Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Một bài thuốc hay cho cả tinh thần lẫn thể xác

Một bài thuốc hay cho cả tinh thần lẫn thể xác

                             (bài do bạn BaTran giới thiệu)

I – SỨC KHỎE :
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa :
Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàntoàn về thể chất và hoàn cảnh  chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật.
II– BÍ QUYẾT TRƯỜNG THỌ :
1.   Chấp nhận : với những gì mình đang có. 
2.   Thích nghi  : với hoàn cảnh của mình.
3.   Điều chỉnh  : để đạt được điều mong muốn.

III­– PHÒNG NGỪA BỆNH TẬT  :
1.   Không vui quá = hại tim.
2.   Không buồn quá = hại phổi.
3.   Không tức quá = hại gan.
4.   Không sợ quá = hại thần kinh.
5.   Không suy nghĩ quá = hại tỳ.

 
IV–XUA TAN HOÀI NIỆM CAY ĐẮNG BẰNG THA THỨ VÀ L ÃNG QUÊN


V- VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRÁNH TRANH LUẬN HƠN THUA
  

VI – THỨC ĂN UỐNG HÀNG NGÀY :
   Một củ hành       : chống ung thư. 
   Một quả cà chua  chống tăng huyết áp.:
   Một củ hành       :  chống ung thư. 
   Một quả cà chua   chống tăng huyết áp. 
   Một lát gừng        : chống viêm nhiễm.
   Một củ khoai tây    chống sơ vữa động mạch.
   Một quả chuối      : làm phấn chấn thần kinh,giảm bớt âu,chẳng táo bón,giảm                                                                                       béo.
   Một quả trứng hay ít thịt nạc : chống suy dinh dưỡng .. 
   Uống một đến hai lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể
.

VII –TRIẾT LÝ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA HIỆN ĐẠI :

 1.Một nhớ : sức khỏe là trọng tâm.  
 
 
2.Hai tí   :     một tí thoải mái -  một tí nhiệt tình.
 
 3.Ba quên  : quên tuổi tác – quên bệnh tật – quên hận thù .
 
 4.Bốn có     : có nhà ở - có bạn đời – có bạn tri âm – có lòng vị tha.
 
 5.Năm phải : phải vận động – phải biết cười – phải lịch sự hòa nhã – phải biết  nói chuyện và phải coi mình là người bình thường

Vĩnh Bảo sưu tầm 20/12/2013

Thể dục dưỡng sinh và dưỡng sinh khí công khác nhau như thế nào?

Thể dục dưỡng sinh và dưỡng sinh khí công khác nhau như thế nào?
Thể dục dưỡng sinh thường chú trọng đến sự vận động thông thường của thân thể (không nhẹ quá và cũng không mạnh quá) giúp cho khí huyết được luân lưu để “khí thông thì bất thống”.
Dưỡng sinh khí công chú trọng đến kỹ thuật vận khí bên trong hơn là chỉ vận động tay chân bên ngoài, hít thở phải đúng cách để đạt được kết quả tối đa trong thế tập.  Giúp khai thông các kinh mạch, gia tăng thêm sức mạnh của nội lực.
5.    Kỹ thuật hít thở của dưỡng sinh ra sao?
-          Các môn phái dưỡng sinh đều lấy sự vận công, luyện khí bên trong làm gốc, bên ngoài chỉ là hình thức để tạo nên sự khác biệt.
Nói chung đều phải hít thở sâu, chậm rãi và nhẹ nhàng, phối hợp với sự chuyển động lên xuống của hoành cách mô để kích thích các cơ quan trong nội tạng.  Xin xem bài viết của ông Michael G. Le Quang về kỹ thuật hít thở được áp dụng trong chương trình luyện tập của Dưỡng sinh Thức Pháp:
“Trước khi bắt đầu vào học phương pháp thở theo kỹ thuật dưỡng sinh người tập cần phải biết rõ mình bị huyết áp cao -- hay bị huyết áp thấp. Phương pháp bắt buộc phải xác minh trọng điểm ấy trước khi áp dụng kỹ thuật tập thở dưỡng sinh. Bài hướng dẫn sau đây đặt trọng tâm vào trường hợp người bị cao máu (hypertension/ blood pressure high) vì đại đa số người lớn tuổi hay bị cao máu hơn.
 1- Nguyên tắc căn bản là: nếu thở vào sâu thì “nội khí [ khí: Hơi thở] sẽ dồn lên đầu, tất nhiên làm áp huyết cao hơn lên, là điều phải tránh. Vì lý do ấy, nếu bị áp huyết cao, thì lúc thở vào (tiếng Anh = inhale; tiếng Pháp = aspirer) ta phải thở nhẹ nhàng, tự nhiên, không cố gắng và tuyệt đối tránh thở sâu. Lúc thở ra (tiếng Anh = exhale; tiếng Pháp = expirer) thì trái lại ta nên thở thật dài, càng lâu càng tốt -- hay nếu cần thở ra mạnh để làm nhẹ đi áp lực của “khí” trong người;
 2- Lúc thở ra, giai đoạn quan trọng nhứt, phải dùng “Ý dẫn Khí” (tức là tập trung ý nghĩ: Ý-Khí-Lực) và áp dụng phương pháp phản lực tự nhiên của hơi thở. Tại sao? Nếu ta quan sát kỹ thì sẽ nhận thức rằng khi thở ra (bằng mũi hoặc miệng) thì cũng cùng lúc có một luồng khí nạp vào thân, và khí này được hoán chuyển thành “chân khí” hay “nội khí” lưu chuyển trong thân. Nên nhớ hạ hoành cách mô  (tiếng Anh = diaphragm) xuống bụng, hơi phình ra khi ta thở ra. Khi ta hít vào thì bụng phải thóp lại, kéo hoành cách mô lên. . Nhờ di chuyển hoành cách mô như vậy --  khi hít vào cũng như  thở ra (giống như  một ống bơm hơi) – ta giúp các cơ quan trọng nội tạng được kích thích. Dụng ý là  phối hợp hơi thở với hoành cách mô để chuyển khí -- chuyển  “khí” từ ngực (chấn thuỷ hay trung đan điền) xuống  hạ đan điền (khí hải = lower part of the abdomen; pelvic region) và dần dần đi xuống hai bàn chân (huyệt “dũng tuyền” ). Vì vậy nếu tập mà hai bàn chân cảm thấy ấm áp, là động tác đã đạt đúng tiêu chuẩn. Nói tóm lại, khi hít trở lại (thở vào) là ta đã hoàn tất một vòng tròn thở ra thở vào, tức là đã đi hết một chu kỳ.”

Ý NGHĨA CÁC CHỬ TÂM  NHẨN PHÚC  LỘC THỌ
13:50:51 04/08/2012

Ý nghĩa của chữ Tâm

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có câu:

"Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

 
“Tâm” được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật giáo. Có thể khái quát thành 6 cấp độ về “Tâm” Phật giáo như sau:

1: “Tâm” là trái tim bằng xương, bằng thịt (Phật giáo không để ý tới nghĩa này);

2. “Tâm” là thức (vijnàna) và theo một nghĩa nào đó, nó chính là ý thức thông thường của con người;

3. Không chỉ là ý thức, “Tâm” còn là toàn bộ thế giới bên trong, cái chủ quan, tâm hồn, tình cảm, ý đồ, tinh thần, tâm lý. “Tâm” không chỉ là lý mà còn là tình. Cái “Tâm” này chính là “manas”;

4. Ở góc độ “Tâm” là thức thứ tám, thì nó bao gồm cả tiềm thức,

5. “Tâm” còn là sự tổng hợp của tất cả cái “Tâm” theo nghĩa thứ hai, thứ ba, thứ tư;

6. Trong Phật giáo, “Tâm” còn là bản thể vũ trụ, đó chính là tâm thể, chân tâm.

Khi vào Việt Nam, hầu hết nghĩa của chữ “Tâm” vẫn được giữ lại. Vốn có cảm tình và ưa chuộng trong đạo Phật, nên người Việt Nam rất đề cao chữ “Tâm”.

Không phải ngẫu nhiên trong cuộc sống, người ta luôn khuyên nhau, hay câu cửa miệng của mọi người khi thấy người khác lo lắng thì nói hãy “yên tâm”, “an tâm”.

Mọi người đều biết rằng, nếu nôn nóng, giận dữ thì đều làm cho cái “Tâm” không yên thì sẽ mất khôn. Cho nên, muốn an “Tâm” thì phải sống chính trực ngay thẳng, trong sáng. Đây chính là phép an tâm trong Phật giáo

Ý nghĩa của chữ Nhẫn

      Nhẫn là độ lượng, khoan dung, nhận đúng bản chất mà kiên tâm nhẫn nại... Nhẫn, chính là thể hiện bản lĩnh của con người.
   
     Khổng Tử xưa đã nói: Tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại mưu” (Việc nhỏ mà không nhẫn được, thì việc lớn ắt sẽ hỏng).

     Nhiều gia đình thường treo chữ nhẫn trong nhà, như tự răn mình để giữ được hòa khí trong gia đình,nhịn đi có một sự đổi  lại được những chín điều lành,gia đình ấm êm.

     Nếu bạn không biết giữ được cho mình một chữ nhẫn, lúc nào bạn cũng nóng nãy, đầu óc bạn căng ra như một chảo lửa, bạn có thể phản ứng ngay tức khắc các vấn đề vừa xảy ra một cách nóng vội, nông nổi, thiếu suy nghĩ...

     Gặp chuyện khó chịu, không may, tức khắc lửa giận nổi lên, nếu nhẹ thì chỉ bộc lộ ra sắc mặt, hành động nóng nảy, nhưng nặng và đáng sợ hơn nữa, đó là để chất chứa trong lòng.
    
                           Nhẫn được là vàng.  

Ý nghĩa của chữ Phúc

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

Từ đời nhà Minh (1368-1644), người ta thường khắc trên cánh cửa chính một chữ phúc lớn như để đón đợi hạnh phúc tới nhà, đúng như lời cầu mong của người Trung Quốc:, phúc tinh cao chiếu, nghĩa là sao phúc từng cao chiếu xuống hay câu: , đa phúc đa thọ, nghĩa là nhiều may nhiều tuổi thọ, thường dùng để chúc nhau. Ngoài hình con giơi tượng trưng cho chữ phúc, người ta còn dùng trái phật thủ hay tranh ảnh vị phúc thần và vị môn thầndán trên cửa hay khắc trên mặt cửa vào đình chùa dinh thự
                                                     
    Ngày Tết nguyên đán, người Trung Quốc có tục treo thuận hoặc treo ngược chữ Phúc ở trên cửa. Có hai truyện truyền kỳ giải thích truyện này.

   Truyện thứ nhất là một truyện từ đời nhà Minh (1368-1644) về chữ phúc viết thuận.
Một hôm Minh Thái Tổ, Chu Nguyên Chương, vi hành tới một thị trấn nhỏ. Nhà vua thấy một đám đông người cười rỡn bên một bức họa. Tới gần, nhà vua thấy đó là một bức vẽ một bà già có bàn chân lớn quá khổ, tay ôm một trái dưa hấu. Nhà vua nhận ra bà già này chính là hoàng hậu. Nổi giận, nhà vua sai quân hầu theo dõi từng ngưòi trong đám người hỗn sược này về tận nhà, và viết chữ phúc trên cửa, để ngày mai nhà vua sẻ phái quân tời bắt.
   Trở về hoàng cung, nhà vua kể lại truyện này cho hoàng hậu nghe. Hoàng hậu vốn sẵn từ tâm, bà khẩn sai quân hầu hỏa tốc tới thị trấn này viết chữ phúc trên cửa mọi nhà dân. Sáng mai quan quân tới sau, không còn cách nào nhận ra được những ai là kẻ bị nhà vua cho lệnh tới bắt. Từ đó, người ta tin rằng chữ phúc, viết có thể dùng làm bùa hộ mạng cho mọi người.

     Truyện thứ hai là truyền thoại từ đời nhà Thanh (1661-1911) về chữ phúc viết hay treo ngược. Chiều ba mươi tết, quan phủ lý của thái từ Cung Thân, cho lệnh treo chữ phúc trên những cửa chính ra vào đông cung. Có một tên lính hầu không biết chữ, treo ngược chữ Phúc. Thái từ nhìn thấy, nổi giận định trừng phạt tên lính hầu này.
     Quan phủ lý vốn là người giầu từ tâm, liền nghĩ ra cách gỡ tội cho tên lính hầu. Quan còn biết lòng thái tử khao khát may mắn để sớm lên ngôi báu. Ngài tâu thái tử: chữ phúc treo ngược là chữ phúc đảo, , theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ đáo , nghĩa là tới. Vậy chữ phúc treo ngược là điềm báo phúc đang tới. Thái tử hài lòng, không những không trừng phạt tên lính hầu mà còn trọng thưởng qua phủ lý và ban cho mỗi tên lính hầu năm lạng bạc. Quả là phúc đã tới với đám người này trong đêm trừ tịch đó.

Ý nghĩa của chữ Lộc

Lộc tức là Quan! Lộc, có thứ của Vua ban, có loại của Dân biếu. Vua ban để ghi nhận công lao của bầy tôi đã chí công vô tư, thay Vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu Quan, để bầy tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói: Lộc chính là sự ghi nhận công lao các Quan: công lao với Dân và công lao với Vua, với Nước. Có công lao thì có Lộc!

Ý nghĩa của chữ Thọ
  
Thọ có nghĩa là sống lâu trăm tuổi, ước mong có một cuộc sống hạnh phúc. Thọ còn có nghĩa là nhận lãnh. Tức là càng sống lâu thì càng nhận lãnh được nhiều.


Vĩnh Bảo sưu tâm 20/12/2013

Xoa bóp giúp kéo dài tuổi thọ

Xoa bóp giúp kéo dài tuổi thọ

Theo năm tháng, cơ thể của chúng ta lớn lên, trưởng thành rồi già nua. Dẫu biết đó là quy luật của tạo hóa nhưng chúng ta vẫn không khỏi lo lắng và mong muốn có một phép màu nào đó giúp ta trẻ mãi không già. Ngoài việc duy trì một nếp sống lành mạnh, tích cực và lạc quan, chúng ta hoàn toàn có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài tuổi thọ chỉ bằng các biện pháp đơn giản, trong đó xoa bóp bấm huyệt là thủ pháp rất hiệu quả.

Đứng thẳng, thư giãn, ưỡn ngực, thẳng lưng (điều thân); hít thở đều, giữ hơi tại đan điền (điều tức); tĩnh tâm, ý niệm nhất quán (điều tâm); hai bàn tay xoa vào nhau, làm từ 1 – 2 phút.
Hai bàn tay đặt vào hai bên má, day tròn từ trong ra ngoài theo thứ tự: day miết mũi lên trán, tách ra hai bên đến thái dương, đến tai, xuống gặp nhau tại má. Lặp lại 10 – 15 lần.
Nhắm mắt, dùng bụng các ngón cái, trỏ và giữa chà xát xung quanh vành mắt. Làm 5 – 10 lần. Sau đó dùng đầu ngón cái ấn huyệt tình minh, ngư yêu, tứ bạch, đồng tử liêu mỗi huyệt khoảng 5 – l0 lần.
xoa bop giup keo dai tuoi tho
Xoa quanh vòng mắt.
Mím môi, ngẩng đầu, dùng ngư tế và bụng các ngón trỏ, giữa chà xát từ dưới cằm ra hai bên lên má, đến chỗ lõm, chỗ lồi sau tai (vừa đẩy vừa day) 5 – 10 lần. Tiếp tục dùng hai bàn tay chà xát hai bên cổ, làm khoảng 5 lần.
Hai bàn tay khum, 10 đầu ngón tay chải và miết da đầu từ chân tóc đến đỉnh đầu rồi xuống sau gáy khoảng 10 lần. Sau đó day xoa da đầu, day miết chân tóc cũng theo thứ tự như trên, làm 5 – 10 lần. Tiếp tục gõ da đầu thông lợi chân tóc cũng theo thứ tự trên, làm 3 – 5 lần.
Khum hai bàn tay, lòng bàn tay ép chặt vào hai lỗ tai, rồi đột nhiên bung ra, làm 5 – 10 lần. Tiếp tục khum hai bàn tay, lòng bàn tay ép vào hai lỗ tai, 5 ngón tay giữ gáy, dùng ngón trỏ và ngón giữa gõ vào sau gáy khoảng 10 – 15 lần. Sau đó dùng ngón cái và ngón trỏ vê và kéo hai vành tai xuống khoảng 5 – 10 lần. Dùng đầu ngón cái hai tay day chỗ lõm trước tai và chỗ lồi sau tai, day ấn nhĩ môn, thính cung, thính hội, ế phong khoảng 1 phút.
Dùng ngón cái ấn day huyệt bách hội trong 1 – 2 phút.
Dùng hai ngón trỏ day ấn huyệt phong trì trong khoảng 2 phút. Sau đó dùng bụng ngón tay trỏ và giữa chà xát hai bên cổ 5 – 10 lần.
Hai bàn tay úp lên nhau, lòng bàn tay xoa tròn vùng bụng theo chiều kim đồng hồ trong khoảng 2 – 3 phút sau đó ấn vào bụng theo nhịp thở 5 – 10 lần.
Bàn tay duỗi thẳng, dùng mép tiểu ngư tế chà xát chéo hai bên bụng theo thứ tự: chương môn, thần khuyết, khí xung, quan nguyên, làm khoảng 5 lần. Chú ý: khi miết xuống thì mạnh và nhanh, khi lên thì chậm và nhẹ hơn.
Hai bàn tay nắm lại thành quyền, dùng gồ ngón trỏ day các huyệt ở hai bên sống lưng: tỳ du, thận du, đại trường du, bát liêu, làm khoảng 10 lần. Tiếp theo dùng hai bàn tay vỗ hoặc đấm vào hai bên sườn lưng, hông.
tu dieu tri xoa bop
Xát hai bên lưng hông.

Ngồi trên ghế, hai bàn tay xoa day khớp gối khoảng 2 phút. Sau đó xoa miết và vỗ vào hai bên trong ngoài chi dưới từ trên xuống, làm khoảng 3 – 5 lần. Bàn chân bên này gác lên đùi bên kia, dùng nắm đấm hoặc mép ngư tế chà xát lòng bàn chân trong 3 – 5 phút.
Dùng ngón cái day huyệt hợp cốc, túc tam lý, dũng tuyền mỗi huyệt 1 phút.
Chú ý: Tốt nhất nên tiến hành xoa bóp sau khi tắm, huyết dịch toàn thân sung mãn nhất thì xoa bóp sẽ hiệu quả. Nếu xoa bóp phần mặt nên dùng kem dưỡng da. Mỗi ngày làm 1 – 2 lần.
Lương y Thái Hòe – Theo: SKĐS
=================================================================
Vị trí huyệt
  • Tình minh: Cách đầu trong góc mắt 0,1 tấc.
  • Ngư yêu: Chỗ lõm trung tâm lông mày.
  • Tứ bạch: Mắt nhìn thẳng, từ con ngươi xuống 1 tấc, chỗ lõm của vành mắt.
  • Ðồng tử liêu: Khóe mắt ngoài đo ra 0,5 tấc.
  • Nhĩ môn: Ở ngay phía trước rãnh trên bình tai, đầu trên chân bình tai, nơi cơ tai trước.
  • Thính cung: Khi há miệng, huyệt ở chỗ lõm phía trước bình tai, sau lồi cầu xương hàm dưới.
  • Thính hội: Phía trước rãnh bình tai, ở chỗ lõm khi há miệng, bờ sau tuyến mang tai, dưới huyệt thính cung
  • Ế phong: Phía sau dái tai, chỗ lõm giữa góc hàm dưới và gai xương chũm.
  • Phong trì: Ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ.
  • Bách hội: điểm lõm ngay trên đỉnh đầu, là điểm giao của đường nối hai đỉnh vành tai với đường dọc cơ thể.
  • Chương môn: Ở đầu xương sườn tự do thứ 11.
  • Thần khuyết: huyệt ở ngay lỗ rốn.
  • Khí xung: dưới rốn 5 tấc, trên đường giữa bụng.
  • Quan nguyên: dưới rốn 3 tấc, trên đường giữa bụng.
  • Tỳ du: Dưới gai sống lưng 11, đo ngang ra 1,5 tấc.
  • Thận du: Dưới gai sống thắt lưng 2, đo ngang ra 1,5 tấc.
  • Ðại trường du: Dưới gai sống thắt lưng 4, đo ngang ra 1,5 tấc.
  • Bát liêu: Trong lỗ xương cùng 1-2-3-4 (gồm tập hợp của 4 đôi huyệt: thượng liêu, thứ liêu, trung liêu, hạ liêu).
  • Hợp cốc: Khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ ngón cái.
  • Túc tam lý: Dưới lõm ngoài xương bánh chè (độc tỵ) 3 thốn.
  • Dũng tuyền: Chỗ lõm dưới lòng bàn chân, huyệt ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn đầu ngón chân thứ 2 và giữa bờ sau gót chân.

  • Vĩnh Bảo sưu tầm 20/12/2013

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Tập tục dâng hương

Tập tục dâng hương


 Mỗi lần, trước khi hành lễ ở các chùa, vị chủ lễ thường chắp tay cầm ba nén nhang dâng lên trên trán và đọc thầm bài kệ niệm hương: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương, phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo, Thệ trọn đời giữ đạo, theo tự tánh làm lành, cùng pháp giới chúng sanh, cầu Phật từ gia hộ, tâm bồ đề kiên cố, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác. Và chúng ta cũng thường nghe những vần thơ như : lặng lẽ chiên đàn tỏa khói hương, đỉnh trầm xông ngát ý thiền môn, lung linh nến ngọc ngời sao điểm, xóa sạch trần gian hết tủi hờn...những vần thơ này đã giới thiệu về những nét đẹp văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh và cho chúng ta thấy nghi thức dâng hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn.

Tại các tư gia quý Phật tử, việc thắp hương cúng Phật, dâng hương lên bàn thờ ông bà, tổ tiên trong các ngày lễ, ngày giỗ chạp cũng không thể thiếu được.  Những người không theo đạo Phật, họ vẫn thắp nhang để tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, trong các lễ tiết như tết nguyên đán, trong những ngày sóc vọng ...

Những điều này đã cho chúng ta thấy dâng hương là một trong những tập tục truyền thống lâu đời trong văn hóa sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt nam. Cho dù dòng đời có những thay đổi, cuộc sống có những biến thiên nhưng tập tục dâng hương không bao giờ mất đi, trái lại nó càng mở rộng ở Đình làng Miếu vũ cho đến việc thực thi lễ dâng hương tại các nghĩa trang liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn, ghi nhớ công lao của những anh hùng, chiến sinh, anh linh đã hy sinh vì nước vì dân. Tập tục dâng hương là một trong những nét văn hóa đẹp trong nếp sống sinh hoạt tâm linh cho nên  chúng ta cần phải đặc biệt  quan tâm đến.

Thưa quý vị khi trình bày đề tài này, tôi biết trong quý vị sẽ có người bảo rằng: Thắp nhang, đốt hương là một việc làm rất bình thường có gì là quan trọng phải để tâm suy nghĩ, luận bàn? Xin thưa rằng: Dâng hương không chỉ có nghĩa là đốt hương, thắp nhang mà nó còn mang cả một văn hóa và đạo lý, cao hơn nữa nó còn mang ý nghĩa của một quan niệm triết lý vũ trụ và nhân sinh. Nó không phải là một động tác thắp nhang, đốt hương mà nó đã trở thành một tập tục dâng hương có nghi thức, có luật tắc rõ ràng.

Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Minh Tâm - Thanh Nghị :Hương là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng, khi nguyện v.v... (Lò trong ngát dạ, đỉnh ngoài bay hương (Nhị độ Mai). Theo Từ điển Phật học Huệ Quang: Hương liệu được tinh luyện từ dầu của những loại cỏ hoặc gỗ thơm, gồm các loại như  Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long não hương. Năm thứ hương này Mật giáo thường sử dụng trong lúc lập đàn. Nếu phân biệt theo cách sử dụng và chế tạo thì có các loại như Đồ hương (hương xoa trên thân), Thiêu hương (hương đốt để xông), Huân hương (hương ướp), Mạc hương (hương bột dùng để rắt nơi đạo tràng và chùa miếu), Hương Thủy (nước hương).

Hương Hỏa: hương và đèn dùng chỉ việc thờ cúng tổ tiên. Lo việc hương hỏa (từ điển tiếng Việt).

Có nhiều người thắc mắc Tại sao thắp hương lại dùng những con số lẻ nén nhang 1,3,5,7, 9 v.v...? Thường thì 3 nén nhang và 2 bàn tay luôn luôn chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo luật cơ -ngẫu  của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẳng thuộc Âm. Dương tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch thanh tịnh, cho sự sinh trưởng phát triển, cho các cõi trên như Tiên, Thánh, Phật....

Con số 3 liên quan đến biểu tượng “ Lưỡng long triều nguyệt” nghĩa là đôi rồng chầu vào một mặt nguyệt ta thường được trang trí trên các bát nhang, lư hương lớn nhỏ ở các nơi thờ tự. Theo dịch lý đôi rồng là tượng trưng của dương, ứng với hai hào dương trong các quẻ kinh Dịch. Còn mặt nguyệt là tượng trưng của âm, ứng với hào âm trong các quẻ. Ở đây hào âm (mặt nguyệt) ở giữa, còn đôi rồng chầu hai phía. Lưỡng Long triều nguyệt cũng chính là biểu tượng của quẻ Ly.

Không những vậy, con số 3 còn  liên quan cả một quan niệm triết học về vũ trụ của người phương Đông: Thiên, Nhân, Địa (Trời, Nguời, Đất) gọi là tam tài. Người xưa rất chú trọng về ý nghĩa Tam Tài, cho nên làm bất cứ việc gì họ đều xét nét tỉ mỉ về Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa nếu thấy đầy đủ ba yếu tố Tam tài thì mới hành sự  và tin tưởng điều ấy sẽ thành công.

Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời Tuyên Ngôn: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư đã từng “mượn” y linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dả sử  còn ghi lại những hiện “âm phù”, “báo mộng” của các Thần linh đối với vua chúa đem quân đi chống giặc. Tín ngưỡng niềm tin ấy một khi được giải tỏa nó đã từng có những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác dụng làm lay động cả một cộng đồng.

Tuy vậy, nhưng hiện nay có người không hiểu và cho rằng dâng hương là một trong những hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì hiện nay Hương chỉ làm bằng mạc cưa, bằng cây v.v… rồi tin tưởng đặt trong lư hương và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà của và hao tốn tiền bạc. Lời này mới nghe qua có lý, nhưng tìm hiểu cặn kẻ nguồn gốc  và ý nghĩa của việc dâng hương thì ta thấy lời nhận định trên đây hoàn toàn sai lầm.

Chúng ta thử tìm hiểu từ đâu mà có tập tục dâng hương?

Theo Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục” Đốt hương xuất phát từ Tây Vức. Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộm với mỡ đốt cho thơm. Đến đời vua Vũ đế nhà Hán, Sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức) Vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng, Vua Vũ Đế đem tượng về đặc trong cung Cam Toàn để dâng hương Tế lễ . Kể từ đó Tàu mới có tục đốt hương.

Theo Pháp sư Tịnh Không: Đốt hương? Hương đại biểu cho hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi. Rõ ràng nhất, Nơi Vạn lý trường thành chúng ta thấy cách một đoạn có một phong hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút. Phong hỏa đài giống như cái lò hương. Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói không giống như khói khác, gió không thể thổi tan và duy trì lâu. Ở xa trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách truyền tin gấp của người xưa. Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin kiểu này.

Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ  những thế kỷ trước công nguyên, Văn hóa Phật giáo  hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra một Văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù. Tập tục dâng hương theo quan điểm của Phật giáo, Hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu hiện chính tâm hướng tới điều thiện. 

Khi đốt hương cúng Phật chúng ta thường đọc những câu mật ngữ như: Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên.  Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh.  Lưỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu. Chi diệp biến mãn thập phương. Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ. Tức giới tức định tức huệ. Phi mộc phi hỏa phi yên. Thâu lai tại nhứt vi trần. Tán khứ phổ châu sa giới. Ngã kim nhiệt hướng lư trung, đoan thân cúng dường. Thập phương thương trú tam bảo, sát hải vạn linh, tất trượng chơn hương, đồng quy chơn tế.
(Mông Sơn Khoa Nghi) 

Chúng ta lắng lòng khi đọc những câu như vậy với những phút giây thanh tịnh, sẽ thẩm thấu được sâu sắc ý nghĩa dâng hương: Hương ở đây chẳng phải là những vật liệu là bằng mạt cưa, chẳng phải là lửa là khói và Hương cũng chẳng phải là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng. Mà Hương ở đây chính là ngũ phần hương. Giới hương là Định hương, Huệ hương, giải thoát và giải thoát Tri Kiến hương, dâng lên cúng dường mười phương chư Phật,chư Hiền Thánh, thể hiện  lòng  thành kính của chúng ta. 

Tích xưa, có một đồng tử sau khi nghe lời đức Phật dạy thực hành các phương thức quán các pháp hữu vi. Đồng tử bèn lẳng lặng tu tập. Một hôm nhân thấy quý thầy Tỳ kheo đốt hương trầm thủy mùi hương ngào ngạt, khói tỏa lan vào mũi. Đồng tử quán mùi thơm: Không màu, không sắc, không trong không ngoài, không đến không đi, không phải không, không phải có.....nhơn đó tỏ ngộ lý chơn thường đắc quả A La Hán, Phật liền ấn chứng cho đồng tử với danh hiệu Hương Nghiêm. Để ca ngợi hạnh quả của Hương Nghiêm, Tổ Từ Vân có làm bài nguyện Tán hương sau đây:

Tâm nhiên ngũ phận, phổ biến thập phương
Hương yên Đồng tử ngộ chơn thường
Tỉ quán thiệt nan lường
Thoại ái tường quang
Kham hiến Pháp trung Vương
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát.

Nghĩa: 
Hương lòng năm món biến khắp mười Phương
Hương Đồng Tử (nhơn khói) tỏ lý chơn thường
Diệu lực của mũi thật không lường
Sáng tốt đẹp lành quý như ngọc Khuê – Bích
Xin dâng cúng dường đại Pháp Vương.
Cúng kính dâng mây hương khắp (lợi lạc) Giác Hữu Tình.

Trong Kinh Pháp cú đức Phật dạy: “Không một hương hoa nào, bay ngược chiều gió thổi, chỉ hương người đức hạnh bay ngược gió bốn phương”. 

Giới Hương: muốn trở thành người đức hạnh trước hết chúng ta phải giữ giới, Chúng ta phải sống một đời sống trong sạch. Chúng ta phải làm việc để nuôi sống bản thân bằng một nghề nghiệp chân chánh, chúng ta phải siêng năng tinh tấn làm lành lành dữ và không bao giờ lừa dối gạt gẫm thiên hạ bằng những lời vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Làm được như thế, hương thơm đức hạnh và đạo đức  của chúng ta sẽ tỏa sáng và lan rộng. 

Định Hương: Nhờ giữ giới mà tâm chúng ta được an định nghĩa là trong lúc tu tập để đạt được thanh tịnh hoặc để giải quyết một vấn đề gì đó trong sự nghiệp ở đời cũng như hạnh nguyện giải thoát trong đạo, chúng ta phải gom thân khẩu ý chúng ta vào một định hướng của chánh tư duy và chánh kiến. Hay nói một cách dễ hiểu hơn chúng ta phải sáng suốt, tỉnh táo để giải quyết mọi vấn đề. Làm được như vậy chúng ta sẽ thành công và đạt được  năng suất và hiệu xuất của việc làm, đó là ý nghĩa của định hương.

Huệ Hương: Là ánh sáng mầu nhiệm của tâm linh, khi có định kiên cố thì tâm trí sẽ bừng sáng. Hằng ngày định tâm tu tập một pháp môn, quán chiếu suy xét mọi việc, hiện tượng trên nền tảng chánh pháp như nhân duyên sanh, vô thường, vô ngã, hoan hỉ, xả ly. Bền bỉ lâu ngày ta sẽ đạt được tâm thái an nhiên giải thoát. Ứng dụng hữu hiệu chánh pháp làm cho nhận thức ta sáng tỏ như chánh pháp, không bị tham sân si tập khí phiền nãoquấy nhiễu. Đây chính là ý nghĩa của Huệ hương.

Giải Thoát hương: giải thoát là một thuật ngữ của Phật giáo được dịch từ Phạn ngữ là mộc đề, mộc xoa nghĩa là rời bỏ mọi sự trói buộc mà được tự tại, cởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới. Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm do viện ngôn ngữ Việt Nam ấn hành định nghĩa từ giải thoát như sau: 1) làm cho thoát khỏi sự giam hãm, ràng buộc hay bế tắc, giải thoát được những ý nghĩ nặng nề. 2) thoát khỏi mọi điều đau khổ trên cuộc đời. Muốn được giải thoát ta phải vâng lời Phật dạy tu tập theo tam vô lậu học. Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Bởi vì Giới Định Huệ là 3 môn học chi phối toàn bộ giáo pháp giải thoát của Đức Phật và luôn luôn đòi hỏi ở năng lực hành trì thâm hậu của tất cả Phật tử chúng ta. Làm được điều đó tâm hồn chúng ta sẽ phơi phới hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và đem lai sự an lạc giải thoát đến với mọi người. Đây là ý nghĩa Giải Thoát hương.

Giải Thoát Tri Kiến Hương: Tri kiến là sự nhận định, nhận thức của con người. Ở đời có những sự kiện xảy ra thường không đúng sự thật vì chủ quan con người ấn định. Cùng một sự kiện, nhưng quan niệm của mỗi người nhận định mỗi khác, đó là do chủ quan của con người. Do sự thương ghét của chúng ta tác động vào sự tin tưởng của chúng ta cho nên khi bị cảm giác kích động con người sanh ra chủ quan, mà chủ quan theo danh từ Phật học gọi là tri kiến hay kiến trược. Khi đã bị chủ quan thì không bao giờ có nhận xét đúng. Bởi vậy, người ta phải tránh chủ quan, bởi vì chủ quan là nguồn gốc lôi kéo chúng ta đi vào những nhận xét sai lệch. Nên tránh được chủ quan cũng chính là giải thoát tri kiến thì ta sẽ trở thành một người đức hạnh gọi là giải thoát tri kiến hương. Ngược lại ta không giải thoát được tri kiến thì chúng ta sẽ gặp nhiều hối hận sau khi đã thất bại, Nội dung những vần thơ sau đây sẽ minh chứng cho sự thật hiển nhiên đó:

Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chi mượn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng.

Vua Lê Thánh Tôn ngẫu hứng sáng tác bài thơ này khá súc tích với  những ý tưởng thành thật trong một dịp đi ngang qua bờ sông Hoàng Giang thuộc huyện Nam Xương (tỉnh Hà Nam) trông thấy một ngôi Miếu tỏa khói hương nghi ngút ở đầu gành hỏi ra mới biết nơi đây đã xảy ra một câu chuyện hết sức thương tâm:
Người chồng họ Trương đi lính thú lâu ngày. Ở nhà mỗi khi con hỏi “cha đâu” thì vợ lại chỉ bóng mình trên tường và bảo đứa trẻ rằng đó là cha nó. Khi người chồng trở về, đứa bé không nhận ra cha và nói rằng cha nó tối mới đến...Nghi vợ ở nhà ngoại tình, người chồng sỉ nhục vợ và đánh đập, hành hạ vợ một cách tàn nhẫn. Quá uất ức, người vợ nhảy xuống sông để kết liễu cuộc đời. Ít lâu sau, vào một buổi tối, đứa bé bỗng chỉ vào bóng trên tường và bảo rằng cha nó đó. Bấy giờ người chồng mới hiểu ra và lập đàn chay bạt độ giải oan cho vợ.

Câu chuyện trên đã cho chúng ta thấy rõ rằng: Vợ chàng Trương bi oan ức, chính vì sự nhận xét chủ quan của chàng Trương. Nếu chàng Trương bình tĩnh trưng cầu ý kiến của nhiều người tất nhiên sẽ không chủ quan và khám phá ra sự thật, không còn gây oan uổng cho cái chết của vợ mình.

Tóm lại, tập tục dâng hương là một đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xưa, đây là những gia bảo tinh thần đáng quý của tổ tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia bảo này được hấp thụ những tinh hoa của tư tưởng văn hóa Đông phương. Để xác định một lần nữa,  dâng hương không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là một truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, chúng ta không thể quên được nguồn gốc văn hóa Đông phương. Đó chính là một trong những  biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị tâm linh ấy trong cuộc sống xã hội của họ.

Riêng đối với Phật giáo: Việc dâng hương cúng dường chư Phật mang nhiều ý nghĩa, từ sự hiển lý, không những làm tăng vẻ uy nghiêm, phá tiêu chướng khí nơi đạo tràng, mà còn làm cho tỏ ngộ chơn thường, đạt thể tánh tịnh minh. Người Phật tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa giá trị của việc dâng hương theo quan niệm Phật giáo, hãy cố gắng giữ gìn truyền thống và thực hiện cho kỳ được việc dâng hương cho trang nghiêm và chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân và giáo đục con em của mình trở thành những con người tài đức vẹn toàn để cống  hiến và xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc.

Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy gẫm và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này.


Hương (tế lễ)


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nhang được đem phơi ở đồng bằng sông Cửu Long.

Nhang vòng.
Hương, còn được gọi là nhang được chế tạo từ các chất của thực vật có mùi thơm, thông thường được bổ sung thêm tinh dầu triết ra từ thực vật hay có nguồn gốc động vật, dùng để tỏa ra khói có mùi thơm khi cháy. Nhang được sử dụng trong các mục đích tôn giáo, chữa bệnh theo kinh nghiệm hay đơn thuần mang tính thẩm mĩ.
Hương ở dạng bột hay hạt nhỏ được bỏ vào than nóng hay trong bình hương, lư hương. Hương cũng được làm ở dạng thuận tiện hơn cho việc đốt như que, vòng hình nón hay dạng cái nêm. Với những dạng này, người ta đốt hương để cho nó bắt lửa sau đó dập tắt ngọn lửa để nó cháy chậm hơn và tỏa ra khói có mùi thơm.
Hương đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Châu Á, thường được sử dụng trong ngày rằm, ngày lễ, tết. Loại hương được nhiều người Việt cũng như Á Đông ưa thích nhất và giá trị của nó cũng cao nhất đó là hương trầm. Trong hương trầm có một thành phần tham gia trích ly từ cây trầm hương.
Một số chất tạo mùi thơm bao gồm:

Một số quan điểm[sửa]

một số chuyên gia cho biết, giống như khói thuốc lá, khói than, khói hương có chứa các hoạt chất độc hại như Benzen,Toluene, xylenes… có thể dẫn đến ung thư hoặc tử vong.[1]
Ngoài ra khi đốt qua nhiều hương, có thể gây ngạt thở cho những người mẫn cảm hay làm tăng nguy cơ hỏa hoạn.
  1. ^ Khói hương độc không kém khói thuốc
  2. Tục đốt hương (đốt nhang) có từ đời nào ?


    Tra sách Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn (trang 184), ta đọc một đoạn biên khảo rất kỹ về nguồn gốc của sự đốt hương. Ðại khái thì ta biết rằng thuở xa xưa, người Tàu lấy lửa đốt củi thui các con vật gọi là vật hy sinh, rồi sau thì bắt chước phong tục đốt hương từ Tây phương tức là Ấn Ðộ. Việt Nam là một nơi mà tục đốt hương có rất sớm với sự du nhập của Phật giáo. Lê Quý Ðôn viết:
    Sách Vân Lộc Mạn sao chém: "Sách Lễ Ký nói: "Khi tế trời phải đốt củi ở trên giao đàn (gọi là thái đàn). Sách Chu Lễ nói: "Ðốt củi thui trâu" nghĩa là để cầu thần. Ðời sau không đốt củi, lại đốt hương. Hương là do phương Tây sản xuất. Nhà Phật khi hành lễ cũng đốt hương cho được thanh tịnh, nên khi làm phép thì đốt hương niệm chú. Các đạo sĩ cũng đốt hương tẩy uế. Nho giáo thì trái lại.

    Nay tế thánh Khổng tử và tế thần xã tắc thì rước thần xong, trước khi dâng lụa, phải dâng hương ba lần. Lễ gia không làm thế, hoặc chỉ nơi đô ấp mới làm mà thôi.
    Sách Minh Chí chép: Vua Thái Tổ xuống lệnh hàng tháng cứ mồng một và ngày rằm, từ quan tế tửu trở xuống đều phải làm lễ thích thái, từ các quan quận huyện trở xuống phải đến nhà học làm lễ dâng hương.
    Nay xét, danh nho đời Minh là Tống Liêm có nói: "Ngày xưa cầu thần, khi đã dâng lễ vật rồi là đốt cỏ tiêu cùng mỡ chiên và cơm (chiên hương), nhưng nay thì thắp hương cho giản tiện.
    Khâu Tuấn nói: "Tế lễ để tỏ lòng thành kính, chứ không cối ở lễ vật. Lễ phải tùy nghi, sao đúng nghĩa là được; đừng câu nệ lấy lễ vật ngày nay để cúng thần đời trước".
    Kinh Thi có câu: "Thủ tiêu tế chi" (lấy cỏ tiêu và mỡ dê tế). Sách Lễ Ký nói: "Rót rượu xuống đất để giáng thần thì dùng rượu nghệ cho thơm" chớ không đốt hương. Lưu Hướng làm bài minh nói cái hỏa lò Bắc Sơn chỉ để đốt hương, chớ không dùng để tế".
    Ðời Hán Vũ Ðế, vua nước Hồn Da (Hung Nô) đầu hàng, bắt được pho tượng bằng vàng ở cung Cam Tuyền, khi tế không dùng trâu bò, chỉ đốt hương lễ bái. Tục đốt hương bắt đầu từ đấy.
    Sau đây là bằng chứng đất Việt (Giao Châu) đã du nhập trực tiếp đốt hương từ Ấn Ðộ, chứ không phải qua ngõ Trung Hoa và ở Trung Hoa thì chỉ có vua và các quan mới có quyền làm việc tế lễ, còn ở đất Giao Châu thì "nhà tư" người dân đã bắt đầu cúng tế từ lâu:
    "Trương Tân làm thứ sử Giao Châu, đốt hương và đọc những sách tà ma Vu Sát thì làm tịnh xá (nhà tư) để đốt hương. Ðó đều là các nhà tư dùng hương đốt, chớ không phải của cả nước dùng hương thờ thần".(Trích Bút khảo về Xuân, Lê Văn Lân)

    Cây nhang trong tâm thức người Việt


    Tục đốt nhang (hay còn gọi là thắp hương, dâng hương) đã có ở nước ta từ lâu đời. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Dù là ngày Tết, ngày giỗ chạp hay ngày thường, người ta đều đốt nhang.

    Đặc biệt trong những ngày Tết, nhang càng được đốt nhiều hơn. Vì ngày Tết có nhiều việc cúng kiếng: nào cúng đất trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này.

    Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng.
    Theo các nguồn tài liệu, cây nhang có nguồn gốc từ bán đảo Ả-Rập, được các lái buôn người Hy Lạp chuyên chở sang bán tại các nước châu Á, khoảng từ thế kỷ thứ 11. Cây nhang này có mùi thơm dịu, được chiết xuất từ một giống cây mọc ở miền Nam bán đảo Ả-Rập.
    Còn theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, cây nhang có nguồn gốc từ Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách.
    Khi xưa, tục Tàu tế tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời Vũ đế nhà Hán, vua sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây vực, thuộc Ấn Độ). Vua nước ấy đầu hàng, dâng một tượng thần bằng vàng cho vua Vũ đế đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến trâu, bò mà chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Từ đó, Tàu mới có tục đốt hương.
    Sách xưa còn chép rằng: Thứ sử Giao Châu - Trương Tân thường đốt hương ở Cát Lập tịnh xá để đọc đạo thư. Tục đốt nhang ở ta có lẽ bắt đầu từ đó. Rồi cùng với quá trình phát triển của đạo Phật, tập tục đốt nhang du nhập vào nước ta ngày càng phổ biến.
    Nhang có nhiều loại, nhiều kiểu: nhang thường, nhang ướp hương, nhang tròn, nhang khoanh… tất cả đều có chung một công dụng: đốt lên cho ấm cửa ấm nhà, đốt lên bàn thờ tổ tiên ông bà, bàn thờ Phật vào hai buổi sáng - chiều như gửi một lời chào đến các vị bề trên, nhằm báo cho các vị biết lúc nào chúng tôi cũng nhớ đến các vị.Theo Tiểu Khang (TNO)
    Theo Tiểu Khang (TNO)

    Ý nghĩa của việc thắp hương (nhang)

    Xem kết quả: / 44 
    Bình thườngTuyệt vời 

    1. Khói hương trong tâm linh người Việt
    Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Á châu bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến. Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng. Dù không mê tín dị đoan, trong tâm thức mọi người Á Châu đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau. Tuy nhiên về mặt tâm linh, có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa dâng hương theo truyền thống của ông bà. Thậm chí ngày nay có người còn không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng, hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên. Phải chăng có một “ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?
    2. Định Nghĩa
    Dâng hương là gì?
    Dâng có nghĩa là đưa lên một cách cung kính, tiếng Anh gọi là “offering”. Và từ hương có nghĩa là mùi thơm, thông thường là một vật dùng đốt lên để cúng các đấng thiêng liêng, cũng được gọi là nhang và trầm, tiếng Anh là “incense”. Từ incense bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin, và động từ incendere - có nghĩa là thắp cháy lên[1].
    3. Sự đặc biệt của nén hương đối với quê hương Việt Nam
    Chuyện thắp hương trên bàn thờ tổ tiên là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp giỗ chạp, lễ Tết. Ngày cuối năm đi mua sắm các thứ chuẩn bị cho Tết, không ai không mua vài nén hương về thắp cho ông bà, tổ tiên mình. Nén hương được thắp lên thì mọi người cảm thấy ấm lòng. Nén hương lúc này không còn là thứ hàng bình thường, mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt. Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam[2]
    Mùi hương là mùi thơm quen thuộc trong nhà hằng triệu triệu người Á châu - là mùi thơm đặc biệt của ngày đầu năm đi chùa lễ Phật. Chúng ta luôn bắt gặp những hình ảnh rất quen thuộc: những cụ ông, cụ bà, nam thanh, nữ tú, tay cầm hương khấn vái cầu mong một năm mới an khang, thịnh vượng, phúc lộc thọ khang ninh... Đây hoàn toàn không phải là hành động mê tín dị đoan, mà là một nét đẹp văn hóa được tồn tại từ rất lâu
    4. Lược sử về hình thức đốt nhang
    Theo lịch sử ghi lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC[3] (cách đây khoảng 5700 năm), từ nước Ấn Độ [4]. Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một vị Tăng[5] đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng. Có thể nói hình thức đốt hương phổ biến nhất ở Nhật Bổn, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương; sản phẩm quen thuộc nhất là nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỷ 17 [6], ngày nay vẫn còn dùng. Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai. Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẻ hoặc hình chạm trên tường mô tả nghi thức này.
    Ngày nay việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía Quán Thế Âm, ngày Tết hái lộc đầu năm, Phật đản, và những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám tang, đám cưới, ăn tân gia… dùng để cúng những vị như Phật Bà Quán Âm, Đức Mẹ Mary, Ông Bà, Tam Tiên Ông: Phúc Lộc Thọ, Thổ Địa, Táo Quân, Thần Tài…
    5. Lợi ích và tác dụng của nén hương
    Từ ngàn xưa, khi mới khám phá ra lửa, con người đã bắt đầu phát hiện ra một điều lạ lùng, đó là khi ngọn lửa cháy lên sẽ tỏa ra mùi thơm đặc biệt tùy theo vật liệu dùng để đốt[7]. Người ta đã biết dùng hương đèn để trị bệnh cho thân thể và cả bệnh tâm lý. Khi đốt hương đèn, khói hương nghi ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm hoặc tạo không khí trong sạch trong những căn phòng lạnh lẻo của người qua đời hoặc lâm trọng bệnh.
    Thông thường, người ta thắp nhang là để khẩn thiết cúi đầu mong tấm lòng thành kính của mình sẽ quyện theo làn khói thơm hướng về cõi thiêng liêng hoặc xông lên tận ngai vàng của Đức Chúa Trời hoặc một đấng nào khác. Do vậy trong kinh Phật mới có bài kệ:
    Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương.
    Phảng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam Bảo […]
    6. Khi thắp nhang nên thắp mấy nén?
    Người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số. Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng, số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn.
    Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau: đó có thể là
    Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng),
    Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),
    Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai),
    Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)
    Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp nhang để nhớ đến sự vô thường. Vô thường là từ Hán-Việt, tức là không vĩnh viễn - tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt chắy, ngắn ngủi vô thường như thời gian của nén hương.. tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trôi qua, uổng phí tháng ngày.
    7. Ý Nghĩa Dâng Hương trong nhà Phật và các tôn giáo khác
    Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, Hoa , Đăng , Trà , Quả , Thực (Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn). Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa. Không lẽ Phật sẽ lên trên bàn thờ mà ăn từng trái táo, uống từng chung trà sao?
    Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiếc tiệc thịt cá, heo quay linh đình… vì đúng ý nghĩa sự Cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ.[8] Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người. Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương- tức là hương từ trong tâm. Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.
    Không chỉ Phật giáo, mà cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cửu của người đã mất[9]... Trước thời Chúa Giê-su (Jesus), những hương liệu như loại trầm frankincense có giá trị hơn cả vàng bạc châu báu[10]. Đó là vì cổ nhân tin rằng những loài cỏ cây thơm là do chư Thiên ban cho từ trên cao và đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời.
    Có tài liệu ghi rằng, khi Chúa Giê-su giáng sinh, có ba vị vua đem ba thứ châu báu quý nhất trong nước thời đó để dâng lên cho ngài - đó là 1. Vàng, 2. Hương Trầm và 3. Dầu thơm đặc biệt từ rễ cây Myrrh. Điều này chứng tỏ hương trầm từ xa xưa vốn đã được xem như một vật quý giá thiêng liêng. Khói hương hòa vào không khí khiến cho không gian vạn vật xung quanh đều được thơm ngát, ví như tâm hành “Tùy thuận chúng sinh” của các bậc Bồ tát Đại nhân vậy.
    Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) thì lại dùng hương để thư giản và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, dạo Phù Thủy (Wiccanism) dùng hương để trở về với sức sống thiên nhiên để cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite. Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu - chỉ bay lên chứ không bao giờ lặn xuống.
    Hương không có màu sắc nhưng luôn thơm ngát, như câu “Tự tại trong hành xứ, như chim giữa hư không, tìm dấu chân không thấy”[11]. Như mùi hương vô sắc phảng phất thơm lừng, bậc tĩnh lặng sống tự tại giữa đời, đem lại an lạc và lợi ích cho đời nhưng không lưu lại một dấu tích danh sắc nào trên bia ký. Rời khỏi cuộc đời, có chăng chỉ là một khoảng không gian ngát hương: mùi hương của loại hương bay ngược chiều gió!
    Ở nhiều vùng thuộc Nam Bộ, người ta còn thắp hương cho từng gốc cây, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh của nó, cũng như là để thần thánh, hoặc vong/ hương linh hút vàp sức lực để hiển linh.
    Một điều chúng ta phải cần ghi nhớ là mỗi lần dâng hương trước bàn thờ: không những dâng hương bằng tấm lòng thành kính của mình, mà còn phải có chánh niệm, tiếng Anh gọi concentration (sự tập trung). Nên cắm từng nén hương với hai tay và cắm cho ngay thẳng, tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng, mặc cho bão táp phong ba không hền dời đổi, giữ nguyên phong cách của ngừời quân tử tấm lòng trong sạch để lưu lại tiếng thơm với đời tỏa khắp nơi.
    Hương trầm, sợi dây nối với thế giới tâm linh
    Cứ vào tháng cuối năm, khi mọi người bàn tán về việc sắm tết, làm tôi nhớ lại lúc bé khi còn ở quê được mẹ cho đi chợ huyện sắm hàng tết là thích lắm. Thế nào tôi cũng đòi được mẹ mua cho đủ thứ, nào pháo dây, con tò he, và một vài thứ khác nữa....
    Những lần ấy, trước khi đi chợ bà tôi thường dặn mẹ:”Mẹ cái gái đi chợ nhớ mua bó hương trầm nhé”. Bà tôi vẫn thường nói;” Ngày tết thiếu thứ gì cũng được nhưng nhất thiết phải có bánh chưng và nén hương thơm để cúng tổ tiên , ông bà”. Bây giờ bà tôi không còn nữa, tôi cũng đã thoát ly ra Hà Nội. Nhưng mỗi dịp về thăm quê, nhất là vào dịp giỗ, tết bao giờ ngoài bánh mứt tôi cũng nhớ mua vài bó hương trầm về và thành kính dâng lên ban thờ và thắp những nén hương thơm ngát. Tôi có cảm giác nén hương trầm toả ra mùi thơm ngào ngạt như sợi dây máu thịt nối liền giữa người đang sống với vong linh những người đã khuất. Đúng như câu ca dao:
    “Vẫn còn đây những lời ru
    Vờn bay phảng phất cho dù tháng năm
    Tổ tiên một nén nhang trầm
    Nối dòng máu đỏ âm thầm thiết tha”.
    Cũng như một số vật dụng khác, tưởng chừng rất nhỏ bé, nhưng không thể thiếu được trong đời sống của chúng ta. Hương trầm cũng là một thứ nằm trong số đó, nhất là trong đời sống tâm linh của người dân Việt nam dù đang sống tại quê hương hay ở nơi xa sứ trên đất khách quê người.

    Hương thơm đặc trưng của khói trầm
    Hương là thứ mà nhà nào cũng thường dùng, trong những ngày giỗ ,tết hay lễ hội ngày một, ngày rằm hàng tháng, nó không thể thiếu được. Nhưng tôi tin rằng, sẽ rất ít người trong chúng ta quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc nén hương đó có từ đâu, bao giờ và làm như thế nào, bằng gì ? Vậy chúng ta cùng nhau làm cuộc tìm hiểu nhỏ về nén hương nhỏ bé ấy.
    Tìm đến hiệu hương Đồng tiến của cụ Đức Ngọc ở số 10 phố Hàng khoai, Hà nội - Một trong số rất ít những nhà làm hương gia truyền nổi tiếng còn lại ở Hà nội ngày nay. Cụ Đức Ngọc nay tuy đã quá tuổi “cổ lai hy” nhưng cụ vẫn rất khoẻ mạnh và tinh nhanh, cụ cho chúng tôi biết. Cụ là hậu duệ thứ 7 trong gia đình truyền thống làm hương gốc ở làng Cao thôn, xã Bảo khê, huyện Kim động, tỉnh Hưng yên mà ngày xưa thường gọi là làng Đông lỗ. Qua cụ Đức Ngọc và một số tư liệu tôi được biết, nghề làm hương ở nước ta có từ rất lâu rồi khoảng 2000 năm, từ thời Hai Bà Trưng nhưng thời đó chỉ có loại hương đen. Hương đen được làm từ một loại nhựa, gọi là nhựa trám mua ở vùng miền núi phía bắc như Phú Thọ, Thái Nguyên....Nhựa trám được trộn với bột than sau khi tán mịn tạo thành thứ bột dẻo quánh, mầu đen. Mỗi khi se hương người ta véo một ít khoảng ngón tay cái rồi vê vào tăm tre và lăn cho tròn. Loại hương đen này khi thắp lên có mùi hơi hắc, ngai ngái. Nó xuất sứ ở xã Xà Kiều, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây .
    Còn loại hương trầm nén, hương vòng như ngày nay thường dùng có nguồn gốc tại quê của cụ là làng Cao thôn, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên .Cụ Đức Ngọc cho biết: Ở làng cụ ngày xưa có cụ bà tên là Đào Thị Khương, lúc sinh thời cụ lấy chồng người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến, Trung quốc, rồi về ở quê chồng bên Phúc kiến. Tại quê chồng cụ theo nghề nhà chồng làm hương. Sau khi chồng mất, buồn thương chồng và nhớ nhà, cụ trở về Việt Nam thăm quê hương, nơi chôn rau cắt rốn. Lúc này tại quê nhà thấy bà con họ hàng nghèo túng vì lúc đó không có nghề phụ gì ngoài nghề nông, khi nông nhàn thì ngồi chơi chẳng có việc làm. Thấy vậy cụ dậy cho bà con họ hàng ở quê nghề làm hương trầm. Từ đó nghề hương trầm xuất hiện ở Việt Nam. Và cũng từ đó cuộc sống của người dân trong làng cũng dần một khấm khá lên, làng xóm đông vui sầm uất hơn. Để tưởng nhớ công ơn của cụ, cụ tổ nghề hương trầm người khai sinh ra nghề hương trầm ở Việt Nam, hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 8 âm lịch, mọi người lại trở về quê làm lễ giỗ tổ nghề.

    Người dân đi lễ chùa với những bó hương thơm

    Để làm ra được nén hương trầm trông đơn giản là vậy nhưng quả là cũng lắm gian truân và nhiều công phu. Hoá ra, cái mùi hương dìu dịu, man mát mang đến cho lòng người cảm giác linh thiêng và thành kính ấy được làm ra từ rất nhiều vị, chủ yếu là thuốc bắc. Công việc ấy tưởng chừng rất đơn giản, thậm chí nhiều người còn cho rằng chỉ cần một ít mùn cưa và trầm là làm được. Để làm được những công đoạn này không phải là dễ. Gần 60 nguyên phụ liệu cho một nén hương chủ yếu là những vị thuốc bắc như: Tùng, trắc, quy đầu, bạch chỉ, hắc hương, hoa hồi, quế chi, cam thảo và hàng chục vị khác nữa. Tất cả được đem xay nhỏ thành bột riêng từng loại rồi pha trộn chúng từng thứ theo công thức nhất định. Dù biết rằng đó là bí quyết gia truyền, nhưng tôi hỏi vui cụ tỉ lệ pha trộn các vị thế nào? Cụ chỉ cười, một nụ cười rất hiền lành, đôn hậu. Cụ Đức Ngọc cho biết nghề làm hương là nghề “tích phúc” cho con cho cháu, bởi vậy với tâm niệm lớn nhất của cụ là giữ gìn nghề truyền thống của gia đình, và cụ đã truyền nghề cho con gái là chị Tú chủ hiệu hương Đồng Tiến, số 10 Hàng khoai và con dâu mình là chị Nguyễn Kim Thuý chủ hiệu hương Tiến Thành, ở 146 Trần Nhật Duật - Hà Nội.
    Chị Kim Thuý - chủ cơ sở hương Tiến Thành đã không phụ lòng mong ước của mẹ chồng mình. Từ nhiều năm nay, cơ sở hương Tiến thành của chị cũng như cơ sở hương Đồng Tiến của chị Tú đã nổi tiếng trong Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác với những sản phẩm từ hương nén, hương vòng và trầm viên.
    Theo chị Thuý ,công việc làm ra một sản phẩm hương trầm khá tỉ mỉ và phức tạp. Nếu ai không có lòng kiên nhẫn, không yêu nghề thì không làm được. Để có được nén hương thơm, nguyên liệu phải chọn loại thật tốt sau đó các vị thuốc được đem xay nhỏ mịn, khi cân đong phải thật chính xác, đúng tỉ lệ. Dẫn tôi đi thăm xưởng sản xuất, chị nói :”ngay cả khi trộn bột, nước cũng phải đong chính xác ”Sau khi bột hương được trộn nhuyễn, mà phải trộn trong chậu sành, dưới bàn tay khéo léo, thoăn thoắt của người thợ nén hương được hình thành. Công đoạn cuối cùng là lăn que hương vào một thứ bột, trong nghề gọi là bột xoa
    Lúc này những nén hương không bị dính vào nhau nữa và được đem đi phơi. Hương được phơi khắp sân, sắc vàng rực rỡ. Hương được bó chân lại với nhau từng bó lớn, thân xoè ra phơi nắng, mầu vàng sáng trông tựa như những bông cúc đại đoá thật đẹp mắt. Còn hương vòng thì công đoạn sản xuất phức tạp hơn nhiều. Tôi hỏi chị sao không đưa máy móc vào sản xuất, chị cho biết hương làm bằng máy bị ép chặt cháy rất lâu, tụng hết bài kinh mà hương vẫn chưa cháy hết là không được vả lại độ thơm cũng bị giảm đi và khói nhiều. Hương làm bằng máy chỉ dùng cho hương muỗi, nhà chị không sản xuất.
    Cùng với sự phát triển của nghề làm hương, gia đình chị Thuý đã tạo điều kiện kiếm sống bằng chính sức lao động của mình cho rất nhiều lao động trẻ ở nông thôn trong lúc nông nhàn, hay cho những trẻ em bị khuyết tật. Phần nào giúp cho cuộc sống của họ đỡ khó khăn hơn.
    Nhưng giữa thời buổi kinh tế thị trường, hàng ngoại tràn ngập nhiều loại hương nước hoa hoá chất hay hàng giả bầy bán la liệt, người người thắp hương ,nhà nhà thắp hương. Để giữ được chữ tín, giữ được nghề gia truyền và tôn thêm vẻ đẹp bản sắc văn hoá dân tộc, cụ Đức Ngọc nói “người làm nghề hương phải yêu nghề và quan trọng nhất là phải có cái TÂM.”.Khách có thể dễ dàng mua hương ở bất kì đâu, nhưng khi đã thắp nén hương trầm của thương hiệu Đồng Tiến hay Tiến Thành sẽ không bao giờ quên được mùi hương thơm ngát, dịu nhẹ và họ biết rằng mình đang thắp lên bằng tấm lòng thành kính, trong sạch, không vương víu bụi trần.
    Cụ còn cho biết hương nhà cụ sản xuất hoàn toàn bằng những vị thuốc bắc, như vậy mùi thơm mới tự nhiên, trong sạch và thoát tục. Còn những loại hương làm bằng hoá chất, mùi nước hoa vừa không tốt cho môi trường và vừa thơm mùi thơm trần tục.
    Nén hương biểu tượng cho tấm lòng thành kính của những người đang sống với thế hệ đã khuất. Tượng trưng cho sự biết ơn của thế hệ trẻ với thế hệ cha anh đi trước. Nén hương là sợi dây liên lạc với thế giới tâm linh, nén hương được thắp lên với lòng thành kính tổ tiên .Hương thơm ngan ngát, nhè nhẹ lan toả, khói hương cuộn bay lên mờ ảo. Nhưng đằng sau đó là bao nỗi nhọc nhằn, vất vả, là sự yêu nghề và là cái TÂM của những người làm nghề hương tiêu biểu như gia đình cụ Đức Ngọc - chị Kim Thuý chủ hiệu hương Đồng Tiến và hiệu hương Tiến Thành.
    Nguồn: kenhsinhvien




Vĩnh BẢO SƯU TẦM 18/12/2013
-