổi tối. Hạt Thì Là đã được sử dụng trong một thời gian dài dùng để khắc phục chứng đầy hơi, bị chuột rút, dạ dày nhiều chất chua và đặc biệt hạt thì là còn có tác dụng giảm co thắt ở đường ruột rất hiệu quả.
Từ ngàn xưa, thì là đã được sử dụng trong cả hai lĩnh vực là ẩm thực và y học. Theo truyền thống, hạt thì là được cho là một vị thuốc tống hơi, nghĩa là nó giúp cho cơ thể có thể trục xuất khí độc và giảm ngứa ngáy trong quá trình tiêu hoá thức ăn. Đối với các sản phụ trong lúc sinh con, người ta dùng thì là làm “gia vị” chính trong món nước thuốc thường có pha thêm một chút rượu theo tỷ lệ hợp lý, thứ nước này sẽ do những sản phụ uống để trị chứng bụng quặn đau trong lúc hạ sinh con. Lá thì là còn được dùng để hãm uống như nước trà (chè). Theo Trung tâm Y khoa Langone thuộc Đại học New York (Mỹ) thì một liều hạt thì là dùng để chữa bệnh hiệu nghiệm nhất là từ 1 muỗng – 1,5 muỗng hạt thì là/ngày.
Bạc hà chanh
Bạc hà chanh (tên gọi khác là Melissa) là một thành viên của họ Bạc hà, thứ lá dược thảo này đã được ưa chuộng sử dụng từ thời Trung Cổ nhằm giảm thiểu chứng trầm cảm và lo âu, tăng cường giấc ngủ, kích thích cảm giác thèm ăn và giảm thiểu chứng khó tiêu hoá. Thời đó, lá Bạc hà chanh thường được pha trộn với các dược thảo trung tính khác nhằm nâng cao việc thư giãn. Bằng chứng cho thấy rằng việc kết hợp giữa lá Bạc hà chanh với các loại thảo mộc khác có thể giúp điều trị chứng khó tiêu hoá – hoặc có thể làm dịu sự trầm cảm trong cơ thể và tăng cường cải thiện chứng rối loạn tiêu hoá.
Để giảm thiểu chứng khó tiêu hoá, đầy hơi, Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Maryland (Mỹ) khuyên dùng như sau: Lấy từ 300mg – 500mg lá Bạc hà chanh khô, dùng 3 lần/ngày. Nếu làm trà (chè) uống thì dùng từ 1,5 gram – 4,5 gram (1/4 – 1 muỗng) lá Bạc hà chanh khô, hãm trong nước nóng. Hãm uống khoảng 4 lần/ngày hoặc hơn.
Bột nghệ
Củ nghệ đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong việc cải thiện sức khoẻ một cách đáng kể. Củ nghệ là gia vị chính trong món cà ri, nó có lớp màu vàng giúp kích thích sự ngon miệng cho món ăn, và bột nghệ còn được sử dụng cho nhiều bài thuốc khác nhau. Trong nền y học cổ truyền Trung Quốc và y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurvedic), bột nghệ được sử dụng để hỗ trợ chức năng tiêu hoá và cải thiện chức năng gan, giảm đau viêm khớp và điều hoà kinh nguyệt; bột nghệ cũng được sử dụng cho chứng ợ hơi nóng, đau dạ dày, tiêu chảy, ruột nhiều hơi và ứ hơi ở dạ dày.
Theo Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Maryland (Mỹ), bột nghệ có một chất hoạt hoá khá mạnh gọi là “curcumin” và một số chất khác, có thể kích thích các cơn co thắt túi mật. Viện nghiên cứu Y tế Quốc Gia Mỹ (NIH) khuyên rằng nên dùng khoảng 500 mg bột nghệ/4 lần/ngày để điều trị dứt điểm chứng bệnh khó tiêu hoá.


Gừng
Từ ngàn xưa, gừng đã được sử dụng làm thuốc trong các nền y học Châu Á, Ấn Độ và Ả Rập. Ở Trung Quốc, gừng đã được sử dụng cho việc ngăn ngừa các triệu chứng liên quan đến tiêu hoá trong suốt hơn 2.000 năm qua.
Trong nền y học hiện đại, nhiều bác sĩ vẫn lên tiếng khuyên bạn nên dùng gừng để phòng ngừa hoặc điều trị chứng buồn nôn. Gừng dùng làm thuốc điều trị chứng khó chịu mức độ nhẹ ở dạ dày. Đức đã chấp thuận cho việc dùng gừng làm thuốc điều trị chứng khó tiêu hoá và say tàu xe. Thú vị một chút, trong khi nhiều loại thuốc chống nôn mửa tác động lên não và tai trong thì gừng tác động trực tiếp vào dạ dày. Trong nhiều mục đích chữa bệnh khác nhau thì liều dùng căn bản là từ 1 đến 4 gram gừng/ngày, chia làm 2 đến 4 liều/ngày. (Để phòng ngừa chứng say tàu xe, bạn nên dùng gừng từ 1 đến 2 ngày trước khi đi tàu xe và tiếp tục ăn gừng trong suốt thời gian đi lại).
Lá Atisô
Bạn có ngạc nhiên không nếu biết rằng người Italia đã phát minh ra món rượu mùi từ lá Atisô, đó là món uống Cynar. Trong nền y học cổ truyền Châu Âu, lá cây Atisô (không phải lá quanh búp hoa của nó, mà chúng ta vẫn hay ăn) đã được dùng làm thuốc lợi tiểu, nó có tác dụng làm kích thích thận cũng như khởi động dòng chảy của mật từ gan và túi mật, đóng một vai trò chính trong hệ tiêu hoá.
Trong vòng hơn một thế kỷ qua, nhiều cuộc nghiên cứu đã chú tâm vào tính truyền thống của việc sử dụng cây Atisô làm thuốc. Vào giữa thế kỷ 20, các nhà khoa học Italia đã tiến hành “cô lập” một chất từ lá Atisô gọi là “Cynarin”, nó có tác dụng chữa bệnh cực cao.
Vào năm 2003, một cuộc nghiên cứu quy mô lớn đã đánh giá rằng lá Atisô có công hiệu mạnh trong việc chữa trị chứng khó tiêu hoá; tinh chất lá Atisô hiệu quả hơn nhiều so với dùng giả dược dùng để điều trị các triệu chứng khó tiêu hoá. Cơ quan y tế Đức khuyên rằng nên sử dụng lá Atisô trong việc điều trị “những trục trặc về khó tiêu” với liều lượng hợp lý là khoảng 6 gram lá Atisô khô/ngày, được chia thành 3 liều dùng.


Bạc hà cay
Bạc hà cay thường được dùng để làm dịu dạ dày hoặc hỗ trợ tiêu hoá cho dạ dày. Do bởi những tác động tinh tế cho nên Bạc Hà cay được sử dụng để điều trị khá nhiều chứng bệnh từ đau đầu, dị ứng da, lo âu, nôn mửa, tiêu chảy, chuột rút, kinh nguyệt và chứng đầy hơi. Dầu bạc hà cay tỏ ra khá hữu ích trong việc điều trị các cơn đau do co thắt đường ruột. Nhiều cuộc nghiên cứu còn đề cập đến hội chứng ruột kích thích (IBS), trong đó việc dùng dầu bạc hà cay đã đạt được một số tiến bộ đáng kể. Bạc hà cay giúp làm thư giãn các cơ bắp, đấu tranh với khí tiêu hoá và cải thiện dòng chảy của mật, mà cơ thể đã sử dụng để tiêu hoá các chất béo.
Ớt Cayen


Nhiều người vẫn hay quan niệm rằng ăn đồ cay nóng sẽ làm đau rát dạ dày. Nhưng sự thực lại ngược lại: theo Đại học New York, việc ăn ớt Cayen có thể làm giảm thiểu cơn đau do khó tiêu hoá!
Thực vậy, việc ăn ớt cay nóng không hề làm sưng tấy các vết thương, thay vào đó nó chỉ tạo ra những cảm xúc tương tự khi cơ thể tiếp nhận chất cay. Việc tiếp nhận chất “Capsaicin” có thể làm giảm thiểu triệu chứng khó chịu ở dạ dày. Với những người mắc phải hội chứng rối loạn tiêu hoá nên dùng từ 0,5 gram đến 1 gram bột ớt đỏ Cayen/ngày (chia làm 3 liều trong các món ăn), có thể giảm thiểu chứng đau, đầy hơi và nôn mửa. Theo khoahoc.com.vn
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2012


Trà Tân Cương Thái Nguyên


Trà Tân Cương Thái Nguyên


tra tan cuong thai nguyen 300x199 Trà Tân Cương Thái Nguyên
Đồi chè Tân Cương - Thái Nguyên
Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 13km về phía Tây, Tân Cương là vùng đất bán sơn địa, cảnh quan thiên nhiên đẹp mắt với những dãy đồi thoai thoải về hướng mặt trời lặn mà dân địa phương gọi là núi Thằn Lằn. Bắt nguồn từ những cánh rừng trên núi, các con suối róc rách men theo những chân đồi chảy về tưới mát cả vùng chè đặc sản nổi tiếng.
Nơi đây đồi nối tiếp đồi, hương chè tươi nồng nàn trong không gian. Người dân vùng chè mê mải với công việc thường nhật, từ động tác hái chè những ngón tay như múa, từ cách thức sao vò chè như thể làm ảo thuật. Cũng vì sự khéo léo đến tinh tế đó mà nhiều người đã được tôn vinh là nghệ nhân.

Nguồn gốc

Cây chè (Camellia Sinensis) vốn là một giống cây hoang dại trong những cánh rừng phía Nam lục địa châu Á, trải từ Ấn Độ, Sri Lanka sang Việt Nam, Trung Quốc. Những cây chè cổ ở Suối Giàng (Yên Bái) hay Cao Bồ (Hà Giang) thuộc giống chè shan tuyết cao khoảng 15 – 20m, thường mọc ở những độ cao trên 1.200m, khi hái phải bắc thang. Năm 1935, các lái buôn người Anh còn bắt gặp những cây chè như thế ở vùng Assam, Đông – Bắc Ấn Độ cao đến hơn 30m. Trung Quốc có lẽ là nước uống trà vào loại hàng đầu thế giới, vậy mà đặc biệt người ta không tìm thấy cây trà hoang nào ở nước này.
Nhân loại thuần dưỡng giống cây quý này đã hàng ngàn năm. Trong các thức uống được ưa chuộng, “trà” (Tea/Thé) là một thế giới.
Không như rượu và cà phê, trà không chỉ là thức uống mà còn được xem như một dược thảo. Người Nhật gắn trà với thiền cùng nhiều nghi lễ giúp cân bằng tiết tấu cuộc sống nội tâm. Người Trung Hoa coi trà là một trong những lạc thú thanh cao dành cho tao nhân mặc khách. Có lẽ vì vậy mà họ đã chế tác ra rất nhiều loại trà danh tiếng truyền thụ từ nhiều đời. Tác phẩm thành văn bàn về trà, cổ nhất có lẽ là “Trà kinh” của Lục Vũ, người được tôn vinh là “Trà thần”, cũng như “Trà ca” của Lô Đồng, người được đời sau xưng tụng là “Trà thánh”.
Ở Việt Nam, người đầu tiên, và đến nay có lẽ là duy nhất, luận về trà một cách công phu chưa thấy ai ngoài Vũ Thế Ngọc trong cuốn Trà kinh của mình (East Institute Press. California 1987 & NXB Văn Nghệ – 2006).

“Đệ nhất danh trà”

Gọi là chè Thái Nguyên nhưng chất lượng chè không phải vùng nào cũng giống nhau. Đã từ lâu, giới thưởng trà truyền tụng về một địa danh thường cung cấp loại trà nổi tiếng – trà Tân Cương. Người dân Tân Cương bảo rằng cây chè có ở đất này đã từ lâu lắm rồi, nhưng mới trở thành đặc sản lừng danh khoảng trăm năm nay nhờ ông Ðội Năm (tên thật là Võ Văn Thiệt) tới vùng này khai phá mở đồn điền trồng chè và chế biến thành những gói chè Bạch Hạc đem bán khắp nơi. Ẩm khách sành điệu rất ưa dùng và tôn vinh là “Ðệ nhất danh trà”, được lưu truyền từng là sản vật để tiến vua. Vườn chè cổ vẫn còn, nay đã 87 tuổi.
Mỗi gia đình ở Tân Cương đều có vườn chè và lò sấy, chủ hộ đóng rất nhiều vai: là nông dân khi chăm sóc chè, là công nhân lúc chế biến và trở thành thương nhân khi bán hàng. Thường thì việc hái chè dành cho những cô gái trẻ. Khắp đồi chè lan tỏa tiếng nói, tiếng hát, tiếng cười trong vắt của họ.
Chè là một loại cây cực kỳ khó tính và rất nhạy cảm. Ngay cả một cây xoan (sầu đông – sầu đâu) mọc ở trong vườn sẽ làm cho hương vị của những cây chè đã khác. Người Tân Cương bón chè bằng phân vi sinh, thuốc đuổi sâu chế biến từ cây khổ sâm. Chè phải được hái từ tinh sương đến giữa Ngọ. Dụng cụ đựng chè phải bằng sọt tre, hái khoảng nửa giờ phải mang chè vào lán. Chè đựng bằng bao ni lông và phơi nắng lâu rất dễ bị ôi chè, phẩm cấp giảm. Khi sao chè, kỵ nhất là mùi nước hoa, đặc biệt mùi dầu cù là.
Hái búp chè cũng phải đúng cách “một tôm hai lá, một cá hai chừa” để lấy được đúng phần ngon nhất của búp chè và tạo điều kiện cho lứa sau phát triển nhanh, nhiều búp hơn. Sau khi thu hái, chè búp tươi phải được tải trong bóng râm chừng 3 giờ đồng hồ rồi mới đem chế biến thì chè sẽ cho hương vị tuyệt hảo. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua nhiều đời làm chè.
Búp chè hái về phải chế biến ngay trong ngày theo đúng quy trình kỹ thuật truyền thống: Sao, vò, rồi lại sao mà phải làm liên tục, gọi là sao suốt. Qua bàn tay đảo búp chè cảm nhận độ nóng rồi điều chỉnh lửa thích hợp trong quá trình sao là bí quyết riêng của mỗi nhà sản xuất chè để được chè ngon; rồi sàng sảy phân loại chè cám, chè ban, chè búp; lấy hương… rất nhọc nhằn, công phu. Trước đây sao chè bằng chảo gang và củi, lấy hương bằng chảo đồng cho sản phẩm chè ngon nhất nhưng năng suất chế biến thấp, sao giỏi chỉ được 5kg/ngày, một lò sao lăn được 2kg/giờ. Nay, việc sao vò chè đã có máy móc hiện đại, rút ngắn thời gian chế biến. Nhưng, dù theo cách nào, chè ngon hay dở đều phụ thuộc phần lớn vào việc điều chỉnh lửa.
Khi chế biến chè, người nông dân đã thực sự trở thành nghệ nhân. Sự nhạy cảm của các ngón tay mách bảo họ khi nào chè cần tăng nhiệt, khi nào phải rút bớt củi, quá lửa chè sẽ khét còn không đủ nhiệt, chè có vị ngái rất khó uống. Nhiều nghệ nhân cho biết chỉ cần nghe tiếng cánh chè chuyển động trong lò sấy đã có thể biết độ nóng của lò. Dù họ không giấu nghề, tận tình hướng dẫn từng động tác nhưng khách không dám đến sát lò lửa chứ đừng nói đến chuyện đảo vò chè bằng tay trần trong lò nóng bỏng. Nhiệt độ có thể lên tới 180°C nhưng người Tân Cương cha truyền con nối bí quyết cảm nhận độ nóng qua bàn tay.
Chè búp loại này cánh săn nhỏ và cong như cái móc câu, có mầu “mốc” đặc trưng. Khi pha, thả búp chè vào ấm sành sứ cứ nghe tiếng roong roong. Ðể một dúm chè trong lòng bàn tay hà hơi vào đã thấy mùi thơm ngầy ngậy; nhai thử vài cánh chè cảm nhận được vị bùi, chát, ngọt đậm đà; nhả bã lấy ngón tay cái và ngón trỏ bóp, vặn thử thấy nước và bã xanh rờn như chè tươi, đấy là loại tốt. Có thể ướp chè búp với hoa sói, hoa ngâu, hoa làihoa sen… để tạo thêm những hương thơm khác nhau tùy sở thích mỗi người nhưng việc ướp cũng phải tuân thủ những quy định công phu, nếu không có kinh nghiệm sẽ làm giảm hương vị tự nhiên của chè.
Những nghệ nhân nơi đây cho biết, chè ngon trong năm là chè thu hoạch vụ Xuân, mùi hương cốm chè Tân Cương không nơi nào có được. Để có được một ký chè Tân Cương thứ thiệt quả là không dễ. Ai đã thử qua trà shan tuyết Suối Giàng, shan tuyết Cao Bồ (Hà Giang), thậm chí sang Hàng Châu uống thử trà Long Tỉnh, trà Ninh Ba, Ô Long cũng phải công nhận rằng, trà Tân Cương quả thực “danh bất hư truyền”.
Đến thăm “đất tổ” của chè Tân Cương, du khách được chiêm ngưỡng bãi chè cổ tại xóm Lam Sơn, ngay dưới chân núi Guộc, trên mỗi gốc cây sần sùi già cỗi là vòm tán rộng hàng sải tay với ngàn ngàn búp non tua tủa. Nghe người già kể về nguồn gốc vùng chè đặc sản quý hiếm này, được thưởng trà giữa không gian khoáng đạt trong lành, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn hương vị thiên nhiên được kết tụ trong mỗi búp chè Tân CươngSưu tầm: Dạ Phong
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2012

LỢI HẠI CỦA RƯỢU VANG


 LỢI HẠI CỦA RƯỢU VANG

Bài và ảnh Võ Quang Yến –

ruouvang-quangcaoTay tiên rót chén rượu đào,
Đổ đi thì tiếc, uống vào thì say.
Ca dao
Khoảng hai mươi năm về trước, nhân về Sài Gòn, tôi được anh Trịnh Công Sơn mời lại nhà ăn cơm. Biết anh thích uống rượu, tôi hỏi quanh tôi rượu gì ngon nhất để đem biếu và tôi mang lại hai chai ruợu trắng thượng hạng. Sau nầy mới biết tôi bị lố : nhạc sĩ họ Trịnh chỉ uống rượu van (Pháp : vin, Anh Mỹ : wine ; Đức : wein), còn gọi rượu chát, khác với rượu trắng, rượu đế, rượu bia, rượu cồn ! Gần đây hơn, nhân đi ăn ở Đà Nẵng với bạn quen, một anh đem đến một chai Bordeaux, hỏi tôi và nhà tôi quen sống ở Pháp thì nghĩ gì về nhãn rượu nầy vì có ý định cho nhập cảng. Ngày nay thấy rượu van đã có mặt nhiều trong các quán ăn cho là sang vì phần đông người nước ta còn đang quen uống bia rất phổ biến nhất là từ ngày có những nhãn hiệu ngoại quốc chế biến ngay trong nước. So với rượu trắng của ta, rượu van có phần nhẹ hơn (11-13 độ) và có thể uống nhiều hơn, nhưng ở Pháp là nước có truyền thống “rượu van – phó mát” lâu đời thì câu hỏi là có thể uống bao nhiêu để khỏi tai hại cho cơ thể. Người Mỹ thường nói đến một cái nghịch lý ở Pháp (paradoce français, french paradox): nhiều vùng trong nước uống nhiều rượu van mà thức ăn lại chứa nhiều mỡ lại có ít bệnh tim mạch hơn các vùng khác. Người đặt danh từ nghịch lý kia và cũng là người đưa ra giải thích trước tiên là Serge Renaud (Viện Đại học Bordeaux) : chính rượu đã ức chế sự kết tụ những tiểu cầu có khả năng nghẽn tắc động mạch (xơ vữa động mạch) nguyên do các chứng bệnh tim mạch. Bên phần  giáo sư sinh vật học Joseph Kanner ở Israël  thì tin những hợp chất phenol nhờ các tính chất chống oxy hóa đã đóng một vai trò quan trọng vì tác dụng thay đổi cấu tạo các lipoprotein LDL chuyên chở cholesterol.
ruouvang-canhdong
Thức ăn của ta chứa đựng nhiều chất mỡ trong ấy có cholesterol cần thiết cho cuộc vận dụng các tế bào. Số lượng cholesterol ấy chỉ chiếm 15% tổng số, 85% còn lại được chế tạo trong cơ thể từ các chất mỡ khác gọi là triglycerid. Cholesterol không tan hòa trong máu nên phải cần những lipoprotein chuyên chở : các lipoprotein tỷ trọng lớn HDL chở cholesterol về gan để được hủy hoại và loại thải vào mật (cholesterol tốt), các lipoprotein tỷ trọng nhỏ LDL chở cholesterol lại các tế bào dùng làm thành màng hay nguyên liệu chế tạo những phân tử như vitamin, steroid. Khi nào số lượng quá lớn, các cholesterol LDL nầy (cholesterol xấu) tích tụ trong các mạch máu thành chất lắng dẫn đường đến xơ vữa động mạch. Hơn nữa, những LDL có thể bị oxy hóa, biến dạng, không còn được các tế bào nhìn nhận, hết còn bị hủy hoại và càng tích tụ thêm trong các mạch máu. Cuộc oxy hóa nầy tăng gia với số lượng mỡ hấp thụ. Đằng khác, sự hủy hoại các triglerid cho phát sinh những chất có tính chất oxy hóa như malondialdehyd MDA góp phần vào cuộc oxy hóa hay thay đổi LDL. Ở trong bao tử, chính những polyphenol của rượu ngăn cản MDA tác động oxy hóa LDL.

Muốn làm rượu vang, người ta ép trái nho cả vỏ và hột thành nước hèm gồm có nước (85-90%) và những chất đường mà thành phần và số lượng phụ thuộc gốc cây nho và miền đất trồng. Cho lên men nước hèm với những vi khuẩn và nấm men, đường biến hóa thành khoảng một ngàn hóa chất mà chất nổi trội là ethanol (7-10%), một phân tử nhỏ, độc vì gây xơ gan, ung thư, nhiễu loạn tâm thần, có thể chuyển từ bụng mẹ qua bào thai, tỷ lệ phụ thuộc hàm lượng các chất đường. Trong thời gian lên men còn được cấu tạo một số acid : tartric (0,2-0,5% được gọi là acid của nho), malic, lactic (0,1-0,5%), succinic (0,5-1,5%), acetic, oxalic, ascorbic (có mặt lúc ban đầu nhưng mất dần), citric (rất ít, có khi không), 20 amin acid như trong cơ thể con người, những hợp chất nitơ (0,2-0,4%),…chất glycerol cống hiến vị ngọt trong số những polyol, cùng những những hợp chất phenol (0,01-0,5%) là những chất thơm tuy đã có sẵn trong trái nho lại tăng thêm qua sự chuyển hóa của các nấm men. Những chất thơm nầy tiếp tục tăng thêm sau nầy, qua quá trình thành thục trong thùng gỗ hay trong chai. Trong rượu cũng có nhiều chất vô cơ : Ca, Mg, Na, Fe, P, đặc biệt muối K, sulfat là những chất kích thích bài niệu.

Về mặt dược liệu, rượu chứa chút ít vitamin B, đặc biệt vitamin P cũng cố màng huyết quản, chống xuất huyết và bệnh phù. Quan trọng trong rượu van còn là những polyphenol, những chất chống oxy hóa mãnh liệt, có khả năng ngăn chận cuộc cấu tạo những gốc tự do thường phá hoại các tế bào, hậu quả là làm cho cơ thể chóng già. Trong các thức ăn có ít nhất cũng năm trăm chất polyphenol. Trong rượu van, polyphenol được chia làm hai loại : loại flavonoid mang phân tử flavonol và loại không-flavonoid. Theo một công trình của Augustin Scalbert ở Viện Quốc Gia khảo cứu Nông học INRA tại Chermont-Ferrand, trong mỗi 100ml, rượu đỏ chứa đựng polyphenol (107mg, 11 chất) mười lần nhiều hơn rươu hồng (10mg, 6 chất) và rượu trắng / sâm banh (10,4mg, 12 chất) vì trong quá trình ngâm rượu hồng và trắng, vỏ trái và hột nho đã bị thải. Trong rượu đỏ, số lượng flavonoid cũng nhiều hơn, đứng đầu là những flavonol (47mg/100ml) đặc biệt gồm có delphinidin là chất sắc anthocyan (22mg/100ml) nhuộm đỏ rượu. Trong số ít những chất không-flavonoid có những stilben mà nổi tiếng nhất là chất resveratrol (3,42mg/100ml) một lúc đã được xem như là “chất bổ” của rượu vì cũng là một chất chống oxy hóa, tất nhiên chống ung thư, ngăn cản những gốc tự do tác dụng lên cơ thể đưa đến già nua.
ruouvang-nho
Ngày nay, “chất bổ ” nầy nói riêng, lợi hại nói chung của rượu đang là một đề tài tranh luận. Một nhóm ở Viện Quốc gia Khảo cứu Y khoa INSERM tin ở khả năng delphinidin trong các bệnh tim mạch vì đã xác định được cơ chế tác dụng gây giãn mạch của nó : họ chứng minh trên chuột chất ấy hoạt hóa một điểm nhận cảm thường khích thích sự cấu tạo ni tơ oxyd  của một gốc tự do gây giản mạch. Giả thuyết không được xác thực vì không chỉ có rượu chứa đựng polyphenol : những chất nầy có mặt còn nhiều hơn (mg/số polyphenol) trong 100g bột cacao (549/7), sô cô la đen (262/4), cà phê (215/5), trà xanh (89/4), .. Trong nước nho ép chỉ có 1mg 1 polyphenol, chứng minh nước nho ép chỉ là nước đường. Đồng thời french  paradox cũng hết còn có giá trị. Một công trình khảo cứu ở Viện Đại học Wake Forest bên Hoa Kỳ thực hiện trên 3000 người bắt đầu từ 75 tuổi cho biết uống mỗi ngày 1-2 ly rượu van giảm hạ 40% nguy cơ nhiễu loạn tri giác, chứng minh rượu có khả năng phòng ngừa bệnh Alzheimer, tuy chưa biết rõ cơ chế tác dụng. Bác sĩ Luc Letennneur ở Viện Sức khoẻ, Dịch tể học và Phát triển ISPED, cho kết quả nầy không chính xác, vì không cho biết nên uống ít hay uống nhiều và rượu sẽ không bao giờ trở nên một môn thuốc. Người ta thường cho rượu gây béo phì. Nhìn kỹ, 100ml rượu van tương đương với 10g ethanol cống hiến 70 kcal, một ly rươu khai vị 25ml 60 kcal, một lon bia 250ml 100 kcal,… đem calo vào cơ thể nhưng những calo nầy chuyển hóa ra nhiệt năng chứ không được tích trử, trừ những loại rượu porto, muscat,…chứa đựng nhiều đường hay bia nhiều mạch nha thì calo tồn tại : trong các trường hợp nầy, rượu thật gây béo phì. Đấy là chưa nói rượu khai vị có mục đích chính là khích động ăn ngon, ăn nhiều  …

Còn có một vấn đề nữa là rượu vang với ung thư. Tháng 9 năm 2009, Viện Quốc gia Ung thư INCA cho phát hành một tập sách mỏng đã gây ra một luận chiến sôi nổi. Dựa lên tổng hợp trên hơn một trăm bài khảo cứu quốc tế về liên quan giữa các thức ăn và bệnh ung thư, trong mục đích giúp các bác sĩ trả lời các bệnh nhân trước những câu hỏi lắm khi mâu thuẩn không có căn cứ khoa học, viện khuyên nên tuyệt đối cấm bỏ mọi  loại ruợu, kể cả rượu van, uống hằng ngày hay chỉ thỉnh thoảng, vì rượu làm tăng gia ung thư, ít nhiều tùy theo cơ quan trong cơ thể. Như vậy viện bất chấp lời dặn dò của một cơ quan rất chính thức là Chương trình Quốc Gia Sức khoẻ Dinh dưởng : đàn bà mỗi ngày 2 ly (10cl) và đàn ông 3 ly. Những chuyên gia của viện ước tính sự tăng gia ấy nằm giữa 2 và 10% tùy theo cơ quan, nhưng có thể tăng lên đến 168% ở vùng “tai, mũi, họng” trong trường hợp kết hợp với thuốc lá. Tập sách của viện INCA gây lên phẩn nộ trong nhiều giới, bị chỉ trích là chỉ nhắm mặt ung thư mà quên những tính chất khác của rượu, chẳng hạn bên phần tim mạch. Đằng khác, cũng dựa lên cùng các bài khảo cứu ấy, Hội Khảo cứu Ung thư Quốc tế WCRF năm 2007 đã cho đăng những kết quả ít cực đoan hơn : hội khuyên nên uống tối cao mỗi ngày đàn bà 10-15g rượu van và đàn ông 20-30g, nghĩa là tương đương với lời dặn dò của Chương trình Quốc gia Sức khỏe Dinh dưởng. Hội còn xác định không có ngưỡng rượu không được vượt qua trái với lời khuyên củaViện INCA….

Trước cuộc tranh luận nầy, bộ Y tế Pháp cậy Hội đồng tối cao Sức khỏe HCSP làm trọng tài. Hội đồng bảo nếu không thể xác định ngưỡng rượu không được vượt qua, cũng không khuyên số ly rượu có thể uống hằng ngày, tuyên bố  không có duyên cớ chính đáng để hoàn toàn cấm uống rượu. Dù sao, giới hạn đàn bà 2 ly, đàn ông 3 ly chỉ là một lời khuyên mà thôi, nhắm nhắn nhủ những người muốn rượu nhiều. Hội đồng HCSP đề nghị thực hiện một cuộc khảo cứu đặc thù về tác dụng số lượng nhỏ rượu về mọi mặt tim mạch, ung thư,… để biết tuờng tận hơn. Theo bác sĩ Dominique Bessette ở Viện INCA thì với một số lượng nhỏ, rượu đã có tác dụng nhưng chưa có những cuộc khảo cứu chính xác, những cuộc thí nghiệm chỉ thực hiện in vitro và trên thú vật, những polyphenol ròng đã dùng không có cùng tính chất với những polyphenol trong rượu. Giáo sư ung thư học David Kjavat ở Bệnh viện Salpêtrière tại Paris chỉ trích kết luận cả hai viện Theo Hội WCRF, kết quả quá nhỏ để có ý nghĩa : nếu rượu mặc dầu uống ít gây ung thư vùng tai mũi họng thì tại sao trong hơn 60 triệu dân Pháp, chỉ có 12.000 bệnh nhân ? Trong 25 cuộc khảo cứu trong tập sách của viện INCA, chỉ có 9 chứng minh uống rượu ít vẫn bị ung thư tăng lên, 11 trung hòa và 5 gạt bỏ tác dụng của ít rượu. Đằng khác, các cuộc khảo cứu được thực hiện năm 2005 mà qua 2006 người ta chứng minh vai trò của papillomavirus trong 60% các ung thư tai mũi họng ! Nói chung chưa có một chứng minh nào đích xác đưa đến một kết luận rõ ràng.
ruouvang-quangcao
Theo Tổ chức Quốc tế Sức khỏe, câu rao các hảng rượu “nên uống vừa phải” không phải do luật lệ bắt buộc mà chỉ là để phản ứng lại câu ghi “lạm dụng rượu có hại cho sức khỏe“. Chi bằng nghe theo thông điệp của Tổ chức Quốc tế Sức khỏe “nên uống ít thì hơn“. Có lẽ nên nhấm nháp rượu để tìm thích thú hơn uống nhiều đến khi say túy lúy thì rượu hết còn niềm vui mà là một tai hại cho mình đồng thời làm phiền phức cho mọi người xung quanh. Tuy chỉ là dân Pháp nhập tịch, không chút chính cống, lắm lúc tôi thấy thích thú khi nhấm nháp một mẫu phó mát nặng mùi, Camembert, Roquefort hay Bleu d’Auvergne, đồng thời nếm mùi một ly rượu đỏ nồng ấm, bất cứ Côtes du Rhône, Bordeaux hay Beaujolais. Nói chuyện uống rượu, tôi còn nhớ một kỷ niêm thú vị. Hồi ấy công tác ở Trung tâm Khảo cứu Khoa học, tôi còn làm Tổng thư ký nhóm Hóa học hữu cơ của Hội Hóa học Pháp. Trong số các nhiệm vụ, tôi có bổn phận tổ chức những cuộc hội thảo của nhóm và từ đó luôn cả chuyện ăn ở của các giáo sư được mời đến thuyết minh cùng buổi tiệc liên hoan ngày cuối. Mấy tháng trước, tôi đã phải chạy kiếm một quán ăn rộng rãi có thể và nhất là bằng lòng tiếp đón một số đông khách ăn. Đây tôi mới biết nhiều quán ăn ngon ít thích đón cả một đoàn nhiều người, sợ ồn ào làm phiền phức khách thường quen. Tôi cũng là người chỉ định loại rượu sẽ kèm theo các món ăn : nhãn hiệu Saint-Amour tôi đã từng thưởng thức ở đây. Lúc bắt đầu tiệc, người dọn bàn cần trình bày chai rượu vừa mới khui để được chấp nhận trước khi rót vì rượu có thể có mùi hư hay mùi nút chai. Thường anh ta đưa rượu đến một vị cao niên mà anh cho là người chủ tọa bửa tiệc, nhưng trước mặt biết bao là giáo sư, có ông già lụm khụm, có ông râu ria xồm xoàm, biết ai là người có ưu tiên, cuộc đánh giá rất là tế nhị. Đằng khác anh chỉ biết có một mình tôi là người đã đến đặt hàng, nên không do dự lâu, anh đến mời tôi nếm thử rượu. Thế là tôi đứng dậy, trước mặt tất cả các khách quan các nước, giáo sư, tiến sĩ, kẻ trẻ, người già, hai mắt nhìn về phía tôi, chờ đợi một phán xét, tôi, một người Á Đông giữa những khách phương Tây sành rượu, lại tương đối trẻ, trịnh trọng nâng cốc nhấm nháp, lưỡng lự suy nghĩ rồi mới gật đầu cho phép dọn rượu. Tôi không bao giờ nghĩ mình lại có được một vinh hạnh, dù chỉ chốc lát, bất ngờ như vậy.

Vui lễ Noël 2012
                                                                Mừng Năm Mới Quý Tỵ 2013
Nghiên cứu và Phát triển 1(90)2012

Đọc thêm

* Sciences et Avenir :
- Vincent Gaullier, L’art de sublimer les grands vins, 12.1997
- Hors-série, Le guide du vin, 10-11.1999
- Sylvie Riou-Milliot, Eléna Sender, La vérité sur le vin, 09.2010
dẫn
-          thông báo Insee 05.2004, Iresp 09.2099, kết quả chương trình Inra
-      những  báo cáo của Dr Ramsau-Hansen (Rome 06.2010), Dr Kaycee Sink (Vienne 07.2009)
-          J.Kanner, Natural antioxydants in grapes and winesJ.Agric.Food.Chem. 1994
-          Pr David Khayat, Vrai régime anti-cancer,nxb Odile
-          Pr Roger Corder, Boire mieux pour vivre mieux, nxb Thierry Souccar

* Le Nouvel Observateur : Fabien Gruhier, Trois verres de vin, ça va, 01.1997 ; L’heure de l’apéro, 08.2002

* Cœur et santé : Daniel Rigaud, Les boissons alcooliques et leurs effets, 07-08.2002
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2012

THẾ NÀO LÀ CON MẮTTINH TƯỜNG ?


THẾ NÀO LÀ CON MẮTTINH TƯỜNG ?Tr doi mat 1


Nhờ các bác tìm hộ các khuôn mặt ẩn hiện dưới các bóng cây dưới đây…
Hãy tập thể dục cho đôi mắt bạn, cũng là một bài tập chống Alzheimer… Để giữ một tâm trí sắc nét – Con mắt tinh tường ! Rất hấp dẫn ! Nên theo dõi chặt chẽ “
1/- Bạn có thể thấy 10 khuôn mặt trong cây này ?Mat nguoi 6
2/- Có một khuôn mặt tại khu vực này. Bạn có thể xem?
3/- Bạn có thể xem một em bé chưa ra đời ?
4/- Bạn có thể thấy có hai người trong tấm tranh ?
5/- Và có thể thấy ba người phụ nữ trong ảnh người đàn ông ?
6/- Bạn có thể cho biết sự khác biệt giữa một con ngựa và một con ếch ? (ảnh động)
Để dễ nhận xét đề nghị phóng lớn hình (bấm vào hình)
6 Khuon mat
Yên Nhàn post
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2012