Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

MỘT LÝ GIẢI VỀ HÀM NGHĨA CHỮ "VIỆT" CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ.

MỘT LÝ GIẢI VỀ HÀM NGHĨA CHỮ "VIỆT" CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ

Mỗi một dân tộc trên thế giới đều tự hào về tên gọi của dân tộc mình. Nhật Bản nghĩa là gốc của mặt trời, và người Nhật tự hào mình là “đất nước mặt trời mọc”; người Trung Quốc cổ xưa vẫn tự hào rằng đất nước mình là “trung tâm của thế giới”. Vậy chữ “Việt” của dân tộc Việt mang hàm nghĩa gì? Dưới đây là một lý giải có thể tham khảo.


Con Rồng cháu Tiên

Chúng ta thường hiểu quốc hiệu “Việt Nam” sơ sài là người Việt ở phương Nam. Những nhà nghiên cứu tìm hiểu ý nghĩa từ “Việt” qua chữ Hán (越) cũng có lý giải của riêng họ. Chữ này được tạo thành từ chữ “tẩu” (走) (tức là chạy) ở bên trái và chữ “qua” (戊) (tức là giáo mác, búa, chiến tranh) ở bên phải. Từ đó có người cho rằng chữ Việt có nghĩa là những người phải chạy về phía Nam để tránh những cuộc chiến tranh tại Hoa Hạ.

Chữ “Việt” viết theo chữ Hán.

Thế nhưng theo truyền thuyết thời xưa thì người Việt vẫn tự hào là con rồng cháu tiên, vì thế hàm nghĩa của chữ “Việt” chắc chắn không thể đơn giản như thế được. Để hiểu được chữ “Việt” mang ý nghĩa gì thì phải tìm đến chữ “Việt” cổ, chứ không thể qua chữ Hán được.

Chữ của người Việt cổ có lịch sử xa xưa hơn loại chữ viết được gọi là chữ Hán. Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất chữ viết thì thời bấy giờ là dùng chữ Tiểu Triện. Dựa trên cơ sở đó, sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang lập ra nhà Hán vào năm 202 TCN, chữ viết phát triển mạnh từ chữ Lệ thư, rồi Khải thư… Dù là khởi điểm thống nhất chữ viết Trung Hoa, nhưng nhà Tần chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, thế chỗ bởi nhà Hán thịnh trị, nên sau này người Trung Quốc gọi chữ viết của mình là chữ Hán.

Trước chữ Hán, các dân tộc ở vùng đất mà ngày nay là Trung Quốc đều có chữ viết của mình, ví như người Bách Việt (trong đó có bao hàm Lạc Việt và Âu Việt, chính là tổ tiên của người Việt ngày nay) cũng có chữ viết riêng của mình. Chữ của người Việt cổ đến nay vẫn còn được lưu lại trên một số di tích khai quật được, và đặc biệt nhất là từ thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn.

Chữ “Việt” cổ tìm được qua khai quật

Các cuộc khai quật tại tỉnh Hà Nam (thuộc Trung Quốc ngày nay) đã phát hiện nhiều di tích đồ đồng từ thời nhà Thương (1600 đến 1046 TCN). Hà Nam chính là đất Ân thời nhà Thương. Trong sử Việt có câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, chính là chỉ nhà Thương vào thời bấy giờ.

Trong đó chữ “Việt” được tìm thấy như sau:


Chữ “Việt” cổ này được lưu lại tại website chineseetymology.org. Đây là website của ông Richard Sears, một nhà nghiên cứu chữ viết, người đã bỏ ra 27 năm trời để nghiên cứu cổ ngữ có trước chữ Hán. Ông sưu tầm tỉ mỉ từng chữ và đánh dấu lại bằng mã số.

Chữ “Việt” cổ tìm được trên bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn
Năm 1965, khi khai quật khu mộ cổ ở tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học đã tìm được thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn. Thanh bảo kiếm này hoàn toàn không bị hoen gỉ, còn như mới suốt 2.500 năm qua. Không chỉ thanh kiếm còn nguyên vẹn, mà thậm chí từng hoa văn chữ viết trên đó vẫn còn rất rõ ràng.

Bảo kiếm của Câu Tiễn không rỉ sét, còn nguyên vẹn hoa văn và chữ viết. Lưỡi gươm hai mặt vẫn còn sắc bén. (Ảnh qua Pinterest)

Chữ viết được khắc trên thanh bảo kiếm nói trên không phải là chữ Hán, các nhà khảo cổ học xác định đây là loại chữ có trước chữ Hán. Thanh kiếm được khắc 8 chữ là: “Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Kiếm”, có nghĩa là thanh bảo kiếm này là của Việt Vương Câu Tiễn tự chế tác cho bản thân mình dùng. Đặc biệt chữ “Việt” trên thanh bảo kiếm này 
không có trong chữ Hán

.
Các chữ được khắc trên thanh bảo kiếm. (Ảnh qua Wikipedia)

Nước Việt thời Câu Tiễn (trị vì từ năm 496 đến 465 TCN) là của thị tộc người Ư Việt – một trong những thị tộc thuộc nhóm Bách Việt, và cũng là một chư hầu nhà Chu thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Chữ “Việt”trên kiếm của Việt Vương Câu Tiễn và chữ “Việt” khai quật được tại tỉnh Hà Nam là trùng khớp với nhau.


Như vậy đây rất có thể là chữ “Việt” cổ mà chúng ta đang tìm kiếm.

Chiết tự chữ “Việt” cổ


Cần chiết tự để hiểu được ý nghĩa bên trong chữ “Việt” cổ này. Nó được hợp thành từ 3 chữ như sau:


Ba chữ trên gồm chữ số 1 là “mặt trời”, số 2 là “rồng”, số 3 là một ký hiệu giống như “người chim” ghép thành.

1. Chữ nhật (mặt trời)

Chữ số 1 này giống như chữ nhật (mặt trời) từ niên đại giáp cốt văn và đồ đồng.

Từ trái qua phải: Phần chiết tự trên thanh bảo kiếm; Chữ nhật (mặt trời) niên đại giáp cốt văn; Chữ nhật (mặt trời) niên đại đồ đồng.

2. Chữ long (rồng)
Chữ số 2 rất giống với chữ long (rồng) từ niên đại giáp cốt văn.


3. Ký tự “người chim”

Ký tự “người chim”, ký tự B01747 và hình ảnh người chim trên trống đồng Ngọc Lũ.

Chữ thứ 3 này giống với chữ có ký tự B01747. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đại Việt cho rằng nó giống với hình tượng người mặc trang phục như người chim, tay cầm binh khí đang nhảy múa trong lễ hội trên trống đồng Ngọc Lũ.

Chữ “Việt” của dân tộc Việt có hàm nghĩa gì?

Phần chiết tự ở trên cho thấy chữ “Việt” cổ do mặt trời, rồng và hình tượng người chim tạo thành.

Mặt trời được gắn liền với văn hóa của dân tộc Việt qua hình tượng trống đồng được lưu lại đến ngày nay. Một số nhà nghiên cứu kết luận rằng, phần trung tâm mặt trống là hình tượng của mặt trời đang phát ra tia sáng, liên quan đến việc phân chia “tiết khí” trong năm.

Trống đồng Đông Sơn.

Hình tượng người trong trang phục gắn lông chim cầm vũ khí rất phổ biến trên trống đồng. Có thể suy đoán rằng, người Việt cổ thường hóa trang thành người chim trong lễ hội. Đây rất có thể là biểu tượng hướng tới truyền thuyết về việc tổ tiên con người là các tiên nhân có thể bay trên bầu trời. Kết hợp với chữ rồng, thì nó hẳn là có hàm nghĩa “con rồng cháu tiên”. Dân tộc Việt từ cổ xưa vẫn luôn quan niệm rằng mình là “con rồng cháu tiên”, đó là nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Việt.

Nếu mặt trời đại diện cho nền văn minh, rồng và người chim đại diện cho “con rồng cháu tiên”, thì có lẽ chữ “Việt” cổ chính là để chỉ nền văn minh của con rồng cháu tiên, nền văn minh của sự kết hợp hai dòng máu, hoặc giả hai tộc người, chính là nền văn minh được tạo nên bởi người Việt cổ.

Nền văn minh của con rồng cháu tiên.

Với lý giải ý nghĩa của chữ Việt này, người Việt có thể tự hào về truyền thống văn hóa đặc sắc và độc đáo của dân tộc mình, cũng tự hào rằng chúng ta chính là con cháu của Chư Thần, giống như truyền thuyết của bao dân tộc khác trên thế giới.
Trần Hưng

Vĩnh Bảo sưu tầm 3/10/2019

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

TÀO THÁO TRONG LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI GIAN HÙNG

TÀO THÁO TRONG LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI GIAN HÙNG

“Tam Quốc Diễn Nghĩa” của tác giả La Quán Trung được xưng là một trong “tứ đại danh tác” của Trung Quốc, được người người biết đến. Nhưng tác phẩm này cũng bị nhiều sử học gia đời sau lên án, bởi một số nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử được đưa vào trong tác phẩm đã bị sai lệch, khiến hậu nhân có cái nhìn không đúng về nhân vật, sự kiện lịch sử có thật.


“Tam Quốc Diễn Nghĩa” là một tiểu thuyết lịch sử. Chúng ta không thể dùng tiểu thuyết, hý kịch mang sắc thái hư cấu để đánh giá, nhìn nhận lịch sử và nhân vật lịch sử, càng không thể dùng nó để làm chuẩn mực đánh giá nhân vật lịch sử. Xem “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, nhiều người đánh giá nhân vật Tào Tháo hung ác độc địa, gian giảo, gian hùng, là một nhân vật phản diện có dã tâm lớn. Vậy tìm hiểu lại các tư liệu lịch sử, chúng ta xem Tào Tháo thực sự có phải người như vậy không?

Trong chính sử, Tào Tháo được khắc họa là vị thiên cổ anh hùng, cái thế hào kiệt, công cao đức rộng. Trong “Tam Quốc Chí” ca ngợi Tào Tháo: “Phi thường chi nhân, siêu thế chi kiệt” (tạm dịch: Người phi thường, là người tài giỏi xuất chúng). Các học giả đời sau nhận xét rằng: “Tào Tháo trong các tác phẩm văn học, hý kịch không phải là nhân vật Tào Tháo trong lịch sử.”

Có gan có trí, lâm nguy mà không sợ

Thời đầu Tam Quốc, Đổng Trác là quyền thần nhà Đông Hán, nổi tiếng là một gian thần, một quân phiệt tàn bạo. Khi nắm quyền trong tay, Đổng Trác độc tài, ngang ngược, lạm sát đại thần, khiến triều đình ai cũng thấp thỏm lo âu. Vì quá ngang ngược, Đổng Trác đã khơi gợi lòng oán hận trong các đại thần, vì thế đại Tư Đồ Vương Doãn đã bàn bạc với các đại thần kế hoạch giết chết Đổng Trác. Nhưng sau khi bàn bạc xong, các đại thần ai nấy đều lo sợ chỉ có Tào Tháo là nghe xong chẳng những không sợ hãi mà còn mỉm cười vỗ tay, xung phong nhận việc ám sát Đổng Trác.

Mặc dù việc ám sát Đổng Trác không thành công, nhưng Tào Tháo lại dựa vào tài trí của mình mà gạt được Đổng Trác, thoát khỏi miệng hùm. Đây chính là “có gan có trí”, lâm nguy mà không sợ.

Tào Tháo còn rất giỏi trong thuật dùng binh, dùng người. “Vọng mai chỉ khát” là một câu chuyện thể hiện tài trí của Tào Tháo. Trong “Thế thuyết tân ngữ” viết: Một lần vào mùa hè, Tào Tháo dẫn quân đi qua một địa phương không có nước. Giữa bầu trời nắng chói chang, gay gắt, tướng sĩ vừa mệt vừa khát, thậm chí có một số binh sĩ vì khát nước quá mà ngã xuống. Tào Tháo thấy sự tình thật sự nghiêm trọng, nếu tình trạng này diễn ra lâu hơn sẽ khiến binh sĩ nhụt chí, không thể kiên trì đi tiếp. Tào Tháo liền đứng lên một chỗ cao hô lớn: “Có nước rồi! Có nước rồi!”

Các tướng sĩ nghe nói có nước, tất cả đều hỏi: “Nước đâu? Nước đâu?”

Tào Tháo vừa chỉ tay về phía trước vừa nói: “Con đường này trước đây ta đã từng đi qua rồi, ở địa phương phía trước cách đây không xa có một vườn mơ lớn, trong đó có rất nhiều quả mơ vừa to mọng vừa ngọt thơm, chúng ta hãy nhanh chóng đi đến đó thôi!”

Các tướng sĩ nghe thấy có nhiều quả mơ to mọng ở phía trước thì mừng rỡ, tự nhiên trong miệng tiết ra vị chua, nhất thời không bị khát nữa. Tào Tháo lập tức chỉ huy binh sĩ lên đường, sau khi đi qua địa phương khô hạn này, họ đến một con sông lớn. Mọi người được uống nước, tinh thần sáng khoái tiếp tục hành quân, khí thế tăng lên bội phần.


Quý trọng nhân tài, tìm cầu người tài đức

Tào Tháo có một đặc điểm lớn nhất chính là quý trọng nhân tài. Chính vì đặc điểm này mà một số nhân tài đã tìm đến ông để nương tựa. Mối quan hệ giữa những nhân tài ấy với Tào Tháo giống như anh em một nhà.

Điển Vi là một ví dụ nổi bật. Điển Vi vì bảo hộ Tào Tháo mà chết trận. Khi nghe tin Điển Vi chết, Tào Tháo bật khóc nức nở, thống thiết. Ông còn chiêu mộ gián điệp thu hồi thi thể của Điển Vi về an táng. Ông sai người lập đền thờ và bày bàn cúng tế rồi nói với các tướng rằng: “Ta mất một con trưởng và một cháu yêu, cũng không thương là mấy, chỉ thương khóc Ðiển Vi mà thôi”.

Tấm lòng trọng dụng nhân tài của Tào Tháo còn thể hiện ở cách ông đối đãi với họ khi lập được chiến công. Trong lịch sử, có không ít tướng lĩnh khi có được chiến công liền tìm cách chiếm lấy và trừ khử những người thuộc hạ thân tín, nhưng Tào Tháo không làm như vậy. Ví như, vào năm 207 (tức Kiến An năm thứ 12), tháng 2, Tào Tháo từ đất Hung Nô trở về Nghiệp Thành, liền lệnh rằng: “Ta khởi nghĩa binh trừ bạo loạn, đến nay trải qua 19 năm, đánh đâu thắng đó, há phải công lao riêng mình? Đó thảy đều là sức lực của các bậc hiền sĩ đại phu vậy. Nay thiên hạ vẫn còn chưa yên, ta đang muốn cùng hiền sĩ đại phu hợp sức bình định, nếu hưởng công lao một mình, sao ta có thể yên lòng? Vậy gấp rút định công, phong thưởng cho những người ấy“.

Sau trận chiến ấy, Tào Tháo phong thưởng rất hậu cho hơn 20 người, tất cả đều được làm Liệt hầu. Những người còn lại cũng theo thứ bậc mà nhận thưởng, thụ phong. Ngay cả đến con côi của những binh tướng tử trận vì việc công cũng được ban ân nặng nhẹ khác nhau, chẳng hề sơ suất. Ông lại dâng biểu lên Hán đế xin phong cho Tuân Úc làm Vạn Tuế đình hầu, tháng 3 lại cho Tuân Úc thực ấp 1000 hộ.


Quyết đoán, kiên nghị

Trong trận chiến Quan Độ, khi đối mặt với đại quân của Viên Thiệu, quân Tào lần lượt bị bại lui, ngay cả sứ giả vận chuyển lương thảo đến Hứa Xương cũng bị quân của Viên Thiệu bắt giữ, cướp đoạt lương thảo. Lúc này, quân Tào có thể nói là rơi vào tình cảnh “đạn tận lương tuyệt” (hết sạch cả đạn lẫn lương thực).

Dưới tình huống như vậy, mưu sĩ thân tín của Viên Thiệu là Hứa Du đã hiến kế cho Viên Thiệu: “Chủ lực của quân Tào ở Quan Độ, nếu chúng ta phái một toán binh mã tập kích ở Hứa Xương thì nhất định có thể chiếm lĩnh được Hứa Xương, đến lúc đó chúng ta có thể bắt cả Tào Tháo”. Nhưng Viên Thiệu không những không nghe theo lời của Hứa Du, mà thậm chí còn nghi ngờ Hứa Du là gian tế của Tào Tháo.

Vì tài năng không được trọng dụng, lại bị khinh thường, nghi ngờ nên Hứa Du quyết định tìm đến Tào Tháo nương tựa. Tào Tháo biết tin Hứa Du đến, ngay cả giày cũng không kịp xỏ, nhanh chóng ra đón tiếp Hứa Du. Nghe xong thượng sách phá địch của Hứa Du, Tào Tháo không do dự, thiếu quyết đoán và hoài nghi Hứa Du như Viên Thiệu, mà nhanh chóng phán đoán rồi đưa ra quyết định nghe theo mưu của Hứa Du.

Cuối cùng nhờ nghe theo mưu của Hứa Du mà Tào Tháo đả bại được quân Viên Thiệu đông đảo hơn rất nhiều, cơ bản thống nhất được phương bắc. Điều này thể hiện tài nhìn người, đánh giá tình hình và sự kiên nghị quyết đoán của Tào Tháo.

Tài năng học tập uyên bác



Tào Tháo chẳng những hơn người ở tài năng dùng binh mà trong tài năng thơ ca cũng hơn người. Năm Kiến An thứ 12 (năm 207), Tào Tháo dẫn đại quân tiến lên phía bắc, đại phá Ô Hoàn, giành được thắng lợi mang tính quyết định, đồng thời loại trừ được chướng ngại cuối cùng cho việc thống nhất phương bắc.

Lúc bấy giờ Tào Tháo 53 tuổi. Tuy tuổi gần xế chiều nhưng tráng chí vẫn còn, hào khí không hề giảm. Vì thế, ông đã viết ra bài thơ “Quy Tuy Thọ” để khích lệ bản thân tích cực tiến thủ, lập được công mới.

Trong “Quy Tuy Thọ” viết: “Lão ký phục lịch, chí tại thiên lí. Liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ” (Tạm dịch: Thiên lý mã tuy già nằm bên máng cỏ, nhưng vẫn luôn có chí rong ruổi ngàn dặm. Người có hoài bão to lớn tuy đến tuổi về chiều, nhưng hùng tâm tráng chí không hề suy giảm). Những câu thơ này biểu đạt chủ đề thi ca và sự nghiệp của thi nhân cùng thái độ nhân sinh, tràn đầy tinh thần tích cực tiến thủ. Các tác phẩm văn thơ của Tào Tháo đều thể hiện ra chí hướng cao xa rộng lớn và hùng tâm tráng trí của ông.

Có thể thấy, thời Tam Quốc, vô luận là ở phương diện quân sự hay văn chương, Tào Tháo đều là ngôi sao sáng chói về trí tuệ, tài năng, mưu lược hơn người, là một anh hùng chứ không phải gian hùng như nhiều người vẫn lầm tưởng hàng ngàn năm qua.
An Hòa

Vĩnh Bảo sưu tầm 16/9/2019

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt

Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt

Từ một cậu bé nghèo khó trở thành nhà địa lý kiệt xuất, nhưng về cuối đời, cụ Tả Ao vẫn không thể tránh khỏi sự bài xếp của vận mệnh. Câu chuyện truyền kỳ về cuộc đời cụ Tả Ao cũng để lại cho người thời nay không ít suy ngẫm, thật đúng với câu nói: “tiên tích đức, hậu tầm long”.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt, Tả Ao
(Ảnh minh họa qua Pinterest)
Tả Ao được xem là nhà phong thủy kiệt xuất của người Việt. Dân gian xem ông là nhà địa lý phong thủy giỏi nhất từ xưa đến nay ở Việt Nam và tôn ông là “Thánh phong thủy”. Người ta còn truyền tụng bài thơ về ông thế này:
Tả Ao phong thủy nhất trên đời
Họa phúc cầm cân định chẳng sai.
Mắt thánh trông xuyên ba thước đất,
Tay thần xoay chuyển bốn phương trời.
Chân đi long hổ luồn qua gót,
Miệng gọi trâu dê ứng trả lời.
Ai muốn cầu sao cho được vậy
Ấy ai địa lý được như ngài.
Nhưng câu chuyện về nhân duyên đến với phong thủy của Tả Ao thì không phải ai cũng biết…

Tấm lòng hiếu thảo của cậu bé nghèo khổ

Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền, người làng Tả Ao, tỉnh Hà Tĩnh, sống vào thời vua Lê. Khi còn nhỏ, gia cảnh cậu bé Đức Huyền rất nghèo khó, cha mất sớm, mẹ lại bị mù cả hai mắt. Dù nhỏ, Đức Huyền vẫn rất chăm chỉ làm hết tất cả các việc để chăm sóc mẹ.
Thấy mẹ không thể nhìn thấy được như những người khác, Đức Huyền thường hay tìm hiểu hỏi thăm cách chữa mắt cho mẹ. Cậu lặn lội tới cả những nơi xa xôi với hy vọng tìm được người chữa khỏi bệnh cho mẹ nhưng đều không có hiệu quả. Tuy nhiên, Đức Huyền không hề nản chí mà quyết tìm bằng được phương thuốc chữa mắt.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh sưu tầm)
Nghe tin về một ông thầy thuốc người Tàu rất giỏi về thuật chữa mắt đang ở đất Nam, Đức Huyền khấp khởi vui mừng. Nhưng do nhà quá nghèo không đủ tiền chữa trị, nên Đức Huyền đã xin hầu hạ thầy để mong thầy chữa bệnh cho mẹ mình.
Ông thầy người Tàu thấy chàng trai này rất siêng năng chăm chỉ, thông minh, đặc biệt lại rất hiếu thảo với mẹ, nên đã đồng ý chữa. Trong quá trình đó, ông cũng truyền cho Đức Huyền một số y thuật để chữa mắt.
Sau bao nhiêu năm chịu cảnh mù lòa, đôi mắt mẹ Đức Huyền đã sáng trở lại. Thế nhưng đó cũng là lúc ông thầy người Tàu phải về nước. Quý tiếc cơ duyên đối với y thuật, Đức Huyền vội vã xin được theo thầy để hầu hạ, học y thuật chữa mắt và đã được thầy đồng ý. Vậy là cậu từ biệt mẹ lên đường sang Trung Hoa.

Kỳ duyên đến với phong thủy

Sau này tại Trung Hoa, y thuật của Đức Huyền vang danh khắp nơi. Một thầy địa lý bị đau mắt đã phải nhờ đến sự chữa trị của Đức Huyền mới khỏi. Ông ta mang tới 50 lượng vàng để hậu tạ Đức Huyền, nhưng cậu không nhận mà xin làm đệ tử. Thấy cậu là người có tài đức lại ham học hỏi, nên thầy địa lý bằng lòng thu nhận cậu làm đồ đệ.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh sưu tầm)
Sau một thời gian, Đức Huyền đã thành thạo tất những những kiến thức mà thầy truyền thụ lại cho mình và xin phép về nước. Tương truyền để kiểm tra và thử tài đệ tử mình, trước khi chia tay, vị thầy địa lý đã làm một mô hình phong thủy, chôn 100 đồng tiền, rồi yêu cầu Đức Huyền dùng kim điểm đúng huyệt chôn tiền.
Đức Huyền đã dùng kim điểm đúng 99 huyệt, còn một cây điểm ở mép, mà huyệt này lại là huyệt thứ 100. Đây là huyệt ảo, vì mô hình tạo dáng rất huyền bí, ẩn hiện dưới những mô đất nhấp nhô, những thầy địa lý giỏi cũng khó phát hiện ra đúng huyệt đạo. Lúc này thầy địa lý kia mới thốt lên rằng: “Thôi, nghề của ta từ nay truyền sang nước Nam rồi!”
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Tả Ao bái biệt thầy (Ảnh sưu tầm)
Trước khi từ biệt về nước, thầy cẩn thận dặn dò Đức Huyền rằng: “Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên”.

“Tiên tích đức, hậu tầm long” – Phong thủy không thay đổi được thiên mệnh

Khi trở về quê hương, Đức Huyền làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho người dân, ít khi sử dụng đến khoa địa lý. Chỉ khi nào cần thiết ông mới ra tay xem thế đất dùm mọi người. Tuy vậy danh tiếng xem địa lý, phong thủy của ông lại nổi hơn nghề thầy thuốc. Vì ông là người làng Tả Ao nên người dân vẫn thường gọi ông là cụ Tả Ao.
Trong sách “Nam Hải dị nhân” có kể rằng một lần đi qua núi Hồng Lĩnh, Tả Ao tình cờ lên núi và phát hiện thế đất “Cửu long tranh châu”, tức là chín rồng tranh ngọc, ngọc ở đây mang ý nghĩa là “ngọc tỷ truyền quốc”, có được ngọc cũng có nghĩa là có được thiên hạ. Thấy vậy, Tả Ao liền mừng rỡ mà nghĩ rằng: “Huyệt đế vương đây rồi, thầy dặn không lên là vì thế”. Sau đó Tả Ao đưa mộ cha về táng ở đấy.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh minh họa qua Pinterest)
Ít lâu sau, vợ Tả Ao sinh được con trai. Khi đó là vào thời nhà Minh ở Trung Hoa. Các thầy thiên văn phát hiện rằng các vì tinh tú đều chầu về phương Nam, liền báo với vua Minh rằng nước Nam sinh được nhân tài sẽ hại cho nhà Minh. Vua Minh bèn truyền cho các thầy địa lý rằng nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc.
Thầy của Tả Ao biết ngay chỉ có học trò của mình mới làm được việc này, nên cho con trai đi tìm Tả Ao. Con của thầy địa lý đã tìm cách cắt lấy ngôi mộ của cha Tả Ao, và bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
(Ảnh minh họa qua fengshui.com)
Sau này, biết đất Hàm Rồng có huyệt quý ở ngoài hải đảo, khi mẹ mất, Tả Ao đưa di hài mẹ đến nơi đây để táng. Ông chọn đúng ngày giờ thì lại gặp lúc sóng to gió lớn, không sao đưa đến huyệt để táng được. Đợi đến khi trời yên biển lặng thì nơi đó nổi lên một bãi bồi. Tả Ao chỉ còn nước than thở: “Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc. Trời đã không cho thì đúng là số rồi”.
Từ đó, Tả Ao cũng hiểu rõ về phong thủy hơn, biết dù giỏi địa lý cũng không thể thay đổi được số mệnh. Ông ít khi ở nhà mà chu du bốn phương chữa bệnh giúp người, thỉnh thoảng tìm đất cho người có duyên, không màng đến công danh bổng lộc.
Ông giúp dân tìm chọn nơi đào giếng có nước lành, trong ngon, không cạn, không chạm long mạch; chọn hướng đình để làng yên ấm trong ngoài, dân cư phát triển. Trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện xem phong thủy ly kỳ của ông.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Bản đồ làng Hành Thiện hình con cá chép bơi ra biển, nơi lưu truyền chuyện xem phong thủy của cụ Tả Ao.
Một trong những giai thoại là việc cụ Tả Ao chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định. Khi đi tới ngôi làng này, cụ cho dân làng biết đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Giếng nước làm mắt cá.
Dân làng nghe cụ nói liền thết đãi và khẩn khoản nhờ cụ giúp xem lại hướng làng. Cụ liền chỉ cho dân đào một cái giếng làm mắt cho cá chép. Từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Giếng làm mắt cá tại làng Hành Thiện vẫn còn tới ngày nay. (Ảnh qua disanlangviet.com)
Lúc già yếu, cụ Tả Ao đã chọn sẵn cho mình một thế đất “Nhất khuyển trục quần dương” (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên, nhưng cần chôn ngay trước khi chết để tự phân kim.
Tuy nhiên lúc sắp lâm chung, con cụ Tả Ao đưa đến mộ được nửa đường thì cụ biết không kịp. Thấy rằng số phận cũng không cho mình ở ngôi đất tốt, cụ nhìn bên đường rồi chỉ đại vào một cái gò và nói với các con rằng: “Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế”. Hai con cụ nghe lời và táng luôn ở đó.
Từ cậu bé nghèo khó hiếu thảo trở thành nhà địa lý lừng danh đất Việt
Đền thờ cụ Tả Ao ở thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh qua kienthuc.net.vn)
Cả đời cụ Tả Ao tìm đất cho không biết bao nhiêu người, nhưng bản thân cụ dù tìm được đất tốt cũng không thể hưởng. Thậm chí dù đã chuẩn bị sẵn đất để chôn chính bản thân mình nhưng lại cũng không được. Sự việc này cho thấy câu nói “tiên tích đức, hậu tầm long” của người xưa rất chính xác. Giỏi như cụ Tả Ao mà tích chưa đủ đức thì có tìm được đất đế vương cũng không thể hưởng.
Gia tài cụ Tả Ao để lại chỉ vỏn vẹn 2 cuốn sách nhỏ là “Địa Lý Tả Ao (Địa Đạo Diễn Ca)” gồm 120 câu và “Dã Đàm Tả Ao Tầm Long Gia Truyền”. Nhiều sách khác cũng được xem là của cụ nhưng thực ra đều là dị bản, chủ yếu là từ 2 cuốn sách trên của cụ rồi dẫn giải thêm bớt. Ngày nay tại huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh vẫn còn đền thờ Tả Ao và giếng Tả Ao.
Trần Hưng
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/6/2017

Vị hiền nhân người Việt chinh phục cả Trường An, làm tể tướng Trung Quốc

Vào triều đại nhà Đường của Trung Hoa, nước Việt vẫn đang nằm trong thời kỳ Bắc thuộc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta thiếu đi nhân tài. Trong lịch sử có ghi chép về câu chuyện hai anh em họ Khương ở xứ An Nam sang tận kinh đô nhà Đường khảo thí cùng các anh tài của Trung Quốc thời bấy giờ. Cả hai đều đỗ tiến sĩ, trong đó có một người đỗ đầu trên bảng vàng, rồi làm quan cho nhà Đường tới chức tể tướng.
Theo gia phả của chi tộc họ Khương ở Yên Định, Thanh Hóa, thì dòng họ Khương nổi lên từ thời của Khương Thần Dực. Bấy giờ, ông được bổ nhiệm làm Thứ Sử vùng đất Ái Châu (tức Thanh Hóa ngày nay). Con của Khương Thần Dực là Khương Văn Đĩnh làm quan đến huyện thừa tiến sĩ. Ông sinh được hai người con trai là Khương Công Phụ và Khương Công Phục, cả hai anh em đều rất kháu khỉnh.
Khương Công Phụ
Vùng đất Yên Định, nơi Khương Công Phụ được sinh ra. (Ảnh qua Thanhhoa.gov.vn)

Tài không đợi tuổi

Hai anh em Công Phụ và Công Phục từ nhỏ đã thể hiện thiên tư tuyệt vời, nên ông Khương Văn Đĩnh rất vui mừng tìm thầy giỏi dạy học cho hai con. Trong hai anh em thì người anh Khương Công Phụ có sức học khiến thầy phải kinh ngạc, chẳng mấy chốc đã thông tỏ Tứ thư Ngũ kinh; ý nghĩa thâm sâu trong Kinh Thư, Kinh Lễ cũng được cậu diễn giải thông suốt. Tiếng tăm về sức học của Công Phụ khiến người dân quanh vùng đều biết, thậm chí các quan nhà Đường ở quận Cửu Chân đều nể phục cậu bé.
Sau khi học thành tài, hai anh em Công Phụ và Công Phục tham gia kỳ thi quận. Năm ấy chỉ có 8 sĩ tử đứng đầu An Nam (tên gọi dành cho nước Việt dưới thời nhà Đường) mới được sang Trường An – kinh đô của nhà Đường để thi tiếp.
Khương Công Phụ
Trường An. (Ảnh qua Pinterest.com)
Qua các kỳ thi khảo hạch, bất kể là câu hỏi thuộc chủ đề nào, anh em Công Phụ và Công Phục đều làm bài trôi chảy, lời văn mạch lạc khúc chiết, diễn giải thâm sâu, khiến chốn quan trường tại An Nam vô cùng kinh ngạc. Kết quả Khương Phụ đứng đầu trong 8 sĩ tử và cùng em mình được chọn đến dự thi khoa thi tiến sĩ ở Trường An vào năm 758.

Chinh phục Trường An

Trường An – kinh đô nhà Đường – là một trong những nơi văn minh bậc nhất thế giới ở thời điểm đó. Giữa phố phường tấp nập ngựa xe, các sĩ tử Trung Hoa mang dáng vẻ cao ngạo khi tiếp xúc với những sĩ tử từ phương xa tới. Thông thường các giám khảo cũng có xu hướng đánh giá các sĩ tử phương Bắc cao hơn.
Khương Công Phụ
Trường An phồn hoa. (Ảnh minh họa qua chinatraveldepot.com)
Thế nhưng trong khoa thi năm 758, Khương Công Phụ với tài năng thông tuệ của minh đã vượt qua các kỳ thi sát hạch khó khăn nhất. Trí tuệ của Công Phụ đã chinh phục ngay cả những giám khảo khó tính nhất, khiến tất cả đều kinh ngạc.
Bài thi “Đối trực ngôn cực gián” của Công Phụ xuất sắc đến nỗi tất cả các giám khảo đều phải thừa nhận và khâm phục thí sinh xứ An Nam. Kết quả, hai anh em Công Phụ, Công Phục cùng đậu tiến sĩ, đặc biệt Khương Công Phụ đã vượt lên hàng ngàn sĩ tử, đứng đầu bảng vàng, đoạt lấy khôi nguyên tiến sĩ cả nước Đại Đường.

Dưới một người, trên vạn người

Ngay sau kỳ thi, Khương Công Phụ được hoàng đế Đường Túc Tông (756 – 762) phong quan chức “hiệu thư lang”; còn người em là Khương Công Phục làm “lang trung bộ Lễ” rồi “bắc bộ thị lang”.
Với phẩm cách hơn người, Công Phụ đã có nhiều chính sách và công lao lớn, khiến Hoàng đế tin tưởng phong chức làm “tả thập di”, chuyên việc giám sát công việc các quan trong triều.
Khương Công Phụ
Khương Công Phụ. (Ảnh qua baike.com)
Mỗi khi yết triều, Khương Công Phụ đối đáp trôi chảy mạch lạc, ứng xử thông minh, diễn giải mọi việc thâm sâu, khiến các quan trong triều đều khâm phục. Vì thế ông được mời vào viện Hàn lâm làm “hàn lâm học sĩ” kiêm chức “kinh triệu hộ tào tham quân”.
Năm 783, nhà Đường có biến, quân Kinh Nguyên tấn công thành Trường An khiến Đường Đức Tông phải rời khỏi kinh thành, sau lại có thêm Chu Thử làm phản tự xưng đế.
Khương Công Phụ năm ấy đã 50 tuổi, theo Hoàng đế nhiều lần can gián, lập công lớn. Đức Tông khi nhìn lại sự việc thấy các lời can gián và tiên đoán của Khương Công Phụ đều chính xác cả, cảm thấy nuối tiếc vì bản thân mình nhiều lần không nghe lời Công Phụ. Từ đó, Hoàng đế tin tưởng phong cho Công Phụ làm “gián nghị đại phu”, “đồng trung thư môn hạ bình chương sự”, chính là hàm tể tướng.
Khương Công Phụ
Khương Công Phụ nhiều lần can gián hoàng đế. (Ảnh minh họa qua Knews.cc)
Về công lao can gián Hoàng đế trong cuộc phiến loạn này, Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép như sau:
…(Khương Công Phụ) từng xin giết Chu Thử, vua Đường không nghe. Không bao lâu Kinh sư có loạn, vua Đường từ cửa Thượng Uyển đi ra, Công Phụ giữ ngựa lại can rằng: “Chu Thử từng làm tướng ở đất Kinh đất Nguyên, được lòng quân lính, vì Chu Thao làm phản nên bị vua cất mất binh quyền, ngày thường vẫn uất ức, xin cho bắt đem đi theo, chớ để cho bọn hung ác đón được”. Vua Đường đương lúc vội vàng không kịp nghe, trên đường đi lại muốn dừng lại ở Phượng Tường để nương nhờ Trương Dật. Công Phụ can rằng: “Dật tuy là bề tôi đáng tin cậy, nhưng là quan văn, quân đột kỵ ở Ngư Dương do ông ta quản lĩnh đều là bộ khúc của Chu Thử. Nếu Thử thẳng đến Kinh Nguyên làm loạn, thì ở nơi ấy không phải kế vạn toàn”. Vua Đường bèn đi sang Phụng Thiên. Có người báo tin Thử làm phản, xin vua Đường phòng bị. Vua Đường nghe lời Lư Kỷ xuống chiếu cho quân các đạo đóng cách xa thành một xá, muốn đợi Thử đến đón. Công Phụ nói: “Bậc vương giả không nghiêm việc vũ bị thì lấy gì để oai linh được trọng. Nay cấm binh đã ít người mà quân lính người ngựa đều ở bên ngoài, thần lấy làm nguy cho bệ hạ lắm”. Vua Đường khen là phải, cho gọi hết vào trong thành. Quân của Thử quả nhiên kéo đến, đúng như lời của Công Phụ. Vua Đường bèn thăng cho Phụ làm gián nghị đại phu, đồng trung thư môn hạ bình chương sự….
Một người con của xứ An Nam lại đứng đầu cả một triều đình phương Bắc, chỉ dưới Hoàng đế – đây quả là sự kiện có một không hai trong lịch sử. Người Việt có thể tự hào khi có một vị hậu duệ nhà Trần trở thành Hoàng đế Trung Hoa, và cũng có thể tự hào về một hiền nhân làm quan tể tướng đầu triều thời nhà Đường. (Xem bàiHậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?)

Trực ngôn can gián

Năm 784, công chúa Đường An chẳng may chết yểu. Quá thương con, Hoàng đế ra lệnh xuất tiền công khố để xây tháp vô cùng nguy nga lộng lẫy. Thế nhưng tể tướng Khương Công Phụ lại thẳng thắn can ngăn.
Đang lúc thương tiếc con, lại nghe phải lời trái tai của Công Phụ, Hoàng đế đã tức giận giáng chức ông xuống làm “tả thứ tử” (chức quan dưới quyền thái tử, công việc là coi giữ sổ sách cho thái tử trong cung) nhưng vì mẹ mất nên ông được giải chức về chịu tang.
Sách “An Nam chí lược” có ghi chép chuyện can gián của Khương Công Phụ như sau:
Công Phụ can rằng: “Sơn Nam không phải là nơi ở lâu dài, vả lại nên tiết kiệm để giúp vào khoản cần cấp của việc quân”. Vua bảo Lục Chí rằng: “Công Phụ muốn chỉ trích lỗi lầm của Trẫm để cầu danh mà thôi”. Lục Chí tâu rằng: “Công Phụ làm quan gián nghị, giữ chức tể tướng, bày điều phải, sửa điều trái, chính là bổn phận. Đặt gia phụ thần ở tả hữu để sớm tối nghe lời can ngăn. Thấy cơ nguy thì giúp đỡ ngay, ấy việc của Phụ Thần là như thế”. Vua nói: “ Không phải”. Vua bèn đổi Công Phụ làm thái tử tả thứ tử.
Năm Quý Dậu (793), Khương Công Phụ bị sai đi biệt giá ở Tuyền Châu (tỉnh Phúc Kiến). Ông sống ở đây 14 năm, tự làm nhà dưới chân núi Cửu Nhật Sơn (thuộc huyện Nam Yên), kết bạn với một vị quan ở ẩn khác là Tần Hệ. Hai người có cảnh ngộ giống nhau, ngày ngày đi dạo chơi ngắm cảnh sông núi, ngâm thơ, xướng hoạ.
Năm 805, vua Đường Thuận Tông lên ngôi, bãi bỏ các chính sách hủ bại thời Đường Đức Tông, phế truất tham quan, hạn chế quyền lực hoạn quan.
Vua Đường Thuận Tông trọng dụng nhân tài, vì thế mà Khương Công Phụ lại được vời ra làm quan. Thế nhưng do tuổi cao nên chưa kịp nhận chức thì ông đã mất năm 805, thọ 73 tuổi. Vì xa vợ con, xa gia đình nên Công Phụ đã được người bạn thân là Tần Hệ chôn cất ở núi Cửu Nhật Sơn.

Tưởng nhớ

Khi Khương Công Phụ ở Tuyền Châu, người dân địa phương đã tự nguyện xây 2 ngôi đình ở bên ngoài về phía Đông của châu thành để kỷ niệm nơi ông cùng quan thứ sử Tuyền Châu từng đến dạo chơi. Về sau người dân còn xây một ngôi đền thờ Khương Công Phụ và Tần Hệ tại sườn phía Tây núi Cửu Nhật Sơn, và đặt tên một chóp núi cao là “Khương tướng phong” để kỷ niệm nơi Công Phụ đến ở ẩn. Bên chóp núi “Khương tướng phong” có “Khương tướng mộ” (hiện nay mộ phần vẫn còn, còn cả bia ghi lại kỳ tích của Khương Công Phụ bằng chữ Hán).
Khương Công Phụ
Tấm bia kỷ niệm về Khương Công Phụ. (Ảnh qua Website gia tộc họ Khương)
Ngày nay ở Thanh Hóa dòng họ Khương có lập đền thờ Khương Công Phụ tại vị trí ngay trên nền nhà cũ của ông ở làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vào ngày 10/3 hàng năm, lễ giỗ Khương Công Phụ được tổ chức ở xã Định Thành với sự tham gia của đông đủ con cháu họ Khương, người dân trong làng, cùng người dân ở nhiều nơi khác. Tại đây, lớp lớp con cháu lại được nghe kể về kỳ tích của ông.
Khương Công Phụ
Sắc phong tại đền thờ Khương Công Phụ. (Ảnh qua viensuhoc.vass.gov.vn)
Đền thờ của Khương Công Phụ còn lưu lại câu đối của đốc học Lê Văn Thạc:
Phong vũ dĩ tồi công chúa tháp
Hải vân trường chiếu trạng nguyên từ.
Dịch là:
Gió mưa đã nát tháp công chúa
Mây biển soi mãi đền trạng nguyên
Trần Hưng
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/6/2017

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?

Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?

Mặc dù còn nhiều dấu hỏi xoay quanh thân thế của vị Hoàng đế Trung Hoa này, nhưng người ta không thể phủ nhận một khả năng lớn rằng ông là người mang dòng máu Đại Việt. Đánh bại quân Nguyên, và ngồi trên ngôi Hoàng đế trong vỏn vẹn 3 năm, ông là ai?
Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?
Hoàng đế Trung Hoa. (Ảnh minh họa qua kienthuc.net.vn)
Câu chuyện ly kỳ này phải bắt đầu kể từ vua Trần Thái Tông: Lúc bấy giờ, vua Trần Thái Tông đã có sáu hoàng tử là Trần Quốc Khang, Trần Hoảng (vua Trần Thánh Tông sau này), Trần Quang Khải, Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc và Trần Nhật Duật; cùng hai công chúa là Thiều Dương và Thụy Bảo. Trong đó, Trần Ích Tắc là người đã đem cả gia quyến đầu hàng quân Nguyên Mông, nên thường bị các sử gia chê trách. Tuy nhiên nếu nhìn lại thì Trần Ích Tắc có lẽ không phải là một kẻ hèn nhát, mà là một kẻ sinh nhầm thời…

Trần Ích Tắc – Kẻ sinh nhầm thời hay định mệnh?

Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư có viết về Trần Ích Tắc như sau:
“Khi Ích Tắc chưa sinh, vua Thái Tông nằm mộng thấy một vị thần có 3 mắt từ trên trời xuống nói rằng: Thần bị Thượng Đế trách phạt, xin ký thác vào vua, sau này lại về phương Bắc. Khi Ích Tắc sinh, giữa trán có vết giống như con mắt, hình dáng cũng giống như người trong mộng”.
Đồng thời, Đại Việt sử ký toàn thư cũng mô tả về Trần Ích Tắc là con người “thông minh hiếu học, thông hiểu kinh sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v… gồm 20 người, đều được dùng cho đời”.
Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?
Trần Ích Tắc cũng là một người rất tài giỏi. (Tranh minh họa)
Tuy nhiên, khi Huệ Túc phu nhân xem lá số cho hoàng thân quốc thích nhà Trần đã nói với vua Trần Thái Tông rằng: “Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo có số của đệ tứ thái tử Trần Ích Tắc thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi”. Đây là điều được ghi lại trong cuốn “Đông A di sự”.
Ly kỳ chuyện người đã giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Huệ Túc Phu Nhân khi còn trẻ là một người am hiểu tướng số, đã từng dựa vào tử vi mà đánh cuộc với Thái sư Trần Thủ Độ (Ảnh minh họa)
Trần Ích Tắc là hoàng tử thứ năm của vua Thái Tông, nhưng Huệ Túc Phu Nhân lại dùng từ “đệ tứ”, là do bà không tính hoàng tử Trần Quốc Khang, vốn là con của bà Thuận Thiên với anh ruột vua Trần Thái Tông là Trần Liễu.
(
Trong khi hoàng tộc nhà Trần hầu như ai cũng giỏi võ nghệ vì kế thừa phái võ Đông A từ thời Trần Tự Viễn (582-637), thì Trần Ích Tắc lại không thích võ thuật. Tuy nhiên về văn thì Trần Ích Tắc lại giỏi nhất trong tất cả các hoàng tử. Ông cũng chê bai anh em của mình chỉ là bậc “võ biền”.
Nhưng Trần Ích Tắc là kẻ sinh nhầm thời. Khi quân Nguyên đánh bại nhà Tống, chuẩn bị tiến đánh Đại Việt, thì tình thế giang sơn nguy ngập, các võ tướng đều rất được trọng dụng. Trong khi đó, Trần Ích Tắc lại chỉ giỏi văn, còn như võ thuật hay cách bày binh bố trận đều không am tường, nên không được trọng dụng như những người khác. Văn tài giỏi nhất nhưng không được trọng dụng, tâm tật đố và bất bình của Trần Ích Tắc nổi lên…
Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?
Đất nước lâm nguy, võ tướng được trọng dụng (Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Năm 1285, khi đại quân Nguyên Mông tiến đánh Đại Việt, Trần Ích Tắc bèn đưa cả gia quyến ra đầu hàng, và được phong làm An Nam quốc vương. Nếu như quân Nguyên Mông đánh bại nhà Trần thì Trần Ích Tắc sẽ được lên ngôi vua. Có người nói rằng Trần Ích Tắc tham lam, cũng có người nghĩ ông ta hèn nhát sợ giặc, nhưng có lẽ phần nhiều là vì tâm tật đố. Trần Ích Tắc thật là kẻ sinh nhầm thời vậy.
Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo đã đánh bại đại quân Nguyên Mông. Không chỉ thế, đến năm 1288, quân Nguyên lại một lần nữa thảm bại trước Đại Việt.
Nguyen Mong
Trận Bạch Đằng – Quân Nguyên ba lần thảm bại trước Đại Việt. (Tranh minh họa)
Quân Nguyên thua trận, Trần Ích Tắc mang theo cậu con trai đầu sinh năm 1275 là Trần Hữu Thành cùng gia đình đến ở Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), giữ chức quan Hồ Quảng bình chương chính sự.
Nhưng nếu nhìn lại điềm báo trong giấc mơ của vua Trần Thái Tông về Trần Ích Tắc thì phải chăng đây cũng là định mệnh?
“Thần bị Thượng Đế trách phạt, xin ký thác vào vua,
sau này lại về phương Bắc
Việc Trần Ích Tắc phải tha hương cũng ứng với dự báo của Huệ Túc phu nhân rằng “số của đệ tứ thái tử Trần Ích Tắc thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi”.

Hậu duệ nhà Trần ở Trung Quốc

Ở phương Bắc, Trần Ích Tắc có được thêm người con thứ đặt tên là Trần Hữu Lượng, nhưng đến đây có sự mâu thuẫn trong sử sách nhà Minh và Đại Việt.
Theo Minh sử thì Trần Hữu Lượng sinh ở tỉnh Hồ Bắc trong gia đình đánh cá. Ông nguyên họ Tạ, nhưng vì tổ tiên ở nhà họ Trần nên đổi sang họ Trần. Ông là con Trần Phổ Tài. Sau khi Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương bình định xong Vũ Xương có phong cho Trần Phổ Tài làm Thừa Ân hầu, con thứ của Trần Hữu Lượng làm Quy Đức hầu.
Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?
Trần Hữu Lượng nhận sắc phong từ nhà Nguyên (Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Theo các bộ sử Việt như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ, Đại nam thực lục, Đại Việt sử ký bản kỷ cùng gia phả nhà Trần để lại thì những ghi chép về Trần Hữu Lượng chi tiết và rõ hơn. Nhưng khác với sử nhà Minh, các bộ sử Việt đều khẳng định Trần Hữu Lượng là con thứ của Trần Ích Tắc.
Các bộ sử Việt khác như Đại Việt Sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều có nhắc đến Trần Hữu Lượng qua các sự kiện có liên quan, đặc biệt là hai lần Trần Hữu Lượng muốn được liên minh với Đại Việt đều có ghi chép.
Theo ghi chép của nhà Trần thì Trần Ích Tắc có người con là Trần Hữu Lượng ở Hồ Bắc. Khi ông qua đời, con cả là Trần Hữu Thành thay cha dạy học cho Trần Hữu Lượng. Vì thế câu chuyện về cha mình xưa kia đúng sai thế nào thì Trần Hữu Lượng không tỏ tường, nhưng nguồn gốc từ nhà Trần của Đại Việt thì Trần Hữu Lượng lại rất rõ.
Trần Hữu Lượng biết tổ tiên mình là cụ tổ Trần Tự Minh thuộc nhóm tộc người Bách Việt ở vùng Mân Việt (nay thuộc Phúc Kiến – Trung Quốc), theo dòng người Bách Việt xuống phía Nam giúp vua An Dương Vương. Trần Tự Minh cùng Cao Lỗ từng là những vị tướng tài ba trụ cột, là hai cánh tay đắc lực giúp An Dương Vương nhiều lần đánh bại quân Triệu Đà.
Lúc bấy giờ, ở Trung Quốc nổi lên phong trào noi gương Đại Việt từng 3 lần đánh bại quân Nguyên, khiến nhiều cuộc khởi nghĩa chống Nguyên nổ ra. Trần Hữu Lượng âm thầm dùi mài kinh sử, học theo cuốn sách Đông A võ phái của cụ tổ là Trần Tự An.

Khởi nghĩa chống quân Nguyên, xin “hòa thân” với nhà Trần

Năm 1354, Trần Hữu Lượng tham gia khởi nghĩa chống quân Nguyên. Nhớ lại nguồn gốc từ nhà Trần ở Đại Việt của mình, ông cho người sang gặp vua Trần Dụ Tông muốn được “hòa thân”.
Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép rằng: “Giáp Ngọ, [Thiệu Phong] năm thứ 14 [1354], (Nguyên Chí Chính năm thứ 14). Mùa xuân, tháng 2, quan trấn giữ biên giới phía Bắc cho chạy trạm tâu việc Trần Hữu Lượng nước Nguyên dấy binh, sai sứ sang xin hòa thân (Hữu Lượng là con Trần Ích Tắc)”.
Sách Việt sử tiêu án có ghi chép rằng: “Trần Hữu Lượng khởi binh ở Giang Châu, sai sứ giả sang nước ta xin hòa (Hữu Lượng là con của Ích Tắc, cuối đời Nguyên cùng vua Minh Thái Tổ khởi binh).”
Tuy nhiên từ khi Trần Ích Tắc chạy theo quân Nguyên, nhà Trần đã xem ông ta như kẻ phản bội và không công nhận là dòng tộc nữa, nên đã từ chối “hòa thân”.
Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?
Nhà Trần xử rất nghiêm đối với những kẻ phản bội (Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Việc Trần Hữu Lượng mới khởi binh đã muốn “hòa thân” với nhà Trần cho thấy nhiều khả năng ông ta là con Trần Ích Tắc. Nếu không phải con của Trần Ích Tắc thì một người lúc mới khởi binh, không có tên tuổi hay sự nghiệp gì, thì dựa vào cớ gì mà dám “hòa thân” với nhà Trần? Nhà Trần đương nhiên cũng chẳng có lý do gì để “hòa thân” với một cuộc khởi nghĩa chưa hề có tiền đồ gì cả.
Sự việc Trần Hữu Lượng tham gia khởi nghĩa cũng được ghi chép trong cuốn gia phả của hậu duệ Trần Quốc Toản là “Viêm phương Trần tộc lưu phả”. Theo đó thì hậu duệ Trần Quốc Toản theo quân khởi nghĩa của Trần Hữu Lượng rất đông. Điều này cho thấy Trần hữu Lượng thật sự có khả năng chính là hậu duệ nhà Trần. Vì thời đó có rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân Nguyên khác còn mạnh hơn, vậy mà hậu duệ của Trần Quốc Toản lại về theo Trần Hữu Lượng.

Trở thành Hoàng đế Trung Hoa

Theo Minh sử ghi chép thì năm 1354, nhờ sự giới thiệu của Từ Thọ Huy, Trần Hữu Lượng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Nghê Văn Tuấn và trở thành một trong những trụ cột của nghĩa quân.
Năm 1357, ông giết Nghê Văn Tuấn vì y âm mưu định giết Từ Thọ Huy. Sau đó Trần Hữu Lượng tự xưng là Tuyên úy sứ kiêm Bình chương chính sự, khởi binh tấn công các lộ thuộc Giang Tây. Ông trở thành tổng chỉ huy quân đội các vùng Giang Tây, An Huy, Phúc Kiến.
Năm 1359, sau nhiều trận thất bại, quân Nguyên hoàn toàn suy yếu. Trong số các cuộc khởi nghĩa chống Nguyên thì mạnh nhất chính là quân của Trần Hữu Lượng, yếu hơn là đội quân của Trương Sĩ Thành, Chu Nguyên Chương. Cũng trong năm này Trần Hữu Lượng xưng làm Hán vương.
(Ảnh qua Kknews.cc)
Năm 1360, trước sức mạnh vượt trội của mình, Trần Hữu Lượng xưng là Hoàng đế. (Ảnh minh họa qua Kknews.cc)
Năm 1360, trước sức mạnh vượt trội của mình, Trần Hữu Lượng xưng là Hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Hán, niên hiệu là Đại Nghĩa, tiếp tục đánh đuổi tàn dư của quân Nguyên và thu phục các cuộc khởi nghĩa chống Nguyên khác.
Nếu như Trần Hữu Lượng thật sự là con của Trần Ích Tắc, thì thực chất hậu duệ của nhà Trần đã trở thành Hoàng đế Trung Hoa.

Lưu Bá Ôn – Tiếc nuối lớn nhất của Trần Hữu Lượng

Năm 1360, Trần Hữu Lượng dẫn đại quân thủy bộ tiến đánh Chu Nguyên Chương. Quân Chu Nguyên Chương dù yếu hơn nhiều, nhưng ông ta lại có được vị quân sư lừng danh trong lịch sử là Lưu Bá Ôn. Người Trung Quốc vẫn có câu rằng:
Vạn thế quân sư Gia Cát Lượng
Nhất thống thiên hạ Lưu Bá Ôn
Khi đại quân do đích thân Trần Hữu Lượng tiến đến, quân tướng của Chu Nguyên Chương nhiều người e sợ, xuống tinh thần, có ý kiến nên lui binh về cố thủ Trung Sơn (Tử Kim Sơn, Đông Giao, Nam Kinh), có mưu sĩ cho rằng tốt nhất nên đầu hàng rồi sáp nhập vào quân của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương lắng nghe chưa biết thế nào, nhìn lại thấy Lưu Bá Ôn vẫn lặng thinh, đoán biết ông ta đã có diệu kế nên ra lệnh ngừng tranh luận để gặp riêng Lưu Bá Ôn.
Chu Nguyên Chương mời Lưu Bá Ôn vào phòng riêng rồi hỏi: “Địch đã tới gần, tiên sinh có cao kiến gì chăng?”. Lưu Bá Ôn đáp rằng: “Kẻ địch kiêu ngạo, thì nên dụ địch vào sâu rồi dùng phục binh tiêu diệt”.
Sau khi bàn tính, Chu Nguyên Chương cho bạn cũ trước đây của Trần Hữu Lượng là Triệu Khang Mậu Tài trá hàng, sai một lão bộc mang thư đến cho Trần Hữu Lượng nói cứ đưa quân đánh vào thành Ứng Thiên, còn mình sẽ làm nội ứng ở cửa thành vào bắt Chu Nguyên Chương.
Lưu Bá Ôn (Tranh sưu tầm)
Lưu Bá Ôn (Tranh sưu tầm)
Trần Hữu Lượng rất mừng, nhưng cũng nghi ngờ, cất vấn lão bộc đưa thư nhiều điều nhưng lão này đều trả lời rất trôi chảy.
Trần Hữu Lượng đưa quân đến nhưng rất thận trọng vì nghi có thể chỉ là trá hàng. Tuy nhiên đến cầu Giang Đông thì quân Trần Hữu Lượng vẫn bị tập kích bất ngờ, thiệt hại nhiều không kể xiết. Trần Hữu Lượng nhờ các tướng hộ vệ, lên thuyền nhỏ mới chạy thoát.
Năm 1361, Chu Nguyên Chương tiến đánh Giang Châu, nhờ mưu kế của Lưu Bá Ôn mà quân Chu Nguyên Chương thắng trận, Trần Hữu Lượng phải cho quân rút về Vũ Xương. Biết mình bại bởi mưu kế của Lưu Bá Ôn, Trần Hữu Lượng đã nói rằng: “Dưới tay ta thiếu một mưu sĩ như Lưu Bá Ôn. Sau này kẻ tiêu diệt ta, chắc chắn chính là Bá Ôn rồi. Chả lẽ ý trời nghiêng về Chu Nguyên Chương, nên mới sai Bá Ôn tới trợ giúp đó chăng?”

Trận chiến cuối cùng

Đại Việt sử ký toàn thư cùng các sách sử khác đều đề cập đến sự việc vào năm 1361, để đương đầu với Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng lại cho người sang Đại Việt xin hợp quân. Tuy nhiên vua Trần Dụ Tông vẫn cự tuyệt với dòng họ của Trần Ích Tắc và nhất quyết không mang quân trợ giúp.
Theo Minh sử các cuộc giao tranh giữa Trần Hữu Lượng và Chu Nguyên Chương sau đó đều bất phân thắng bại. Năm 1363 diễn ra trận chiến trên hồ Bà Dương, quân của Trần Hữu Lượng có 60 vạn, Chu Nguyên Chương có 20 vạn quân.

Trận chiến trên hồ Bà Dương. (Ảnh minh họa qua Pinterest)
Với lực lượng mạnh hơn, sau ba ngày đại chiến dữ dội, quân của Trần Hữu Lượng giành được chiến thắng. Tuy nhiên khi nhận thấy các thuyền của Trần Hữu Lượng đều to lớn và sát vào nhau, Chu Nguyên Chương đã nghe lời khuyên, dùng hỏa công lật ngược được thế cờ. Trần Hữu Lượng bị tử trận trong cuộc chiến này.
Trần Hữu Lượng mất, con là Trần Lý lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Đức Thọ. Năm sau Chu Nguyên Chương đưa quân đến thành Vũ Xương đánh bại Trần Lý, chính thức đánh bại triều đại do Trần Hữu Lượng dựng lập nên.
Dù Vương triều của Trần Hữu Lượng chỉ tồn tại vài năm ngắn ngủi, nhưng nếu theo như sử Việt ghi chép, thì đã có một Hoàng đế Trung Hoa mang dòng máu Đại Việt.

Nuối tiếc lớn nhất của nhà Trần?

Sau khi Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh, thì năm 1368, vua Trần Dụ Tông của Đại Việt phải sang thần phục nhà Minh. Ở Đại Việt, năm 1399, Hồ Quý Ly xử tử 370 tướng lĩnh tôn thất nhà Trần, năm 1400 thì lên ngôi vua. Tuy nhiên, cha con Hồ Quý Ly cũng nhanh chóng đầu hàng khi bị quân Minh tiến đánh.
Đây là lần duy nhất Đại Việt bị mất quyền tự chủ bởi phương Bắc tính từ thời Ngô Quyền (năm 939) đến nay. Quân Minh đã vơ vét rất nhiều tài nguyên của Đại Việt. Nhiều người tài giỏi, thầy thuốc có tiếng bị bắt sang phục vụ cho nhà Minh, ví như Hồ Nguyên Trừng là nhân tài người Việt đã sang nhà Minh và sáng tạo ra súng thần công rất nổi tiếng thời đó.
(Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Quân Minh đối xử tàn bạo với người dân Đại Việt (Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Một số nhà nghiên cứu tiếc nuối cho rằng, nếu vua Trần Dụ Tông liên minh với Trần Hữu Lượng, thì nhiều khả năng Trần Hữu Lượng sẽ thống nhất Trung Hoa với một triều đại vững chắc, không phải chỉ vài năm ngắn ngủi mà là tồn tại hàng trăm năm. Hai triều đại nhà Trần của hai nước sẽ tương hỗ với nhau, và như thế cũng sẽ không xảy ra cái họa Hồ Quý Ly cướp ngôi, Đại Việt cũng không bị xâm chiếm đô hộ bởi nhà Minh. Lịch sử quả thật đã có thể đi theo một chiều hướng khác.
Trần Hưng
Vĩnh Bảo sưu taamf1/6/2017