NGỰA TRONG
ĐỜI SỐNG
Con ngựa của 70 triệu năm trước ?
Tổ tiên nhà ngựa (hình 1) hoàn toàn giống con ngựa ngày nay, nhưng chỉ lớn bằng con cáo chân ngắn, chân trước có bốn ngón, chân sau ba ngón, mỗi ngón đều có móng nhỏ, khi đi đứng, các ngón đều chạm đất, còn chân ngựa ngày nay vừa cao và chỉ có một ngón, nhưng lớn hơn. Răng hàm của tổ tiên loài ngựa có những mấu tròn giống với những mấu của răng hàm lợn, nhưng khác với răng hàm của lợn hiện nay.
Với tầm vóc nhỏ như con cáo, tổ tiên ngựa dễ dàng ẩn náu trong các lùm cây, bụi cỏ trong những vùng đầm lầy Bắc Mỹ. Khi gặp nguy hiểm chúng có thể dễ dàng lẩn trốn khỏi nanh vuốt kẻ thù. Cách nay khoảng 30 triệu năm, trên đất châu Mỹ tổ tiên xa xôi loài ngựa đã hoàn toàn bị tiêu diệt, song con cháu chúng đã di cư sang châu Á .
Con ngựa của 20 triệu năm trước ?
Cách 20 triệu năm trên Trái Đất khí hậu ẩm ướt đã nhường chỗ cho khí hậu khô ráo, và các khu rừng ẩm ướt đã thu hẹp nhường chỗ cho những thảo nguyên rộng bạt ngàn. Ngựa cổ khi đó phải làm quen với chế độ ăn những thân cỏ cứng,
vó ngựa phải tung hoành trên nền đất khô, còn răng hàm mòn đi làm thành những bàn nghiền cỏ với những nếp men cứng rắn.
vó ngựa phải tung hoành trên nền đất khô, còn răng hàm mòn đi làm thành những bàn nghiền cỏ với những nếp men cứng rắn.
Ba ngón chân ngựa biến đổi dần để tạo thành một, song to hơn và khoẻ như chân ngựa hiện nay, thích nghi với nền đất khô cứng của thảo nguyên, nên chúng dễ chạy trốn kẻ thù trên những cánh đồng cỏ mênh mông (hình 2). Tầm vóc to cao của ngựa khi đó rất có lợi cho việc phát hiện ra kẻ thù từ xa để kịp thời ứng phó.
Đến trên một triệu năm là thời đại của ngựa. Từng đàn ngựa nhởn nhơ trên đồng cỏ. Loài người lúc đó chưa phải “giống người thông minh” nên chưa biết thuần hoá ngựa; song ngựa vẫn là con vật săn của người nguyên thủy.
Những mảnh xương ngựa đào được trong hang động của người nguyên thủy, những hình vẽ về ngựa còn đậm nét trên vách hang động của họ, những bức tượng ngựa được đẽo gọt tinh xảo, vẫn còn trong kho tàng văn hóa nhân loại đã chứng minh cho điều đó.
Ngựa trong dân gian
Ngựa là một trong 12 con giáp, hành xử mỗi năm vào tháng năm âm lịch, tính theo địa lý Ngựa nằm trong trục Bắc Nam trong thuật phong thủy tức trục Tý Ngọ -. Ngựa, còn gọi là ngọ hay mã, là loài vật gắn bó với con người từ lúc rất xa xưa, Ngựa cũng có mặt trong trong các chuyện cổ tích, truyền thuyết và trong thực tế cuộc sống.
Ngựa đi vào thần thoại, nó gắn liền với truyền thống của các dân tộc đã sớm thuần hóa và sử dụng chúng. Như trong truyện thần thoại Hy Lạp, Thần mã Pêgadơ nổi tiếng, tương truyền được sinh ra từ suối máu của Mêđuydơ, về sau bị người anh hùng Pécxê giết chết. Thần mã Pêgadơ ngoài ý nghĩa ban đầu như trên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho cảm hứng sáng tạo trong thi hứng, cho ý tưởng nghệ thuật.
Còn truyền thuyết Trung Hoa xuất hiện con Lang mã với sức mạnh tuyệt vời, và tác giả Ngô Thừa Ân, khi xây dựng bộ truyện thần thoại Tây Du Ký, với nội dung và bố cục đường xa núi non hiểm trở, đi lại khó khăn, ngựa thường trong cõi trần gian không thể chịu đựng nổi, đã biến thái tử Tây Long thành ngựa cho Đường Tăng cưỡi và nhờ có nó, Đường Tam Tạng mới có thể đạt đến chính quả.
Còn truyền thuyết Trung Hoa xuất hiện con Lang mã với sức mạnh tuyệt vời, và tác giả Ngô Thừa Ân, khi xây dựng bộ truyện thần thoại Tây Du Ký, với nội dung và bố cục đường xa núi non hiểm trở, đi lại khó khăn, ngựa thường trong cõi trần gian không thể chịu đựng nổi, đã biến thái tử Tây Long thành ngựa cho Đường Tăng cưỡi và nhờ có nó, Đường Tam Tạng mới có thể đạt đến chính quả.
Trong các truyện dã sử xưa cũng có rất nhiều con ngựa nổi tiếng, như con Xích Thố truyền từ thời Đổng Trác cho Lữ Bố, qua tay Tào Tháo, rồi lại được tặng cho Quan Vân Trường (Quan Công). Kể cả con ngựa “phản chủ” như ngựa do Lưu Bị cưỡi cũng đi vào sử sách.
Mang cái tên Ngọ, con ngựa thành một trong mười hai con giáp và được kết hợp với năm thiên can dương, tạo ra các kiểu ngựa khác nhau, như Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Ngọ :và Nhâm Ngọ.
Ngựa trong tính chất con người
Bảng các năm ngựa (xem ảnh) cho thấy một thông tin liên quan, trong cùng tuổi Ngọ con người có những tính chất khác nhau, về tướng tinh, cốt tinh và các phương vị bát
quái theo ngũ hành.
quái theo ngũ hành.
Về mặt duyên số, các nam nhân có tuổi giáp-bính-mậu-canh-nhâm, có thể chọn theo cách của Kim thư kinh số. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, cách chọn bạn đời hãy theo gợi ý của cha ông chúng ta trước đây.
Người xưa có câu: “nhất gái lớn hai, nhì trai hơn một”- hơn một ở đây có nghĩa hơn một tuổi, vậy :
Giáp ngọ có thể lấy Ất Mùi, – Bính ngọ có thể lấy Đinh Mùi – Canh ngọ có thể lấy Tân Mùi – Mậu ngọ có thể lấy Kỷ Mùi và – Nhâm ngọ có thể lấy Quý Mùi.
Trên đây theo quan niệm cổ, còn thời nay, nam giới thường lấy vợ trẻ hơn nhiều tuổi, nhưng họ vẫn có cách tính toán : lấy nhau theo sự tương sinh bản mệnh, tức phần nạp âm của ngũ hành.
Thí dụ: Người tuổi Giáp Ngọ, bản mệnh là là Sa Trung Kim (vàng trong cát), loại kim này không khắc hỏa mà cần có hỏa để thành kim; cũng không khắc mộc vì kim này cũng giống như nguyên tố hiếm, cần cho cây phát triển, vậy có thể yên tâm với mệnh Hỏa và mệnh Mộc.
Theo biện chứng ngũ hành : Thổ sinh Kim (sinh nhập) – Kim sinh Thủy (sinh xuất) – Hỏa khắc Kim (khắc nhập) – Kim khắc Mộc (khắc xuất)
Nên nói yên tâm với mệnh Hỏa và mệnh Mộc chỉ đúng một phần, trong khăc nhập thì Hỏa hao Kim được lợi, còn khăc xuât Kim hao Mộc được lợi. Tức mệnh Kim lấy mệnh Hỏa có lợi hơn là lây mệnh Mộc sẽ hao tài.
Tuổi Nhâm Ngọ: bản mệnh là Dương Liễu Mộc, rất kỵ Kiếm Phong Kim (gió sắc như kiếm), bởi vì với kiếm phong kim thì chẳng có loại mộc nào – cứng như cây tùng bách còn không chịu được. Các tuổi nhâm thân, quý dậu đều có bản mệnh này.
Trở lại con ngựa khi gắn với đời sống tâm linh, trong thuật chiêm mộng khi ngựa đi vào giấc ngủ trong một điềm triệu.
Có thể lý giải các giấc mơ khi thấy ngựa như sau :
Có thể lý giải các giấc mơ khi thấy ngựa như sau :
– Mã vũ đình tiền hung sự tàn : ngựa múa trước cửa, hung sự sẽ tan.
– Mã hành thiên lý đại hỷ chí : ngựa đi ngàn dặm, có tin vui lớn.
– Thừa mã khoái hỷ độn chủ hung :cưỡi ngựa mà vui sướng lại là điềm dữ.
– Mã đá tiền vật thất lộc vị : ngựa đá súc vật điềm mất ngôi vị.
– Bị mã giảo, lộc vị chí : bị ngựa cắn, điềm tài lộc sẽ đến.
(trích trong cuốn “Almanach Thế giới Tâm linh” của Nguyễn Việt sắp xuất bản)
ĐIỀU HUYỀN BÍ QUANH
TƯỢNG MỴ CHÂU
KHÔNG ĐẦU
Từ lâu khách thập phương mỗi khi về thăm đất tổ Cổ Loa đều được người dân nơi đây kể cho nghe về những điều huyền bí quanh bức tượng không đầu Mỵ Châu (chuyện tích Trọng Thủy – Mỵ Châu). Những hiện tượng tâm linh này cho tới nay các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp. Vậy đâu là sự thật ?
Tương truyền rằng: Khi An Dương Vương thất thế ở thành Cổ Loa đã cùng con gái yêu là công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy về phương Nam. Khi đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù. An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy, rùa thần hiện lên và nói : “Giặc ở sau lưng nhà vua đó !” vua liền rút gươm chém đầu Mỵ Châu. Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha mà nói : “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung có lòng hại cha khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc, thành đá trôi về hầu cha”.
Hàng trăm năm sau lời chứng nghiệm của Mỵ Châu đã thành hiện thực (!?). Cho đến ngày nay người dân Cổ Loa vẫn truyền cho nhau nghe những câu chuyện li kì đó : Một số người dân khi quăng lưới trên sông Hoàng Giang đã kéo lên được một bức tượng hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại không có đầu. Cho rằng đây chỉ là một bức tượng bình thường, họ lại vứt bức tượng xuống sông.
Nhưng mấy lần sau khi quăng lưới kéo lên đều được bức tượng đó. Người dân trong vùng cho rằng, bức tượng linh thiêng đó chính là tượng công chúa Mỵ Châu.
Ngay sau đó các bô lão ở Cổ Loa đã mang võng đào ra làm lễ xin được rước về, trước khi rước tượng về, một cụ bô lão có nói: Nếu có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó để con cháu lập đền thờ. Quả nhiên sau khi gánh về chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất
là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.
là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.
Nhân dân cho rằng đây chính là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nói năm xưa, trôi ngược biển Đông về đất Tổ để hầu vua cha. Từ đó hàng năm, người dân trong vùng đã cử người trông coi Am này, người được cử phải có đạo đức tốt, gia đình đầy đủ hạnh phúc, con cái trưởng thành. Do vậy những ai được chọn làm quan Đám đều rất tự hào. Và cứ 2 tháng một lần, vị quan Đám đó sẽ tiến hành lễ tắm rửa tượng, thay váy áo cho công chúa.
Theo lời kể của cụ Chu Trinh, 82 tuổi người có nhiều năm làm quản lý khu di tích Cổ Loa :
Truyền thuyết xưa có truyền lại, nguyên thủy của pho tượng cụt đầu là một khối đá nguyên vẹn, có hình dáng của một người cụt đầu ngồi theo thế xếp bằng, hai tay song song, đặt lên đầu gối. Nhưng sau này các cụ cao niên trong làng Cổ Loa, trong đó có cả cụ Chu Trinh đã phát hiện ra pho tượng đá gồm ba khối đá ghép lại, trong lòng có chỗ bị rỗng. Thời ông cha cụ còn sống có kể lại, vào thời Bắc thuộc, Mã Viện đã cho quân lính bổ pho tượng ra để moi ngọc trong lòng pho tượng nên tượng mới bị chẻ ra làm ba mảnh (?!). (theo Lao Động Thủ Đô)
Truyền thuyết xưa có truyền lại, nguyên thủy của pho tượng cụt đầu là một khối đá nguyên vẹn, có hình dáng của một người cụt đầu ngồi theo thế xếp bằng, hai tay song song, đặt lên đầu gối. Nhưng sau này các cụ cao niên trong làng Cổ Loa, trong đó có cả cụ Chu Trinh đã phát hiện ra pho tượng đá gồm ba khối đá ghép lại, trong lòng có chỗ bị rỗng. Thời ông cha cụ còn sống có kể lại, vào thời Bắc thuộc, Mã Viện đã cho quân lính bổ pho tượng ra để moi ngọc trong lòng pho tượng nên tượng mới bị chẻ ra làm ba mảnh (?!). (theo Lao Động Thủ Đô)Truyền thuyết Trọng Thủy – Mỵ Châu
Mỵ Châu (? – 208 TCN hoặc 179 TCN) là con gái của vua An Dương Vương nước Âu Lạc. Theo bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư chép lại:
Mỵ Châu là con gái duy nhất của vua An Dương Vương. Năm 210 TCN, Triệu Đà là quan lại của nhà Tần ở Quảng Đông mang binh sang xâm lược Âu Lạc nhưng bị An Dương Vương đánh bại, Triệu Đà biết không đánh nổi bèn dùng kế cầu hoà,
An Dương Vương đồng ý, nhân cơ hội đó Triệu Đà cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy và kết thông gia với An Dương Vương.
An Dương Vương đồng ý, nhân cơ hội đó Triệu Đà cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy và kết thông gia với An Dương Vương.
Trọng Thuỷ sang ở rể tại Âu Lạc và đồng thời tìm hiểu các bị mật quân sự của Âu Lạc mà cụ thể là Nỏ thần. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu rằng : “Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau ?”.
Mỵ Châu nói : “Thiếp có cái áo ấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu”. Trọng Thủy về Quảng Đông báo cho Đà biết, Năm 208 TCN Triệu Đà xua quân tấn công Âu Lạc, nỏ thần đã bị hỏng, An Dương Vương thua trận và mang con là Mỵ Châu chạy về phía Nam,
Ttin lời chồng là Trọng Thuỷ hứa sẽ tìm mình, Mỵ Châu đã rút lông ngỗng trên tấm áo của mình rải dọc đường, Trọng Thuỷ cùng quân dựa vào lông ngỗng đuổi theo. Vua An Dương Vương chạy đến bờ biển cùng đường, gọi rùa thần Kim Quy lên cứu, rùa thần hiện lên bảo với ông, kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy ông quay lại nhìn thấy lông ngỗng dọc đường và rút gươm chém Mỵ Châu.
Trước khi bị cha chém, Mỵ Châu có khấn rằng Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này. Sau khi bị vua cha chém chết, máu bà chảy loang mặt nước biển, loài trai biển nuốt vào bụng hoá làm hạt minh châu.
Về năm mất, Sử ký của Tư Mã Thiên lại viết rằng Âu Lạc bị Triệu Đà đánh bại ngay sau khi Lữ Hậu chết, Lữ Hậu chết năm 180 TCN, vì thế một số sách báo ngày nay cũng viết Âu Lạc sụp đổ năm 179 TCN. Suy ra Mỵ Châu có thể mất năm 179 TCN.
Ở Cổ Loa còn lưu truyền một truyền thuyết về Mỵ Châu và bức tượng đá. “Một thời gian sau khi Mỵ Châu mất, tự nhiên ở khu Đầm Cả xuất hiện một hòn đá lạ. Có người đánh dậm, đánh cả ngày mà không được gì, chỉ thấy trong dậm có một hòn đá, vứt xuống nước nhiều lần mà không được cuối cùng phải vớt hòn đá lên bờ.
Trẻ chăn trâu thấy hòn đá lấy làm vui thích trèo lên nghịch ngợm, sau về nhà đều bị ốm. Từ đó dân làng biết hòn đá là linh thiêng nên dân mấy làng cùng đến rước, nhưng tất cả các làng xung quanh đều không làng nào rước được về, chỉ khi dân Cổ Loa mang võng đào ra khiêng,
cử hai cụ đám đến thì hòn đá lập tức lăn vào võng và dân Cổ Loa khiêng về được.
cử hai cụ đám đến thì hòn đá lập tức lăn vào võng và dân Cổ Loa khiêng về được.
Đi đến quãng nay là am Mỵ Châu thì võng bị đứt, không cách nào mang đi được nữa, dân làng bèn lập am thờ tại đó. Tảng đá Mỵ Châu ban đầu có kích thước nhỏ, sau cứ lớn dần mãi. Đến khi nhân dân phải cầu xin tảng đá mới thôi không lớn nữa. Tảng đá trong mình có ngọc nên ngày một lớn và rất linh thiêng, cho đến khi quân giặc kéo sang, lấy ngọc mang đi, lấy ngọc mang đi, tảng đá mới thôi không lớn nữa và không còn linh thiêng. Chỗ mà hòn đá được vớt lên được nhân dân gọi là Lăng Bà Chúa”.
Những câu chuyện dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử phản ánh một dấu ấn sâu đậm của Mỵ Châu trong đời sống tâm linh của nhân dân Cổ Loa với một sự linh thiêng thành kính.
Những câu chuyện dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử phản ánh một dấu ấn sâu đậm của Mỵ Châu trong đời sống tâm linh của nhân dân Cổ Loa với một sự linh thiêng thành kính.
Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tàm 11/7/2015
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét