Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

VÀI TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG CHƠI CHỮ BẰNG TỰ HÌNH CHỮ HÁN


Cao Tự Thanh
 Giống như mọi nền văn học, thơ văn chữ Hán ở bốn nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên cũng có những lối chơi chữ trên cơ sở sự đồng âm và cận âm, đồng nghĩa và đa nghĩa.... của từ vựng. Song sử dụng một thứ chữ viết tượng hình, mảng văn chương thuộc hệ thống “văn hóa chữ Hán” này còn có riêng một lối chơi chữ bằng tự hình rất độc đáo. Khởi đi từ một phong cách ngôn ngữ đặc biệt được gọi là Phong cách học Văn tự (Stylistique Graphique) mà thủ pháp phổ biến là chiết tự từ các hình thức đơn giản kiểu đố chữ tới các dạng thức kết hợp tự hình  -  ý nghĩa  -  âm thanh phức tạp hơn, lối chơi chữ này đã được nhiều tác giả trước nay vận dụng trong thực tiễn sáng tác mà kết quả là làm hình thành những tác phẩm độc đáo, những giai thoại bất ngờ.
   1. Theo Đường thi kỷ sự, khi Hoàng Sào đánh xuống miền Giang Chiết thì Bì Nhật Hưu đang là Thái thường Bác sĩ tránh loạn về ở Ngô Trung, bị Sào bắt ép phải theo. Đến cuối năm Quảng Minh thứ 1 (880) Sào đánh chiếm Trường An, xưng là hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Tề, phong Nhật Hưu là Hàn lâm học sĩ, sai làm thơ sấm để tuyên truyền về “chân mệnh đế vương”. Nhật Hưu viết rằng:
      慾識聖人姓,
      田八二十一.
      慾知聖人名,
      果頭三屈律.
      Dục thức thánh nhân tính,
      Điền bát nhị thập nhất.
      Dục tri thánh nhân danh,
      Quả đầu tam khuất luật.
      (Muốn biết họ thánh nhân,
      Ruộng, tám, hai mươi, một.
      Muốn hay tên thánh nhân,
      Đầu quả có ba cục)
   Tương truyền trên đầu Sào có ba cái sừng, ít tóc nên không đội được mũ mà chỉ đội được khăn, nhưng có lẽ chỉ là do xương đầu bị méo mó hoặc giả chân tóc bị nấm mốc gì đó làm cho tóc rụng nham nhở trông không được oai vũ hay anh tuấn lắm mà thôi. Có điều bấy nhiêu cũng đủ cho thấy Nhật Hưu đã sơ tâm (hoặc bất kính) mà xúc phạm tới “long đầu” tới mức nào với bài thơ chiết tự hai chữ họ tên Hoàng Sào kia: câu Điền bát nhị thập nhất là chiết tự chữ 黄Hoàng một cách máy móc tới mức giống như ngớ ngẩn, còn câu Quả đầu tam khuất luật chính là chữ 巢Sàogồm chữ quả dưới chữ tai - ngoài cái nghĩa đen rất mực xấu xa ấy thì tự hình của chữ tai ở đây còn giống như một sự tả chân lối xỏ xiên về cái đầu chỗ lồi chỗ lõm không được thuận mắt như ở người thường của Thánh nhân Thiên tử Đại Tề. Cho nên Sào đùng đùng nổi giận (mà cũng chính đáng thôi) vì cho rằng bị xúc phạm nặng, bèn giết Nhật Hưu.
VÀI TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG  CHƠI CHỮ BẰNG TỰ HÌNH CHỮ HÁN
   2. Ở Việt Nam vốn có truyền thống sáng tác văn chương chữ Hán lâu đời, việc chơi chữ bằng tự hình cũng xuất hiện từ rất sớm. Từ bài thơ sấm “Huề đao mộc lạc, Thập bát tử thành” của sư Vạn Hạnh tuyên truyền về việc Lý Công Uẩn sẽ khai sáng nhà Lý thay nhà Tiền Lê đến bài thơ ẩn ngữ “Mâu nhi vô dịch, Mịch phi kiến tích” của Đào Duy Từ từ chối sắc phong của chính quyền Lê Trịnh, văn chương chơi chữ bằng tự hình đã thấm vào cả sinh hoạt chính trị thời phong kiến. Trong sinh hoạt xã hội, việc chơi chữ bằng tự hình chữ Hán còn đan xen, thâm nhập vào nhiều tác phẩm viết bằng chữ Nôm - tiếng Việt, chẳng hạn cuối thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký từng ghi nhận những đôi câu đối như “Hai cung kêu bựt bựt, Ba xe chạy oanh oanh” chiết tự chữ bật 弼và chữ oanh 轟. Hiện nay ở chùa Phước Tường quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh còn giữ một đôi câu đối viết năm 1900:
Chỉnh khuông nhương, cần miễn lệ, động cù lao, quân sư phụ nhất phiên kiệt lực,
   Chí trung thứ, niệm từ bi, tư cảm ứng, Nho Thích Đạo tam giáo đồng tâm.
(Sửa sấp ngửa, khuyên cố gắng, chịu khó nhọc, Quân Sư Phụ một phen hết sức,
   Chí trung thứ, niệm từ bi, lo cảm ứng, Nho Thích Đạo ba giáo cùng lòng).
   Về ý nghĩa thì đôi câu đối này vừa đề cao công ơn Quân Sư Phụ trong tam cương của Nho gia, vừa xiển dương tinh thần tam giáo hòa đồng của người Việt, cũng là một nét đặc biệt trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Nhưng về nghệ thuật thì nét đặc sắc của nó là chơi chữ bằng tự hình chữ Hán, vế trước có nhiều chữ viết với bộ 力lực, vế sau có nhiều chữ viết với bộ 心tâm. Đặc biệt, nhân dịp trùng tu chùa Giác Lâm năm 1909, sư Bửu Hương trụ trì chùa Kiểng Phước đã tặng đôi câu đối:
        朝朝朝朝朝拜朝朝朝拜,
        齊齊齊齊齊戒齊齊齊戒.
   Triêu triêu triều, triêu triêu bái, triêu triêu triều bái, Tề tề trai, tề tề giới, tề tề trai giới(Nhộn nhịp chầu, nhộn nhịp bái, nhộn nhịp chầu bái, Lặng lẽ trai, lặng lẽ giới, lặng lẽ trai giới). Điểm đặc sắc của đôi câu đối này là ở chỗ “đồng tự dị âm  -  dị nghĩa” với hàng loạt chữ triêu  -  triều và tề  -  trai có cùng tự hình đứng liền nhau tạo thành hai chuỗi hình ảnh tác động vào thị giác, và kết hợp với ý nghĩa, chúng làm người đọc liên tưởng tới những hàng người đang cùng nhau vái lạy, hành lễ...
   Đầu thế kỷ XX, khi kính thủy tinh trở thành vật liệu xây dựng và trang trí phổ biến ở các đô thị, nhiều người đã lợi dụng đặc điểm trong suốt của nó để viết lên những câu đối gồm các chữ Hán có hai phần trái phải giống nhau, ví dụ 古臺弄雨華常重, 幽谷衝寒草自香– Cổ đài lộng vũ hoa thường trọng, U cốc xung hàn thảo tự hương (Giỡn mưa đài cổ hoa thường nặng, Chống lạnh hang sâu cỏ tự thơm). Nếu viết bằng các lối chữ triện lệ và chú ý dụng công ở vài chữ thì có thể hoàn toàn đối xứng, đứng ở phía nào cũng đọc được (ảnh 1a, 1b).
VÀI TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG  CHƠI CHỮ BẰNG TỰ HÌNH CHỮ HÁN
   3. Hơn mười năm trước nhân làm một quyển sách về thơ Đường cũng có dịp đọc một số tài liệu về việc chơi chữ bằng tự hình, trong đó có bài Vãn diếu của Tô Thức. Bài thơ ấy sáng tác theo lối Thần trí thể, dùng cách viết làm cho các chữ Hán dài ngắn nghiêng ngửa khác đi, lấy tự hình thay thế lời thơ. Lúc ấy còn thích những trò tiểu xảo lặt vặt nên cũng bắt chước lắp ghép vài bài, trong đó có một bài thất ngôn tứ tuyệt Thu nhật sơn hành (Mùa thu đi trong núi), xin khoe cái dở cho người đọc giải trí, vì bài Vãn diếu của Tô Thức thì có lẽ nhiều người đã biết. Suối Nguồn hối bài như đòi nợ, không kịp tìm bút mực, tạm vẽ chữ bằng Photoshop nên không được như ý, xin thức giả xa gần đừng cười (ảnh 2).
   Câu 1 chữ  nhỏ là tế vũ, chữ phong xiên là tà phong, chữ khê có bộ thủy thấp xuống là khê thiển thủy.
   Câu 2 chữ vân nằm ngang là hoành vân, chữ nhạn bị đứt là đoạn nhạn, chữ hướng có chữ hương viết rời ra là hướng ly hương.
   Câu 3 chữ cúc thiếu nét là cúc tàn, chữ trúc bị sứt là trúc chiết, chữ sầu có chữ thu viết ngắn là sầu thu đoản.
   Câu 4 chữ thạch hở phía dưới là thạch khuyết, chữ sơn chúc về phía trước là sơn khuynh, chữ lượngcó chữ lý viết dài là lượng lý trường.
       細雨斜風溪淺水
       橫雲斷鴈嚮離鄉
       菊殘竹折愁秋短
       石缺山傾量里長
       Tế vũ tà phong khê thiển thủy,
      Hoành vân đoạn nhạn hướng ly hương.
      Cúc tàn trúc chiết sầu thu đoản,
       Thạch khuyết sơn khuynh lượng lý trường.
      (Mưa nhỏ gió xiên khe cạn nước,
       Mây giăng nhạn đứt lối ly hương.
       Cúc tàn trúc gãy buồn thu ngắn,
      Đá khuyết non nghiêng ngán dặm trường).CTT
Vĩnh Bảo sưu tầm 26/9/2016


Về một số từ Hán Việt dùng để chỉ "nhà"

Về một số từ Hán Việt dùng để chỉ "nhà"
Nguyễn Đông Triều
Nhà là một trong những thứ quan trọng nhất và gần gũi nhất với mọi người. Khái niệm “nhà” trong tiếng Việt có thể được thể hiện bằng nhiều từ Hán Việt khác nhau. Đương nhiên, ngoài nghĩa chung đó, mỗi từ còn có nét nghĩa riêng cần phân biệt rõ để sử dụng cho đúng. Bài viết này xin đưa ra cách dùng chủ yếu của một số từ thông dụng trong tiếng Việt để mọi người tham khảo.
    Chữ đầu tiên, thường dùng nhất và cũng dễ hiểu nhất, đó là gia. Xét theo góc độ từ nguyên thì chữ gia 家gồm có hai bộ phận: bộ miên (ở trên) là “mái lợp trùm nhà ngoài với nhà trong” và bộ thỉ (ở dưới) là “con lợn”. Chữ này có nguồn gốc như sau: Ngày xưa, các bậc vương tôn quí tộc khi chết có miếu để thờ, còn dân thường không được dựng miếu nên phải bày lợn (hay một số loài gia súc khác) dưới mái hiên nơi mình ở để cúng. Từ đó tạo ra một đơn vị văn tự với sự kết hợp hai bộ phận trên để chỉ “nơi ở” nói chung. Đây là một cách tạo chữ đặc trưng của loại văn tự biểu ý như chữ Hán.
   Chữ gia hiện được sử dụng rất nhiều trong tiếng Việt. Ví dụ, gia cảnh (tình cảnh trong nhà), gia chủ(chủ nhà), gia cụ (đồ dùng trong nhà), gia nhân (người cùng một nhà, về sau có thêm nghĩa nữa là đầy tớ), danh gia (là một phái triết học thời Tiên Tần của Trung Quốc chủ trương lấy chính danh mà định nghĩa sự vật, ngoài ra còn dùng để gọi những học giả nổi tiếng; trong tiếng Việt có nghĩa là những gia đình có tiếng tăm)… Trong số những từ Hán Việt ghép với chữ gia, có hai từ đáng chú ý về mặt nguồn gốc:

   Gia thất: Ngày xưa, người con trai và người con gái sau khi cưới nhau thường phải về ở nhà chồng (nên mới có tục làm dâu), nhưng người vợ chỉ được ở “nhà dưới” hay “nhà nhỏ” chứ không được tự do đi lại những nơi khác trong nhà (ví dụ “nhà trên” hay từ đường). Từ đó mới phân biệt thành gia là nhà lớn, chỉ người chồng và thất là nhà nhỏ, chỉ người vợ. Trong Tả truyện-Hoàn công thập bát niên có câu “Nữ thì có gia, nam thì có thấtthất gia ý nói là vợ chồng”. Về sau dùng từ gia thất để chỉhai người cưới nhau về ở cùng một nhà, tức đã là vợ chồng (cho nên hiện nay chúng ta nghe người nữ hoặc người nam hô chồng hoặc vợ mình với người khác bằng đại từ “nhà tôi”, “nhà em”)Ngày nay, khi lo việc dựng vợ gả chồng cho con cái, người ta hay nói là “lo bề gia thất”. Cũng nên biết rằng, từ này ra đời và được sử dụng từ rất sớm, ít ra là từ thời nhà Chu (thế kỉ 11 trCN), với hình thức là thất gia, trong một tác phẩm được xem là mở đầu cho nền văn học viết của Trung Quốc là Kinh Thi: “Chi tử vu qui, nghi kì thất gia”. (Cô gái ấy về nhà chồng, hòa hợp với gia đình nhà chồng).

   Gia đình: Thông thường chúng ta hiểu gia đình là “Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống”. Nhưng tại sao gọi tập hợp đó là gia đình? Chữ đình vốn có nghĩa là ngôi nhà lớn để làm việc công, tức là làm việc quan, việc nhà nước. Nơi đó nhất định phải có vẻ uy nghiêm và có một người đứng đầu (nơi quan làm việc gọi là phủ đình; nơi xử án gọi là pháp đình, có người đứng đầu là quan tòa; trên trời gọi là thiên đình,có “Ông Trời” đứng đầu). Vì vậy gia đình ngoài nghĩa là “một tập hợp…” còn có ý nói là trong tập hợp đó phải có một người uy nghiêm nhất và có quyền lớn nhất, đó chính là người đàn ông hay người chồng, tức là người chủ gia đình. Một điều đáng chú ý là, nhiều khi những người không cùng huyết thống cũng được xem là người trong gia đình, như dâu, rể hoặc con nuôi…, đương nhiên những người đó cũng phải đối xử và được đối xử giống như những người khác trong gia đình.

   Chữ thứ hai là thất. Chữ này vốn có nghĩa là “cái nhà có chứa đầy đồ vật”, như nói cung thất(nhà của vua chúa). Ngoài ra, như đã nói ở trên, chữ thất còn dùng để chỉ người vợ hoặc người phụ nữ nói chung, con trai tới tuổi trưởng thành cưới vợ nói là thụ thấtKinh Lễ lại có câu “Người phụ nữ biết thuận tòng là hiếu thuận với cha mẹ chồng, ôn hòa với thất nhân” (thất nhân ở đây ý nói là những người phụ nữ khác trong nhà chồng). Về sau chữ thất phần nhiều được dùng với nghĩa là “nhà” nói chung, như tư thất (giống như tư gia, nghĩa là nhà riêng),thạch thất (nhà bằng đá), thất nữ (cô gái còn ở nhà mình chưa theo chồng, ý nói con gái còn trinh)…

   Chữ thứ ba là ốc. Chữ này vốn cũng có nghĩa là “nhà” như chữ gia, người xưa có câu “Bạch ốc khởi công khanh” (nhà nghèo mà dựng được nghiệp công khanh), ý nói từ hai bàn tay trắng mà tạo lập nên sự nghiệp lớn. Ốc còn được hiểu là “nóc nhà”, có câu thành ngữ “Ái ốc cập ô”, nghĩa là “Vì thương nóc nhà mà thương đến con quạ”, ý nói tình thương lây, thương một người thì thương cả những thứ hoặc những người liên quan đến người ấy. Nhưng hiện nay, chúng ta thấy chữ này ít khi được dùng với nghĩa là “nhà” đơn thuần mà thường được dùng với hai ý sau:

   Nói về những ngôi nhà có qui mô lớn : cao ốc (tòa nhà cao), phòng ốc (nhà cửa rộng rãi ngăn nắp). Riêng từ phòng ốc cũng dùng chỉ nhà nhỏ hẹp (như phòng ốc sao mà chật hẹp quá) nhưng khi dùng từ này người ta cũng muốn chú ý đến qui mô lớn nhỏ của nó.

   Nói về những nơi thực thi công quyền, có một quyền hạn nhất định : Nhà Trắng (nơi Tổng thống Mỹ ở và làm việc) thì người Trung Quốc gọi là tòa Bạch Ốc, hay Việt Nam gọi những nơi có quyền đứng ra giải quyết vấn đề nhà đất cho dân là Sở địa ốc.

   Chữ thứ tư là . Chữ này vốn có nghĩa là “nhà cho khách trọ qua đêm”, còn có nghĩa là “nhà ven đường cho khách lữ hành nghỉ chân”. Cho nên, xét theo kiểu chữ tượng hình của chữ Hán, thì  được vẽ rất đơn giản chỉ gồm mái nhà, cột nhà, rui nhà và nền đá. Cũng chính vì thế, chúng ta thấy chữ  thường được dùng trong hai trường hợp sau:

   Chỉ những nơi ở bình thường đơn giản: nơi bán đồ ăn bên đường gọi là quán xá, nơi ở của sinh viên gọi là túc xá, nhà ở tập thể gọi là cư xá. Ở Trung Quốc thời Chiến quốc, trong nhà vương công quý tộc thường có chức quan nhỏ là Xá nhân, chỉ người giúp việc cho nhà mình hoặc cho riêng mình.

   Có ý khiêm xưng: để chỉ nhà mình thì gọi là xá hạhàn xátệ xá (đều có nghĩa là “nhà nghèo”, tỏ ý khiêm tốn là nhà mình không bằng nhà người khác); hoặc những nơi cần sự yên tịnh để tu hành gọi là tinh xá hay tịnh xá.

   Một điều khá thú vị là, khi chữ  từ chữ Tượng hình được chuyển thành nét thì có tự dạng là 舍gồm có bộ nhân (ở trên) là “người” và bộ thiệt (ở dưới) là “cái lưỡi” (dùng để nói). Như vậy có thể giải thích nghĩa gốc của chữ này (nhà trọ hoặc nhà ven đường cho khách nghỉ chân) theo kiểu Hội ý: những người đi đường (人) mệt mỏi cùng nghỉ chân ở , họ cùng nhau nói chuyện (舍) để quên đi mệt nhọc để sau đó tiếp tục cuộc hành trình.

   Chữ thứ năm là đường. Chữ này cũng có nghĩa là “ngôi nhà lớn” nhưng không có ý nói nhiều người như chữ đình ở trên. Đường vốn có nghĩa là “gian nhà chính”, “nhà để làm lễ”, đương nhiên nó phải to đẹp và trang nghiêm. Chúng ta thấy nó thường được dùng chỉ những nơi tôn nghiêm, như nơi thờ phụng trong nhà gọi là gia đường, nhà thờ tổ tiên hoặc nhà thờ họ (của người dân) gọi là từ đường hay tông đường, nhà thờ tổ tiên của vua gọi là miếu đường, nơi an nghỉ hạnh phúc của những linh hồn siêu thoát theo Thiên chúa giáo gọi là thiên đường

   Chữ thứ sáu là phòng. Chữ này có nghĩa là “nhà phụ cạnh nhà chính”, tức là gian nhà được ngăn tách khỏi nhà chính. Với ý nghĩa đó, về sau được dùng để chỉ “căn phòng” - một phần được ngăn ra từ ngôi nhà lớn. Người Trung Quốc hiện nay dùng chữ phòng để chỉ căn hộ chung cư (nhà chung cư) ý nói rằng căn hộ là một phần ngăn cách với các phần khác của chung cư, hoặc chỉ nhà nói chung (như ngõa phòng: nhà ngói, lâu phòng: nhà lầu). Trong tiếng Việt, chữ phòngcũng được dùng để chỉ nhà nhưng rất hiếm (ví dụ phòng ốc: nhà cửa nói chung), nó đa số được dùng để chỉ gian phòng, căn buồng (phòng họp, phòng khách, phòng ngủ…).

   Chữ thứ bảy là trạch. Chữ này có nghĩa là “nhà lớn và rộng”. Ở Trung Quốc thời Đường gọi thiên tử là Trạch gia vì có câu “Đấng chí tôn lấy thiên hạ làm trạch, xem bốn biển là gia” (Tư hạ lục) ý nói vua phải xem đất nước chính là nhà của mình, nhân dân chính là người thân của mình. Xưa người Việt cũng hay dùng chữ trạch, như gọi tờ khế ước bán nhà là trạch khoán, có tang bậc tôn trưởng trong nhà là trạch ưu, người chết là đi về cõi âm nên gọi nhà mồ là âm trạch, nhà ở của người còn sống gọi là dương trạch…Hiện nay chữ trạch được sử dụng khá hạn chế trong tiếng Việt, chủ yếu dùng để chỉ những nhà có đất đai vườn ruộng, như nói điền trạch(ruộng vườn nhà cửa), thổ trạch (đất đai nhà cửa), thuế đất đai vườn tược gọi là thuế thổ trạch.

   Cuối cùng là hai chữ môn và hộ. Hai chữ này vốn đều có nghĩa là “cửa”. Theo chữ Hán thì mônviết là 門, là cửa nhà có hai cánh, hộ viết là 戶, là cửa phòng có một cánh. Từ ý nghĩa đó, về saumôn còn được dùng chỉ nhà lớn, nhà giàu, hộ được dùng chỉ nhà nhỏ, nhà nghèo. Ví dụ : nhà giàu có nổi tiếng gọi là danh môn. Trong Tả truyện - Chiêu công tam niên có câu “Chính quyền ở tại gia môn thì người dân không còn biết nương dựa vào ai”, gia môn là nhà của khanh đại phu, ý nói vua nước Tấn ngày càng sa đọa, các khanh đại phu tác oai tác quái vơ vét của cải không kể đến nỗi khổ của dân. Còn để chỉ nhà dân thì gọi là điền hộ hay nông hộ (hộ nông dân), hộ gia đình, nhà làm ăn nhỏ lẻ gọi là hộ cá thể

   Người xưa có câu Môn đăng hộ đối (đúng ra là Môn đương hộ đối) nghĩa là nhà trai và nhà gái tương xứng nhau về địa vị xã hội và tài sản, đều là gia đình quyền quí, giàu có như nhau theo quan niệm hôn nhân phong kiến. Trong xã hội xưa có sự phân chia rất gay gắt, giàu sang dường như không đội trời chung với nghèo hèn. Thế nhưng, đó là một quan niệm lỗi thời, đơn giản vì có ai sống trên đời mà “không đội chung trời” đâu. Chính vì thế, mọi người phải sống hòa hợp, giúp đỡ lẫn nhau như người ở chung trong một ngôi nhà lớn (trời đất). Và tôi nghĩ đây cũng chính là mong ước của tất cả chúng ta.

   Ngày nay, nhà, dù lớn hay nhỏ, dù sang hay hèn, vẫn là nơi để người ta quay về vui hưởng và thể hiện những tình cảm yêu thương; là nơi mà những ai đi xa lâu ngày cũng đều mong muốn được trở về, vì thế, hai tiếng quê nhà (người Trung Quốc nói là gia hương) luôn chứa đựng trong đó ý nghĩa thiêng liêng nhấtNĐT
Vĩnh Bảo sưu tầm 26/9/2016.