Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

ĐẦU TIÊN, BẠN PHẢI HIỂU VỀ SUIT !

ĐẦU TIÊN, BẠN PHẢI HIỂU VỀ SUIT !

Suit là trang phục không thể thiếu với một Quý ông ngày nay, nhưng có lẽ kiến thức về suit của Đàn ông Việt Nam còn quá thiếu và yếu. Đơn giản như việc may Suit, phải đến 99% người Việt lại gọi là may Vest, chẳng riêng gì người dùng mà cả đến những nhà may, hãng thời trang lớn tại Việt Nam cũng vẫn gọi nhầm ! Vì vậy, hy vọng chúng tôi sẽ cung cấp một số kiến thức và các thuật ngữ cơ bản từ việc may suit, chọn phong cách cho tới việc đánh giá một bộ Suit đẹp, vừa vặn cho các bạn.
Trước hết, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu một số thuật ngữ và kiến thức cơ bản về suit.
Suit là…Suit
Suit là một bộ trang phục hoàn chỉnh bao gồm Suit jacket (Áo khoác) và quần - "bộ 2 mảnh" cùng chung chất liệu, họa tiết vải. Với Suit "3 mảnh" bạn sẽ có thêm 1 chiếc áo vest/gille/waistcoat (đây mới là chiếc vest) mặc bên trong suit jacket. Bạn có thể nhìn hình dưới bên trái là bộ suit 2 pieces phía bên phải bức hình là bộ suit 3 piece.
Xin đừng gọi Suit là Vest nữa !?!
 I. Thuật ngữ về các thành phần cơ bản.
1. Suit Jacket : Là phần Áo của bộ Suit, Suit Jacket khác với Blazer ở chỗ Suit Jacket nằm trong bộ suit hoàn chỉnh còn Blazer là dạng áo khoác riêng, không kèm quần hay bộ phận nào khác. Các bộ phận, thành phần trên Suit jacket và Blazer hoàn toàn giống nhau.
 Suit Jacket/blazer

2. Vest/Waistcoat : Là chiếc áo chúng ta hay gọi là Gille, nằm trong bộ 3 piece suit.
Áo Gille hay còn được gọi là Vest/Waistcoat

3. Lapels : Ve áo của Suit jacket/Blazer (Có thể gọi là cổ áo) như hình. Ve áo thường có 3 loại (The Notch lapel, The Peak lapel và The Shawl lapel) tùy độ lớn và cách thiết kế của ve áo sao co thích hợp với các chi tiết.
Đây là 3 kiểu cổ cơ bản của suit

- The Notch lapel (nôm na hay gọi là Ve kiểu Ý) thường xuất hiện trên các bộ suit hiện đại, thời trang và trẻ trung.
- The Peak lapel (nôm na hay gọi là Ve kiểu Anh) sẽ đứng đắn và chuẩn mực hơn.
- Riêng The Shawl lapel (nôm na hay gọi là Ve cổ Sam) thường được sử dụng cho các dạng áo Tuxedo.
4. Jacket Pockets : Túi áo, một chiếc suit jacket có thể có 3 loại túi - đầu tiên là túi ngực ở bên ngực trái dành để đựng khăn (pocket square), túi 2 bên và túi phụ bên phải ( nếu có, thường để đồng hồ cầm tay thời xưa). Túi áo 2 bên của suit jacket có thể có nắp che ở ngoài hoặc không (ở một số trường hợp túi 2 bên của suit được may ốp ngoài).
Các kiểu túi 2 bên của suit jacket

5. Darts : Đường cong theo thân người của Suit jacket. Tùy theo yêu cầu và cách may của từng tiệm may mà suit jacket có Darts hay không có.
Xu thế hiện nay là áo có Darts

6. Buttons : Cúc áo của Suit jacket/Vest -  Có thể có 1,2,3 cúc áo trên hàng cúc của Suit jacket. Bạn hãy để ý kỹ quy tắc cài nhé :

Áo 2 cúc hiện được ưa chuộng nhất

7. Single/Double Breasted : Suit với 1 hàng cúc áo và 2 hàng cúc áo.
Áo 1 hàng cúc trẻ trung, năng động - Áo 2 hàng cúc cầu kỳ, lịch lãm

8. Working Cuffs (Surgeon’s Cuffs) : Là hàng cúc được thiết kế trên tay áo của Suit jacket có thể cài hoặc không cài.
Kiểu cúc liền kề, mở thật (Kissing NonStacked) được HQ-EMPIRE lựa chọn

- Fixed Buttons/Nonkissing buttons : Hàng cúc trên tay áo của Suit Jacket được may cố định.
- Kissing Button: Hàng cúc trên tay áo được thiết kế xếp đè (Kissing Stacked) hoặc các nút liền kề (Kissing NonStacked) nhau khác với loại NonKissing các cúc không sát nhau.
9. Vent : Đường xẻ tà - là đường cắt dọc dưới cùng lưng áo suit jacket. Tùy phong cách mà suit jackets có Vent hay không có Vent. Với phong cách suit của nước Anh truyền thống, suit jacket sẽ có 2 đường vents 2 bên. Còn ở Mỹ, thường có 1 đường vent duy nhất ở giữa. Suit jacket của người Italia xưa không có vents, tuy nhiên ngày nay các nhà thiết kế suit Italia thường sử dụng 2 đường vents giống như phong cách suit của nước Anh.
Xẻ 2 bên đang được ưa chuộng vì tính tiện dụng và sang trọng của nó

II. Các cách thiết kế (dựng) suits:
1. Canvassed Suit - Dựng canh : Là kĩ thuật dựng suit sử dụng một lớp đệm canvassing material (vải horsehair – làm từ lông bờm ngựa)  bên trong lớp vải của suit jacket, giúp suit jacket giữ được dáng theo thời gian và cực kì vừa vặn với người mặc. Các nhà thiết kế Suit có thể may Full Cavassed hoặc Half Canvassed.

2. Fused Suit - Ép Mùng : Ngược lại với Canvassed Suit, Fused là cách dựng Suit không sử dụng lớp đệm mà thường sử dụng keo vải (mùng) để vải áo cứng và có đường nét vừa vặn với cơ thể. Cách này làm áo nhẹ nhàng hơn và hay được dùng cho những bộ Suit xu hướng hiện đại hoặc Blazer.

III. Cách may đo suits:
1. Bespoke Suits : Thường được diễn ra tại những tiệm may kín đáo, dành cho những đối tượng khách riêng biệt. Vải ở đây thường là những loại vải danh tiếng hàng đầu thế giới với thành phần Wool cao (thường ưa chuộng loại 100%Wool)nên giá rất đắt. Các bộ suit ở đây được may đo riêng cho từng cá nhân với rất nhiều các phép đo trên cơ thể. Bộ suit được cắt độc bản với chính số đo của cá nhân ấy - Sau đó sản phẩm được thực hiện với đa phần bằng phương pháp thủ công và mỗi bộ mang một dấu ấn cá nhân riêng của chủ nhân sở hữu...
"Bespoke" là thuật ngữ được đưa ra lần đầu tiên tại Savile Row, London. Nơi đây từ gần 200 năm trước cho tới tận ngày nay vẫn tập trung nhưng thương hiệu thời trang may đo cho Quý ông đẳng cấp nhất Thế giới.

2. Made-to-measure suits :  Là các bộ suit được may theo 1 khung số đo có sẵn trong hệ thống thư viện của nhà thiết kế (gọi là mẫu bìa). 
Vải được cắt theo bìa mẫu - có thể hiểu mẫu bìa như nền móng của một bộ suits - điều này đem lại tính chính xác cao trên tất cả các sản phẩm nhưng tiếc rằng cơ thể con người lại rất khác nhau. Hãy tưởng tượng như việc bạn đưa cho người thợ may một con số, người thợ may sẽ tìm kiếm trong kho của mình mẫu với số đo gần nhất với con số mà bạn đưa ra rồi điều chỉnh mẫu đó xem có mẫu bìa nào của mình để phù hợp và sát nhất với số đo của bạn và dựa vào đó cân chỉnh lại số đo gần với số đo của bạn. Tất nhiên có nhiều phần quan trọng mà rất khó để chỉnh sửa trên mẫu và cơ thể bạn nên các bộ suit thường không thể đẹp và vừa vặn như Bespoke Suits - nhưng được lợi thế về thời gian may sẽ nhanh hơn so với Bespoke Suits (Phân khúc may mặc này ít khi sử dụng vải 100%Wool để tránh giá thành cao).

3. Ready-to-Wear suit : Là các bộ suit may sẵn theo các số đo tiêu chuẩn, giá rẻ, chất vải nhiều Polyester tương đương với Wool được ưa chuộng cho dòng hàng này (50P/50W). Bạn có thể tìm thấy các bộ suit này ở rất nhiều các cửa hiệu có bày bán suits ngoài phố
.Nguồn do Hoàng Quang biên tập, tổng hợp và hiệu chỉnh từ tài liệu nước ngoà
Vĩnh Bảo sưu tầm 30/8/2016



- i 

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Vai trò của Carbohydrat trong Cơ thể

Vai trò của Carbohydrat trong Cơ thể

Carbohydrat
Ngoại trừ chất xơ, tất cả carbohydrat đều biến thành đường sau khi tiêu hóa
Tác giả: Nora Gedgaudas
Nguồn: Primal Body, Primal MindCơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy
Chương 13: Vai trò của carbohydrat trong cơ thể

Lượng đường trắng tiêu thụ hàng năm ở Hoa Kỳ:
  • 1750: 1,8 kg một người, một năm
  • 1850: 9,1 kg một người, một năm
  • 1994: 54 kg một người, một năm
  • 1996: 73 kg một người, một năm
Theo Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế của Bộ Nông nghiệp Mỹ, lượng đường tiêu thụ trên toàn cầu tiếp tục gia tăng khoảng 2% mỗi năm, và dự tính vào năm 2007 sẽ đạt khoảng 154 triệu tấn. Lưu ý: Con số này chưa bao gồm các loại đường hóa học công nghiệp khác như High Fructose Corn Syrup (HFCS) (đường hóa học làm từ ngô có nồng độ fructose cao).

HFCS hiện được ước tính là nguồn calo hàng đầu trong chế độ ăn người Mỹ! Sự gia tăng trong tỷ lệ béo phì, bệnh tim, ung thư và tiểu đường trùng khớp hầu như hoàn toàn với sự ra đời của HFCS gần 30 năm trước. Trung bình mỗi người bây giờ tiêu thụ 150 gam đường mỗi ngày. Một nửa trong số đó là fructose (đường tinh được tạo thành từ một nửa glucose và một nửa fructose). Con số này gấp 3 lần mức có thể gây ra rối loạn sinh hóa trong cơ thể. Cơ thể chúng ta hoàn toàn không có khả năng tự vệ chống lại cơn lũ này. 90% tiền mua thực phẩm của dân Mỹ hiện nay được dùng để mua thực phẩm chế biến sẵn, và HFCS (loại đường độc hại nhất trong tất cả) có mặt trong gần như tất cả mọi sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn. Xin nhớ cho là những con số đường tiêu thụ này là trung bình và nhiều người tiêu thụ hơn gấp đôi con số đó. Dựa trên ước tính mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm 2011, một người Mỹ trung bình tiêu thụ 12 thìa đường mỗi ngày, tương đương với gần 2 tấn đường trong cả đời (hình dung một cái xe tải cá nhân loại lớn chở đầy đường). Nếu bạn muốn có một hình ảnh về lượng đường tiêu thụ trung bình trong một năm, hình dung một cái xe đẩy một bánh loại lớn, đầy có ngọn.

Tất cả các con số trên đều chưa bao gồm lượng đường trong chế độ ăn của chúng ta từ những nguồn tinh bột khác - bánh mì, mì ống, ngũ cốc, khoai tây, gạo - hay những cái gọi là đường “tự nhiên” như mật ong, mật, hay đường chuyển hóa từ lượng protein ăn vào nhiều hơn mức cần thiết của cơ thể. Khi tất cả chúng thực sự được cộng lại, chúng ta sẽ phải kinh ngạc tại sao nạn dịch béo phì, tiểu đường, ung thư và bệnh tim (đó mới chỉ là một số căn bệnh liên quan đến đường) lại không tồi tệ hơn nhiều so với mức độ hiện nay. Tổ tiên của chúng ta thậm chí trong mơ cũng không thể hình dung được sự điên rồ này.

Tất cả các dạng carbohydrat không phải chất xơ (từ ngũ cốc, gạo, khoai tây và các dạng tinh bột khác) cùng với đường trắng và các loại đường hóa học công nghiệp (như HFCS) đều trở thành đường một khi chúng được chuyển hóa bởi cơ thể. Tỷ lệ carbohydrat trong chế độ ăn của con người đã gia tăng một cách trái tự nhiên và theo cấp số nhân từ những gì mà tổ tiên thời kỳ đồ đá cũ của chúng ta từng biết. Cái này bao gồm cả tinh bột hay carbohydrat dạng phức, ngoại trừ chất xơ không tiêu hóa được, và carbohydrat dạng đơn trong hoa quả. Hoa quả dại rất khác so với những loại được con người trồng hiện nay (thường chua hơn là ngọt, nhỏ hơn nhiều, ít đường hơn, chứa rất nhiều chất xơ), và chỉ có theo mùa.

Tất cả các dạng carbohydrat không phải chất xơ đều kích thích tiết ra insulin, một hooc-môn dẫn đến sự tích trữ mỡ, và gây tổn hại cho cơ thể và não bộ thông qua một quá trình gọi là glycation (đường trong máu tác dụng với protein và chất béo khiến chúng bị hủy hoại). Ví dụ về những thực phẩm carbohydrat gây ra quá trình này bao gồm bánh mì, mì ống, gạo, khoai tây, hoa quả khô, nước quả, kẹo, sô-cô-la, rượu bia, và thậm chí là hầu hết hoa quả tươi (chỉ ngoại trừ một số loại như quả bơ).

Lượng đường tiêu thụ trung bình mỗi người mỗi ngày ở Mỹ từ 1970 - 2005

Fructose, loại đường đơn trong hoa quả, thường không ảnh hưởng đến insulin mấy (trừ khi nó ở trong HFCS), nhưng nó gây ra glycation cực kỳ mạnh, dẫn đến rất nhiều tổn hại. Nó cũng dễ làm tăng nồng độ acid uric (ảnh hưởng đến bệnh gút). Lưu ý rằng carbohydrat chúng ta đang nói đến đây không bao gồm các loại rau xanh nhiều chất xơ. Những rau này rất tốt và hầu như không có đường hay tinh bột.

Cơ thể chúng ta cực kỳ chú trọng việc giữ nồng độ glucose trong máu trong một khoảng hẹp. Giá trị thực tế của khoảng này có thể thay đổi tùy theo từng người, và tùy thuộc vào việc họ lệ thuộc vào glucose để lấy năng lượng đến mức nào và họ bị kháng insulin đến đâu.

Thực tế là có nhiều loại hooc-môn được thiết kế để nâng nồng độ glucose trong máu và chỉ có một hooc-môn để giảm nó. Đấy là vì carbohydrat thường là thứ cực kỳ hiếm hoi trong chế độ ăn nguyên thủy, và do vậy, tổ tiên chúng ta cực kỳ hiếm khi gặp phải trường hợp “khẩn cấp” cần hạ nồng độ glucose, ngược hẳn với bây giờ. Tuy nhiên, khả năng dùng hooc-môn để nâng nồng độ glucose trong máu trong trường hợp khẩn cấp là tối cần thiết cho sự sống còn của tổ tiên chúng ta.

Nồng độ glucose trong máu tối ưu đối với một người khỏe mạnh, nhạy cảm với insulin và leptin thường không quá 70 đến 85 mg/dL (mà không hề có triệu chứng hạ đường huyết nào). Các bằng chứng khoa học hiện có từ các nghiên cứu về tuổi thọ và thử nghiệm hạn chế calo đều chỉ ra khoảng này là tối ưu. Một số nghiên cứu xác định khoảng trung bình hiện nay là thường từ 85 đến 100 mg/dL. Nếu nồng độ đường huyết khi đói vượt quá 100 mg/dL, riêng điều này đã báo hiệu cơ thể có vấn đề. Những nghiên cứu về tuổi thọ mới nhất cho thấy khả năng giữ nồng độ glucose trong máu khi đói trong khoảng 70 đến 85 mg/dL mà không có triệu chứng hạ đường huyết, đồng thời không để cho nồng độ glucose tăng quá 40 mg/dL sau khi ăn có tác dụng kích hoạt các gen sirtuin (gen sống lâu của chúng ta).

Một nghiên cứu theo dõi gần 2000 người đàn ông trong khoảng thời gian 22 năm cho kết quả đáng kinh ngạc rằng những người có nồng độ glucose lúc đói vượt quá 85 mg/dL có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cao hơn 40 phần trăm so với những người còn lại. Các nhà nghiên cứu thực hiện dự án này viết rằng “việc nồng độ glucose lúc đói nằm gần giá trị trên của khoảng bình thường là một yếu tố độc lập quan trọng dự báo khả năng tử vong do bệnh tim mạch ở những người trung niên không bị tiểu đường và bề ngoài khỏe mạnh.”

Cái gọi là trạng thái hạ đường huyết là một khái niệm mang tính tương đối. Nồng độ glucose lúc đói ở vào khoảng 90 hay 100 có thể được coi là hạ đường huyết nghiêm trọng và thậm chí có thể gây ra co giật ở một người quen với nồng độ đường huyết tầm 400 mg/dL, như những người bị tiểu đường chẳng hạn. Một người quen với nồng độ đường huyết trong khoảng 85 đến 100 mg/dL có thể cảm thấy triệu chứng bắt đầu hạ đường huyết (nặng đầu, dễ cáu kỉnh, run rẩy, mệt mỏi) ở 70 mg/dL. Một người khỏe mạnh thường xuyên giữ nồng độ glucose và insulin thấp có thể có nồng độ glucose không vượt quá 90 hay 100 mg/dL ngay cả sau bữa ăn, và có thể cảm thấy hoàn toàn thoải mái với nồng độ glucose lúc đói ở 70 mg/dL. Một lần nữa, đây là khái niệm tương đối.

Nguyên tắc chung là bạn càng giữ được nồng độ glucose trong máu trong điều kiện bình thường (nghĩa là không cảm thấy các triệu chứng hạ đường huyết) thấp bao nhiêu, thì sức khỏe của bạn càng tốt bấy nhiêu.

Những ai muốn có sức khỏe tối ưu nên giữ trong khoảng 70 đến 85 mg/dL hay thấp hơn nữa. Khoảng giá trị này tương đương với không quá một thìa càfe đường, khoảng 5 gam hay 20 kcal. Hãy nhớ rằng cơ thể rất chú trọng việc giữ nồng độ glucose cần thiết ở mức thấp nhất vào mọi lúc vì bản chất của glucose là gây tác hại cho các mô và cơ quan nội tạng trong cơ thể. Nồng độ glucose cần thiết càng thấp càng tốt.

Hai lát bánh mì hay một cái bánh ngọt nhỏ chứa khoảng 6 thìa càfe glucose - sáu lần lượng bình thường được phép trong máu! Trừ chất xơ ra, tất cả carbohydrat trong thực phẩm đều được hấp thụ bởi gan, chuyển hóa thành đường glucose và sau đó đổ vào mạch máu. Ngũ cốc và khoai tây thậm chí còn làm tăng nồng độ đường huyết nhanh hơn một thanh kẹo!

Glucose (và các loại đường khác) trong máu tự động ôxy hóa và sản sinh ra những gốc tự do mạnh gây tổn hại cho thành động mạch và tác dụng với protein tạo thành các sản phẩm glycation cuối (advanced glycation end products hay AGEs). Người ta đã biết AGEs làm tăng mạnh quá trình lão hóa của các tế bào và mô và gây đột biến trong DNA. Thêm vào đó, AGEs kết hợp với một số thụ cảm trên thành động mạch gọi là RAGEs và gây ra sưng tấy, làm tồi tệ hơn các triệu chứng bệnh tim mạch. Một xét nghiệm máu đơn giản và rẻ tiền có thể đo quá trình glycation ở các tế bào hồng huyết cầu gọi là xét nghiệm hemoglobin-A1c, và nó có thể được dùng để theo dõi chính xác các xu hướng glycation cùng với thời gian. Chỉ đo nồng độ đường huyết lúc đói không đủ chính xác để theo dõi điều này.

Glucose là cái làm chúng ta già đi. Trớ trêu thay là thứ mà chúng ta cần để tồn tại, để nuôi dưỡng các tế bào hồng huyết cầu và cung cấp năng lượng cho chúng thông qua quá trình kỵ khí lại chính là thứ làm chúng ta lão hóa và cuối cùng giết chết chúng ta. Chúng ta phải có một lượng đường nhất định để nuôi dưỡng các tế bào hồng huyết cầu, nhưng không cần nhiều lắm để nuôi não bộ như mọi người vẫn nghĩ. Nhớ là não của chúng ta có thể hoạt động rất tốt dựa trên ketone, một sản phẩm chuyển hóa từ chất béo - trên thực tế tốt hơn so với dùng đường.

Ketone là một nguồn năng lượng ổn định, đáng tin cậy và dồi dào hơn nhiều cho não bộ và các cơ quan nội tạng của chúng ta sử dụng. Tuy nhiên, các tế bào hồng huyết cầu chỉ có thể dùng đường (glucose) làm năng lượng thông qua quá trình kỵ khí để bảo tồn món hàng quý giá mà chúng chuyên trở là ôxy. Do vậy chúng dùng đường thay vì chất béo.

Không may là cuối cùng chúng ta phải trả giá cho một thứ không thể tránh khỏi. Sự lão hóa giờ được khoa học hiểu là quá trình glycation ở tất cả các mô, kể cả não bộ. Các bệnh mãn tính liên quan đến tuổi già và một số dạng suy thoái chức năng thần kinh có thể có liên quan trực tiếp đến quá trình glycation này. Chúng ta càng giữ nồng độ đường huyết được thấp bao nhiêu thì quá trình này càng xảy ra chậm hơn bấy nhiêu và chúng ta càng sống được lâu hơn, khỏe mạnh hơn và ít bệnh tật khi già bấy nhiêu.

Hậu quả rõ rệt nhất của quá trình glycation có thể được thấy ở những người bị tiểu đường toàn diện. Điều trớ trêu là, dựa trên những gì khoa học đã hiểu về quá trình lão hóa, tất cả chúng ta đều có thể bị coi là bị tiểu đường - chỉ có điều ở những mức độ khác nhau. Và các bằng chứng hiện nay cho thấy chỉ một sự gia tăng nhỏ trong nồng độ glucose bình thường lúc đói cũng làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tật.

Nhìn nhận vấn đề như vậy có thể dễ làm thay đổi quan điểm và hy vọng là thói quen ăn uống của bạn hơn. Trong một nghiên cứu trên 33.230 người đàn ông, nồng độ glucose cao làm tăng 38 phần trăm tỷ lệ tử vong do ung thư đường tiêu hóa. Các nghiên cứu khác chỉ ra mức độ gia tăng trong tỷ lệ bị tiểu đường còn cao hơn nữa! Điều rõ ràng và không thể chối cãi được từ những hiểu biết hiện nay về quá trình lão hóa và đột biến DNA (dẫn đến ung thư) là chúng ta càng giữ được nồng độ đường huyết và insulin thấp bao nhiêu thì chúng ta càng sống lâu, khỏe mạnh hơn và quá trình già đi chậm hơn bấy nhiêu. (Lưu ý: Glycation và các tổn hại do nó gây ra được tích tụ lại. Do vậy mỗi thìa đường, mỗi miếng thức ăn chứa tinh bột chúng ta ăn đều đóng góp vào đó. Mỗi mẩu kẹo, bánh, bánh mì hay khoai tây, mỗi thìa mật ong, mỗi giọt nước ngọt đều làm ngắn đi cuộc đời của bạn - một điều đáng để suy nghĩ. Mặc dù một số hậu quả của glycation có thể được phục hồi và đảo ngược, một số khác không thể. Bạn có thể lựa chọn cái gì là quan trọng.)

Một hậu quả nữa của việc ăn carbohydrat thường xuyên là nấm candida phát triển ngoài kiểm soát. Điều này là cực kỳ phổ biến ở dân chúng Mỹ do ăn chế độ ăn nhiều carbohydrat. Nó đặc biệt phổ biến ở những bệnh nhân tiểu đường và gây ra bởi sự mất cân bằng vi khuẩn trong ruột, sử dụng thuốc kháng sinh, chế độ ăn uống kém và một số loại hooc-môn bổ sung. Hầu hết những người có nấm candida phát triển ngoài kiểm soát cũng bị dị ứng với nấm mốc. Các triệu chứng của nấm phát triển ngoài kiểm soát bao gồm chảy nước mũi thường xuyên, viêm xoang, ngứa hậu môn, đau đầu do viêm xoang, khó tiêu, đầy hơi, ợ nóng, nặng đầu, lưỡi trắng, nấm âm đạo, đi tiểu thường xuyên, táo bón hoặc tiêu chảy, ngứa phát ban và thèm đồ ăn ngọt hay nhiều tinh bột như bánh mì, rượu bia và pizza. Để chữa nấm candida, thường cần tránh hoàn toàn các đồ ăn nhiều đường hay tinh bột cùng các loại pho-mát, kem chua, thực phẩm lên men (bao gồm cả nước chấm đậu tương), và dấm.

Mối Quan hệ giữa Insulin và Đường huyết

Sau một bữa ăn, nồng độ đường huyết tăng cao kích thích sự giải phóng insulin nhằm nhanh chóng loại bỏ glucose khỏi máu. Lượng glucose không cần dùng ngay lập tức - như là khi cần để chạy trốn khỏi một con sư tử đói chẳng hạn - chuyển hóa nhanh chóng thành glycogen (dự trữ trong gan và các mô cơ để dành cho những lúc nhu cầu năng lượng tăng cao đột ngột), hoặc thành triglyceride. Triglyceride được tạo thành nhờ một enzyme gọi là glycerol-3-phosphate dehydrogenase và dự trữ dưới dạng mỡ trong cơ thể.

Chúng ta cần hiểu một điểm cơ bản: tổ tiên xa xôi của chúng ta không bao giờ cần khẩn cấp hạ nồng độ đường huyết. Hiểu được điều này là rất quan trọng. Và còn điều này nữa: Một điều mà thậm chí nhiều bác sĩ cũng không hiểu là chức năng và mục đích thực sự của insulin không phải là để kiểm soát nồng độ đường huyết. Chúng ta có nhiều loại hooc-môn khác được thiết kế nhằm mục đích kiểm soát nồng độ đường huyết: glucagon, epinephrine, norepinephrine, cortisone và hooc-môn tăng trưởng. Những hooc-môn này có nhiệm vụ làm tăng nồng độ đường huyết khi chúng ta cần.

Mặc dù insulin có làm giảm nồng độ đường huyết (một cách rất vụng về), nhưng nhiệm vụ chính của insulin thực ra là để dự trữ các chất dinh dưỡng thừa phòng khi đói kém và để phối hợp và điều chỉnh giữa dự trữ năng lượng với tuổi thọ và chức năng sinh sản. Việc giảm nồng độ đường huyết chỉ là tác dụng phụ của insulin, một hooc-môn chủ chốt với những nhiệm vụ quan trọng hơn nhiều. Hiểu được điều này là rất quan trọng, và đây cũng là một yếu tố mấu chốt trong những khám phá mới của khoa học trong việc kéo dài tuổi thọ mà chúng ta sẽ thảo luận ở các chương sau.

Nhu cầu có nguồn năng lượng ổn định

Trong việc cung cấp năng lượng cho bộ não và cơ thể chúng ta, carbohydrat có thể được so sánh như củi nhóm lửa. Ngũ cốc và các hạt họ đậu giống như là củi vụn; tinh bột, trong ngũ cốc, khoai tây, và đường như là giấy báo; và rượu bia có thể được so sánh như là xăng. Nếu bạn dùng carbohydrat làm nguồn cung cấp năng lượng chính, bạn sẽ cần tiếp chất đốt để nuôi ngọn lửa ấy một cách thường xuyên và đều đặn. Bạn sẽ thèm thứ chất đốt ấy. Không may là hầu hết mọi người hiện nay đã bắt cơ thể của họ quen với sự lệ thuộc trái tự nhiên này bằng việc ăn một chế độ ăn quá nhiều carbohydrat.

Hầu hết, nếu không phải tất cả, những người nghiện rượu (lấy làm ví dụ điển hình) có vấn đề nghiêm trọng về hạ đường huyết và nghiện đường. Những người nghiện rượu hoàn toàn bị lệ thuộc vào đường và thường xuyên phải tìm đến những nguồn cung cấp đường nhanh chóng - cồn trong rượu bia là nguồn cung cấp nhanh nhất. Đây là một lý do tại sao người ta vẫn nói “một lần nghiện rượu, suốt đời nghiện rượu”. Đấy là vì trong việc nghiện rượu, thực ra vấn đề không phải hoàn toàn là về rượu bia, mà là vấn đề nghiện carbohydrat nghiêm trọng. Nếu chỉ từ bỏ rượu bia, người đó vẫn còn vấn đề gốc rễ: nghiện đường. Những buổi gặp mặt của hội những người cai rượu (Alcoholics Anonymous) thường có ê hề bánh ngọt và cafe. Mặc dù họ không uống rượu bia, vấn đề nghiện đường, thường không được nhận biết, ở những người từng nghiện rượu vẫn tiếp tục. Những người nghiện rượu thường là thứ mà tôi gọi là “sinh vật ăn carbohydrat”, ăn chế độ ăn bao gồm chủ yếu là các thực phẩm giàu carbohydrat, thường xuyên thèm đồ ngọt, và dựa vào những chất kích thích như caffeine để giữ nồng độ đường huyết ở mức cao. Việc thèm đồ ngọt này vẫn tiếp tục khi họ chỉ kiêng rượu bia, và do đó khiến họ rất dễ nghiện lại. Một khi việc thèm carbohydrat và lệ thuộc vào carbohydrat như nguồn năng lượng chính bị loại bỏ, việc thèm rượu bia cũng sẽ biến mất. Huấn luyện cho cơ thể dựa vào ketone thay cho đường để cung cấp năng lượng là chìa khóa cho việc này. Điều này có nghĩa là loại bỏ đường và tinh bột hoàn toàn khỏi chế độ ăn.

Với những ai gặp khó khăn trong việc thích nghi với dùng chất béo làm năng lượng, thuốc bổ sung như L-glutamine (mà não bộ có thể dùng thay cho glucose) có thể được dùng như một bước đệm để giúp não bộ chuyển dần khỏi sự lệ thuộc vào đường trong khi cơ thể thích nghi với nguồn năng lượng mới bền vững và ổn định hơn. Một số loại dược thảo như Gymnema sylvestre có thể giúp loại trừ cảm giác thèm carbohydrat khi uống với liều cao, 4 đến 8 gam, ba lần mỗi ngày trong khoảng một tháng đầu kể từ khi bắt đầu thay đổi chế độ ăn. Bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu hụt do chế độ ăn nhiều carbohydrat hay nghiện rượu cũng là tối cần thiết cho sự phục hồi của cơ thể.

Bạn có thể nhận lượng năng lượng lớn trong thời gian ngắn từ carbohydrat, giống như ngọn lửa bùng lên khi bạn tưới xăng, nhưng không ai có thể có nguồn năng lượng lâu bền và ổn định bằng cách đó. Ngay khi ngọn lửa ấy bắt đầu tàn đi, điều mà bạn không phải đợi lâu, bạn sẽ lại thèm carbohydrat hay chất kích thích để kéo nó lên trở lại.

Đây là lý do tại sao một số chuyên gia dinh dưỡng luôn khuyên bạn ăn hai tiếng một lần hay ăn “nhiều bữa nhỏ trong suốt cả ngày”. Nếu bạn phụ thuộc vào đường - và hầu như tất cả mọi người trong nền văn hóa này đều là nạn nhân của sự lệ thuộc không cần thiết đó - thì những bữa ăn nhỏ thường xuyên là cần thiết để giữ cơ thể trong trạng thái bình thường.

Nếu bạn từng sưởi ấm nhà bạn bằng lò sưởi đốt củi, bạn sẽ hiểu sự so sánh dưới đây: Nếu bạn phải đốt cái lò sưởi ấy bằng giấy, củi vụn hay xăng, bạn sẽ trở thành nô lệ cho ngọn lửa ấy, và bạn sẽ cần một núi nhiên liệu liên tục tiếp vào để nuôi sống con quái vật háu đói ấy. Lúc nào bạn cũng sẽ bận rộn tiếp nhiên liệu để nuôi ngọn lửa ấy, và bạn sẽ không còn làm được việc gì khác. Trên thực tế, hầu hết mọi người trong nền văn hóa này đều bị nô lệ hóa một cách tương tự, luôn luôn bận tâm đến việc làm sao để có bữa ăn hay bữa điểm tâm (hay tách cafe) tiếp theo. Các tập đoàn thực phẩm và nông nghiệp rất vui lòng duy trì tình trạng nô lệ đó và duy trì lòng tin rằng glucose là một nguồn năng lượng tối cần thiết và rằng ăn carbohydrat thường xuyên là quan trọng để duy trì nồng độ đường huyết ổn định. Điều này thậm chí được dạy trong các trường y. Nhưng đó là một điều dối trá. Mẹ Thiên nhiên không ban giờ định ra cho chúng ta sống theo cách như vậy. Đó là một lối sống rất không tự nhiên và khó duy trì, đặc biệt khi bạn nghĩ về việc người nguyên thủy phải liên tục đấu tranh cho sự sống còn trong một thế giới mà thực phẩm không phải lúc nào cũng có sẵn. Tổ tiên nguyên thủy (đặc biệt là thời kỳ băng hà) của chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội sống sót đến ngày nay nếu carbohydrat là một loại thực phẩm không thể thiếu được hay glucose là nguồn năng lượng tối cần thiết vào mọi lúc. Thiên nhiên không đến nỗi điên rồ hay ngu ngốc đến như vậy.

Vâng, bạn có thể sống trong trạng thái lệ thuộc vào glucose. Hầu hết mọi người đều sống như vậy. Nhưng ý tưởng rằng chúng ta phải phụ thuộc vào đường như là nguồn năng lượng chính chỉ đúng khi chúng ta bắt cơ thể phải thích nghi với sự lệ thuộc trái tự nhiên ấy. Hầu hết mọi người trong nền văn hóa này đều thích nghi như vậy. Và bạn có thể tiếp tục điều chỉnh nồng độ đường huyết của bạn suốt cả ngày bằng cách ăn các bữa ăn nhỏ và bữa điểm tâm một cách thường xuyên, nhằm giữ cho ngọn lửa ấy cháy ổn định hơn. Cá nhân tôi có nhiều điều thú vị để làm hơn là ngồi duy trì ngọn lửa ấy. Đấy là một điều không cần thiết và nó sẽ làm bạn già đi nhanh hơn (và khiến bạn tốn nhiều tiền mua thực phẩm và chăm sóc sức khỏe hơn).  một cách sống và ăn uống lành mạnh hơn và tự nhiên hơn nhiều.

Mỡ trong thực phẩm, khi không có carbohydrat, có thể so sánh như là cho một súc gỗ lớn vào cái lò sưởi đó. Ngọn lửa từ nó sẽ cháy một cách ổn định và dễ duy trì hơn nhiều. Protein, ăn với lượng vừa phải, chủ yếu được dùng để sửa chữa và duy trì cơ thể. Chỉ khi ăn quá nhiều nó mới chuyển thành đường. Ngọn lửa đều đặn từ mỡ giúp giữ hooc-môn leptin nằm dưới sự kiểm soát, giữ insulin ở nồng độ thấp và khiến chúng ta cảm thấy thỏa mãn. Nồng độ đường huyết, một khi bạn thích nghi với nguồn năng lượng ổn định này, trở thành một vấn đề nhỏ nhặt không đáng quan tâm đến. Bạn sẽ được tự do sống cuộc sống của mình thay vì phải thường xuyên bận tâm về bữa ăn hay bữa điểm tâm tiếp theo. Bạn có thể duy trì nhiều, nhiều giờ không cần ăn mà không cảm thấy khó chịu hay thèm ăn chút nào. Tất nhiên, cuối cùng bạn sẽ cảm thấy đói nếu bạn không ăn quá lâu. Đó là điều tự nhiên. Nhưng ngay cả khi đó bạn sẽ không cảm thấy khó chịu, chóng mặt, váng đầu, mệt mỏi, dễ cáu kỉnh.

Và nó lẽ ra phải như vậy!

Vấn đề ở đây của chúng ta là kênh liên lạc không hoạt động

Chỉ ít hơn 1 phần trăm tuyến tụy được dùng cho việc sản xuất insulin. Nhu cầu insulin quá mức ban đầu có thể dẫn đến việc độ nhạy của các thụ cảm insulin giảm đi, khiến ngày càng cần nhiều insulin hơn để làm cùng một việc.

Đấy là cái được gọi là kháng insulin. Ở thời kỳ đầu của rối loạn glucose, kháng insulin có thể dẫn đến hạ đường huyết. Tuy nhiên, cùng với thời gian, các thụ cảm trên bề mặt các tế bào của chúng ta trở nên ngày càng ít nhạy cảm với thông điệp của insulin, và kết quả là bệnh tiểu đường loại 2. Trong những trường hợp ở giai đoạn cuối, tuyến tụy làm việc quá sức có thể không còn khả năng đáp ứng đòi hỏi insulin của cơ thể, và người bệnh phải cần đến tiêm insulin. Bệnh tiểu đường loại 2, một thời từng được coi là căn bệnh của những người lớn tuổi, giờ càng ngày càng trở nên phổ biến ở trẻ nhỏ.

Trên thực tế, tiểu đường loại 2 không phải là căn bệnh về đường huyết, mà là căn bệnh về kháng insulin - nghĩa là kênh liên lạc giữa insulin và glucose không còn hoạt động. Đây là một điểm quan trọng vì các loại thuốc điều trị tiểu đường hoàn toàn không giải quyết vấn đề này mà thay vào đó chỉ tập trung vào việc giảm đường huyết, thông thường bằng cách kích thích dự trữ đường dưới dạng mỡ trong cơ thể. Điều này không giải quyết được vấn đề kênh liên lạc giữa insulin và glucose, cũng như không giảm tỷ lệ tử vong. Thuốc tiểu đường, mặc dù ban đầu có thể giảm nồng độ glucose, cuối cùng chỉ khiến tình trạng bệnh nặng hơn.

Nghiên cứu Kiểm soát Nguy cơ Bệnh Tim mạch ở Bệnh nhân Tiểu đường (ACCORD) gần đây được xuất bản trong Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Các nhà nghiên cứu phụ trách theo dõi kết quả của việc sử dụng insulin để giảm nồng độ glucose trong máu các bệnh nhân tiểu đường ngạc nhiên khi thấy việc tăng cường sử dụng insulin (để giảm nồng độ đường huyết) dẫn đến sự gia tăng trong tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Trên thực tế, nghiên cứu này bị dừng lại giữa chừng vì phát hiện này. Không may là điều này vẫn thường xảy ra trong việc điều trị các bệnh nhân tiểu đường - tập trung vào đường huyết thay vì kháng insulin.

Trên nhiều khía cạnh, sự béo phì có thể nhìn nhận như là cái giá chúng ta trả khi cố gắng thoát khỏi bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, cuối cùng vấn đề vẫn là kênh liên lạc không hoạt động và kháng insulin. Chìa khóa của vấn đề là phục hồi sự nhạy cảm với insulin và liên lạc tế bào.

Vậy, làm thế nào để thực hiện điều đó, bạn hỏi?

Nếu bạn muốn thay đổi cách làm việc của bất cứ tổ chức nào, đầu tiên bạn phải nói chuyện với ông chủ...
vĨNH bẢO SƯU TẦM 25/8/2016

Gluten: Cái bạn không biết có thể giết bạn

Gluten: Cái bạn không biết có thể giết bạn

Không ăn bánh mì
Tác giả: Mark Hyman, MD
Nguồn: Gluten: What you don't know might kill you
Có một thứ bạn đang ăn có thể đang giết dần bạn, và bạn thậm chí không biết điều đó!
Nếu bạn ăn bánh burger hay khoai tây chiên của McDonald suốt tuần hay uống sáu lon coca mỗi ngày, bạn có thể biết rằng bạn đang rút ngắn cuộc sống của mình. Nhưng ăn một lát bánh mì nâu ngon lành và giòn tan, làm từ bột mì nguyên cám – làm thế nào nó có thể có hại cho sức khỏe của bạn?
Vâng, bánh mì có chứa gluten, một loại protein có trong lúa mì, lúa mạch, lúa mạch đen, spelt, kamut, và yến mạch. Nó ẩn thân trong bánh pizza, bánh mì, bánh ngọt và hầu hết các thực phẩm chế biến sẵn. Rõ ràng, gluten là thành phần chính của thực đơn Mỹ.
Điều mà hầu hết mọi người không biết là gluten có thể gây những biến chứng sức khỏe nghiêm trọng cho nhiều người. Bạn có thể nằm trong số đó ngay cả khi bạn không có biểu hiện rõ ràng của bệnh celiac.
Trong bài viết hôm nay, tôi muốn tiết lộ sự thật về gluten, giải thích những mối nguy hiểm và cung cấp cho bạn một phương pháp đơn giản để giúp bạn xác định xem gluten có phải là một vấn đề với bạn hay không.
Những nguy cơ từ gluten
Một nghiên cứu lớn gần đây đăng trong Journal of the American Association (Tạp chí của Hiệp hội Y học Hoa Kỳ) cho thấy rằng những người bị bệnh celiac ở dạng rõ ràng hay tiềm ẩn hay bị nhạy cảm với gluten có nguy cơ tử vong cao hơn, chủ yếu là do bệnh tim và ung thư (i).
Nghiên cứu này xem xét bệnh án của gần 30.000 bệnh nhân trong khoảng thời gian từ 1969 đến 2008 và phân loại những ca tử vong thành ba nhóm: Những người bị bệnh celiac rõ ràng; những người bị sưng tấy thành ruột nhưng không có biểu hiện bệnh celiac rõ ràng; và những người có nhạy cảm với gluten (có nồng độ kháng thể với gluten cao nhưng không bị sưng tấy thành ruột).
Các kết quả nghiên cứu thật bất ngờ: Nguy cơ tử vong ở nhóm một là cao hơn bình thường 39%; nhóm hai cao hơn 72% và nhóm ba cao hơn 35%.
Đây là một nghiên cứu mang tính đột phá, chứng tỏ rằng không nhất thiết cứ phải có bệnh celiac rõ ràng hay thành ruột bị sưng tấy (biết được qua sinh thiết) thì bạn mới bị những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng – thậm chí tử vong – khi ăn gluten.
Một điều đáng chú ý khác nữa là 99% số người có vấn đề sức khỏe do ăn gluten không hề biết điều đó. Họ gán bệnh tật hay những triệu chứng sức khỏe tồi tệ của họ cho một nguyên nhân nào đó khác – chứ không phải cho sự nhạy cảm với gluten, điều mà họ hoàn toàn có thể tránh được.
Và đây là một số tin tức gây sốc nữa...
Một nghiên cứu khác so sánh mẫu máu của 10.000 người từ 50 năm trước với 10.000 người hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc bệnh celiac toàn diện đã tăng 400 phần trăm (xác định được bởi nồng độ kháng thể TTG cao) (ii). Nếu chúng ta phát hiện một sự gia tăng 400 phần trăm của bệnh tim hay ung thư, tin đó sẽ được đăng trên trang nhất báo. Nhưng chúng ta hầu như không nghe thấy tăm hơi gì về nghiên cứu này. Lát nữa tôi sẽ giải thích lý do của sự gia tăng đó. Nhưng trước tiên, hãy tìm hiểu những thiệt hại về kinh tế của đại dịch không được biết tới này.
Những vấn đề sức khỏe liên quan đến gluten mà không được chẩn đoán đang khiến hệ thống y tế Mỹ phải tiêu tốn những khoản tiền khổng lồ không đáng. Tiến sĩ Peter Green, giáo sư Y học Lâm sàng của trường đại học Columbia, nghiên cứu tất cả 10 triệu người tham gia bảo hiểm sức khỏe CIGNA và tìm ra rằng những người được chẩn đoán chính xác với bệnh celiac sử dụng ít dịch vụ y tế hơn và giảm chi phí chăm sóc sức khỏe của mình đến 30% (iii). Vấn đề là ở chỗ chỉ có 1% những người có vấn đề được chẩn đoán chính xác. Điều đó có nghĩa là 99% còn lại đang phải chịu đựng những vấn đề sức khỏe mà không biết nguyên nhân, gây thiệt hại cho hệ thống y tế hàng triệu đôla.
Và không phải chỉ một vài người bị, mà là hàng triệu người. Số người bị nhạy cảm với gluten nhiều hơn nhiều so với những gì bạn nghĩ – đặc biệt là những người bị bệnh mãn tính. Dạng nghiêm trọng nhất của dị ứng với gluten, bệnh celiac, ảnh hưởng 1 trong 100 người, hay ba triệu người Mỹ. Hầu hết trong số họ không biết là họ bị. Nhưng những dạng nhẹ hơn của dị ứng với gluten còn phổ biến hơn nữa và có thể ảnh hưởng đến 1/3 dân số Mỹ.
Tại sao bạn không nghe nói gì mấy về điều này?
Thực ra bạn có nghe, chỉ có điều bạn không nhận ra nó. Bệnh celiac và nhạy cảm với gluten cải trang thành hàng chục căn bệnh khác với những cái tên khác nhau.
Nhạy cảm với gluten: Một nguyên nhân, nhiều căn bệnh
Một bài viết tổng hợp trong New England Journal of Medicine (Tạp chí Y học New England) liệt kê 55 “căn bệnh” có thể có nguyên nhân là ăn gluten (iv). Chúng bao gồm bệnh loãng xương, bệnh đường ruột dễ bị kích thích, bệnh viêm tấy đường ruột, bệnh thiếu máu, ung thư, mệt mỏi mãn tính, viêm loét (v), và rồi viêm khớp, lupus, đa xơ cứng và gần như tất cả các bệnh tự miễn khác. Gluten còn có liên quan đến nhiều bệnh tâm thần (vi) và thần kinh, bao gồm chứng lo âu, trầm cảm (vii), tâm thần phân liệt (viii), suy giảm trí nhớ (ix), đau nửa đầu, động kinh, tổn hại dây thần kinh (x). Nó cũng có liên quan đến chứng tự kỷ nữa (xi).
Lúc trước chúng tôi thường nghĩ bệnh celiac hay các vấn đề với gluten chỉ có ở những đứa trẻ bị tiêu chảy, sụt cân và không phát triển. Bây giờ chúng tôi biết bạn có thể nhiều tuổi, mập mạp, táo bón mà vẫn có bệnh celiac hay nhạy cảm với gluten.
Nhạy cảm với gluten thực ra là một căn bệnh tự miễn. Nó gây ra sưng tấy trong khắp cơ thể bạn, với những ảnh hưởng rộng khắp lên tất cả các cơ quan bao gồm não, tim, khớp, đường tiêu hóa và nhiều nữa. Nó có thể là nguyên nhân duy nhất đằng sau rất nhiều “căn bệnh” khác nhau. Để chữa những căn bệnh này, bạn cần chữa cái gốc của nó – và đó thường là sự nhạy cảm với gluten – chứ không chỉ các triệu chứng bên ngoài.
Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là TẤT CẢ các trường hợp trầm cảm hay bệnh tự miễn hay những căn bệnh khác kể trên ở tất cả mọi người đều có nguyên nhân là gluten. Nhưng gluten là một trong những điều đầu tiên bạn cần xem xét đến nếu bạn có bất cứ căn bệnh mãn tính nào.
Do không xem xét đến bệnh celiac và nhạy cảm với gluten, chúng ta gây ra sự đau khổ và những cái chết không cần thiết cho hàng triệu người Mỹ. Những vấn đề sức khỏe gây ra bởi sự nhạy cảm với gluten không thể điều trị bằng những loại thuốc mới. Chúng chỉ có thể được giải quyết bằng cách loại bỏ 100% gluten khỏi thực đơn của bạn.
Câu hỏi còn lại là: Tại sao chúng ta lại nhạy cảm với thứ được coi là thức ăn cơ bản nuôi sống con người này?
Có nhiều lý do...
Một trong số chúng là trong quá trình phát triển, chúng ta không tiến hóa để tiêu hóa các loại cây họ cỏ, đặc biệt là gluten, trong thực đơn của chúng ta. Lúa mì chỉ được đưa vào châu Âu thời Trung Cổ, và 30% số người có nguồn gốc châu Âu mang gen của bệnh celiac (HLA DQ2 hoặc HLA DQ8) (xii). Những gen này làm tăng khả năng bị các vấn đề về sức khỏe khi ăn gluten.
Để làm ra những chiếc bánh mì và bánh ngọt nhẹ, xốp, ngon lành trong các cửa hàng, các giống lúa mì của Mỹ được lai giống để có hàm lượng gluten cao hơn nhiều so với những giống lúa mì ở châu Âu. Loại lúa mì siêu gluten này được đưa vào trồng tại Mỹ gần đây và hiện đã “lây nhiễm” sang hầu hết tất cả các giống lúa mì của Mỹ.
Để biết bạn có phải là một trong hàng triệu người đang phải chịu đau khổ vì sự nhạy cảm với gluten mà không biết không, chỉ cần làm theo hướng dẫn đơn giản sau đây.
Chế độ ăn loại trừ / tái hòa nhập
Mặc dù các xét nghiệm có thể giúp xác định sự nhạy cảm với gluten, cách duy nhất để bạn biết đó có phải thực sự là một vấn đề với bạn không là loại bỏ tất cả gluten trong một thời gian ngắn (2 – 4 tuần) để xem bạn cảm thấy thế nào. Loại bỏ các loại thực phẩm sau đây:
  • Thực phẩm chứa gluten: lúa mạch, lúa mạch đen, yến mạch, spelt, kamut, lúa mì, triticale. Hãy vào trang www.celiac.com để xem danh sách đầy đủ các loại thực phẩm có chứa gluten, cũng như những nguồn gluten mà bạn không ngờ tới.
  • Các nguồn gluten giấu mặt: hỗn hợp nấu súp, dầu trộn salad, nước sốt, cũng như son môi, một số hiệu vitamin và thuốc, các con tem và phong bì mà bạn vẫn liếm khi dán, v.v...
Để thử nghiệm này có kết quả, bạn PHẢI loại trừ 100 phần trăm gluten khỏi chế độ ăn của bạn. Không một ngoại lệ, không một chút gluten giấu mặt, không một chút nào.
Sau đó ăn thử lại xem điều gì xảy ra. Nếu bạn cảm thấy khó chịu, dù chỉ một chút, bạn cần kiêng gluten vĩnh viễn. Thử nghiệm này sẽ cho bạn biết những tác động của gluten lên cơ thể bạn tốt hơn bất cứ xét nghiệm bên ngoài nào.
Nhưng nếu bạn vẫn muốn xét nghiệm, nhớ một số điều sau đây.
Xét nghiệm bệnh celiac hay độ nhạy cảm với gluten
Có nhiều loại xét nghiệm bệnh celiac hay độ nhạy cảm với gluten. Tất cả các xét nghiệm này giúp xác định nhiều biểu hiện khác nhau của sự dị ứng hay nhạy cảm với gluten / lúa mì. Chúng sẽ xác định:
  • Kháng thể chống gliadin IgA
  • Kháng thể chống gliadin IgG
  • Kháng thể chống endomysial IgA
  • Kháng thể mô transglutaminase (cả IgA và IgG trong những trường hợp nghi ngờ)
  • Tổng số kháng thể IgA
  • Các gen HLA DQ2 và DQ8 (thỉnh thoảng dùng để phát hiện nhạy cảm với bệnh celiac từ gen)
  • Sinh thiết đường ruột (hiếm khi cần thiết nếu có các kháng thể với gluten
Khi bạn làm những xét nghiệm này, có một số điều cần lưu ý.
Dựa trên những nghiên cứu mới đây về những nguy hiểm của sự nhạy cảm với gluten mà không có biểu hiện rõ ràng của bệnh celiac, tôi coi bất cứ hàm lượng cao bất thường của bất cứ kháng thể nào là dấu hiệu quan trọng cho thấy bạn cần thử chế độ ăn loại trừ gluten. Nhiều bác sĩ coi việc có hàm lượng kháng thể chống gliadin cao mà sinh thiết đường ruột không chỉ ra các tổn hại là “dương tính giả”. Điều đó có nghĩa là xét nghiệm có vẻ là dương tính nhưng thực ra không quan trọng.
Bây giờ chúng ta không còn có thể nói vậy nữa. Dương tính là dương tính. Cũng như với mọi loại bệnh khác, có một dải mức độ nghiêm trọng, từ sự nhạy cảm nhẹ với gluten cho đến bệnh celiac toàn diện. Và ngoài bệnh celiac ở đường ruột, gluten còn có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe ở các cơ quan khác trong cơ thể. Nếu nồng độ các kháng thể là cao, bạn nên từ bỏ gluten một thời gian xem có phải nó là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề sức khỏe của bạn không.
Vậy là bạn đã thấy miếng bánh mì lành mạnh đó thực ra không lành mạnh chút nào! Hãy thử làm theo lời khuyên của tôi trong bài này để xem gluten có phải là nguyên nhân giấu mặt của các vấn đề về sức khỏe của bạn không. Việc đơn giản là loại bỏ cái chất quỷ quyệt này khỏi thực đơn của bạn có thể giúp bạn đạt được sức khỏe tốt suốt đời.
Đấy là tất cả cho ngày hôm nay. Bây giờ tôi muốn nghe từ bạn...
Bạn có phải là một trong hàng triệu người đã từng tin rằng gluten là một thực phẩm hoàn toàn an toàn?
Những thức ăn chứa gluten có ảnh hưởng đến bạn như thế nào?
Những lời khuyên bạn có thể chia sẻ với người khác về loại bỏ gluten từ chế độ ăn uống của bạn?

Về tác giả:
Mark Hyman là một bác sĩ đang hành nghề và là người sáng lập Trung tâm UltraWellness. Ông là tác giả cuốn The UltraMind Solution và nhiều cuốn sách khác về sức khỏe.
Vĩnh BẢO SƯU TẦM 25/8/2016

Tiêu hóa và Hấp thụ Dinh dưỡng

Tiêu hóa và Hấp thụ Dinh dưỡng

Tác giả: Nora Gedgaudas
Nguồn: Primal Body, Primal Mind

 Tiêu hóa và Hấp thụ Dinh dưỡng
Bạn có thể ăn những thực phẩm đắt nhất, tốt nhất từng có trên thế gian này mà vẫn bị bệnh tật hay sức khỏe kém. Làm sao có thể như vậy được? Một yếu tố cực kỳ quan trọng là sự tiêu hóa. Nếu bạn không thể phân tách và hấp thụ những gì bạn ăn, bạn chỉ tiêu tốn tiền mua thức ăn mà thôi. Tồi tệ hơn nữa, bạn đang tạo ra những hỗn hợp ứ đọng, lên men và độc hại trong hệ thống tiêu hóa có thể làm rối loạn mọi cơ quan và hệ thống khác trong cơ thể bạn. Không thể nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của một hệ thống tiêu hóa tốt, vậy mà đây lại là chủ đề thường bị bỏ qua khi bàn về một chế độ ăn lành mạnh. Mọi bộ phận khác của cơ thể và tâm trí đều phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống tiêu hóa để nhận được những chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động bình thường.
Tiêu hóa kém là một vấn đề đã trở thành đại dịch, một điều mà lượng thuốc ức chế acid dạ dày được tiêu thụ hay số ca phẫu thuật cắt bỏ túi mật hay ruột thừa ngày một tăng đang chứng tỏ. Jonathon Wright, M.D., sau khi dùng thiết bị nội soi để đo độ pH dạ dày của hàng ngàn bệnh nhân, đã ước tính rằng khoảng 90% người Mỹ sản xuất quá ít acid hydrochloric. Hậu quả của điều này là cực kỳ to lớn.
Việc thiếu acid hydrochloric trong dạ dày dẫn đến nhiều vấn đề khá nghiêm trọng:
  1. Tiêu hóa và hấp thụ kém những protein và amino acid cần thiết cho hơn 50.000 chức năng khác nhau trong cơ thể, như sản xuất các chất truyền dẫn thần kinh để điều hòa tâm trạng; sửa chữa và tái tạo các tế bào, cơ quan nội tạng, xương, cơ; và nhiều chức năng không thể thiếu khác.
  2. Hấp thụ kém những khoáng chất thiết yếu như canxi, magiê, phốt-pho, boron, sắt và kẽm. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa khi mà cơ thể cần kẽm để sản xuất acid hydrochloric. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn có thể dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng những khoáng chất cực kỳ quan trọng này và tất cả các hậu quả kèm theo của nó.
  3. Sự sản xuất acid hydrochloric kém bởi dạ dày còn khiến vitamin B12 được hấp thụ kém. Đây là một chất tối cần thiết cho sức khỏe của hệ thần kinh. Vitamin B12 là một chất cho methyl quan trọng, cần thiết cho hoạt động bình thường của não bộ và hệ thống tim mạch. Chúng ta cũng dùng nó để sản xuất các tế bào huyết cầu. Tình trạng thiếu vitamin B12 kéo dài có thể dẫn đến những tổn hại thần kinh không phục hồi được, rối loạn tinh thần, nhận thức và mất trí nhớ, cũng như bệnh thiếu máu và bệnh tim. Một bức tranh không đẹp đẽ cho lắm!
  4. Hỗn hợp thối rữa không được tiêu hóa trong dạ dày (xin lỗi đã phải dùng từ mang tính hình tượng như vậy) gây rối loạn trong các bộ phận khác của hệ thống tiêu hóa. Nó bị lên men, sinh ra khí và biểu hiện ra ngoài thành các triệu chứng ợ nóng, đầy hơi và trung tiện. Nó kích thích và gây sưng tấy trong ruột non. Điều này có thể dẫn đến sự bào mòn của các lông nhung và dẫn đến cái gọi là hội chứng rò ruột (leaky gut syndrome), một trạng thái siêu thẩm thấu của niêm mạc ruột non, thông qua đó các protein chưa được tiêu hóa có thể đi vào mạch máu. Những protein này sẽ bị hệ thống miễn dịch của cơ thể coi như kẻ địch, gây ra nhạy cảm và dị ứng với nhiều thực phẩm và về lâu dài dẫn đến các rối loạn tự miễn.
  5. Mẫn cảm hơn với ký sinh trùng và các bệnh từ thực phẩm khác.
Đã tệ lại càng tệ hơn
Có một khả năng tồi tệ nữa ở đây: Nếu tình trạng thiếu acid hydrochloric trở thành mãn tính, vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori), một vi khuẩn vẫn sống bình thường trong hệ thống tiêu hóa, có thể phát triển ngoài tầm kiểm soát. Trong môi trường thiếu acid của dạ dày, H. pylori bắt đầu phát triển mạnh, xâm nhiễm niêm mạc ruột, ức chế các tế bào sản xuất acid (khiến sự sản xuất acid hydrochloric càng khó khăn hơn nữa), và gây sưng tấy, bào mỏng hay thậm chí tạo khối u ở các mô thành ruột. Điều này có thể gây ra bệnh đường ruột và ung thu trong hệ thống tiêu hóa.
Tuy vậy, chúng ta vẫn cần một lượng nhất định H. pylori. Chúng đóng một vai trò phức tạp trong sự điều hòa leptin, vì vậy tiêu diệt chúng hoàn toàn bằng kháng sinh không phải là giải pháp tốt. Kiểm soát sự sinh trưởng của chúng bằng những chất dinh dưỡng nhất định và phục hồi mức độ acid hydrochloric bình thường là phương án tốt hơn là tiêu diệt hoàn toàn.
Sự sản xuất acid hydrochloric phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm việc bạn có ăn đủ protein không; chất lượng những protein ấy ra sao; lượng thức ăn bạn ăn mỗi bữa có nhiều quá không... Gluten trong bột mì, lúa mạch, yến mạch; casein trong sữa và các sản phẩm sữa, đặc biệt là sữa đã bị xử lý theo phương pháp Pasteur (pasteurization); đậu tương đều có thể gây ra nhiều vấn đề với nhiều người và làm cho công việc của acid hydrochloric khó khăn hơn. Ăn nhiều quá cùng một lúc cũng dễ dẫn đến khó tiêu. Ăn tinh bột và protein trong cùng một bữa ăn cũng ảnh hưởng không tốt đến sự sản xuất acid hydrochloric. Giải quyết những vấn đề này không thôi thường cũng đã đủ để giải quyết các vấn đề về tiêu hóa và việc thiếu acid hydrochloric.
Vậy, tại sao tôi không có đủ acid hydrochloric?
Có nhiều lý do dẫn đến việc thiếu acid hydrochloric. Acid hydrochloric chỉ được sản xuất khi có mặt protein và bị ức chế khi có đường hoặc tinh bột. Chế độ ăn nhiều carbohydrat, đặc biệt là khi đi kèm với việc không ăn đủ protein, như là chế độ ăn chay hay ăn chay tuyệt đối, là nguyên nhân cực kỳ phổ biến của việc thiếu acid hydrochloric. Tuyến giáp hoạt động kém thường không sản xuất đủ gastrin, một hooc-môn cần thiết để kích hoạt sự sản xuất acid hydrochloric. Sự thiếu hụt một số chất dinh dưỡng cũng có thể là thủ phạm (vitamin B1, kẽm và vitamin C đều cần cho sự sản xuất acid hydrochloric). Những nguyên nhân khác bao gồm ăn quá nhiều cùng một lúc; ăn các thực phẩm kỵ nhau như protein và tinh bột cùng một lúc; uống nhiều rượu, bia; tâm trạng thường xuyên không thoải mái, stress, lo âu, đặc biệt là vào bữa ăn.
Sản xuất đủ acid hydrochloric là cần thiết cho toàn bộ phần còn lại của quá trình tiêu hóa. Vì vậy, đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng cần được giải quyết và là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất ảnh hưởng đến sức khỏe.
Lẽ ra nó cần hoạt động như thế nào: Sơ lược về quá trình tiêu hóa
Hãy kiên nhẫn với tôi một chút ở đây. Hiểu biết về hoạt động tiêu hóa là cực kỳ quan trọng!
Nhớ rằng quá trình tiêu hóa bắt đầu từ não, và rằng nó là một quá trình thần kinh phó giao cảm. Điều này nghĩa là cơ thể và tâm trí phải ở trong trạng thái thoải mái, bình yên để tiêu hóa hoạt động tốt. Ăn trong lúc vội vã, không tập trung (vừa ăn vừa xem TV) hay bị stress làm tê liệt hoạt động tiêu hóa bình thường và ức chế việc tiết ra các dịch tiêu hóa cần thiết. Điều này chỉ dẫn đến chứng khó tiêu và ợ nóng mà thôi.
Luôn luôn đợi cho đến khi bạn có đủ thời gian để bình tĩnh và tập trung vào bữa ăn, thưởng thức hương vị bữa ăn, và nhai kỹ. Trong miệng, enzyme amylase đã bắt đầu tiêu hóa carbohydrat, và thức ăn cần được nghiền nhỏ. Thức ăn không được nhai kỹ khiến dạ dày phải làm việc nhiều hơn và cần nhiều acid hydrochloric hơn để phân tách protein. Nhai, nhai, nhai! (Xin lỗi, mẹ bạn đã nói đúng... ít nhất là về vấn đề này.)
Từ đây, thức ăn đã được nghiền nát đi xuống thực quản, vào dạ dày, nơi nó được hòa với acid hydrochloric và pepsin để phân tách các protein ra thành những chuỗi ngắn hơn gọi là peptide. (Thành dạ dày được bảo vệ bởi một lớp chất nhờn khỏi tác động của acid.) Các peptide tiếp tục được phân tách bởi các enzyme tuyến tụy cho đến khi chúng trở thành các amino acid để sau đó được hấp thụ bởi ruột non.
Khi độ pH của dạ dày xuống cực kỳ thấp – khoảng 0.8, gần như là acid nguyên chất – nó báo cho van môn vị (cửa ngăn giữa dạ dày và ruột non) rằng hoạt động tiêu hóa trong dạ dày đã hoàn thành. Độ pH đủ thấp này đóng vai trò như chiếc chìa khóa mở van để cho những thứ trong dạ dày đổ vào tá tràng. Độ pH không đủ thấp (do thiếu acid hydrochloric) có thể làm chậm sự chuyển tiếp này, có khi kéo dài ra hàng giờ, dẫn đến sự lên men trong dạ dày và gây ra các triệu chứng ợ nóng.
Bạn thử về nhà làm thí nghiệm này: Lấy cái máy xay sinh tố, bỏ vào đấy một ít thịt băm, một ít khoai tây đã nấu chín, một cốc Pepsi (bạn có thể thay bằng một cốc rượu vang), một ít nước sốt, kem chua (dùng cho khoai tây), bánh mì, bơ, và... tại sao không có đồ tráng miệng nhỉ. Bây giờ, xay nhuyễn tất cả ra, nhổ một bãi nước bọt vào đấy, rồi đặt ở nơi có nhiệt độ 36oC trong khoảng 1-2 giờ (hoặc lâu hơn nữa). Tôi dừng ở đây để trí tưởng tượng của bạn được tự do tiếp tục. (Cảm ơn Colleen Dunseth, người bạn và đồng nghiệp của tôi, về sự so sánh rất có ích và đầy hình ảnh này.)
Dung dịch ứ đọng không được tiêu hóa đúng mức trong dạ dày, khi lên men, tạo thành một hỗn hợp độc hại cho cơ thể, thứ mà người gác cổng khôn ngoan – van môn vị – không muốn cho qua. Khi van môn vị (ngăn giữa dạ dày và ruột non) khóa chặt không cho thức ăn đi tiếp xuống, đôi khi dung dịch đó quay ngược trở lên. Thế là – ợ nóng!
Dạ dày là một cơ quan acid. Khi khỏe mạnh, nó thích môi trường cực kỳ acid, và dung dịch tiêu hóa của nó phải đủ độ acid!
Ngay cả khi dạ dày thiếu acid, độ acid của dung dịch tiêu hóa trong dạ dày vẫn là quá mạnh đối với thực quản mỗi khi bạn ợ nóng do thực quản không có lớp màng bảo vệ. Nhưng hãy nghĩ xem bạn đang làm gì mỗi khi bạn dùng thuốc ức chế hay trung hòa acid để chữa triệu chứng này. Ợ nóng gần như luôn luôn là hậu quả của việc không đủ acid trong dạ dày, chứ không phải là quá nhiều! Chữa triệu chứng trước mắt bằng việc thường xuyên dùng thuốc trung hòa acid dạ dày có thể dẫn tới thảm họa về lâu dài! Những thứ thuốc ấy không bao giờ được thiết kế để dùng trong thời gian dài, vậy mà nhiều người bây giờ dùng chúng hàng năm trời. Lượng acid hydrochloric đầy đủ là tối cần thiết cho sự tiêu hóa protein, ít nhất 14 loại chất khoáng, vitamin B12 và acid folic. Nó cũng là tối cần thiết cho hoạt động hiệu quả của phần còn lại của quá trình tiêu hóa.
Không đủ acid hydrochloric có thể là một vấn đề nghiêm trọng. Đầy hơi, chướng bụng và cảm giác nặng bụng sau bữa ăn đều là những triệu chứng kinh điển của việc không sản xuất đủ acid hydrochloric; ợ nóng cũng vậy. Móng tay yếu hay giòn và tóc rụng quá nhiều cũng là những triệu chứng thường gặp. Những triệu chứng này chỉ là phần nổi của tảng băng trôi to lớn hơn nhiều. Tình trạng này cũng mở rộng cửa dẫn tới nhiều vấn đề nhạy cảm thực phẩm.
Trong khi đó, xa hơn nữa về phía nam
Cùng lúc dung dịch tiêu hóa với lượng acid cao đổ vào tá tràng, độ pH thích hợp đó kích hoạt sự sản xuất của lớp màng để bảo vệ tá tràng khỏi acid. Hooc-môn secretin tiếp đó báo hiệu cho tuyến tụy sản sinh ra bicarbonate để trung hòa acid dạ dày và các enzyme tuyến tụy để tiếp tục tiêu hóa thức ăn.
Một hooc-môn khác, cholecystokinin, với nhiệm vụ báo hiệu sự có mặt của chất béo, kích thích túi mật đổ lượng mật nó chứa vào tá tràng thông qua ống mật. Lượng mật này phân tách chất béo trong tá tràng thành những hạt rất nhỏ để dễ hấp thụ. Hoạt động của túi mật cũng chịu ảnh hưởng bởi tín hiệu từ độ pH. Ngoài ra, nhạy cảm với gluten cũng ức chế sự sản xuất cholecystokinin và dòng mật từ túi mật. Tạp chí Gan học (Hepatology) viết, “Bệnh celiac có liên quan đến sự gia tăng dung tích túi mật lúc đói và sự suy giảm tốc độ dòng mật chảy ra sau khi ăn.” Dĩ nhiên là điều này dẫn đến mật bị ngưng đọng và có thể tạo ra sỏi mật. Bài viết đó tiếp tục, “Điều này có nhiều khả năng là do sự suy giảm của các hooc-môn sản xuất ra ở ruột trong quá trình tiêu hóa (ví dụ như cholecystokinin), sự tổn thương của lớp lông nhung và sự gia tăng của nồng độ somatostatin.” Thêm vào đó, trong một bài viết trên tạp chí Ruột (Gut), các tác giả viết, “Tốc độ chảy của mật từ túi mật được đo từng phút một bằng phương pháp ssniTc-HIDA. Ở những bệnh nhân bị bệnh celiac, tốc độ dòng mật bị giảm rất nhiều (34,6 ± 9,9 so với 615,7 ± 5% sau 60 phút)”.
Sự suy giảm lượng mật do bất cứ nguyên nhân gì (bao gồm cả việc không có túi mật) có thể cản trở nghiêm trọng quá trình tiêu hóa, dẫn đến việc không tiêu hóa được hoàn toàn chất béo, hấp thụ kém các chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo, và cuối cùng là sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng cực kỳ cần thiết đó trong cơ thể. Hãy tin tôi khi tôi nói rằng đây là một điều rất, rất tồi tệ.
Dòng mật có thể bị ngưng đọng do nhiều lý do, mặc dù danh sách những thủ phạm phổ biến nhất bao gồm thiếu hụt acid hydrochloric; nhạy cảm với gluten; ăn quá nhiều chất béo đã bị biến đổi trong thực phẩm chế biến sẵn; và một chế độ ăn quá ít chất béo. Bạn thấy đấy, thông thường mật rất loãng và có thành phần chủ yếu là cholesterol (vâng . . . chất cholesterol xâấu xa), nhiều loại muối khác nhau, phospholipid, một số chất khoáng, chất nhuộm màu và taurine. Chất béo không tốt (qua chế biến công nghiệp, bị ôxy hóa) hay mật ít được sử dụng, như là do ăn chế độ ăn ít mỡ, có thể khiến mật bị cô đặc và làm việc co bóp đưa mật khỏi túi mật khó khăn, gây đau đớn, và đôi khi gần như không thể. Cholesterol, chất nhuộm màu hay canxi trong mật bị cô đặc có thể kết tủa thành những viên sỏi nhỏ, hoặc không nhỏ lắm.
Xin trời tránh cho bạn khỏi hoàn cảnh khi một trong những viên sỏi ấy tìm cách chui ra khỏi túi mật trong lúc bạn đang ăn một bữa KFC chẳng hạn. Điều đó sẽ gây ra tắc ống dẫn mật và gửi bạn thẳng đến phòng cấp cứu ở bệnh viện, nơi các bác sĩ sẽ rất sẵn lòng cắt túi mật đi cho bạn một cách vĩnh viễn. Đôi khi các bác sĩ còn khuyến nghị cắt túi mật để “cho chắc ăn” (điên rồ nhưng có thật), ngay cả khi nó chưa bị làm sao cả.
Đừng bị mắc lừa và tin rằng bạn không cần đến túi mật, mặc dù họ có thể tìm cách làm bạn tin như vậy. Sống mà không có túi mật có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng suốt cả đời do việc tiêu hóa chất béo và các chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo bị ảnh hưởng. Tìm cách phục hồi sức khỏe của hệ thống mật bao giờ cũng là tốt hơn nếu có thể. Tuy nhiên, một khi bạn đang lăn lộn đau đớn vì một viên sỏi bịt kín ống dẫn mật thì đã quá muộn.
Trong trường hợp không có túi mật, uống mật bổ sung (thường được bán dưới dạng mật bò (ox bile) trong các cửa hàng thuốc) là tối cần thiết. Thêm vào đó, phải hết sức lưu ý để khỏi bị thiếu các acid béo tối cần thiết và các vitamin A, D, E, và K.
Độ pH không hợp lý trong dạ dày hay các vấn đề trong hệ thống mật ở phần trên của hệ thống tiêu hóa tạo điều kiện tốt cho hội chứng ruột kích thích (IBS), ung thư đường ruột, nấm và các ký sinh phát triển ngoài kiểm soát, táo bón và nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn nữa.
Có thể kết luận chắc chắn rằng đoạn kết sẽ không tốt đẹp gì.
Trời! Tôi phải làm gì?
Bạn có thể giúp đỡ cho hệ thống tiêu hóa của mình rất nhiều bằng việc làm theo những hướng dẫn đơn giản sau:
  • Dành thời gian cho bữa ăn, giữ tâm trạng thoải mái và tập trung.
  • Nhai, nhai, nhai!
  • Ăn protein chất lượng cao thay cho đậu tương, không nấu quá chín và không ăn nhiều quá cùng một lúc.
  • Tránh ăn protein cùng với tinh bột và đường, bao gồm cả trái cây. Rau nhiều chất xơ và ít tinh bột thì không sao.
  • Kiểm tra xem bạn có bị nhạy cảm với gluten không (Xem chương 3 để biết thêm thông tin về gluten).
  • Cho thêm các thực phẩm lên men chất lượng cao, bao gồm cả các loại dưa muối, vào bữa ăn. Những thực phẩm này có thể giúp phục hồi lượng vi khuẩn có ích và cung cấp nhiều enzyme giúp ích cho quá trình tiêu hóa. Chúng đặc biệt có ích khi bạn ăn nhiều thực phẩm nấu chín kỹ khác. Chúng cũng rất ngon nữa.
  • Đừng sợ mỡ tự nhiên hay bị lừa mà đi theo chế độ ăn ít mỡ. Nhớ là cơ thể chúng ta được thiết kế để ăn mỡ, và ăn nhiều mỡ. Đó chính là lý do tại sao chúng ta có túi mật. Chúng ta là những sinh vật của thời kỳ băng hà – nhớ không? Dùng nó hay là mất nó.
    Lưu ý quan trọng: Có một ngoại lệ là những người có vấn đề về túi mật (tắc ống dẫn mật, đau ở dưới sườn phải, đặc biệt khi chạm vào, hoặc buồn nôn vào bữa ăn). Những trường hợp này cần đặc biệt thận trọng và một chế độ ăn ít mỡ có thể là thích hợp cho đến khi vấn đề túi mật được giải quyết. Hãy đi khám bác sĩ. Nhớ là đừng tìm cách làm anh hùng.Lắng nghe cơ thể bạn.
  • Tránh đậu tương chưa được lên men như đậu hũ. Đậu tương chứa những chất ức chế enzyme mà, cùng với thời gian, có thể phá hỏng khả năng tiêu hóa và hấp thụ protein của bạn.
  • Ăn đủ muối chưa tinh chế (như muối Celtic hay Himalayan) vì một chế độ ăn ít tinh bột thường thải nhiều muối. Không đủ muối trong cơ thể có thể dẫn đến táo bón.
Một số người có thể cần uống acid hydrochloric bổ sung vào bữa ăn trong một thời gian, cho đến khi dạ dày phục hồi khả năng sản xuất acid của nó. Nếu bạn cảm thấy đầy bụng, khó tiêu sau bữa ăn, uống một viên acid hydrochloric. Nếu bạn không thấy cảm giác hơi ấm ấm trong bụng sau khi uống, uống hai viên vào bữa sau và cứ thế cho đến khi cảm thấy hơi ấm ấm. Sau đó giảm đi một viên. Đó sẽ là liều dùng hợp lý cho bạn. Lượng protein trong bữa ăn cũng quyết định lượng acid hydrochloric bạn cần. Nói một cách khác, đừng uống cả nắm acid hydrochloric nếu bạn chỉ có một hai con tôm cô đơn trên đĩa salad. Lượng acid hydrochloric bạn cần sẽ giảm theo thời gian, và dạ dày bạn sẽ báo cho bạn biết khi nào cần giảm.
Cùng với thời gian, dạ dày bạn sẽ phục hồi khả năng tự sản xuất đủ acid hydrochloric. Nếu nó không phục hồi, có thể có những vấn đề khác, như vi khuẩn H. pylori phát triển quá mức, tuyến giáp hoạt động kém, v.v... Nên đi khám một bác sĩ chuyên môn về lĩnh vực này.
Những trường hợp ngoại lệ không nên uống bổ sung acid hydrochloric bao gồm những người bị khối u hay viêm dạ dày, hay đang bị ợ nóng rất nghiêm trọng. Các mô bị sưng tấy ở dạ dày và thực quản cần được chữa lành trước khi những người này bắt đầu uống bổ sung acid hydrochloric. Việc này có thể được thực hiện với những thuốc bổ sung có chứa deglycyrrhizinated licorice (DGL), vitamin U (hoặc uống thật nhiều nước ép từ lá bắp cải tươi, nếu bạn không bị vấn đề gì về tuyến giáp), vitamin A và D, aloe vera hữu cơ và L-glutamine.
Các enzyme tuyến tụy bổ sung, uống khi đói, có thể trợ giúp tiêu hóa đối với những người không sản xuất đủ các enzyme này. Ăn ít hơn vào mỗi bữa, tránh thực phẩm chứa đậu tương và các hạt ngũ cốc và cây họ đậu khác cũng góp phần phục hồi hoạt động bình thường của tuyến tụy.
Đặc biệt một số cá nhân thiếu một enzyme tuyến tụy giúp tiêu hóa chất béo gọi là lipase. Uống bổ sung enzyme này khi đói nhiều lần trong ngày có thể giúp phục hồi khả năng tiêu hóa chất béo và khiến việc giảm sự lệ thuộc vào đường như một nguồn năng lượng chính dễ dàng hơn.
Những người có hệ thống mật bị ứ đọng hay có sỏi mật dạng cholesterol có thể uống vài thìa dấm táo mỗi bữa ăn. Chất acid malic trong dấm giúp làm mềm các viên sỏi mật và làm loãng mật. Các biện pháp trợ giúp mật khác bao gồm nước ép từ lá cải đỏ, taurine và phosphatidyl choline. Thuốc bổ sung chứa acid phosphoric có thể giúp hòa tan sỏi mật dạng canxi. Uống bổ sung mật có thể là cần thiết để tiêu hóa chất béo cho đến khi chức năng túi mật được phục hồi. Lưu ý: Luôn luôn tham khảo ý kiến bác sĩ (nhất là những người chuyên về các phương pháp điều trị tự nhiên) trước khi thực hiện bất cứ biện pháp chữa trị sỏi mật nào.
Nhớ là sự tiêu hóa tốt là nơi bắt đầu và cũng là kết quả của mọi hoạt động khác trong cơ thể. Chỉ cần cải thiện mỗi hệ thống tiêu hóa thôi cũng có thể dẫn đến những cải thiện kỳ diệu về sức khỏe và tinh thần của bạn!
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/8/2016

Mì ăn liền nhưng... chết từ từ

Mì ăn liền nhưng... chết từ từ

Mì gói ăn liền
Nguồn: VTC News
Mì ăn liền vốn là một món ăn phổ biến đối với những người có ít thời gian và hạn hẹp về kinh tế , trong đó đặc biệt là giới sinh viên. Có thể trong chúng ta đều cho rằng mì ăn liền không phải là một món ăn bổ dưỡng, nhưng chúng cũng chẳng phải là món gây hại cho sức khỏe như những thức ăn nhanh khác gồm Hamburger, khoai tây chiên…
Tuy nhiên, trong một thí nghiệm đặc biệt gần đây, tiến sỹ Braden Kuo, công tác tại Bệnh viện cộng đồng Massachsetts (Mỹ) sẽ cho chúng ta cái nhìn chân thật nhất về tác hại của mì ăn liền sau khi xâm nhập vào cơ thể.
Theo đó, để hỗ trợ cho cuộc thí nghiệm này, ông Kuo đã sử dụng một chiếc camera siêu nhỏ để dẫn chứng điều gì xảy ra bên trong dạ dày và đường tiêu hóa của chúng ta sau khi chúng ta tiêu thụ mì ăn liền. Những kết quả đã gây ngạc nhiên cho nhiều người.
Mì ăn liền không dễ phân hủy sau nhiều giờ vào cơ thể
Bằng cuộc thí nghiệm được thực hiện thông qua một máy quay nhỏ, tiến sỹ Kuo đã cho chúng ta thấy một sự thật rằng, những sợi mì ăn liền khi được đưa vào cơ thể con người sẽ không dễ dàng phân hủy sau 2 giờ chúng ta ăn.
Mì ăn liền không tiêu trong dạ dày
Hình ảnh mì ăn liền (trái) vẫn "nguyên hình" sau nhiều giờ nằm trong dạ dày
Do vậy, mì ăn liền được cho là một đối thủ “khó xơi” đối với hệ tiêu hóa của chúng ta, khiến chúng phải làm việc và hoạt động nhiều hơn để tiêu hóa. Điều này hoàn toàn khác khi chúng ta ăn các loại mì tự làm khác.
Mì ăn liền “ngậm chất độc”
Thông thường, khi thức ăn tồn đọng trong đường tiêu hóa suốt một thời gian dài thì cơ thể chúng ta tất nhiên sẽ hấp thụ được các chất dinh dưỡng tốt nhất từ thức ăn. Tuy nhiên, trong trường hợp chúng ta ăn mì ăn liền, cơ thể chúng ta sẽ bị “ép” phải hấp thụ một loạt các chất phụ gia có hại cho cơ thể, trong đó bao gồm phụ gia chống oxy hóa TBHQ.
Loại phụ gia này sẽ nằm trong dạ dày của chúng ta cùng với những sợi mì khó tiêu hóa trong thời gian dài, và không ai có thể đoán được tác hại của chúng đến sức khỏe ra sao.
Để dẫn chứng cho tác hại của TBHQ, tiến sỹ Kuo cho biết thêm: “TBHQ là sản phẩm phụ dùng trong ngành công nghiệp dầu khí, thường được xem như là một chất chống oxy hóa.
Điều đáng chú ý hơn, TBHQ là một loại hóa chất tổng hợp, không phải là một chất chống oxy hóa tự nhiên. Chúng có tác dụng ngăn cản quá trình oxy hóa của chất béo và dầu, qua đó kéo dài thời gian sử dụng của các loại thực phẩm chế biến sẵn”.
Hiện nay, TBHQ được dùng trong việc chế biến các loại thức ăn nhanh và đóng gói, và đặc biệt, chúng cũng được tìm thấy trong véc ni, sơn mài, các sản phẩm thuốc trừ sâu, mỹ phẩm và nước hoa.
Tại một cuộc họp gần đây, các chuyên gia thuộc tổ chức FAO và WHO đã xác nhận TBHQ an toàn cho người khi được tiêu thụ ở mức 0 – 0.5mg/kg. Nếu tiêu thụ vượt quá mức “an toàn”, ví như vượt mức 5 gram TBHQ là chúng ta có thể tử vong.
Những hậu quả mà TBHQ để lại cho cơ thể còn có các triệu chứng như: buồn nôn, ói mửa, ù tai, mê sảng, cảm thấy mệt mỏi, đột quỵ…
Ăn mì ăn liền dễ mắc hội chứng chuyển hóa
Theo một nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí Journal of Nutrition chỉ ra rằng những phụ nữ tiêu thụ nhiều mì ăn liền có nguy cơ cao mắc hội chứng chuyển hóa so với những người ăn ít hơn, bất kể họ có thực hiện chế độ ăn uống hoặc tập thể dục hợp lý đi chăng nữa.
Cụ thể hơn, phụ nữ ăn mì ăn liền hơn 2 lần 1 tuần thì có 68% mắc hội chứng chuyển hóa, thông qua các triệu chứng như: béo phì, huyết áp cao, áp lực máu cao, nồng độ Choleseterol HDL thấp.
Đáng nói hơn, người nào tiêu thụ mì ăn liền trên 3 lần mỗi tuần có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường và tim mạch.
Mì ăn liền chứa chất gây ung thư?
Bên cạnh Natri và chất phụ gia TBHQ, mì ăn liền còn chứa nhiều thành phần khác như: bột mì, dầu cọ, muối, bột ngọt, gia vị, đường.
Tuy nhiên, theo một báo cáo hồi năm 2012 của cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Hàn Quốc đã tìm thấy chất Benzopyrene (một chất gây ung thư) trong 6 loại nhãn hiệu mì ăn liền của công ty Nong Shim.
Vụ việc sau đó buộc công ty này phải thu hồi sản phẩm và tạo nên một làn sóng lo sợ về thực phẩm đối với người dân quốc gia này.
Một điều khiến chúng ta lo sợ nữa đó là bột ngọt trong mì ăn liền có khả năng kích thích tế bào thần kinh, khiến bộ óc chúng ta bị tổn thương, thậm chí gây tử vong. Nó cũng có thể gây ra các căn bệnh như Alzheimer, bệnh Parkinson, bệnh Lou Gehrig…
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/8/2016