Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

ĐẶC SẢN NỔI TIẾNG TRÀ ĐÀI LOAN ALISAN

ĐẶC SẢN NỔI TIẾNG TRÀ ĐÀI LOAN ALISAN

Trà Alisan được xem là “quốc trà” của Đài Loan. Loại trà này rất đặc biệt chỉ có ở vùng núi cao Alisan (A Lý Sơn) với màu sắc và vị trà riêng biệt, cực kỳ thơm, ngon và hấp dẫn. Chính nhờ điểm thú vị này mà trà cũng như vùng Alisan trở thành một điểm du lich hấp dẫn ở Đài Loan. Và đặc sản nổi tiếng này được những quán trà sữa ở xứ Đài sử dụng pha nên những ly nước thu hút giới trẻ ngày nay.
 
Trà Alisan - đặc sản trứ danh xứ Đài mà bạn không thể bỏ lỡ khi đến Đài Loan

Theo sử sách, Đài Loan là một hòn đảo hoang và có nhiều cây trà mọc dại trên núi. Dân chúng cũng hái những búp và lá trà non về pha uống. Tuy nhiên những cây trà hoang đó không phải là thủy tổ của giống trà Đài Loan. Và loại trà Alisan nổi tiếng ngày nay là do dân di cư từ lục địa đem giống qua trồng.

Phải công nhận một điều, trà Ðài Loan có hương vị riêng do nỗ lực của những nông gia và những nhà khoa học đã gây giống và lai tạo khiến cho nó có những nét đặc sắc mà trà chính gốc tại lục địa không có được. Chưa kể, việc trồng trà ở khu vực miền Trung Đài Loan cũng là một điều tạo nên sức hấp dẫn đối với loại đặc sản xứ Đài nổi tiếng này.

Trà Alisan có hương vị riêng biệt, chinh phục vị giác của những người thưởng trà dù là khó tính nhất

Trà Alisan được trồng tại khu vực miền núi ở huyện Chiayi, miền Trung Đài Loan. Với 25 đỉnh núi cao hơn 2000 mét, hầu hết các loại trà Alisan được trồng ở khu vực các thị trấn Zhuqi, Meishan và các khu vực lân cận giữa Alisan và thành phố Gia Nghĩa. Đặc biệt tập trung trong và xung quanh hai ngôi làng Shizhuo và Zhangshu ở Zhuqi và Meishan. Bởi nơi này có sự kết hợp hoàn hảo giữa độ cao, khí hậu mát mẻ, đất giàu dinh dưỡng, nguồn nước trong lành để tưới tiêu và sương mù dai dẳng, tạo ra các loại trà đặc biệt không nơi nào có được.


Hầu hết các loại trà Alisan được trồng ở khu vực núi cao hơn 2000 mét

Với sự nổi tiếng và nhu cầu thưởng trà Alisan, nông dân ở các khu vực cao độ khác của Đài Loan như Yushan, Lishan, Shanlinxi và Wushe đã tìm cách tăng độ cao để sản xuất các loại trà có chất lượng tốt hơn. Trong đó cao nhất và hiểm trở nhất không thể không kể đến Dayuling - cao tới 2600 mét.

Cách tạo ra trà Alisan từ khâu hái trà đến khâu ủ trà đều rất tỉ mỉ, tinh tế và chứa những phương pháp đặc biệt làm nên hương vị không thể trộn lẫn của “quốc trà” Đài Loan. Trong khi hầu hết nông dân trồng chè thu hoạch vụ mùa năm lần mỗi năm ở Đài Loan thì Alisan và các loại trà núi cao khác chỉ được thu hoạch hai lần mỗi năm, thường là vào tháng 10 và tháng 6, hoặc mùa đông và mùa xuân.

Sau khi búp trà (thường gồm 2-4 lá non) được hái bằng tay, chúng được làm héo trên mặt đất để giảm độ ẩm sau đó cho vào khay tre để phá vỡ các mô tế bào và bắt đầu quá trình oxy hóa, thường kéo dài trong tám giờ.

Tiếp theo, lá được ép cẩn thận trong túi v ải và cuộn thành quả bóng trước khi được sấy để loại bỏ độ ẩm còn lại và ngừng oxy hóa. Quá trình oxy hóa nhiều hơn sẽ tạo ra một loại trà đậm hơn. Trà Alisan thường được oxy hóa đến 30 hoặc 40%.

Cách tạo ra trà Alisan từ khâu hái đến ủ rất tỉ mỉ, tinh tế làm nên hương vị không thể trộn lẫn vào đâu được

Có nhiều cách khác nhau để pha một tách trà hoàn hảo, nhưng với trà Alisan bạn nên pha trà với nước 90-95°. Bạn có thể đun sôi nó sau đó để trong 30 giây hoặc sử dụng một ấm đun nước có cài đặt nhiệt độ. Nước tráng trà đầu tiên rót vào các ly nhỏ và sau đó đổ bỏ vào khay trà (thường có lỗ thoát nước). Điều này được thực hiện để làm ấm các ly uống trà.

Sau khi nước trà đầu bị bỏ đi, người uống có thể đưa lên ngửi các tách rỗng để trải nghiệm hương thơm của trà. Mục đích chính của việc rửa lá trà là để làm giảm vị đắng. Tiếp theo, thêm nhiều nước vào đầy ấm và ngâm trong khoảng 1 phút.

Mặt khác, nếu bạn chuẩn bị trà theo phong cách phương Tây, nghĩa là một cốc lớn ngâm một lần, bạn sử dụng 1 muỗng cà phê lá cho khoảng 250ml nước, ngâm trong ba phút. Hoặc theo phong cách Gongfu hay trong một ấm trà Nghi Hưng, bạn sẽ phải dùng nhiều lá trà hơn, chẳng hạn như 3 muỗng cà phê và chúng có thể được pha lên đến 6 hoặc thậm chí 8 lần.

Để pha một tách trà Alisan hoàn hảo cũng cần phải có cách pha đúng

Nếu ai đã từng thưởng trà sẽ cảm nhận được trà Alisan có vị ngọt, thơm, mát lạnh. Hương vị phức hợp của loại trà này đã làm nó trở nên rất nổi tiếng đối với người dân xứ Đài cũng như khách du lịch trên khắp thế giới. Chưa kể, cũng nhờ chính mùi hương tinh khiết của Alisan khi hòa cùng sữa hoặc các serum trái cây tạo ra một mùi hương ngọt nhẹ nhàng, thích hợp với các tín đồ không thích béo và thích ngọt, nhất là chị em phụ nữ khi sử dụng trà sữa Đài Loan. Hương trà vẫn sẽ còn đọng lại thoang thoảng trong khoang miệng. Rất đáng để thưởng thức một lần.

Nếu bạn sang Đài Loan du lịch, một điều thú vị là bạn có thể đến thăm một khu sản xuất trà và mua trà trực tiếp từ những người trồng hoặc tại các cửa hàng địa phương. Các khu vực trồng trà dễ dàng đến bao gồm hồ Nhật Nguyệt, vùng núi Alisan và Luye. Chắc chắn, đó sẽ là trải nghiệm thú vị và một kỷ niệm đẹp làm bạn nhớ đến khi pha trà Alisan sau này.

Nếu bạn sang Đài Loan du lịch, bạn có thể đến thăm nơi trồng trà Alisan

Có thể nói, trà Alisan đã chinh phục vị giác của những người thưởng trà dù là “khó tính” nhất. Và đương nhiên, nếu đã là loại trà quý – đặc sản trứ danh của xứ Đài, chắc chắn một ngày không xa, trà Alisan không những là loại trà yêu thích của người Đài Loan mà sẽ còn vươn xa, chinh phục thêm những người yêu trà, thưởng trà trên thế giới.

Theo: VYC Travel



Vĩnh Bảo sưu tầm 13/4/2021

3 DẤU HIỆU CỦA NGƯỜI ĐÃ HẾT PHÚC

3 DẤU HIỆU CỦA NGƯỜI ĐÃ HẾT PHÚC

Một số người cảm thấy quy luật nhân quả rất huyền hoặc, họ nói: Tại sao có những người xấu lại sống rất sung sướng dễ chịu, người tốt lại đoản mệnh?


Trên thực tế, những người mà chúng ta biết lại chỉ là thiểu số. Trên toàn thế giới, những người đã từng là ‘vua’ tàn bạo như Hitler, Gaddafi, họ nắm đại quyền mấy chục năm. Khi họ đang ở đỉnh cao quyền lực, có ai tin rằng họ sẽ bị báo ứng thê thảm như thế? Trái lại, đại đa số mọi người khi đó đều cho rằng, họ nắm quyền lực lớn như vậy thì nhất định cuối đời sẽ kết thúc có hậu.

Đức và phúc báo có quan hệ thế nào?

Cổ nhân dạy rằng “Nhà tích thiện có dư phúc lành, nhà tích ác có thừa tai ương“. Hay trong “Thái Thượng cảm ứng thiên” có viết: “Người làm việc thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã rời xa. Người làm việc ác, họa tuy chưa đến, phúc đã rời xa”. Chính là đạo lý này.

Vạn sự vạn vật đều là nhân quả. Nếu ngày nay bạn có giàu sang, có sức khỏe, có hạnh phúc, thì một phần là do đời trước hành thiện tích đức mà ra. Và một phần là những cố gắng nỗ lực của đời này mà có được thiện quả.

Nho gia và Đạo gia đều giảng đạo lý hành thiện tích đức thì được phúc báo, tránh được tai họa. Còn làm ác tổn đức tiêu tán phúc báo, phải chịu tai ương.

Ảnh: Shutterstock.

Phúc là có thể hưởng thụ, nhưng cần ghi nhớ kỹ là không được lãng phí. Và đức mới là tài sản lớn nhất trong mệnh. Thành tâm tích lũy đức, dụng tâm sinh sống thì mới có thể khiến đức chuyển hóa thành hạnh phúc và vận may.

Đức càng nhiều thì càng giàu có. Đức càng nhiều thì càng hạnh phúc, càng ung dung tự tại. Khi đức bị dùng hết thì những sự tình đen đủi sẽ bắt đầu tìm đến.

3 dấu hiệu cho thấy đã hết phúc

#1- Hữu ý hay vô ý kết oán với người

Khi đức sắp dùng hết thì vận mệnh cũng suy đồi. Những suy nghĩ ích kỷ, vì lợi ích cá nhân khiến đầu óc mê muội khi có tranh chấp mâu thuẫn với người khác. Nếu không xử lý cho đúng có thể xảy ra phiền phức, nơi nào cũng khó khăn trắc trở. Thế thì phải đặc biệt chú ý và cảnh giác.

#2- Hao tiền của, phá sản bất ngờ

Tài phú là một trong những loại thể hiện của phúc báo và đức. Trong mệnh có bao nhiêu đức thì có bấy nhiêu tiền của. Khi đức dùng hết thì tiền của không tương xứng với đức, ông Trời sẽ thu hồi tài phú của bạn.

#3- Khí suy, bệnh lâu ngày

Khi không có đức thì oan gia trái chủ xung quanh sẽ có cơ hội thừa cơ báo thù. Nghiệp lực sẽ hiển hiện, làm gì cũng không thuận. Thậm chí sinh bệnh lâu ngày mà không thể khôi phục được sức khỏe. Khi đó nghiệp đã nhiều như núi, nằm ngang ở đó ngăn cản cuộc sống và sức khỏe của bạn; khi đó cầu Trời Trời chẳng linh, cầu đất đất chẳng nghiệm, cầu cúng gì cũng vô ích.

Thế nên, đồng thời với việc hưởng phúc thì không được quên trọng đức. Như vậy mới có được đức và phúc cuồn cuộn không ngừng, mới luôn tạo phúc và chở che cho bạn cùng gia đình. Tâm thiện làm việc thiện thì phúc lâu dài, vì ông Trời bảo hộ người thiện lương.

Theo Secret China/ Nguyện Ước
Khiêm Từ biên tập
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/4/2021

TỬ CẤM THÀNH VÌ SAO KHÔNG ĐƯỢC GỌI LÀ HOÀNG CẤM TH...

TỬ CẤM THÀNH VÌ SAO KHÔNG ĐƯỢC GỌI LÀ HOÀNG CẤM THÀNH?

Cố Cung (故宮) có hai màu chủ đạo là đỏ (Hán Việt là hồng 紅) và vàng (Hán Việt là hoàng 黃), vậy vì sao được gọi là “Tử Cấm Thành” 紫禁城 (tử 紫 là màu tím), mà không phải là Hồng Cấm Thành hay Hoàng Cấm Thành, hơn nữa, tại sao còn được gọi là Cố Cung?

Tử Cấm Thành có hai màu chủ đạo là đỏ và vàng. (Ảnh qua ĐKN)

“Cố Cung” nằm trong Tử Cấm Thành Bắc Kinh được kiến lập dựa trên nền tảng hoàng cung triều đại nhà Minh và nhà Thanh cùng các bộ sưu tập khác. Các sản phẩm sưu tầm trong Cố Cung chủ yếu dựa trên cơ sở sưu tập cung đình thuộc triều đại nhà Minh và nhà Thanh, hiện tại là Viện bảo tàng hàng đầu ở Trung Quốc.

Nguồn gốc cái tên “Tử Cấm Thành” và “Cố Cung”

Xin được hỏi độc giả trước, các bạn nghĩ sao khi có người nuôi một con mèo đen, anh ta nên gọi con mèo đó là Tiểu Hắc, Tiểu Bạch hay Tiểu Hoàng?

Vậy thì tại sao bên ngoài Cố Cung chỉ có màu đỏ và màu vàng, nhưng nó lại được gọi là “Tử Cấm Thành”? Nếu như có người nước ngoài hỏi đến tên của nó, thì tên tiếng Anh là The Forbidden City, chỉ có nghĩa “cấm thành” mà thiếu đi “tử” – màu tím.

Kỳ thực, trong hoàng cung nhà Minh và nhà Thanh, tên gọi của nó là “Tử Cấm Thành” (紫禁城), thay vì danh xưng hiện tại: “Cố Cung / Viện Bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh”. Năm 1924, Phùng Ngọc Tường đã phát động “Chính biến Bắc Kinh”, trục xuất hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi nhà Thanh ra khỏi Tử Cấm Thành. Vào ngày 10/10/1925 thành lập Viện Bảo tàng Cố Cung. Đây là nơi ở của thành viên hoàng thất và 24 vị đế vương trong hai triều đại nhà Minh và nhà Thanh nhưng khi không còn là nơi cư trú của thiên tử, người đời cũng từ đó mà quen gọi Tử Cấm Thành là Cố Cung, tức “hoàng cung của thời đại cũ”.


Hãy nói về nguồn gốc của cái tên “Tử Cấm Thành”. Tên này bắt nguồn từ những ngôi sao trên bầu trời. Các nhà thiên văn học cổ đại đã chia các hằng tinh trên bầu trời thành Tam Viên, thập nhị bát tú và nhiều chòm sao khác. Trong số đó, Tam Viên là sự kết hợp của Thiên Thị Viên, Tử Vi Viên và Thái Vi Viên, có tổng cộng 47 ngôi sao.

Vì Tử Vi Viên nằm ở trung tâm của Tam Viên, Thiên Thị Viên và Thái Vi Viên nằm ở hai bên, do đó Tử Vi Viên được gọi là Trung Viên, và vì nó nằm ở trung tâm của Bắc Thiên, nên nó còn được gọi là Trung Cung. Thuyết “Tử Vi chính trung” cũng từ đây mà ra.

Bố cục tương đồng giữa “Tử Cấm Thành” và “Thiên cung”

Người Trung Quốc cổ đại tin rằng, nơi mà Ngọc Hoàng Đại Đế cư ngụ là ở trung tâm thiên khung (bầu trời) của Thiên Cung, vì vậy các nhà thiên văn học kinh qua trường kỳ quan sát, đã xác nhận rằng Tử Vi Viên nằm ở chính giữa bầu trời trong một thời gian dài, chưa từng thay đổi, liền xem Tử Vi viên nằm trong phạm vi của Thiên Cung.

Do đó, Thiên Cung của Ngọc Đế cũng tự nhiên được gọi là “Tử Cung” (cung điện màu tím), mà bậc đế vương chủ trì lãnh thổ quốc gia ở nhân gian được xem là Thiên tử (con của trời). Do đó, nơi Thiên tử sống ở nhân gian cũng phải tương ứng với “Tử Cung” của Thiên phụ – Ngọc Đế ở trên trời, cho nên cung điện của các bậc đế vương ở nhân gian được xây dựng ở trung tâm thành phố Bắc Kinh, tên “Tử Cung” cũng vì thế mà được đặt.

“Tử Cấm Thành” được xây dựng dựa theo bố cục của Thiên Cung. (Ảnh qua Baidu)

Nếu như bạn quan sát bản vẽ mặt phẳng của Tử Cấm Thành thì sẽ biết được kết cấu đối ứng lẫn nhau giữa mặt đất và bầu trời. Bởi vì hoàng cung mà các bậc đế vương cư ngụ và cả toà Hoàng thành là đối chiếu với bố cục “Tử Vi chính trung” mà kiến tạo nên. Bố cục trùng trùng của hoàng cung được tạo nên bởi tâm huyết và trí óc của các nhà thiết kế. Bố cục kiến trúc tổng thể tượng trưng cho trời, đất, nhật, nguyệt và các tinh tú, Hoàng đế từ khi lập nên trục tâm quan trọng, qua đó triển hiện sự uy nghiêm cao thượng và quyền lực chí cao “Quân lâm thiên hạ”.

Phía Nam Tử Vi Viên có ba ngôi sao, được mọi người xem như ba cánh cửa, đó là: Đoan môn, Tả Dịch môn, Hữu Dịch môn. đối ứng với Đoan môn, Ngọ môn thiết lập ở mặt trước của Tử Cấm Thành, hai bên Đông Tây còn thiết lập Tả Dịch môn, Hữu Dịch môn; ở giữa Ngọ môn và Thái Hòa môn tượng trưng cho Kim Thủy hà của Ngân Hà Thiên Cung uốn lượn chảy quanh, tượng trưng cho Thái hòa điện uy nghiêm của khung trời (thường được gọi là Kim Loan điện), nằm ở một vị trí quan trọng nổi bật trên trục chính Bắc Nam của Tử Cấm Thành, nó là công trình kiến trúc được đánh giá cao nhất và lớn nhất trong Tử Cấm Thành, với quy mô xây dựng thuộc hàng bậc nhất trong nội đình Càn Thanh cung, từng là tẩm cung của hoàng đế nhà Minh, nó và nơi được cho là Khôn Ninh cung thuộc tẩm cung Hoàng hậu Minh triều, đồng thời tượng trưng cho thiên địa càn khôn.

Nhật Tinh môn và Nguyệt Hoa môn ở hai bên Đông Tây Càn Thanh cung tượng trưng cho Nhật Nguyệt tranh huy; phía Đông Tây của Thập Nhị cung viện tượng trưng cho Thập nhị Tinh tú; các Cung phía sau Thập nhi cung viện là biểu tượng quần thể các ngôi sao xung quanh.

Vậy thì, tên gọi “Tử Cung” sao lại biến thành “Tử Cấm Thành”? Bởi vì hoàng cung không phải là nơi mà người bình thường có thể tuỳ ý ra vào, mà đó là “khu vực cấm” có canh phòng nghiêm ngặt, cấp bậc rõ ràng và là nơi đẳng cấp bậc nhất, phàm ai bước vào hoàng cung đều phải tuân thủ nghiêm ngặt cung cấm và các cung quy lớn nhỏ khác nhau, nếu không thì chính là phạm lệnh cấm, như thế sẽ phải chịu trừng phạt. Từ “cấm” vốn dĩ tượng trưng cho sự uy nghiêm vô tỷ của Hoàng Đế, khiến người ta sợ hãi trong lòng. Thế là, “Tử Cung” (cung điện màu tím) trở thành “Cấm Cung”, và hai cái tên này kết hợp với nhau thành “Tử Cấm Thành”.

Tuệ Tâm, theo Kan New York
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/4/2021

Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021

CHÚNG TA NÊN SỢ MA HAY "SỢ' PHẬT?

CHÚNG TA NÊN SỢ MA HAY "SỢ' PHẬT?

Ngày còn nhỏ, như bao đứa trẻ khác ở làng quê, tôi yếu bóng vía lắm; những đêm có trăng sáng còn đỡ; những đêm trời không trăng sao mà người lớn sai ra đường đi việc gì đó là tôi sợ lắm. Đường ở quê hẹp và dài, hai bên nhiều cây cối; trời tối đường càng thêm tối, sợ bóng tối là nỗi sợ thường có ở một người bình thường. Tự nhiên như vậy, con người ai ai cũng hướng đến chỗ sáng mà tránh chỗ tối. Mà hễ rơi vào đêm đen thì trẻ con nghĩ ngay đến ma. Lúc nhỏ tôi cũng rất sợ ma!

Chúng ta nên sợ ma hay ‘sợ’ Phật? (ảnh Trip)

‘Ma có thể có, mà cũng có thể không có’

Rồi một ngày kia, khi tôi đã bắt đầu có những nhận thức và có thể diễn tả nỗi sợ mơ hồ ấy với cha tôi, người bảo:

“Ma có thể có, mà cũng có thể không có. Trong trường hợp chúng ta tin là có, thì ma cũng có việc của ma; ma không can thiệp vào chuyện của người. Việc của người là sống hiền lành lương thiện, biết trước biết sau; hiểu rằng ‘gieo nhân sẽ gặt quả’ vì luật nhân quả bao trùm vũ trụ này. Vậy nên dù có ma thì con cũng không cần phải sợ ma nếu con không làm việc gì xấu”.

Từ đó, tôi không còn sợ ma nữa, đối với một đứa trẻ thì người cha là đáng tin nhất. Và tôi tin ma lo việc của ma, người không làm việc xấu thì không cần sợ ma…

Nhưng chuyện không đơn giản thế, câu nói kết thúc cuộc trò chuyện hôm ấy của cha tôi là: “Nhưng rốt cuộc tới giờ vẫn chưa có gì chứng minh được là có ma”. Vậy là tôi vừa không sợ ma nếu như ma là có thật; lại vừa tin tưởng rằng ma chưa chắc đã có thực.

Người thiện lương thì không cần phải sợ ma tà (ảnh Indiatv)

Cô hai Thí hay nói lời tục tĩu

Làng tôi không có chùa thờ Phật hay nhà thờ Chúa; cả làng chỉ có hai người Phật tử. Cứ khi đến ngày rằm là hai người ấy cùng nhau khăn áo lội bộ ngang qua một cánh đồng rộng lớn đi đến một ngôi chùa nhỏ ở làng bên cạnh để lễ Phật; một người là cô hai Thí và một người là bà ba Phi.

Cô hai Thí lớn tuổi rồi mà không lấy chồng; nghe kể là ai cô cũng chê, cho rằng không có người nào xứng đáng với nhan sắc của cô. Hồi trẻ cô cũng đẹp lắm, nhưng giờ thì tàn phai nhiều rồi; mà cô lại rất lười biếng, rồi ngồi đâu gãi đó nên người cô hay có ghẻ. Lúc nhỏ tôi thường băn khoăn là vì gãi nhiều quá sinh ra ghẻ hay vì ghẻ ngứa quá nên mới gãi… Tới giờ tôi cũng không biết như thế nào là đúng.

Và tệ nhất là cô hỗn lắm, cô chửi hỗn nhất xóm. Khi cô giận dữ thì không có gì ngăn nổi những lời tục tĩu của cô được; kèm với đó là nước bọt văng tung tóe và sủi bọt ra hai bên khóe miệng có nhiều chấm ghẻ lở li ti.
 
Bà ba Phi hay la lối quát nạt

Bà ba Phi thì già rồi, hai vợ chồng bà sống yên bình trong một khu vườn nhỏ sâu trong hẻm. Nhà bà trồng nhiều loại rau củ và không làm ruộng vì ông bà đều đã già; ông bà sống biệt lập và không mấy khi giao thiệp qua lại với bà con trong xóm. Và có lẽ vì vậy mà ông bà lại được cái tiếng ki bo.

Ông bà không đụng tới ai nhưng rủi mà ai đụng chạm đến ông bà là bà nhảy xổ ra la lối. Người bà gầy guộc mà giọng thì cao vút, cả làng đều nghe; người đang làm ngoài đồng cũng phải chạy về… vì người ta thường ham hóng hớt chuyện lạ.

Vậy nên mỗi lần làng tôi nói đến người đi chùa thì lại đem cô hai Thí và bà ba Phi ra nói những lời chẳng mấy tốt đẹp, kiểu như: Đó, Phật tử đó, đi chùa mà như vậy như vậy… không tu mà như người này người nọ thì còn tốt hơn.

Phật có thật hay không?

Phật chỉ xét tâm chứ không cần hình thức (ảnh Twitter)

Tôi lại chạy về hỏi cha tôi là Phật có thật không? Phật có thể cứu độ được chúng sinh không? Cha tôi nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một người có thật trong lịch sử, Ngài ở nước Ấn Độ, Ngài dạy từ bi hỷ xả,… Người ta tin rằng Đức Phật sau khi nhập niết bàn thì vẫn luôn chăm sóc cho các đệ tử của Ngài ở nhân gian; nhưng không ai có thể khẳng định được điều này. Người ta tôn thờ Ngài là muốn nêu cao đức từ bi; sống theo những lời Ngài dạy để trở thành người tốt hơn.

Tôi thắc mắc, “vậy thì tại sao cô hai Thí lại không tốt và bà ba Phi lại bị cả làng chê cười vậy cha?”.

Cha tôi nói rằng: “Cũng như ma vậy, nếu con lương thiện thì không có gì phải bận tâm đến ma. Lời Phật dạy nếu con không làm theo, vậy thì con cũng không có liên quan gì đến Phật; Phật cũng không thể quản con được.

Cũng như con người ta ở hiền thì gặp lành, ở ác thì gặp dữ thôi. Tâm con đủ thứ xấu xa mà Phật lại phù hộ độ trì giúp con đủ thứ, vậy thì còn gì là thiên lý; hoặc như con tốt bụng hiền lành thế mà ma lại trù dập con thì cũng đâu có được.

Con nói cô hai Thí và bà ba Phi bị cả làng cười chê; điều đó thì là đương nhiên rồi, vì họ có làm theo lời Phật dạy đâu”.
 
Chúng ta nên sợ ma hay ‘sợ’ Phật?

Nghe cha nói xong tôi lại nghĩ trước giờ mình nhầm, đáng lý ra thì ma không có gì phải sợ, mà phải kính sợ Thần Phật mới đúng. Người thiện lành thì ma quỷ nào dám lại gần; nhưng thường giữ tâm kính sợ Thần Phật để không làm những việc phóng túng dục vọng; như vậy mới có thể đề cao phẩm hạnh của bản thân được.

Nhẫn Nhẫn / Theo: Nguyện Ước
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/4/2021

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

TẠI SAO TẾT THANH MINH ĐƯỢC COI TRỌNG?

TẠI SAO TẾT THANH MINH ĐƯỢC COI TRỌNG?

Tết Thanh Minh là một trong những ngày lễ quan trọng trong văn hóa Việt và một số quốc gia châu Á khác. Cùng khám phá những lễ tục trong ngày này để biết tại sao tết Thanh Minh được coi trọng.


TẾT THANH MINH LÀ GÌ?

Tiết Thanh minh (tết Thanh minh) là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cổ đại. Đây là một trong số hai mươi tư tiết khí trong một năm, tính theo lịch của Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc. Vì lịch của người Trung Quốc, cũng như Việt Nam cổ đại, bị nhiều người lầm tưởng là âm lịch thuần túy nên rất nhiều người cho rằng nó được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất.


Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch nên nếu giải thích theo thuật ngữ của lịch hiện đại ngày nay (lịch Gregory) thì nó được tính theo vị trí của trái đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo của mình xung quanh mặt trời. Nếu tính điểm xuân phân là gốc (kinh độ Mặt Trời bằng 0°) thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Thanh minh là kinh độ Mặt Trời bằng 15°.

Do vậy, tiết Thanh minh thực tế được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại theo quy ước tiết Thanh minh đến sau ngày Lập xuân 60 ngày, sau ngày Đông chí 105 ngày, tức là tiết Thanh minh bắt đầu từ khoảng ngày 4 hay 5 tháng 4 (khi kết thúc tiết xuân phân) và kết thúc vào khoảng ngày 20 hay 21 tháng 4 dương lịch.

Một tranh cổ Trung Quốc nói về Tết Thanh Minh

Từ “Thanh minh” (清明) cũng được chiết nghĩa theo khoảng thời gian này, “Thanh” có nghĩa là trong, “Minh” có nghĩa là sáng. Vì vậy tiết thanh minh có nghĩa là khoảng thời gian khí trời trong sáng và thanh khiết. Ngày đầu tiên của tiết này được gọi là tết Thanh minh. Vậy tết Thanh minh ở một số quốc gia châu Á có gì khác nhau và có những phong tục đặc biệt nào?

VIỆT NAM

Đối với người Việt, tết Thanh minh là dịp để con cháu hướng về tổ tiên, cội nguồn. Dù ai đi đâu, đến tết Thanh Minh cũng cố gắng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình. Những ngôi mộ được người nhà dọn dẹp sạch sẽ, vun đắp thêm đất mới, đó là những tâm đức của người đang sống đối với người đã khuất.


Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo quan niệm là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất. Sau đó, người tảo mộ thắp vài nén hương, đốt vàng mã, đặt thêm bó hoa lên mộ rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.


Trong phần lễ, những người con trai của gia đình thường sẽ lo khấn vái nơi phần mộ. Trong khi đó, trẻ em thường đi theo để biết kính trọng tổ tiên. Vào ngày này, những người đi xa cũng thường trở về quê hương để tảo mộ và sum họp với gia đình như một nét đẹp văn hoá của người Việt thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.

TRUNG QUỐC

Người Trung Quốc còn gọi tết Thanh Minh là tết Tam Nguyệt với hơn 2.500 năm lịch sử. Sau Tết cổ truyền ở Trung Hoa, nhiệt độ thường tăng dần, mưa nhiều hơn, cày vụ xuân và gieo mạ rất phù hợp, thuận tiện nên người Trung Quốc còn coi đây là nghi thức đầu xuân quan trọng, được xem như sự kết nối nỗi buồn và hy vọng.


Do vậy, vào ngày này người Trung Quốc thường tổ chức các hoạt động văn hóa để kết nối tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình với nhau, đặc biệt là các trò chơi dân gian truyền thống như: đá banh da hay thả diều, chèo thuyền, thắp đèn lồng. Tiết Thanh Minh cũng là dịp để người Trung Quốc chơi xuân, nam nữ gặp gỡ, thưởng hoa. Không kể ngày hay đêm, người dân cùng nhau thả những chiếc diều trên bầu trời với mong ước mang tới sự yên bình cho một năm mới thuận hòa.


Về ẩm thực, người Trung Hoa thường có tục ăn bánh Thanh đoàn tử vào dịp này. Đây là loại bánh gạo, có nhân được làm từ bột đậu xanh trộn với đường và những miếng mỡ lợn nhỏ. Cả gia đình sẽ quây quần bên bàn ăn và thưởng thức những xửng ánh Thanh đoàn tử nóng hổi.

NHẬT BẢN

Theo sử sách ghi lại, Tết Thanh minh được tổ chức rộng khắp tại Nhật Bản từ thế kỷ thứ 8 và chính thức trở thành ngày nghỉ quốc lễ từ năm 1868. Trong tiếng Nhật, lễ Thanh minh gọi là Shunbun-No-Hi (Higan), thường diễn ra trong suốt một tuần từ khoảng 18/3 đến 24/3.


Theo quan niệm của người Nhật “hi” trong higan có nghĩa là bên kia, “Gan” là bờ dùng để nói ám chỉ bờ phía bên kia Tây phương Cực Lạc. Higan chính là cõi niết bàn hay còn gọi là “Cực lạc Tịnh độ” – vùng đất thanh tịnh, một nơi người Phật tử lúc nào cũng ước muốn được đi đến đó sau kiếp này. Vào ngày giữa của lễ thanh minh – mặt trời sẽ mọc ở hướng chính Đông và lặn ở hướng chính Tây – ngay trước cửa Đông của Thế Giới Cực Lạc. Đây là thời gian tốt nhất trong năm để chúng sinh hướng về phía Tây nguyện cầu mong cho linh hồn tổ tiên của họ đang trên đường vãng sinh được chư Phật độ cho siêu thoát khỏi cái kiếp luân hồi.

Loại bánh đặc trưng trong Tết Thanh minh ở Nhật Bản là bánh botamochi

Theo phong tục, người Nhật sẽ sửa sang lại mộ phần, dâng hoa, dâng hương, dâng bánh và rượu Sake. Loại bánh đặc trưng trong ngày này là bánh botamochi (sẽ được gọi ohagi trong ngày hạ chí), loại bánh nếp, dẻo, mềm, hơi ngọt được vắt tròn sau đó được phủ quanh bằng một lớp đậu đỏ đánh nhuyễn và ngọt.

Ngoài việc thăm mộ phần tổ tiên, người Nhật thường cũng đi chùa và đền vào những ngày này để cầu nguyện hạnh phúc và an vui cho cuộc sống. Trong cảnh nhộn nhịp đó, có những gia đình cả nhà mặc đồ truyền thống, những cô gái mặc kimono ôm trên tay một hộp gỗ xinh xắn…

HÀN QUỐC


Khác với Việt Nam hay Trung Quốc, Hàn Quốc cũng có tết Thanh minh để tảo mộ tưởng nhớ tổ tiên, nhưng hoạt động tảo mộ này ở Hàn Quốc lại được tổ chức cùng dịp vào tết Trung Thu Choseuk. Người Hàn rất xem trọng lễ Chuseok vì đây là dịp để họ bày tỏ lòng biết ơn và hiếu thảo đối với tổ tiên. Do đó, việc quan trọng nhất mà các gia đình Hàn Quốc thường làm vào ngày lễ này là tảo mộ và dâng cúng tổ tiên mâm lễ nhỏ, bao gồm hoa quả, ngũ cốc và các sản phẩm đã thu hoạch.


Sau khi đã hoàn thành xong các nghi lễ tưởng niệm, mọi thành viên trong gia đình sẽ quây quần bên nhau để thưởng thức bữa ăn chủ đạo của dịp lễ như canh khoai sọ, bánh gạo songpyeon, rượu bạch tửu...

My Tống (tổng hợp)
Vĩnh Bảo sưu tầm 4/4/2021