Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

MẸO NHẬN BIẾT HOA QUẢ CHÍN CÂY HAY CHÍN THUỐC

MẸO NHẬN BIẾT HOA QUẢ

CHÍN CÂY HAY CHÍN THUỐC

Mách các bạn các mẹo hay để phân biệt chuối, cam, xoài, táo….chín tự nhiên và chín ép.
1/- Chôm chôm : Chôm chôm khi bị phun thuốc sẽ chín sớm nhưng nhanh héo. Thông thường, quá trình héo của của chôm chôm diễn ra rất nhanh, chỉ vài tiếng sau khi cắt khỏi cây.Cách nhận biết chôm chôm bị phun thuốc là những quả có cành lá tươi roi rói nhưng râu trên quả lại héo queo, nhàu nhĩ. Chôm chôm chín cây sẽ cho quả có râu khỏe và tươi xanh, để 2-3 ngày sau vẫn chưa héo.
5 Meo trai cay 12/- Măng ct : Măng cụt chín cây có cuống rất tươi và chín từng mảng, từ đầu cuống xuống đít quả. Đối với măng cụt chín do thuốc sẽ có cuống thâm đen, khi ăn sẽ có vị rất chua.
3/- Su riêng : Với những quả sầu riêng bị ép chín bằng thuốc hay chín tự nhiên, người dùng có thể nhận biết bằng cách nhìn ngay cuống và gai của quả khi chọn mua.
Nếu cuống quả héo cũ, gai bầm dập, màu sạm cũ thì là quả bị cắt cây khi còn non và đã bị ngâm thuốc hoặc tiêm thuốc kích chín. Còn sầu riêng chín cây có cuống và gai tươi mới, xách lên ngửi sẽ cảm nhận hương thơm lừng tự nhiên.
4/- Bòn bon : Với quả bòn bon, nếu bòn bon chín tự nhiên thì dưới đít quả sẽ có dấu châm kim li ti, cuống quả còn tươi. Khi bóc ăn thử, bòn bon sẽ có vị ngọt thanh, thịt quả màu trong, hạt đen và nhỏ, đặc biệt không còn mủ.
Ngược lại, bòn bon chín do dùng thuốc kích thích sẽ có màu vàng đất bóng rất đẹp, không hề có dấu châm kim trên quả, còn cuống bị thâm đen, khi ăn có vị chua, thịt quả đục, hạt to có màu hồng và dính mủ vào tay rất nhiều.
5/- Thanh long : Thanh long chín tự nhiên có vỏ mỏng, thân màu đỏ thẫm trong khi các gai trên quả có màu tươi đẹp. 5 Meo trai cay 2Còn thanh long chín do thuốc kích thích có màu đỏ nhạt, gai trên quả héo, vỏ dày, ăn vị rất nhạt.
6/- Cam, quýt : Cam quýt chín tự nhiên có cuống rất tươi, quả no tròn, các nốt tinh dầu trên vỏ nở to, chín từng mảng từ trên cuống xuống. Cam chín do dùng thuốc sẽ cho màu chín vàng nhạt đều cả quả, cuống héo, các nốt tạo tinh dầu rất bé.
7/- Xoài : Xoài chín cây sẽ có cuống tươi, da căng, chín từng mảng kéo dài từ cuống đến đuôi và từ phần bụng đến phần lưng quả. Những quả chín nhiều hơn sẽ có màu vàng đậm và bóp thấy thịt quả mềm. Xoài chín do dùng thuốc kích thích thường chín không đều,5 Meo trai cay 3 có xen kẽ sọc xanh, dễ bị sượng.
8/- Đu đủ : Đu đủ chín cây thường quả dài, cầm nặng tay, chín đều, mềm, cuống còn nhựa dính. Những quả này vừa ngọt lại vừa thơm, ít hạt, thịt dày và mềm, có thể dễ dàng xúc bằng thìa. Với đu đủ chín do thuốc, chúng sẽ có màu vàng óng, vỏ trơn, khi ấn tay vào không có độ lún. Khi gọt vỏ vẫn còn nhiều nhựa, khi ăn ruột không mềm, sượng mà vị ngọt rất nhẹ.
9/- Chui : Chuối chín cây có da căng tròn, nhìn bên ngoài thấy màu vàng đậm, bóp nhẹ cảm nhận được độ mềm của ruột quả. Trong khi chuối chín do thuốc có vỏ bên ngoài màu vàng rất đẹp mã, bắt mắt nhưng bóp vào quả chuối thấy cứng sượng.
10/- Mít : Mít là một trong những loại quả bị “ép chín” bằng thuốc nhiều nhất trên thị trường hiện nay, vì vậy cách nhận biết nó cũng khá dễ dàng.
Nếu quả mít chưa già, có gai bên ngoài nhọn, dày đặc và có màu xanh tươi mà múi bên trong đã chín thì ắt hẳn là đã được “kích chín” bằng thuốc. Ngoài ra khu vực gần cuống quả mít (chỗ thường để tiêm thuốc kích chín) sẽ bị nhũn thối, trong khi phần đít quả lại vừa chín tới. Mít chín tự nhiên sẽ có những đặc điểm như gai 5 Meo trai cay 4nở to, màu xanh vàng, xam xám và chín đều từ cuống cho đến đít quả.
11/- Hng xiêm : Hồng xiêm chín nghiền nát là loại quả mẹ có thể cho bé ăn khi bé được 6 tháng tuổi. Hồng xiêm chín chứa nhiều chất như protit, gluxit, xenlulosa, phôtpho,và vitamin C tốt cho bé. Để quả hồng xiêm bắt mắt hơn, người bán thường ngâm quả qua một loại dung dịch được cho là bột sắt hòa với nước. Những trái hồng xiêm có màu vàng thẫm đã được ngâm chất bột sắt còn hồng xiêm vẫn thấy vân xanh qua lớp vỏ mỏng là chưa ngâm.
12/- Cherry : Cho con ăn cherry hiện đang là mốt ở các thành phố lớn vì nhiều người tin rằng quả cherry không chỉ ngon mắt, ngon miệng mà còn rất giàu dinh dưỡng và chất oxy hóa cho bé. Giá cherry ở Việt Nam không rẻ, vậy nhưng ngay cả khi mua đắt, nhiều mẹ vẫn có nguy cơ mua phải cherry ngâm thuốc.
Cherry Úc có màu đỏ đậm hơn một chút, ăn giòn và ngọt, còn cherry Trung Quốc ăn có vẻ nhũn hơn, vị nhạt hơn, lợ hơn.5 Meo trai cay 5 Ngoài ra khi mua cherry về mẹ thử để vào túi nilon và túm lại trong chốc lát, rồi mở ra ngửi. Nếu có hóa chất tồn dư thì sẽ có mùi hơi hắc.
13/- Quả dừa : Khoảng 6-7 tháng tuổi, bé có thể làm quen với nước dừa nhưng với lượng nhỏ và tần suất hợp lý. Nước dừa dồi dào axit lauric – loại axit béo được tìm thấy trong sữa mẹ, rất tốt cho hệ tiêu hóa của bé, tăng cường hệ miễn dịch và bảo vệ bé khỏi bệnh truyền nhiễm.
Ngày nay, dừa thường được “phù phép” biến thành dừa xiêm “xịn” để tăng lợi nhuận cho người bán. Đường hóa học, hóa chất tạo mùi thơm được tiêm qua lỗ mầm trên đầu quả dừa, biến loại nước dừa non có vị chua trở nên ngọt lịm hoặc để dừa trắng, chỉ cần ngâm dừa vào nước pha thêm chút Javen.
Để tránh nhiễm chất độc hại, nếu thấy dừa có mùi thơm khác lạ hoặc vị ngọt gắt, mẹ nên cẩn trọng không cho con uống bởi thông thường nước dừa ngọt dịu, thanh mát. Bằng mắt thường, mẹ cũng có thể nhận biết lỗ mầm trên đầu dừa có bị hở hay không. Tốt nhất, mẹ nên mua dừa tươi vẫn còn nguyên vỏ xanh. (theo phunutoday)
Quế Phượng chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/7/2015

CÀNG CAO TUỔI CÀNG CẦN ĂN NGON!

CÀNG CAO TUỔI

CÀNG CẦN ĂN NGON!

– Bác sĩ Lương Lễ Hoàng
Chúng ta sống đến tuổi nầy là may mắn lắm rồi ! nên ăn những gì chúng ta thích, đừng hà tiện nữa! để dành tiền cho con cháu biết bao nhiêu cho đủ ??? Hơn nữa, chúng nó có bằng cấp, có công việc tốt, chúng nó hẵn nhiên là giàu có hơn mình ! thì tại sao mình lại hà tiện, chắc chiu để dành cho chúng ? biết bao nhiêu cho đủ ?? (còn ăn thì cứ ăn cho thỏa thích. Một mai răng rụng hết chỉ còn nhìn mà hít hà thôi !!!)
Tuy không hẳn vì bất hiếu nhưng do định kiến là người cao tuổi không cần ăn nhiều nên không thiếu người già bị rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng một cách oan uổng! Thêm vào đó là nhiều người lớn tuổi phải kiêng cữ, thường khi thái quá do con cháu ép buộc, vì bệnh tiểu đường, cao huyết áp, tăng mỡ trong máu…
Vấn đề chưa dừng lại ở điểm cơ thể người cao niên vì thế mà thiếu dưỡng chất. Nguy hơn nhiều là do đó mà sức đề kháng bị xói mòn khiến bệnh bội nhiễm cũng như 5 Nguoi gia 1bệnh do thoái hóa cơ khớp trở thành mối đe dọa thường xuyên cho cơ thể vốn vừa nhạy cảm, vừa dễ thiếu nước khi tuổi đời chồng chất. Nếu xét về mặt dược lý, bữa ăn của người cao tuổi thậm chí quan trọng không kém viên thuốc đặc hiệu.
Quan điểm theo đó người cao tuổi phải e dè với từng miếng ăn, là một sai lầm nghiêm trọng. Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy hình thức ăn uống dồi dào rau cải tươi, nhiều cá biển, và nhất là ngon miệng, là chế độ dinh dưỡng lý tưởng cho người già.
Bằng chứng là người cao tuổi ở Địa Trung Hải ít bị nhồi máu cơ tim nhờ khẩu phần đa dạng với thực phẩm “xanh” chiếm tối thiểu 60% tổng lượng. Bằng chứng là người Nhật có tuổi thọ cao nhất thế giới nhờ thực đơn hầu như không bao giờ thiếu cá biển và đậu nành. Ngược lại, người cao tuổi trong các nhà dưỡng lão ở Hoa Kỳ, nơi chế độ ăn uống kiêng cữ được đặt lên hàng đầu, lại có tỷ lệ tai biến mạch máu não và tử vong 5 Nguoi gia 2vì nhồi máu cơ tim vượt xa các nước khác!
Từ nhận thức đó, thay vì tiếp tục đề cao hình thức kiêng khem, đa số chuyên gia dinh dưỡng ở khắp nơi đã đồng lòng tán dương chế độ dinh dưỡng mang nhiều nét “đổi mới” cho người già dựa trên các nguyên tắc như sau:
– Người cao tuổi nên ăn tất cả những món ưa thích và ngon miệng, miễn là với lượng không gây trở ngại cho chức năng tiêu hóa.
– Khẩu phần hàng ngày càng đa dạng càng tốt, càng ít thực phẩm công nghệ càng hay.
– Chắc chắn uống đủ nước trong ngày bằng cách chú trọng các món cung cấp nước như rau trái, món canh…, thay vì uống nước vì nhiều người già thường chỉ uống khi khát.
– Đừng nấu cho người cao tuổi các món ăn tuy bổ dưỡng về thành phần nhưng với khẩu vị nuốt không vô !!!. Đừng quên cảm giác ngon miệng là đòn bẩy cho sức kháng bệnh.
5 Nguoi gia 3
– Không nhất thiết phải cữ muối tuyệt đối nếu không có y lệnh của thầy thuốc trong giai đoạn bệnh tim mạch cấp tính.
– Không nên thiếu món ngọt nếu thực khách chưa bị bệnh tiểu đường.
– Luôn luôn có rau quả tươi trong khẩu phần.
Tr ong gia 7– Nên có nhiều bữa ăn nhỏ thay vì ngày ba bữa đúng giờ.
– Một ly rượu vang cho mỗi bữa ăn là điều nên làm.
– Chỉ tránh các món ăn gây dị ứng, món chiên xào nếu đã có bệnh trên đường tiêu hóa như viêm đại trường mãn, viêm ruột dị ứng, trĩ…
– Có bữa cơm gia đình cùng con cháu thay vì ăn riêng trong buồn tẻ như người bệnh nặng.
– Vận động nhẹ trước và sau bữa ăn.
Con cháu nếu biết thương ông bà đừng quên là các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ vừa chứng minh hẳn hòi là : người cao tuổi nếu có da có thịt một chút, nghĩa là dư cân, ít bị bệnh và sống thọ hơn bạn đồng niên mình hạc xương mai.
Lượng mỡ dưới da, tất nhiên không nhiều, chính là kho dự trữ dưỡng chất để đáp ứng cho nhu cầu phục hồi của cơ thể người cao tuổi mỗi lần ngã bệnh.
Không cho người già ăn no bụng và ngon miệng là một điều đáng trách cả về lý lẫn về tình (theo Bác sĩ Lương Lễ Hoàng)
Mỹ Nhàn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/7/2015

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

NHỮNG CĂN BỆNH DÙNG ĐU ĐỦ TRỊ LÀ KHỎI



3 Du du 1NHỮNG  CĂN BỆNH

DÙNG ĐU ĐỦ TRỊ LÀ KHỎI

Theo Đông y, đu đủ có tên mộc qua, tính hàn, vị ngọt mùi hơi hắc. Tác dụng thanh nhiệt, bổ tỳ, làm mát gan, nhuận tràng, giải độc, tiêu thũng. Quả đu đủ xanh được sử dụng để nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay, chữa các vết tàn hương ở mặt, tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema…
Mô tả cây : Đu đủ là cây ăn quả khá phổ biến ở mọi miền nước ta, nó còn có tên gọi khác là phan qua thụ, lô hong phlê (Campuchia), mắc hung (Lào), cà lào, phiên mộc. Tên khoa học là Carica papaya L, họ đu đủ Papayaceae. Có sách còn gọi đu đủ là xoài tây vì mùi vị giữa hai loại giống nhau.
Thành phần trong quả đu đủ chín chứa khoảng 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều carotenoit acid hữu cơ, vitamin: A, B, C, 0,9% chất béo, xenluloz (0,5%), canxi, photpho, magiê, sắt, thiamin, riboflavin.
Một kết quả nghiên cứu khác cho thấy, trong 100g đu đủ có 74 – 80mg vitamin C (vitamin chủ yếu trong đu đủ), 3 Du du 2caroten (tiền vitamine A) 500 – 1.250UI. Ngoài ra, còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men, các khoáng chất như: kali (179mg), canxi, magiê, sắt và kẽm.
Còn đu đủ xanh, ngoài các chất có trên còn có chứa 4% chất nhựa latex màu trắng đục là hỗn hợp của nhiều proteaza (loại men tiêu hóa chất đạm), trong đó chất chủ yếu là papain. Một cây đu đủ trong một năm cho khoảng 100g nhựa (lấy quả khi còn non trên cây). Ngoài ra còn có chymopapain và papaya protenaza.
Lá đu đủ chứa ancaloit carpain, có tác dụng giống glucozit của dương địa hoàng – Digitalis, họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), làm chậm nhịp tim, diệt amíp. Hạt đu đủ có glucozit caricin và myrosin. Men papain có tác dụng như men papein của dạ dày, giống men trypsin của tuyến tuỵ trong tiêu hóa các chất thịt. Đặc biệt nó còn có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Staphjllococ và vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain. Papain còn có tác dụng làm đông sữa và tác dụng làm giảm độc đối với toxin và toxanpunin.
Tinh tamMột số bài thuốc, cách trị liệu dùng đu đủ
1/ Phép dưng sinh theo mùa: vào dịp xuân hè, ăn đu đủ có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Vào thu đông, ăn đu đủ có tác dụng nhuận táo, ôn bổ tỳ vị, dưỡng can, nhuận phế, chỉ khái, hóa đàm. Đu đủ chín có quanh năm và mùa nào dùng cũng tốt cho sức khỏe.
2/ Phép dưng sinh chng lão suy: đu đủ có tác dụng tốt cho những người chóng già, da mai mái, thể trạng không sung mãn, có các bệnh mạn tính. Cách dùng: đu đủ chín 200g, chuối xiêm 300g, 2 thứ trên xay trong nước dừa non uống hàng ngày. Nếu có mật ong, sữa ong chúa cho vào càng tốt. Nên dùng nóng, tránh dùng lạnh và không cho đá vì bản thân đu đủ có tính hàn.
3/- Ít ng, hay hi hp: đu đủ chín 100g, chuối 100g, củ cà rốt 100g. Xay trong nướcTr ho 2dừa non nạo. Thêm mật ong cho đủ ngọt, uống cách ngày.
4/- Tr giun kim: ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói liên tục 3 – 5 hôm.
5/- Viêm d dày mãn tính: đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g sắc uống.
6/- Ho do phế hư: đu đủ xanh 100g, đường phèn 20g hầm ăn, ngày ăn 2 lần vào trưa và tối, ăn trong 3 – 5 ngày.
7/- T v hư nhưc (ăn không tiêu, táo bón): đu đủ 30g, khoai mài (hoài sơn) 15g, sơn tra 6g, nấu cháo.
8/- Tr đau lưng mi gi: đu đủ 30g, ngưu tất 15g, kỷ tử 10g, cam thảo 3g sắc uống.
9/- Cha bnh ho, viêm cung phi, khàn tiếng hoc mt tiếng  tr em: hái 5 – 10 hoa đực, đem sao vàng, cho đường phèn hấp hoặc chưng khi nồi cơm cạn nước, choMattrẻ uống trong ngày.
10/- Nhun da, dưng nhan sc, chng lão hóa: đu đủ chín 1 quả 0,5kg, sữa tươi 4 ly, hạt sen 20g (bỏ tim) ngâm mềm cho nở, nếu loại tươi phải bóc vỏ, táo tàu đỏ 2 quả bỏ hột, đường phèn vừa đủ. Cho tất cả vào bát to chưng cách thủy độ 2 giờ cho đến khi hạt sen mềm là được. Ăn nóng.
11/- Dùng làm m phm (dùng ngoài): ở nước ngoài, người ta dùng đu đủ chín bỏ vỏ, hạt, nghiền mịn làm mặt nạ lột da mặt, giúp khỏi mụn trứng cá (Paul Neinast – Dallas). Đu đủ xanh nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay để chữa các vết tàn hương ở mặt, tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema…
12/- Cha đau đu: lấy lá đu đủ tươi giã nát, gói vào miếng gạc, đắp thái dương.
Gai cot song 2Các công dụng khác của đu đủ : – Đu đủ xanh hầm với mọi loại thịt động vật đều làm cho thịt mềm. Ở nước ta, bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ thường ăn chân giò hầm với đu đủ xanh để có nhiều sữa.
– Chữa gai cột sống: hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong 20 – 30 ngày. (theo Sức khỏe Đời sống)
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 21/7/2015

NHỮNG NƠI LINH THIÊNG ĐÁNG SỢ Ở CHÂU Á



NHỮNG NƠI LINH THIÊNG

ĐÁNG SỢ Ở CHÂU Á

Trang Litsverse vừa liệt kê những miếu, đền thờ nổi tiếng linh thiêng nhưng cũng khá kỳ lạ, đáng sợ ở châu Á. Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia được nhắc tới nhiều lần trong top này.
1/- Đền Dongyue, Trung Quốc : Được xây dựng từ năm 1319, Dongyue là một trong những ngôi đền Đạo giáo lớn nhất Bắc Kinh. Từ năm 1999, nó trở thành Bảo tàng Văn hóa Dân gian Bắc Kinh nhằm tôn vinh văn hóa truyền thống nước nhà. Đây là một trong những ngôi đền được coi là đáng sợ bởi tái hiện khung cảnh địa ngục. 3 Den tho 1Bạn sẽ biết chính xác những gì mình phải trải qua sau khi chết. Nếu sống không tốt, nơi chào đón bạn sẽ là cánh cổng Âm Ty với những hình thức trừng phạt đầy đau đớn.
2/- Wat Phumin, Thái Lan : Wat Phumin là ngôi chùa đạo Phật ở Nan, Thái Lan. Đối lập với vẻ ngoài đẹp đẽ, bên trong chùa treo nhiều bức tranh đáng sợ, miêu tả hậu quả nếu con người đi lạc khỏi con đường Phật giáo và sự tái sinh trong đau khổ. Bạn sẽ nhìn thấy hình ảnh sinh vật mình người đầu thú bị bỏ vào vạc dầu sôi sục, phụ nữ bị treo lên cây cho chim rỉa xác.
3/- Huashan Teahouse, Trung Quốc : Huashan Teahouse (tạm dịch: Hoa Sơn trà thất)3 Den tho 2không làm du khách ghé thăm phải rùng mình sợ hãi như hai địa điểm trên nhưng nó lại khiến không ít người thiệt mạng vì cố gắng trèo lên tới đỉnh. Núi Hoa Sơn được coi là nơi thiêng liêng tại Trung Quốc hàng thế kỷ qua, được nhiều đời vua chúa dùng làm nơi tế lễ trời đất.
4/- Đền Zenkoji, Nhật Bản : Zenkoji là một ngôi đền cổ xưa ở Nhật Bản, nổi tiếng với bức tượng Phật Ẩn. Khi bức tượng hỏng hóc và không còn được sử dụng nữa, nhiều người tin rằng nó đã hoàn toàn biến mất và chiếc hộp dùng để đựng tượng giờ chỉ là hộp không. Cũng có tin đồn cho rằng bức tượng vẫn còn tỏa ra hơi ấm trong hộp và nếu chạm tay vào, ta sẽ có cảm tưởng như chạm tay vào người sống.
3 Den tho 3Bên cạnh đó, đền Zenkoji còn nổi tiếng với một đường hầm tối, ẩm thấp và được cho là nơi mà tất cả các linh hồn đều phải đi qua và tái sinh. Ngày nay du khách được phép vào tham quan đường hầm này.
5/- Núi Osore, Nhật Bản : Đây là một trong những địa điểm linh thiêng nhất tại Nhật Bản, được coi là một trong những lối vào địa ngục. Điều này cũng khá dễ hiểu vì đền Núi Osore tọa lạc trên một ngọn núi lửa, xung quanh được bao phủ bởi mùi lưu huỳnh nồng nặc, mặt đất nứt nẻ, hơi nước và màu sắc của những chiếc hồ gần đó cũng được đánh giá là kỳ dị.
Ngày nay, đây là nơi những bậc phụ huynh mất con thường tới cầu nguyện vì theo truyền thuyết, những đứa trẻ khi chết sẽ qua sông bằng cầu. Cha mẹ chúng sẽ tới đây, xây cầu bằng những viên sỏi và để ma quỷ không phá hủy, họ thường chăm sóc các bức tượng Jiso (người bảo vệ cho trẻ em) trên núi rất tốt, như thường xuyên mặc áo ấm cho chúng khi đông về.
6/- Tanah Lot, Indonesia : Tanah Lot là một trong những ngôi đền Hindu đẹp nhất thế giới và là điểm đến yêu thích cho những du khách không sợ rắn biển – loài rắn có nộc độc chết người. Theo truyền thuyết, một thầy tu có tên là Danghyang Niartha đã xây dựng ngôi đền. Đến khi xây xong, vẻ đẹp của đền khiến nhà vua nổi lòng tham, muốn chiếm đoạt nên đuổi vị thầy tu ra khỏi nơi này.3 Den tho 4 Trước khi ra đi, Niratha đã biến chiếc khăn choàng của mình thành những con rắn biển làm nhiệm vụ canh giữ ngôi đền.
Ngày nay, du khách vẫn có thể gặp những con rắn biển đáng sợ khi thủy triều xuống thấp. Dù mang chất kịch độc, chúng vẫn được coi là người bảo vệ ngôi đền.
7/- Preah Vihear, Campuchia : Đây là một trong những ngôi đền thiêng nhất Campuchia. Dù không có các sinh vật nguy hiểm như rắn độc hay những lời nguyền khủng khiếp, nhưng nó vẫn nằm trong danh sách đáng sợ bởi Preah Vihear nằm ở vị trí tranh chấp với Thái Lan. Không ít du khách đã thiệt mạng khi tới đây tham quan vào đúng lúc diễn ra các cuộc nổ súng. Năm 2013, tòa án thế giới đã phán quyết Preah Vihear thuộc về đất nước chùa tháp, 3 Den tho 5tuy vậy nơi đây vẫn không phải điểm đến dành cho người yếu tim.
8/- Đền Awashima Jinja, Nhật Bản : Đền là nơi để phụ nữ tới cầu nguyện về sức khỏe và con cái. Khi những con búp bê mà họ mua cho con gái mình không còn được sử dụng nữa, họ cũng mang đến đây thay vì vứt chúng đi. Theo quan điểm của người Nhật, búp bê có vai trò lớn trong nền văn hóa, tín ngưỡng và chúng cũng có linh hồn. Nếu vứt búp bê đi, chúng sẽ quay về ám gia đình. Vì thế, ngôi đền này có nhiều búp bê.(theo Anh Minh)
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 21/7/2015

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

DẤU HIỆU ĐỘT QUỴ … không thể đứng 1 chân trong 20 giây …



Dot quyDẤU HIỆU ĐỘT QUỴ …

không thể đứng 1 chân trong 20 giây …

Các nhà khoa học Nhật Bản vừa cho biết nếu bạn không thể đứng thăng bằng trên 1 chân ít nhất 20 giây, đó có thể là dấu hiệu bạn bị đột quỵ “thầm lặng”. Mặc dù khi bị đột quỵ “thầm lặng”, các tổn thương trong não rất nhỏ để có thể gây ra các triệu chứng biểu hiện ra ngoài, nhưng các nhà khoa học cảnh báo nó có thể để lại hậu quả về sau.
Tiến sĩ Yasuharu Tabara (ĐH Kyoto, Nhật Bản) người đứng đầu nghiên cứu nói: “Nếu một người không thể đứng thăng bằng trên 1 chân thì đó có thể là một dấu hiệu bất thường của não và sự suy giảm trí nhớ”.
5 Dung mot chan
Có 841 phụ nữ và 546 nam giới tuổi trung bình là 67 được yêu cầu đứng 1 chân và mở mắt trong thời gian tối đa 1 phút. Sau đó, họ được chụp MRI để đánh giá mức độ bệnh lý mạch máu não nhỏ, yếu tố có thể cản trở dòng chảy của máu trong não. Kết quả, 1/3 những người có hơn hai tổn thương nhồi máu lỗ khuyết (đột quỵ “thầm lặng”), không thể đứng thăng bằng trên 1 chân quá 20s.
Theo Tiến sĩ Tabara, thời gian đứng trên 1 chân là biện pháp đơn giản để kiểm tra sự mất thăng bằng của tư thế, đây có thể là kết quả của những bất thường trong não.
Mỹ Nhàn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 15/7/2015

BÍ MẬT THỨ 6 NGÀY 13 SỰ XUI XẺO VÀ NỖI SỢ HÃI



5 Thu 6-13 1

BÍ MẬT THỨ 6 NGÀY 13

SỰ XUI XẺO VÀ NỖI SỢ HÃI

Truyền thuyết về thứ 6 ngày 13…. ngày mà cả thế giới phải xa lánh nó…. Theo quan niệm của người phương Tây thì thứ 6 là ngày xấu nhất trong tuần và ngày 13 là ngày xấu nhất trong tháng, vì vậy nên khi hai điều đó kết hợp với nhau, thứ 6 ngày 13 đã tạo nên một nỗi sợ hãi lớn. Người ta thậm chí còn đặt hẳn cho hội chứng sợ thứ 6 ngày 13 một cái tên, đó là “paraskevidekatriaphobia”, trong đó “paraskevi” là thứ 6, “dekatria” là số 13 và “phobia” là nỗi sợ hãi (theo tiếng Hy Lạp).
Bằng toán học, người ta đã chứng minh được rằng một năm bất kì có ít nhất một thứ 6 ngày 13 và nhiều nhất là ba ngày. Một năm có ba thứ 6 ngày 13 khi ngày đầu năm là thứ 5 đối với năm không nhuận, hoặc Chủ nhật đối với năm nhuận.
Từ thời cổ đại, trong nhiều nền văn hóa, người ta đã coi con số 13 là một con số đem đến xui xẻo và chết chóc. Việc người ta “kì thị” con số này thể hiện ở rất nhiều việc như những tòa cao ốc không có tầng 13, các bệnh viện không có phòng số 13, các sân bay không có cổng đón khách số 13, 5 Thu 6-13 2trên các máy bay không có ghế ngồi số 13, ca bin số 13 cũng không xuất hiện trên tàu thủy.
Một lý do được đưa ra để lý giải cho điều này là việc số 13 đứng ngay sau số 12, một con số được coi là đẹp và hoàn hảo. Vì vậy mà chúng ta có 12 tháng trong năm, 12 cung Hoàng Đạo, 12 con Giáp, 12 vị thần của Olympus, 12 sứ mệnh của Hercules, 12 tông đồ của Jesus…
Ngày thứ 6 cũng “chịu tiếng xấu” khi xuất hiện trong rất nhiều truyền thuyết. Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn địa đàng vào ngày thứ 6, sau khi nếm thử Trái Cấm. Trận Đại hồng thủy Chúa dùng để trừng phạt loài người xảy ra vào thứ 6, ngôi đền của Solomon bị hủy diệt vào ngày thứ 6, và không thể không kể đến, ngày Chúa Jesus bị đóng đinh vào cây thánh giá cũng chính là ngày thứ 6 (H1).
Tuy nhiên, liệu có phải nỗi sợ này chỉ là một sự mê tín dị đoan vô căn cứ hay đó là một điều bí ẩn mà khoa học chưa thể tìm ra lời giải đáp thích đáng ? Dù câu trả lời là gì đi nữa thì trong thực tế, không ít những câu chuyện, những con số đã được ghi chép lại về sự xui xẻo của thứ 6 ngày 13, khiến cho người ta không khỏi lo ngại.
5 Thu 6-13 3
Hãy cùng chúng tôi điểm lại một vài sự kiện liên quan đến thứ 6 ngày 13 nhé !
13/10/1307 : Vua Philip đệ IV của Pháp sai binh lính bắt hàng nghìn thầy tu từng chiến đấu trong thời kỳ Thập tự chinh vì tội thực hiện những hành động trái pháp luật. Không có bất kỳ tội danh nào được chứng minh, song vài trăm người buộc phải nhận tội do bị bức cung. Hơn 100 người đã chết vì bị tra tấn và hành quyết.
13/8/1521 : Quân đội Tây Ban Nha tiêu diệt đế chế Aztec, đổi tên thủ đô Tenochtitlán của đế chế suy vong thành Mexico City (H2).
13/9/1940 : 5 quả bom của phát xít Đức rơi trúng cung điện Buckingham và phá hủy nhà thờ trong cung điện (H3).
5 Thu 6-13 4
13/7/1951 : Một trận hồng thủy đã cướp đi mạng sống của 24 người, hủy hoại hơn 2 triệu hecta đất ở Kansas, gây thiệt hại đến 760 triệu USD (H4).
13/6/1952 : Thống đốc bang Massachusetts, ông Kyle McArthur đã ra lệnh cấm tất cả ô tô cá nhân lưu thông trong thứ 6 ngày 13/6/1952. Lệnh cấm này của thống đốc buộc người dân phải sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Hậu quả là 9 chiếc xe buýt đâm vào nhau ở thành phố Boston. Tất cả xe buýt gặp nạn đều quá tải vì chở nhiều hành khách.
13/3/1964 : Trận động đất lớn nhất trong lịch sử của Bắc Mỹ xảy ra vào 13/3/1964, cướp đi mạng sống của 131 người gần Prince William Sound (H5).
5 Thu 6-13 5
13/11/1970 : Một cơn bão lớn tại Nam Á giết chết khoảng 300.000 người ở Chittagong, Bangladesh. Những trận lũ lụt do bão gây nên cũng khiến khoảng 1 triệu người ở vùng châu thổ sông Hằng mất mạng (H6).
1Tu than 13/7/1987 : Một cơn lốc vòi rồng mạnh đã càn quét Edmonton, Alberta, giết chết 27 người và làm bị thương ít nhất 300 người (H7).
13/1/1989 : Virus mang tên “Thứ 6 ngày 13” tấn công vài trăm máy tính của hãng IBM trên lãnh thổ nước Anh, phá hủy các file chương trình. Dư luận thế giới hoang mang bởi vào thời điểm đó người ta chưa từng chứng kiến việc virus máy tính tấn công trên diện rộng.
13/3/1992 : Một trận động đất cướp đi sinh mạng của gần 2.000 người và đánh sập nơi cư ngụ của 50.000 người khác ở Thổ Nhĩ Kỳ (H8).
Ngoài một số sự kiện nổi bật như trên, cũng có nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận lượng tai nạn tăng đột biến một cách bất thường vào thứ 6 ngày 13. Liệu những điều này có một căn cứ khoa học xác đáng nào hay không, có vẻ đó là một câu hỏi vẫn còn đang để ngỏ. Nhưng thứ 6 ngày 13 vẫn tiếp tục mang đến nỗi lo ngại cho rất nhiều người trên thế giới, đồng thời cũng là chủ đề được yêu thíchtrong rất nhiều bộ phim và tiểu thuyết nổi tiếng.
Một số nhà khoa học đã hướng đến giả thiết rằng mọi người bị ám ảnh quá nhiều bởi nó, nỗi sợ này như một kiểu “tự kỉ ám thị” vậy. Lời khuyên tốt nhất được đưa ra là vào những ngày này, chúng ta nên hướng những suy nghĩ tiêu cực sang tích cực để giảm bớt căng thẳng và phòng tránh tai nạn (H9). (sưutầm: Internet)
Xuân Mai chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 15/7/2015

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Bạch quả

Bạch quả - Ginkgo

Ginkgo - Abricotier d'argent
Bạch quả
Ginkgo biloba L.
Ginkgoaceae
Đại cương :
Cây Bạch quả Ginkgo (Ginkgo biloba(银杏 yínxìng tiếng Tàu ) là một loài của Cây và duy nhất đại diện ngày nay của họ Ginkgoaceae. Đây là một loài duy nhất hiện nay của ngành ginkgophyta.
Nó được xem như một loài hóa thạch sống espèce panchronique. Đây là một Cây lâu đời nhất được biết, bởi vì nó đã xuất hiện hơn 270 triệu năm.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được xem như một cây địa khai fossile, nó đã xuất hiện 40 triệu năm trước khi xuất hiện loài khủng long dinosaures.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba có nguồn gốc ở Đông Nam nước Tàu, thường được trồng như một cây cho bóng mát, ít khi thấy ở những khu vực canh tác.
Nó có đời sống lâu dài, hơn 4000 năm mọc giữa thiên nhiên trong nước Tàu. Là một cây có sức đề kháng cao đối với bệnh  tật và ký sinh, với ô nhiễm và với nấm mốc.
Nó cũng là một cây duy nhất còn sống sót trải qua một biến cố bom nguyên tử Hiroshima, những lá của nó chưa đốt cháy nổi.
Ngày nay, người ta tìm thấy trên nhiều đường phố, quảng trường lớn vì sức đề kháng cao của nó và vì  để làm cây cảnh.
Cây được trồng rộng rãi (đặc biệt đối với công dụng làm thuốc của nó ) ở Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và ở Mỹ.
Do mùi hôi của trái ( màng bên ngoài của trứng ovule, khi phân hủy cho một mùi hôi của acide butyrique. Nên Cây Bạch quả Ginkgo biloba có xu hướng trồng Cây đực.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
▪ Bộ máy dinh dưởng :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một Cây đại mộc có kích thước trung bình đến lớn, có thể đạt đến khoảng 20 đến 30 m.
Thời gian sống rất quan trọng, Cây tìm thấy ở vườn thực vật của Đại học Sendai có tuổi thọ 1250 năm. Cây ginkgo là một vật thể có tiềm năng bất tử immortel, nó không có kẻ thù tự nhiên, cũng không ký sinh hoặc bệnh tật.
Chỉ có những yếu tố bất lợi bên ngoài bất lợi như loài người, mối nguy hiểm chất hóa học và khí hậu.
Vỏ của Cây Ginkgo còn trẻ, lúc đầu trơn mịn, kế sau đó trở nên nứt và nứt nẻ theo thời gian. Màu sắc thay đổi từ màu nâu đến màu xám.
Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba là duy nhất trong ngành Tử thực vật spermatophytes, bởi vì hình thành 2 thùy dưới dạng lá cọ palme hay hình cái quạt và không hiện diện gân chánh trung tâm như tất cả những cây hiện đại.
Với một cuống lá, được chèn trên những nhánh cành thành từng nhóm nhỏ 3 hoặc 4 và đạt đến khoảng 5 đến 15 cm dài. Có lá rụng caduques.
▪ Bộ máy sinh dục :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được phân loại trong ngành Ginkgophytes hoặc Préspermaphytes, gần với những loài cây có hạt. Như vậy, Ginkgo biloba không có hạt,
Những Cây đực mang những gié đuôi chồn chatons dưới dạng hình trụ, và những cây cái mang những gié lớn hơn, cho ra những trứng ovules ( cây đơn phái biệt chu dioïques ).
▪ Một noãn thụ tinh fécondé bởi hạt phấn pollen của một Cây ginkgo đực, trứng ovule nẩy mầm ngay lập tức, nảy sanh một cây mới, thường ở dưới chân của  Cây mẹ.
Những trứng ovules của Cây Bạch quả Ginkgo biloba thường được gọi, gọi tên sai lầm, tên gọi hạt graine hoặctráifruit  ( Những hạt chỉ xuất hiện với những loài khỏa tử gymnospermes ( hoặc conifères) và những trái duy nhất ở những loài bí tử angiospermes ).
Ở Ginkgo không hạt cũng không trái, trứng ovule của ginkgo nẩy mầm ngay khi những điều kiện thuận lợi.
Trứng ovule được bao bọc một lớp vỏ tégument màu vàng nâu, nạt bên ngoài và dai như da  bên trong, do đó người thường nhầm lẫn trứng ( noãn ) này với trái, đặc biệt với những trái hạt cứng drupe.
Trứng ovule hình cầu đo được từ 2 đến 3 cm đường kính. Trước mùa thư, trứng láng mịn và hấp dẫn nhưng độc hại toxique, đặc biệt phần nạt của lớp vỏ tégument, bởi vì nó chứa acide butanoïque.
Chất này là nguồn gốc mùi của bơ có mùi hôi hoặc mùi ói mữa, Cây Bạch quả Ginkgo biloba phóng thích trứng, vào mùa thu trứng bắt đầu nhăn.
Bộ phận sử dụng :
Lá và nhân trứng.
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
Những thành phần chánh của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Thành phần hóa học chánh :
● Terpénoïdes
- Diterpènes: ginkgolides A, B, C, J ( M tìm thấy trong rễ )
- Sesquiterpéniques: bilobalide
- triterpènes: stérols
● Những flavonoïdes ( flavones, glycosides flavonol, và aglycones )
- kaempférol,
- quercétine,
- isorhamnétine,
- rutine,
- lutéoline,
- delphidenon,
- myricétine
Biflavonoïdes :
- sciadopitysin,
- ginkgetin,
- isoginkgetin,
- amentoflavone,
- bilobetin,
- 5'-methoxybilobetin
● những acides hữu cơ :
dẫn xuất của acide benzoïque ( acide ginkgolique ),
- N-acides contenant
▪ polyprénols:
- Di-trans-poly-cis-octadecaprenol
▪ Những thành phần hợp chất khác hiện diện là :
- acide Amino Acid-6hydrozykynurenic Acide,
- flavones dimères ( bilobetin, ginkgetin, isoginkgetin, scieadopitysin ),
- proanthocyanidines,
- acides ginkgoliques,
- acide ascorbique,
- caroténoïdes,
- và bilobalide.
- chất sáp cires,
- stéroïdes,
- 2-hexénal,
- cardanols,
- những chất đường sucres,
- catéchines,
- phénols,
- aliphatiques
- rhamnose
▪ Bốn (4) hợp chất đã được phân lập từ trích xuất acétate éthyle của những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Những hợp chất II, III, IV đả được xác định như :
- ginkgolides A, B và C, tương ứng,
hợp chất I, thu được từ những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho lần đầu tiên, đã được xác định như :
- 3,3'-diméthoxy-4,4'- dihydroxy-stilbène bằng phương pháp quang phổ spectroscopiques.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa nhiều chất khác nhau, bao gồm :
- những flavonoïdes,
- terpènes,
- lactones sesquiterpènes,
- ginkgolides,
- và những bilobalides.
Hầu hết những nghiên cứu ảnh hưởng trên những hiệu quả cửa ginkgo được thực hiện với trích xuất mang tênEGb 761, chứa :
- 24 % tối thiểu m/m của glycosides flavone,
- và 6 % m/m terpènes de lactone.
Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng chứa những :
▪ Những vitamines :
- vit B1
- vit C,
- niacine vitamine B3.
▪ và những nguyên tố khoáng, như :
- potassium K,
- phosphore P,
- calcium Ca,
- fer Fe,
- cuivre Cu,
- magnésium Mg,
- manganèse Mn,
- sodium Na,
- zinc Zn,
▪ Những acides amine như :
- arginine,
- méthionine,
- cystéine,
- cystine,
- leucine,
- isoleucine,
- lysine,
- tryptophane,
- sérine,
và những đường glucides như :
- saccharose,
- fructose,
và cũng có :
- những chất đạm protéines.
• Hai (2) thành phần chủ yếu trách nhiệm của những hiệu quả y học là :
- lactones terpéniques,
- và glycosides ginkgo flavone.
▪ Trong năm 1932, Furukawa phân lập lần đầu tiên thành phần terpènes của Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Chúng bao gồm :
- những triterpènes,
- caroténoïdes,
- những polyprenols,
- những mono-
- sesquiterpènes,
- và terpènes trilactones.
Thành phần cuối bao gồm :
- những ginkgolides,
- và bilobalide.
Elias James Corey, giải Nobem Chimie, thực hiện tổng hợp :
ginkgolide B.
► Cơ chế hoạt động hoá học của Ginkgo :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa nhiều thành phần chất hóa học khác nhau. Hầu hết giữa những chất rơi vào trong 2 nhóm loại :
Flavnoids,
- và Terpénoïdes hay terpéniques lactoids.
● Flavnoids là những chất, hành động như :
- chống oxy hóa anti-oxydants :
- ( làm sạch những gốc tự do, làm tổn thương trong cơ thể,
- làm thay đổi những màng tế bào membranes cellulaires,
- làm xáo trộn ADN,
- và thậm chí gây ra cái chết tế bào mort cellulaire)
cũng hiện diện trong những trái và rau cải tự nhiên.
- tăng cường hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể système immunitaire dans le corps,
- và can thiệp vào sự hình thành ung bướu khối u tumeurs.
Loại flavonoïdes trong Cây Bạch quả Ginkgo biloba được gọi tên là :
▪ Ginkgolide. Ginkgolides là những hợp chất độc đáo độc quyền của Cây Bạch quả Ginkgo biloba và chia nhỏ thành những :
- ginkgolides riêng biệt A, B, C, J, và M.
Mỗi Ginkgolide có một mức độ hiệu năng khác nhau :
Ginkgolide B được xem như hoạt động nhất .
Những flavnoids khác cũng hiện diện như :
▪ quercétine ( là một trong những flavnoids nghiên cứu nhiều nhất và là một chất chống oxy hóa mạnh hơn vitamine E),
▪ và kaempférol.
● lactones terpéniques là những thành phần hoạt động đem lại cho Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
- một hương vị đắng mạnh mẽ saveur amère,
- và giúp sự lưu thông máu circulation sanguine gia tăng.
▪ Nhân trứng Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa :
- một dầu thiết yếu huiles essentielles,
- acide béo,
- chất chát tannins,
- và chất nhựa résine.
• Terpénoïdes (ginkgolides) :
- cải thiện tuần hoàn máu améliorer la circulation.
• bilobalides có những đặc tính :
- bảo vệ thần kinh neuroprotectrices.
• Nó làm thay đổi :
- điều chỉnh sự co mạch vasorégulation,
- điều biến sự dẫn truyền thần kinh module neurotransmetteur,
- và hoạt động của thụ thể récepteur,
- và ức chế PAF platelet activating factor ( yếu tố kích hoạt những tiểu cầu activation des plaquettes ).
Đặc tính trị liệu :
► Đặc tính tổng quát của Ginkgo :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng trong y học truyền thống Tàu từ thời cổ đại.
Những kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy rằng những tiềm năng áp dụng y học của loài này là đa dạng :
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa những thành phần chất khác nhau, bao gồm :
- những flavonoïdes,
- terpénoïdes,
- lactones sesquiterpènes,
- ginkgolides,
- và những bilobalides.
Những hiệu quả của Cây Bạch quả Ginkgo biloba trên cơ thể là nhiều, nhưng một số nhất định được tin là liên quan đến những hiệu năng chữa bệnh thérapeutiques cho đến nay vẫn còn không có cơ sở.
Trong số những hiệu quả quan sát, được lưu ý :
- một hoạt động chống oxy hóa antioxydante,
- gia tăng lưu lượng máu débit sanguin đặc biệt ở não cérébral,
- một tiểm lực của những dẫn truyền thần kinh neurotransmetteurs,
- và một điều biến của trao đổi chất biến dưởng của đường glucose métabolisme du glucose.
▪ Hạt ( nhân trứng ) Ginkgo
Những nhân trứng ( gọi là hạt để dễ nhớ ) được nấu chín và được sử dụng để chữa trị :
- bệnh phổi pulmonaires,
trong y học truyền thống Tàu.
▪ Lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba
▪ Dùng bên ngoài cơ thể, để loại trừ :
- những vết tàn nhan taches de rousseur,
- và giảm những vết thương plaies.
▪ Trong nồng độ cao của trích xuất của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba, cho vào cơ thể để :
- cải thiện sự lưu thông máu lên não cerveau,
- và như một chất chống oxy hóa antioxydant.
▪ đã được chứng minh để làm giảm :
- mất trí nhớ perte de mémoire,
- và cải thiện tâm trạng,
trong giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer.
▪ Giàu chất flavonoïdes, trích xuất  Cây Bạch quả Ginkgo biloba là :
- một chống oxy hóa mạnh antioxydant,
- với những đặc tính bảo vệ thần kinh neuroprotectrices.
Đây là lý do, người ta nghĩ rằng có thể có lợi ích để :
- giảm những tổn thất của chức năng liên quan đến sự lão hoá vieillissement.
Tương tự không có hiệu quả được chứng minh trên :
- những rối loạn nhận thức cognitive của những đối tượng lớn tuổi âgés.
▪ Sự sử dụng dược phẩm của Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã được đề xuất cho khả năng của Cây :
- làm giản mạch vaso-dilatatrices
có thể cho phép sử dụng để chữa trị một số vấn đề nhất định liên quan đến sự lão hóa vieillissement như :
- mất trí nhớ perte de la mémoire,
cũng như của những vấn đề của :
- da peau,
- giản tĩnh mạch varices,
- bệnh trĩ hémorroïdes,
- và chân nặng jambes lourdes.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho phép những người mắc phải hội chứng Raynaud chịu được lạnh..
▪ Trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một thuốc :
- chống kết tập tiểu cầu antiagrégant plaquettaire, ( là một chất làm giảm kết tập tiểu cầu và ức chế sự hình thành huyết khối )
- và có thể là nguyên nhân của một số trường hợp nhất định của tai nạn mạch máu accidents vasculaires.
► Sự sử dụng và chỉ định thuốc :
Dựa trên những nghiên cứu được tiến hành trong phòng những thí nghiệm, những động vật, những người, Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng với mục đích như sau :
● Mất trí démence và bệnh Alzheimer
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng rộng rãi trong Châu Âu Europe để chữa trị :
- bệnh mất trí démence.
Lúc đầu, những Y sỉ nghĩ rằng điều này đã giúp,  bởi vì :
- nó cải thiện tuần hoàn máu circulation sanguine đi vào não cerveau.
Bây giờ nghiên cứu thêm thấy rằng nó có thể bảo vệ :
- những tế bào thần kinh cellules nerveuses
tế bào đã bị tổn thương hư hại trong bệnh Alzheimer.
Một số nghiên cứu nhất định cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có một hiệu quả tích cực trên :
- trí nhớ mémoire,
- và sự suy nghĩ pensée
ở những người mắc bệnh Alzheimer hoặc bệnh mất trí démence hoặc sa sút trí tuệ mạch máu démence vasculaire, một hình thức mất trí nhớ gây ra bởi sự suy giảm nguồn máu cung cấp cho não có thể gây ra một số đột quỵ nhỏ.
● Bệnh Alzheimer :
Những nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp những người mắc bệnh Alzheimer :
▪ Cải thiện :
- sự phản xạ, suy tư réflexion,
- học tập apprentissage,
- và trí nhớ mémoire ( chức năng nhận thức cognitive )
▪ Có một thời gian dễ dàng hơn để hoạt động hằng ngày.
▪ cải thiện hành vi tâm tánh xã hội comportement social
▪ Có ít cảm giác với bệnh trầm cảm sentiments de dépression
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể :
- có chức năng tốt của một toa thuốc bệnh Alzheimer để trì hoản những triệu chứng xảy ra của bệnh mất trídémence.
● Chứng khập khểnh từng hồi ( không liên tục ) Claudication Intermittente :
Bởi vì Cây Bạch quả Ginkgo biloba cải thiện sự tuần hoàn máu circulation sanguine, Cây đã được nghiên cứu ở những người mắc phải :
- chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente,
- hoặc đau nhức có nguyên nhân bởi sự lưu thông máu circulation sanguine giảm ở chân.
Những người mắc chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente có một thời gian khó khăn đi mà không cảm thấy một sự đau đớn cùng cực.
Một phân tích của 8 nghiên cứu cho thấy rằng những người dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba, có xu hưiớng đi trong vòng 34 m xa hơn so với những người dùng giả dược placebo.
Trong thực tế, Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã  được chứng minh với sự làm việc cũng như của một thuốc ghi toa cải thiện sự đi bộ không đau đớn.
Tuy nhiên, những bài tập đi bộ thường xuyên đều đặn tốt hơn so với Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong sự cải thiện khoảng cách đi bộ.
● Lo âu Anxiété :
Một nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp :
- giảm bớt lo lắng anxiété.
Những người mắc phải :
- rối loạn lan tỏa rộng anxiété généralisée,
- và rối loạn điều chỉnh trouble d'adaptation
dùng uống trích xuất đặc biệt Cây Bạch quả Ginkgo biloba có ít triệu chứng lo âu hơn những người dùng uống giả dược placebo.
● Tăng nhãn áp Glaucome :
Một nghiên cứu nhỏ cho thấy những người mắc bệnh tăng nhãn áp glaucome, dùng uống 120 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba / ngày trong vòng 8 tuần, thể hiện một sự cải thiện trong tầm nhìn của họ vision.
● Trí nhớ mémoire và suy nghĩ pensée :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được tự hào rộng rãi như một « Thảo dược của não ».
▪ Một số nghiên cứu cho thấy rằng Cây sẽ giúp cải thiện trí nhớ ở những người mắc bệnh :
- mất trí démence.
Cây không phải cũng rõ ràng Cây Bạch quả Ginkgo biloba giúp trí nhớ mémoire ở những người có sức khỏe tốt, bình thường, mất trí nhớ mémoire liên quan đến tuổi âge.
▪ Một số nghiên cứu đã tìm thấy lợi ích nhỏ, trong khi nghiên cứu khác đã chứng minh :
- không giúp gì cả.
▪ Một số nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có :
- cải thìện trí nhớ mémoire,
- và sự suy nghĩ ở những thanh niên trẻ và tuổi trung bình của những người có sức khỏe tốt.
Liều dùng tốt nhất, hình như vào khoảng 240 mg / ngày.
▪ Không có bằng chứng nào uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba giúp bảo vệ chống lại :
- bệnh mất trí démence.
▪▪▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba thường thêm vào :
- những thành phần dinh dưởng,
- thức uống có hoi gaz,
- và những sinh tố trái cây để tăng cường trí nhớ,
- và nâng cao hiệu năng tâm thần,
mặc dù, một số lượng nhỏ có lẽ không giúp ích gì.
● Thoái hóa điểm vàng Dégénérescence Maculaire :
Những flavonoïdes tìm thấy trong Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp :
- ngăn chận arrêter,
- hoặc giảm réduire
một số vấn đề của võng mạc rétine, bộ phận phía sau mắt œil.
Sự thoái hóa điểm vàng dégénérescence maculaire, thường gọi là :
- « Thoái hoá điểm vàng  dégénérescence maculaire liên quan đến tuổi âge »,
- hoặc viết tắc  AMD age-related macular degeneration,
● Hột chứng tiền kinh nguyệt Syndrome prémenstruel (SPM)
Hai (2) nghiên cứu với lập trình của liều dùng hơi phức tạp tìm thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba gíúp :
- giảm những triệu chứng của Hội chứng tiền kinh nguyệt SPM.
Những phụ nữ trong những nghiên cứu được cho uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba, bắt đầu ngày thứ 16 của chu kỳ kinh nguyệt cycle menstruel và ngưng dùng sau ngày thứ 5 của chu kỳ tiếp theo sau, sau đó dùng lần mới nữa vào ngày 16.
● Hiện tượng Raynaud
Một nghiên cứu được thiết kế tốt, tìm thấy rằng những người với :
- hiện tượng Raynaud,
được cho dùng uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong khoảng thời gian 10 tuần, có ít triệu chứng hơn so với những người cho uống với giả dược placebo.
Những nghiên cứu khác là cần thiết.
Chủ trị : indications
Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một cây thuốc rất được sử dụng trong y học truyền thống Tàu, Nhật Bản, và Đại Hàn từ ngàn năm qua.
Nói chung dược thảo này được dung nạp tốt bởi hầu hết những người lớn khỏe mạnh với liều khuyến cáo.
Dược thảo này rất được sử dụng để cải thiện :
- tuần hoàn máu circulation sanguine,
có thể cải thiện :
- trí nhớ mémoire,
- sự tập trung concentration,
- và những chức năng tâm thần nói chung mentales en général.
Theo nhiều nghiên cứu, Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng hình như làm chậm lại sự tiến triển của :
- bệnh Alzheimer.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được xem như một phương thuốc tự nhiên có thể thúc đẩy :
- vi tuần hoàn micro circulation,
- và do đó mang dưởng khí oxigène đến những mô tế bào như là não cerveau.
Nếu người ta có tiền sử bệnh lý antécédents médicaux hoặc dùng thuốc, nên tham vấn Bác sỉ trước khi dùng chữa trị với Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
▪ Giảm :
- những triệu chứng của bệnh Alzheimer,
- và bệnh mất trí nhớ người già yếu démence sénile,
giảm những triệu chứng của :
- chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente.
▪ Cải thiện :
- những chức năng nhận thức fonctions cognitives,
- và làm chậm lại sự suy giảm với tuổi déclin avec l’âge,
- ngăn ngừa những bệnh tim mạch cardiovasculaires,
- chữa trị bệnh Raynaud,
- chữa trị bệnh bạch biến hay lang trắng vitiligo,
- làm dịu bởi những hội chứng tiền kinh nguyệt syndrome prémenstruel,
- ngăn ngừa bệnh tật của núi mal des montagnes.
▪ Chữa trị những rối loạn :
- chứng bệnh ù tai acouphènes,
- những rối loạn chức năng tình dục dysfonctions sexuelles.
- chữa trị bệnh chóng mặt vertiges,
- sự tuần hoàn ngoại vi circulation périphérique ( claudication intermittentemaladie de Raynaud),
▪ Giảm những triệu chứng liên quan đến :
- bệnh mất trí nhớ có nguồn gốc mạch máu démence d’origine vasculaire,
- hoặc thoái hóa dégénérative,
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Y học truyền thống Tàu đã sử dụng  và hạt Cây Bạch quả Ginkgo biloba từ nhiều thế kỷ. Sử dụng cho :
- bệnh suyễn asthme,
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs.
▪ Trong thời đại mới này những chống oxy hóa antioxydants, những glycosides và những flavonoïdes, Cây Bạch quả Ginkgo biloba được phát huy để chữa trị :
- những bệnh Alzheimer,
- bệnh mất trí démence,
- cải thiện trí nhớ mémoire,
- và chức năng nhận thức fonction cognitive,
- tuần hoàn máu não circulation sanguine cérébrale,
- và ngoại vi périphérique ( chứng đi khập khểnh claudication ),
- ù tai acouphènes,
- và chóng mặt vertiges.
▪ Rối loạn cương dương dysfonction érectile :
Do ảnh hưởng trên tuần hoàn máu, nó trở thành một thành phần trong nhiều phương cách pha chế thảo dược Viagra để gia tăng lưu lượng máu dẫn đến những cơ quan sinh dục dương vật.
▪ Cải thiện trí nhớ mémoire :
Thử nghiệm lâm sàng clinique lớn nhất và dài nhất, kết luận, nó không cung một lợi ích nào có thể đo lường trong trí nhớ mémoire hoặc chức năng nhận thức fonction cognitive liên quan đến người lớn với chức năng nhận thức lành mạnh.
Nghiên cứu :
● Ginkgo triloba và chữa trị bệnh Alzheimer :
▪ Đôi khi người ta gán cho nó những hiệu năng bảo vệ chống lại :
- bệnh Alzheimer,
- hoặc bệnh mất trí démence,
nhưng không có gì khác biệt đáng kể được tìm thấy để chứng minh giữa hiệu quả chữa trị của trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba và một giả dược placebo.
▪ Tuy nhiên, một trong những nghiên cứu thực hiện tốt nhất tìm thấy ở Cây Bạch quả Ginkgo biloba không tốt hơn giả dược placebo trong sự giảm những triệu chứng của :
- bệnh Alzheimer.
Trong một nghiên cứu năm 2008, 176 người ở Royaume-Uni với bệnh Alzheimer được cho uống hoặc là Cây Bạch quả Ginkgo biloba hoặc một giả dược placebo trong vòng 6 tháng.
Vào cuối nghiên cứu, người ta quan sát không có sự khác biệt nào trong chức năng tâm thần mentale hoặc phẩm chất qualité của đời sống giữa những nhóm.
▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba đôi khi cho thấy để :
- ngăn ngừa bệnh Alzheimer,
- và bệnh mất trí démence,
cũng như một số nghiên cứu đã cho thấy rằng điều này có thể giúp.
▪ Nhưng vào năm 2008, một nghiên cứu được thiết kế tốt ( nghuiên cứu GEM ) với hơn 3.000 người lớn tuổi, tìm thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba không có giá trị tốt hơn giả dược placebo trong sự ngăn ngừa :
- bệnh mất trí démence,
- hoặc bệnh Alzheimer.
● Hiệu quả huyết học hématologiques / yếu tố kích hoạt tiểu cầu activation plaquettaire ức chế của sự liên hệ / giảm chất sinh  sợi huyết fibrinogène Descente :
▪ Lactones terpéniques ức chế cầu nối của PAF ( platelet-activating factor ) với thụ thể màng tế bào récepteurs membranaires.
▪ trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giảm nồng độ chất sinh sợi huyết trong huyết thanhfibrinogène sérum.
● Chống oxy hóa Antioxydant :
Trong những nghiên cứu trên thỏ, trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã chứng minh những đặc tính chống oxy hóa antioxydantes với giảm sự phóng thích của superoxyde.
● Bệnh Raynaud :
Sự sử dụng Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong bệnh Raynaud, một thử nghiệm kiểm soát bởi giả dược placebobằng cách mù đôi double aveugle : Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể là hiệu quả trong sự giảm số lượng những tấn công của Raynaud mỗi tuần.
● Nghiên cứ bệnh mất trí démence / không hiệu quả pas efficace :
Trong nghiên cứu này, Cây Bạch quả Ginkgo biloba với 120 mg, 2 lần mỗi ngày là không có hiệu quả để giảm hoặc nồng độ tác động tổng thể của :
- bệnh mất trí nhớ démence,
- hoặc tác động của bệng mất trí nhớ của Alzheimer,
ở những người lớn tuổi với sự nhận thức bình thường cignition hoặc với rối loạn nhận thức nhẹ trouble cognitif léger MCI. Mild Cognitive Impairment.
Nghiên cứu trên Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
▪ Đa số những nghiên cứu kết luận rằng hiệu quả của Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã được tiến hành với 2 trích xuất tiêu chuẩn hóa :
- EGb 761 ( thường sử dụng nhất ),
- và Li 1370, trong đó có chứa 24 % và 25 % glucoflavonoïdes ( hoặc flavoglycosides) và 6 % terpéno-lactones tương ứng.
Phương cách hành động :
Mặc dù vẫn biết rằng trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba cải thiện tuần hoàn máu circulation sanguine bằng cách thức đẩy giữa sự giản mạch máu khác ( gia tăng đường kính mạch máu ), người ta không biết chính xác cơ chế hành động của nó. Nhiều hoạt chất có thể tham gia, trong số bao gồm :
- quercétine,
- những bilobalides,
- và những ginkgolides.
Những chất này cũng :
- giảm độ nhớt của máu viscosité du sang,
- và có thể bảo vệ những tế bào thần kinh,
nhờ những hiệu quả chống oxy hóa antioxydants.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Tính độc Toxicité :
▪ Hạt của Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa vài chất hoạt động có thể :
- chứng tỏ độc hại toxiques.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng có thể có chứa, nhưng nồng độ được coi là không đáng kểnégligeables.
▪ Nếu một nghiên cứu năm 2006 đã kết luận rằng trích xuất của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giảm sự lan rộng của :
- một số nhất định bệnh ung thư cancers ( ở chuột trong phòng thí nghiệm ).
Năm 2013, một nghiên cứu khác, chương trình độc học ở Mỹ « Américaine du National Toxicology Programme » ( chương trình NTP, đánh giá độc tính của Bộ Y tế và dịch vụ Xã hội Hoa Kỳ ) đã kết luận, dựa trên cơ sở những thí nghiệm ở những chuột của phòng thí nghiệm phát triển dễ dàng những ung thư cancers, dùng những thực phẩm bổ sung, Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng có thể gia tăng nguy cơ của :
- mắc bệnh ung thư gan cancer du foie,
- và ung thư tuyến giáp trạng cancer de la thyroïde
▪ Michael Jacobson, giám đốc điều hành của Hiệp hội người tiêu dùng Center for Science in the Public Interest(CSPI), cũng tin rằng những bằng chứng của những cáo buộc :
« Lợi ích cho :
- năng lượng énergie,
- và sự tập trung concentration,
- hay trí nhớ mémoire
là, tốt nhất, hơi nghi ngờ assez douteuses »
Chống chỉ định :
▪ Như Cây Bạch quả Ginkgo biloba, làm loãng máu fluidifie le sang, những trường hợp như :
- những bệnh rối loạn của sự đông máu, bệnh hay chảy máu hémophiles,
- những phụ nữ mang thai femmes enceintes, và cho con bú allaitement.
- khi đang dùng thuốc chống đông máu anticoagulants hoặc những loại thuốc chống kết tập tiểu cấuantiagrégants plaquettaires.
- những trường hợp có vấn đề nghiêm trọng của gan foie (hépatite).
- và những người sắp phải trải qua cuộc giải phẩu intervention chirurgicale, có thể gây ra xuất huyết.
tránh không nên dùng .
▪ Một số nguồn cảnh báo, những phụ nữ mang thai chống lại sự hiện diện của colchicine, một chất rất độc hạitoxique, trong những trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Một phân tích cẫn thận của nghiên cứu trong đó người ta công bố, đã tìm thấy trong những viên thuốc ginkgo, tiết lộ rằng, đã rõ ràng một sự sai lầm một phần của những nhà nghiên cứu.
▪ Ở một vài người mắc phải :
- bệnh động kinh épilepsie,
phát khởi một cơn khủng hoảng kết hợp với việc dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
▪ Liều trên 240 mg mỗi ngày, Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể gây ra những bệnh như :
- đau nữa đầu migraines,
- và gia tăng nhạy cảm da gây ra dị ứng allergies.
đó là do đặc tính giản mạch của những mạch máu dilater les vaisseaux sanguins.
Trước khi dùng, một thực phẩm bổ sung ginkgo nên tư vấn Bác sỉ, những người chuyên môn lo về sức khỏe có khả năng thật sự.
● Phản ứng phụ :
▪ Rất hiếm,
- rối loạn tiêu hóa nhẹ gastro-intestinaux légers;
còn hiếm hơn nữa :
- đau đầu maux de tête,
- chóng mặt étourdissements,
- dị ứng da allergies cutanées.
▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể làm :
- giảm huyết áp động mạch pression artérielle.
Ứng dụng :
● Ginkgo, liều dùng và liều lượng posologie :
Trong phạm vi bài này, những liều chỉ áp dụng cho những thuốc được bào chế với trích xuất và công thức của những nhà bào chế và được ghi lại liều dụng trong bản chỉ dẫn thuốc.
Trên nguyên tắc, như sau :
▪ Cho những người có sức khỏe tốt, dùng với liều 60 mg và dùng mỗi ngày.
▪ Phân chia thành 3 liều từ 120 đến 240 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho mỗi ngày, để chữa trị :
- bệnh mất trí démence và trí nhớ mémoire.
Dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong thời gian từ 8 đến 12 tuần, trước khi nhìn thấy kết quả đầu tiên.
▪ Liều dùng từ 120 đến 160 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho những vấn đề :
- tuần hoàn máu circulation,
phân chia 3 liều / ngày .
▪ 100 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba để chữa trị những vấn đề :
- rối loạn tình dục dysfonctionnements sexuels.
Trên đây chỉ là nguyên tắc tổng quát, tất cả mọi trường hợp phải tư vấn Bác sỉ gia đình hoặc thầy thuốc Y học truyền thống dược thảo phytothérapeute là cần thiết để ấn định liều dùng chính xác và điều này đáp ứng với chức năng chữa bệnh của bệnh nhân.
● Trà Ginkgo biloba Tisane de Ginkgo biloba :
▪ Trong ngâm trong nước đun sôi infusion :
Những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể được sử dụng , tươi hoặc khô.
 được thu hoạch thường vào tháng 6 đến tháng 7 ( thời gian mà những nồng độ hoạt tính cao nhất ) cho đến khi những lá đổi màu vàng của mùa thu.
Khi những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba tươi, người ta phải ngâm trong nước đun sôi infuser liền ngay từ 20 đến 40 grammes lá cho 1 lít nước.
Trà này có thể làm ngọt với mật ong miel.
▪ Khi những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba sấy khô, 2 hoặc 3 muỗng cà phê  nghiền nát, thống nhất cho 1 lít nước sôi.
Để ngâm infuser trong 20 phút, trước khi uống, có thể hay không làm ngọt với mật ong miel .
▪▪▪ Dùng uống trà  Ginkgo phải tiếp tục thường xuyên trong thời gian dài, bởi vì nếu dùng thỉnh thoảng sẽ không có hiệu quả nào.
Khi người ta sử dụng  Cây Bạch quả Ginkgo biloba bằng cách ngâm trong nước đun sôi infusion, người ta đã để một bên một số nhất định những nguyên hoạt chất ( những ginkgolides ) mà trong nguyên liệu  chứa, bởi vì những chất này không hòa tan trong nước.
Để có những hiệu quả cao hơn, tốt nhất dùng những chế phẩm dược liệu, đáp ứng tiêu chuẩn được chứng nhận chính xác.
▪ Dung dịch trong alcool teinture Cây Bạch quả Ginkgo biloba, kết quả của trích xuất chưng cất hydro-alcooliquecủa những nguyên hoạt chất chưa trong  .
Người ta dùng cho đến 750 grammes  cho 1 lít teinture.
▪ Những chế phẩm của bột theo phương pháp cryo-broyées, ( phương pháp phun các thành phần hoạt động của cây sấy khô bằng cách nghiền lạnh (ở nitơ lỏng dưới nhiệt độ lạnh ─ 196° ) của lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba được thể hiện dưới dạng viên nang gélules hoặc thuốc viên comprimés.
Ở Pháp những trích xuất tiêu chuẩn hóa, chuẩn độ :
- đến 24 % hétérosides của Cây Bạch quả Ginkgo biloba,
- và đến 6 % ginkgolides bilobalide.
▪ những hétérosides chứa những flavonoïdes :
- chống oxy hóa antioxydants,
▪ những ginkgolides :
- chống sự kết tập những tiểu cầu máu agrégations plaquettaires sanguines.
Vì vậy, sự sử dụng của những chế phẩm tăng chuẩn độ cho phép cải thiện vi tuần hoàn máu microcirculation sanguine trong những vi tiểu quản rất nhỏ.
● Sử dụng khác :
▪ Ở Nhật Bản, nước ngâm trong nước đun sôi được phun trên những tác phẩm văn hóa cultures để bảo vệ chúng khỏi bị những côn trùng.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng như để đánh dấu trang sách trong một cuốn sách, thêm vào bản gốc, nó bảo vệ cuốn sách lâu dài để khỏi bị những mối mọt ăn sách.
Trong mục đích này, những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba được đặt trong những tác phẩm, thậm chí trong những thư viện.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những hạt ginkgo đi vào trong thành phần của Chawanmushi Nhật Bản.
▪ Những hạt Cây Bạch quả Ginkgo biloba được so sánh với những hạt pistaches, là một món ăn truyền thống trong Tàu, thường phục vụ trong những tiệc đám cưới.
▪ Hạt đôi khi cũng được xem như là những thức ăn kích thích tình dục aphrodisiaques.

Nguyễn thanh Vân