Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Tác dụng của Caffein


Tác dụng của Caffein

caffein    Trong mấy tháng vừa qua, nước tăng cường sinh lực-energy drink- chứa caffein đã là đề tài được công chúng, các nhà y khoa học cũng như truyền thông thậm chí có cả mấy Nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ thảo luận, bàn tán. Nguyên do là  cơ quan FDA Hoa Kỳ cho hay họ  đã khởi sự điều tra báo cáo về 13 tử vong có thể do loại nước uống 5-Hour Energy vả 5 tử vong với một suy tim trầm trọng do nước  uống chứa nhiều caffein Monster Energy Drink. Tuy nhiên cơ quan nhấn mạnh rằng các báo cáo này chưa phải là kết luận của FDA.
Theo Consumer Report,  một lon 8-oz 5-Hour Energy Extra Strength có 242 mg caffeine, Red Bull có 83 mg và Monster có 92mg. Nhiều loại nước uống có lượng caffein cao hơn trên nhãn hiệu tới 20 lần và nhiều loại có caffein mà lại không ghi.
Xin nhắc lại, một ly cà phê 8-oz có khoảng 100 mg. Theo các nhà nghiên cứu, một người trưởng thành khỏe mạnh có thể dùng tới 400 mg caffeine một ngày, phụ nữ có thai nên giới hạn ở mức độ 200 mg còn trẻ em từ 45-85 mg.
Cà phê có chất caffein là loại nước uống rất phổ biến và ưa thích từ thuở xa xưa. Vậy mà tại sao bây giờ lại có chuyện gây ra chết chóc bệnh hoạn như vậy.
Xin cùng tìm hiểu.
Caffein là gì?

Caffein là một hóa chất hữu cơ thuộc nhóm purine có trong nhiều loại thực vật như trà, cà phê, coca…
Sau khi uống, caffein thấm nhập rất mau vào khắp các bộ phận của cơ thể. Thời gian bán hủy là 3 giờ nên caffeinkhông tích tụ trong cơ thể. Đa số caffein được thải khỏi cơ thể qua nước tiểu.
Tác dụng chính của caffein là kích thích hệ thần kinh trung ương, tăng sinh hoạt trí tuệ, làm ta tỉnh táo nhất là khi con người mỏi mệt hoặc chán nản. Với giấc ngủ thì ảnh hưởng tùy người: có người gặp khó khăn, có người lại ngủ tốt khi uống cà phê.
 Caffein làm thư giãn cơ thịt trong thành động mạch, tăng sức co bóp của tim, tăng máu từ tim đưa ra, tăng huyết áp.
Caffein tăng dịch vị bao tử cho nên nhiều người thích uống cà phê sau khi ăn để dễ tiêu hóa thực phẩm.
Caffein làm tăng sự sức chịu đựng của vận động viên thể thao, vì thế Ủy Ban Thế Vận không cho phép vận động viên dùng quá nhiều chất kích thích này.
Caffein làm tăng sự bài tiết nước tiểu.

Bình thường cơ thể chịu đựng được khoảng 200mg caffein. Khi dùng trên 1000 mg thì có người thấy mất ngủ, hồi hộp, tim đập nhanh, thở hỗn hển, đi tiểu nhiều, ù tai, sót ruột.
Tử vong xẩy ra khi dùng trên 10 gram caffein tức là từ 80-100 ly cà phê!
Ảnh hưởng của caffein với sức khỏe
Về ảnh hưởng của caffein lên sức khỏe có nhiều ý kiến khác nhau. Các nhà khoa học vẫn liên tục làm việc để tìm ra câu trả lời thỏa đáng về ảnh hưởng này. Sau đây là một số kết quả đã đạt được.
1-Ý kiến thuận
Từ năm 1958, cơ quan Dược Phẩm và Thực Phẩm Hoa Kỳ đã coi caffein như an toàn và không có nguy hại.
Hiệp hội Y Khoa Hoa Kỳ cũng có ý kiến tương tự: uống cà phê hay trà vừa phải không có ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ.
Nhiều chuyên gia nói người khỏe mạnh dùng không quá 300mg caffein mỗi ngày ( khoảng 3 ly cà phê ) thì là mức độ trung bình.
Mỗi người có mức chiụ đựng với caffein khác nhau. Có người uống vài ba ly không sao, có người chỉ uống nửa ly đã cảm thấy tác dụng kích thích của caffein.
Thường thường một nửa số caffein tiêu thụ được thải ra khỏi cơ thể 3- 4 giờ sau khi uống. Uống cà phê mà lại hút thuốc lá thì chất caffein lại được thải ra khỏi cơ thể mau hơn.
a-Trẻ em với cà phê
Nhiều bậc cha mẹ tỏ ý e ngại khi thấy con trẻ uống nhiều nước giải khát có caffein. Theo viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ thì trẻ con và người lớn đều có khả năng chuyển  hoá caffein như nhau và caffein không có ảnh hưởng gì tới sự năng động và sự tập trung của  chúng. Tuy nhiên, caffein là một chất có tác dụng như dược phẩm nhẹ và tuỳ theo số lượng, có thể kích thích hệ thần kinh.
b-Caffeine với ung thư
Có một thời gian, caffein và cà phê đã bị gán cho là có thể gây ra vài loại ung thư như bao tử, miệng, gan, ruột già, vú. Nhưng các nghiên cứu mới đây đã gỡ nỗi oan này cho caffein. Tài liệu hướng dẫn về dinh dưỡng của Viện Ung Thư Hoa Kỳ nhấn mạnh là không có bằng chứng nào về việc caffein làm tăng nguy cơ ung thư các loại.
Nghiên cứu ở Nhật, Na Uy, Hoa Kỳ đều trấn an giới tiêu thụ là caffein không gây ung thư. Đồng thời nghiên cứu của bác sĩ Lee Wattenberg tại đại học Minnesota lại cho là cà phê xanh có thể ngăn chặn ung thư ở các con vật trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu ở Na uy cho là caffein có thể ngừa ung thư ruột già.
c-Caffein và bệnh tim mạch
Nhiều người tin là cà phê làm tăng huyết áp nên sợ không giám uống. Cũng có người nghĩ là cà phê làm tim đập nhanh, có thể đưa tới suy tim. Sở dĩ họ tin như vậy là vì một nghiên cứu của đại học Y khoa John Hopkins vào năm 1985 cho hay nếu uống trên năm ly cà phê mỗi ngày thì nguy cơ bệnh tim tăng lên gấp ba lần so với người không uống cà phê.
Sự thực thì caffein dùng vừa phải ( một hay hai ly một ngày ) không làm tăng huyết áp hoặc đau tim, trừ khi qúa nhậy cảm với caffein thì huyết áp có thể tăng lên chút ít và kéo dài không quá vài giờ đồng hồ. Nhiều nghiên cứu cho hay sự tăng huyết áp này cũng giống như khi ta bước lên mươi bậc cầu thang.
Có nghiên cứu ở Ý năm 1987 cho là phụ nữ uống cà phê mỗi ngày thì huyết áp lại hơi xuống thấp.
Năm 1989, nghiên cứu mang tên  Framingham Heart Study cho hay không có một liên hệ nhân qủa nào giữa caffein và bệnh tim mạch. Ngay sau đó, đại học Harvard rồi đến Tạp chí của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ cũng hỗ trợ kết quả trên và kết luận là dùng caffein không làm tăng nguy cơ bệnh tim hay tai biến mạch máu não.
Tuy nhiên, để an toàn, quý vị có bệnh tim mạch nên tham khảo bác sĩ về việc  có nên  dùng nước uống có caffein hay không  và dùng bao nhiêu là thích hợp.
d-Caffeine và thai nghén.
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của caffeine vào việc thai nghén và thai nhi.
Năm 1988, một ý kiến được nêu ra là hai ly cà phê mỗi ngày có thể làm giảm khả năng sinh sản của nữ giới. Nhưng nhiều nghiên cứu khác vào năm 1990 của Trung Tâm Kiểm Soát và Ngừa Bệnh Hoa Kỳ CDC và Đai Học Harvard đều cho là tiêu thụ caffein không có ảnh hưởng gì đến sự thụ thai, sự hư thai hay trẻ em sinh thiếu ký.
Nhưng giới chức y khoa cũng như Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa kỳ thì cẩn thận hơn và vẫn khuyên các bà mẹ mang thai là không nên uống qúa hai ly cà phê mỗi ngày, để tránh hậu quả không tốt.
Về việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng vậy: caffein có thể tràn vào sữa mẹ nhưng nếu chỉ uống hai ba ly một ngày thì cũng không ảnh hưởng gì tới em bé.
e-Caffeine và bệnh loãng xương.
Vì có nghiên cứu cho hay, dùng trên 700 mg caffeine mỗi ngày có thể làm tăng calcium và magnesium qua nước thiểu cho nên nhiều người cứ sợ caffein cũng là nguy cơ gây bệnh loãng xương. Nhưng những nghiên cứu gần đây đều không tìm ra liên hệ nhân quả cuả caffeine với loãng xương. Như vậy xin qúy vị cứ yên tâm mà thưởng thức cà phê, nhưng không nên dùng nhiều quá. Và nếu còn e ngại thì uống thêm nửa ly sữc càbù lại được calcium thất thoát này.
f-Caffeine với hiện tượng chệch múi giơ.
Caffein giúp giải quyết khó khăn cuả nhiều người khi di chuyển qua nhiều múi giờ khác nhau. Đó là hiện tượng  chệch múi giơ (jet lag).
Một chuyên viên không gian, Charles F. Ehert, cho là caffein có thể điều chỉnh nhịp sinh học trong người và làm giảm triệu chứng của chệch múi giờ như rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi. Theo ông ta, vào ngày khởi hành, nếu di chuyển về phía Tây thì nên uống ba ly cà phê đặc vào buổi sáng; còn nếu bay về hướng Đông thì ngưng uống cà phê cho đến buổi chiều.
Ngoài ra , caffein còn được dùng trong y học khi phối hợp với thuốc chống đau aspirin, acetaminophen (Tylenol), Ergot alkaloid. ..
Tạp san của American Medical Association số tháng 6 năm 1999 công bố một kết quả nghiên cứu cho hay uống 4 ly cà phê một ngày thì người đàn ông có khả năng giảm sạn túi mật tới 45%.

 2.Ý kiến nghiêm khắc
Những người nhìn cà phê với đôi mắt nghiêm khắc thì cho là caffein gây ra nghiện và có nhiều tác dụng không tốt cho sức khỏe.
Họ đưa ra những nghi ngờ là uống nhiều caffein gây cao huyết áp, là nguy cơ của cơn suy tim, bao tử bị lở loét, phụ nữ sanh thiếu tháng và thai nhi thiếu cân, có thể gây ra ung thư bọng đái, tụy tạng, vú ruột già, tử cung.
Tạp san của American Medical Association ngày 26-1-94 công bố có sự liên hệ đáng kể giữa uống nhiều cà phê với giảm tỷ trọng đặc của xương hông, cột sống phụ nữ. Nhưng thay đổi này không xẩy ra nếu các bà uống một ly sữa mỗi ngày.
Caffein cũng được nói là làm tăng các triệu chứng khó chịu trước mỗi kinh kỳ của phụ nữ  như là mất ngủ, lo âu, gắt gỏng, bất an, căng vú… và làm tăng sự sản xuất kích thích tố cortisol từ nang thượng thận, làm đàn bà giảm khả năng thụ thai, đàn ông sinh ra tinh trùng bất thường.
Tập san  y học của Hội Thần kinh Tâm Trí Hoa Kỳ kể lại trường hợp khá hi hữu như sau: Một vị Đại Tá 37 tuổi than phiền với bác sĩ là từ hơn hai năm nay, ông ta luôn luôn ở trong tình trạng lo âu, bồn chồn, không tập trung được trí nhớ, đôi khi dễ cau có gắt gỏng với đồng bạn, hay đau bụng, ói mửa, đại tiện không thông, đêm mất ngủ…
Các thử nghiệm máu, nước tiểu đều không tìm ra bất thường nào.
Một bác sĩ thần kinh bèn hỏi là ông có uống nhiều cà phê không. Vị Đại Tá nhận là mỗi ngày ông ta uống tới mươi ly cà phê, cộng thêm vài lon coca cola, buổi tối uống thêm ly sữa nóng pha với chocolate. Ông ta nói vì công việc nhiều quá nên cần uống cà phê để tỉnh táo làm việc.
Các bác sĩ bèn yêu cầu vị Đại Tá ngưng tất cả nước uống có caffein, thì các triệu chứng trên giảm lần và hết hẳn.

Nhiều người còn than phiền tối trước uống cà phê làm họ ngủ không ngon giấc, mà buổi sáng dậy cứ mệt mỏi, nhức đầu, phải uống một ly cà phê mơí làm việc được.
Điều này là do trong giấc ngủ, chất  adenosine gây ra êm dịu bám  vào các tế bào thần kinh, làm hoạt động của chúng giảm và ta đi vào giấc ngủ. Do có cấu trúc tương tự, nên khi uống cà phê, thì tế bào thần kinh nhầm tưởng caffein là những phân tử adenosin, nên thu hút caffein. Tế bào trở nên năng động, kích thích não thùy tiết ra epinephrine. Epinephrine làm tim đập nhanh, hơi thở dồn dập, con ngươi mở rộng, huyết áp tăng, bắp thịt cương co, con người ở trong trạng thái năng động, tỉnh táo. Nhưng khi epinephrine tan biến thì các đáp ứng trên xìu xuống, con người mệt mỏi. Muốn lấy lại sự năng động,  nhiều người phải uống một ly cà phê để tỉnh táo trở lại. Những người thường xuyên dùng cà phê sẽ phụ thuộc vào chất này cũng như người hút thuốc lá cần nicotin.

Một thắc mắc nhiều người thường nêu ra là: nếu như caffein có thể gây ra tác hại thì tại sao các loại  nước uống có chất này lại được bán khắp nơi? Câu trả lời rất giản dị: Hàm lượng caffein trong các thức uống thông thường không cao đến độ có thể gây rủi ro. Vì thế mà nước trà, cà phê đã trở nên phổ biến ở khắp mọi gia đình.
Kết luận
Chuyện energy drink có gây ra rủi ro cho sức khỏe hoặc tử vong hay không còn đang được cơ quan hữu trách là FDA điều tra.
Tuy nhiên, trong một văn thư trả lời ưu tư của Thượng Nghị Sĩ Richard Durbin (D-Ill) về ảnh hưởng của nước uống chứa caffein, Phó Giám đốc Cơ quan FDA Jeanne Ireland  cho hay một người lớn khỏe mạnh có thể chịu đựng tới 400 mg caffein một ngày mà không bị những bệnh như tim mạch, loãng xương, lú lẫn…
Cơ quan cũng nhắc nhở dân chúng rằng các loại nước uống này không thay thế cho sự ngủ-nghỉ bình thường mà cơ thể cần và trước khi dùng, nên hỏi ý kiến bác sĩ vì chúng có thể có các chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh tật của mình. FDA cũng đòi hỏi các nhà sản xuất phải bảo đảm sản phẩm an toàn và có ghi rõ thành phần trên nhãn hiệu trước khi đưa ra thị trường.
Thành ra, bà con ta hãy cứ “vô tư” thưởng thức khoảng 3 ly cà phê mỗi ngày là “an toàn xa lộ”.
Chứ đừng như nhà văn Honore’ de Balzac, mỗi ngày uống tới hơn hai chục ly cà phê, thậm chí nhiều khi ông còn nhai nuốt bột cà phê mới thấy đã. Ông làm việc 15 giờ mỗi ngày và diển tả tác dụng của cà phê đại ý như sau: “Ngay sau khi những giọt cà phê đen nóng hổi rơi vào bao tử thì tức khắc trong người ông có một sự khích động lớn xẩy ra. Các ý tưởng xuất hiện như những binh đòan đại quân trên chiến trường và trận chiến bắt đầu. Ký ức trở lại như vũ bão, phép dùng chữ ẩn dụ, ví von, lý luận chan hòa tạo cho ông một nguồn cảm hứng đế viết. Viết liên tục với những dòng chữ tràn ngập trên trang giấy trắng”.
Nghe nói ông bị suy tim.
Chẳng biết có phải vì uống quá nhiều cà phê.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Vĩnh Bảo sưu tầm 1/12/2012

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Cách ăn tỏi


Cách ăn tỏi 

Tỏi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tỏi
Tỏi (Allium sativum), hình trong Medical Botany, 1793, của William Woodville.
Tỏi (Allium sativum), hình trong Medical Botany, 1793, của William Woodville.
Phân loại khoa học
Giới (regnum):Plantae
(không phân hạng):Angiospermae
(không phân hạng):Monocots
Bộ (ordo):Asparagales
Họ (familia):Alliaceae
Phân họ (subfamilia):Allioideae
Tông (tribus):Allieae
Chi (genus):Allium
Loài (species):A. sativum
Tên hai phần
Allium sativum
L.
Tỏi (danh pháp hai phần: Allium sativum) là một loài thực vật thuộc họ Hành, nghĩa là có họ hàng với hành tâyhành tahành tímtỏi tây, v.v... và cũng được con người sử dụng làm gia vịthuốcrau như những loài họ hàng của nó.
Phần hay được sử dụng nhất của cả cây tỏi là củ tỏi. Củ tỏi có nhiều tép. Từng tép tỏi cũng như cả củ tỏi đều có lớp vỏ mỏng bảo vệ. Tỏi sinh trưởng tốt trong môi trường nóng và ẩm. Nếu muốn bảo quản tỏi dùng trong nấu nướng, cần cất tỏi ở chỗ khô ráo thì sẽ không mọc mầm. Khi nấu nướng cần bỏ lớp vỏ bảo vệ và vứt bỏ phần mầm tỏi thường màu xanh có thể nằm sâu trong tép tỏi. Tỏi được cho là có tính chất kháng sinh và tăng khả năng phòng ngừa ung thư, chốnghuyết áp caomỡ máu ở con người. Tuy nhiên cần bóc vỏ tỏi và để trong không khi một lát rồi ăn sống thì sẽ có hiệu quả chống ung thư cao hơn. Một số dân tộc trên thế giới tin rằng tỏi giúp họ chống lại maquỷma cà rồng.

Củ tỏi khô được bóc vỏ
Tỏi tươi
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng623 kJ (149 kcal)
Carbohydrat33.06 g
Đường1.00g
Chất xơ thực phẩm2.1 g
Chất béo0.5 g
Protein6.39 g
beta-caroten5 μg (0%)
Thiamin (Vit. B1)0.2 mg (15%)
Riboflavin (Vit. B2)0.11 mg (7%)
Niacin (Vit. B3)0.7 mg (5%)
Axit pantothenic (Vit. B5)0.596 mg (12%)
Vitamin B61.235 mg (95%)
Axit folic (Vit. B9)3 μg (1%)
Vitamin C31.2 mg (52%)
Canxi181 mg (18%)
Sắt1.7 mg (14%)
Magie25 mg (7%)
Mangan1.672 mg (84%)
Phospho153 mg (22%)
Kali401 mg (9%)
Natri17 mg (1%)
Kẽm1.16 mg (12%)
Selen14.2 μg
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngàycủa người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

Mục lục

  [ẩn

[sửa]Các thứ

Allium sativum gồm hai thứ[1] or varieties.[2]
  • Allium sativum var. ophioscorodon (Link) Döll, đôi khi được coi là một loài riêng với tên gọi Allium ophioscorodon G.Don.
  • Allium sativum var. sativum.

[sửa]Chú thích


Cách ăn tỏi trị bệnh cao huyết áp
Tỏi không chỉ đơn thuần là một loại thực phẩm gia vị mà nó còn có nhiều đặc tính chữa bệnh.

Củ tỏi tươi có thể giúp chúng ta kháng khuẩn và virus, vì nó giúp phòng ngừa và chữa trị được bệnh cảm cúm và cảm lạnh thông thường, loại trừ nhiều vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng gây kháng thuốc trong cơ thể. Ngoài ra, tỏi còn chứa vitamin C, selen, magie, canxi, kali, mangan và flavonoids rất có lợi cho sức khỏe con người.


Nhiều nghiên cứu gần đây đã khẳng định việc ăn tỏi hàng ngày có thể giúp ngăn ngừa huyết áp cao. Tỏi có chứa một hợp chất từ lưu huỳnh là allicin, có tác dụng tích cực trong bảo vệ, ngăn ngừa và chống lại các bệnh của hệ thống tim mạch như xơ vữa động mạch và cao huyết áp. Allicin có trong tỏi phản ứng với tế bào hồng cầu tạo thành các hợp chất giàu lưu huỳnh. Các hợp chất này làm giảm áp lực của các thành mạch máu giúp cho quá trình lưu thông máu nhanh hơn sẽ làm cho huyết áp không tăng lên và có thể giảm xuống mức bình thường.
Ngoài ra, nó cũng làm tăng việc sản xuất oxit nitric, có vai trò quan trọng trong vận chuyển ôxy trong máu. Do thành phần của tỏi có chứa chất chống ôxy hóa (vitamin C và selen) nên nó có tác dụng làm sạch máu, giảm cholesterol “xấu”, ngăn ngừa việc hình thành các “mảng bám” trên các thành động mạch, giảm tối đa nguy cơ hình thành cục máu đông và các bệnh về hệ thống tim mạch làm cho huyết áp luôn được bình thường.
http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2012/20121129-154241-1-toi.jpeg
Bạn cần lưu ý rằng, khi thái nhỏ, đập nát hoặc nghiền tỏi thì cần để khoảng gần 10 phút trước khi sử dụng để cho lưu huỳnh có trong củ tỏi phản ứng với ôxy, tạo thành hợp chất allicin có tác dụng làm giảm huyết áp và điều trị một số căn bệnh khác. Một tép tỏi trung bình nặng khoảng 3gram, bạn có thể ăn thường xuyên hàng ngày và nhận được khoảng 5mg allicin một ngày. Đó là một hàm lượng đủ có thể giúp bạn ngăn ngừa các bệnh khác và ổn định huyết áp.
Viet Bao.vn (Theo ANTG)

Tỏi, một số hiệu quả kỳ diệu và những điều cần lưu ý

Lương y VÕ HÀ
Trong những thập niên gần đây, khi tỷ lệ bệnh tim mạch gia tăng nhiều ở các nước phát triển, tỏi đã được xem là một loại thực phẩm chức năng có gía trị hàng đầu trong việc chống oxy hoá, bảo vệ màng tế bào, giảm cholesterol, giảm huyết áp dể phòng chống các loại bệnh tim mạch.
Tỏi là một gia vị thông dụng của mọi gia đình.  Từ thời cổ đại ở Ai Cập, người ta đã biết dùng tỏi để làm thuốc sát trùng trong các loại bệnh hen suyển, viêm phổi, nhiễm trùng đường ruột. Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi cũng biết dùng  tỏi để sát trùng ngoài da, chữa bò cạp, rết cắn, chữa mụn cóc, hạt cơm mọc trên da.   Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến tác dụng chống oxy hoá, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông của một số hoạt chất trong tỏi.

Thành phần, dược tính.

Tỏi có 3 hoạt chất chính allicin và liallyl sulfide và ajoene.   Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi.  Allicin không hiện diện trong tỏi. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của phân hoá tố anilaza, chất aliin có sẳn trong tỏi biến thành allicin. Do đó,càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính càng cao.  Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 đến 2 gam allicin.  Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra.  Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính.  Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất nầy.  Đun qua lò vi sóng sẽ phá huỷ hoàn toàn chất allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương[i] như saphylococcus, streptococcus, samonella, V. cholerae, B. dysenteriae, mycobacterium tuberculosis. Tỏi cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi trái ra, bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida.
Liallyl sulfide không mạnh bằng allicin[ii].  Tuy nhiên, sulfide không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ được dược tính khi nấu.  Giống như allicin, càng giã nhỏ càng sinh ra nhiều sulfide, nếu nấu nguyên củ tỏi sẽ không có hiệu lực. Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng trên hệ tim mạch mà còn có hiệu lực trên tế bào ung thư.  Những nghiên cứu của Trung Quốc và Ý được phổ biến trong tạp chí British Journal of Cancer số tháng 3/1993 cũng cho biết tỏi có nhiều hoạt chất có thể ngăn chận sự phát triển của nhiều loại khối u ung thư. Theo các nhà khoa học trường Đại học Pensylvania khả năng ngăn chận khối u ung thư của tỏi liên quan đến các hợp chất S-allyl cysteine, diallyl disulfide  và diallyl trisulfide. Một hoạt chất khác ít được nhắc đến là ajoene.  Ajoene cũng có tác dụng làm giảm độ dính  của máu.  Ngoài ra, tỏi còn có hàm lượng khoàng chất selenium, một chất chống oxy hoá mạnh làm tăng khả năng bảo vệ màng tế bào, phòng chống ung thư và bệnh tim mạch của tỏi.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh Can, Vị.  Tỏi có tác dụng thông khiếu, giải phong, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt, hạch. 
Tỏi và bệnh tim mạch.
 Một công trình nghiên cứu về tỏi đã từng được phổ biến  trên tạp chí Praxis ở châu Âu. Bác sĩ Piotrowski thuộc trường Đại học Geniva qua nghiên cứu[iii] trên 100 bệnh nhân cao huyết áp đã cho biết huyết áp trên các đối tượng nầy bắt đầu hạ sau 1 tuần được điều trị với dầu tỏi.Liều dùng giảm dần xuống trong 2 tuần kế tiếp, theo sau là liều duy trì.
Một bài viết khác trên tạp chí Lancet (31.5.1975) của Tiến sĩ R.C. Jain, M.D. thuộc trường Đại học Benghzi, Lybya cũng đề cập đến một nghiên cứu về tác dụng hạ mỡ máu của tỏi được kiểm chứng trên những con thỏ thí nghiệm.  Một nhóm thỏ được nuối bằng chế độ ăn nhiều mỡ để mức cholesterol toàn phần tăng vọt đến 2.100.  Một nhóm thỏ khác ăn cùng loại thức ăn trên nhưng được bổ sung thêm chất trích xuất từ tỏi thì mức cholesterol trung bình chỉ khoảng 419. Những nhà khoa học cho rằng độ cholesterol nầy vẫn còn cao so với bình thường.  Tuy nhiên hiệu quả cải thiện mỡ trong máu của tỏi là rất rõ ràng.  Bác sĩ Jain cũng cho biết những mãng xơ vữa trong những con thỏ được dùng tỏi không nghiêm trọng như ở những con thỏ không dùng tỏi.
Một nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học Ấn độ trên những đối tượng khoẻ mạnh được cho dùng khoảng 2 ounce (khoảng 57g) tỏi hoặc lượng chất chiết xuất tỏi tương đương thì độ cholesterol giảm trung bình từ 229 xuống còn 213 trong vòng 3 giờ đồng hồ.  Ở một nghiên cứu khác, một số đàn ông bị áp huyết cao trung bình được dùng những viên tỏi.  Kết quả cho thấy những người nầy không chỉ hạ được độ cholesterol mà  còn hạ được áp huyết trong vòng từ 10 đến 40 ngày.  Một báo cáo của các nhà khoa học trường Đại học Newyork cũng cho biết những người ăn hàng ngày từ ½ đến 1 củ tỏi trong vòng từ 8 đến 24 tuần có thể hạ độ cholesterol xuống khoảng 9%.
Cơ chế tác dụng của tỏi trên hệ tim mạch.  Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào thải cholesterol và làm giảm sự hấp thụ cholesterol xấu qua màng ruột qua đó làm giảm độ lipid trong máu.  Hoạt chất của tỏi có tính chất  gần giống như nội tiết tố prostaglandin  PGI2 vừa nở mạch vừa ngăn chận quá trình kết tập tiểu cầu nên có tác dụng  hạ cao huyết áp.  Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch.  Trong các loại bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự oxy hoá những  tế bào  LDL ở thành mạch máu tạo thành mãng bám gây cứng động mạch và làm hẹp lòng mạch. Tỏi là một loại gia vị có những chất chống oxy hoá mạnh nhất trong số các gia vị thông thường, có thể ngăn chận quá trình nầy.
Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp.  Tỏi là một vị thuốc có tính nóng.  Có một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã lại cao trở lại.  Do đó, việc dùng lâu dài cần phải  phải linh động gia giảm tuỳ theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người.  Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị.  Ngoài ra, việc điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch  cần được phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hoà trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động chớ không nên chỉ dựa vào tỏi.  Sau đây là một công thức ngâm rượu tỏi để chữa cao huyết áp hoặc làm hạ độ cholesterol trong máu.  Dùng 300g tỏi.  Sau khi bóc võ và xắt lát mỏng, ngâm tỏi trong 600g rượu trắng khoảng 40o.  Sau 2 tuần chắt rượu ra để dùng.  Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần từ 15 đến 20 giọt.  Sau khi dùng khoảng 2 hoặc 3 tuần nên theo dõi huyết áp để giảm dần liều dùng xuống liều duy trì.

 Sau đây là một vài cách sử dụng tỏi thông thường.

Phòng và trị cúm. Giã nát 3 tép tỏi, hãm trong 50g nước sôi khoảng nửa giờ. Chắt lấy nước, nhỏ vào mũi mỗi bên khoảng 2 hay 3 giọt, ngày 2 hoặc 3 lần. 
Rửa vết thương, chỗ lở loét.. Pha loãng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để bảo quản. Kinh nghiệm của bác sĩ Taghiep (Nga) cho biết dùng nước tỏi chữa nhiễm trùng do bỏng sau 12,5 ngày thì lành trong khi điều trị với penicillin và sulfamid phải mất 14,5 ngày. 
Chữa đau răng.  Giã nát 2 tép tỏi trộn với một chút nước ấm. Đợi khoảng 10 phút sau, dùng một que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân.  Giã nát 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.
Chữa viêm họng.  Giã nát 2 tép tỏi, trộn 1 phần tỏi và 3 phần hành lá, buộc vào huyệt Hợp cốc ở bàn tay.  Để qua đêm.  Dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích thích mạnh vào huyệt có tác dụng “tả”để chữa viêm họng. Hành lá có tác dụng làm giảm độ nóng để tránh phồng da.  (Úp bàn tay xuống, xoè rộng 2 ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt hợp cốc nằm trên mặt lưng của bàn tay, ở chỗ lõm giữa 2 xương ngón tay cái và ngón tay trỏ.)
Kiện Tỳ, bổ khí, sinh tinh, chữa áp huyết thấp. Gà hấp cách thuỷ với tỏi. Dùng 1 con gà khoảng nửa ký, 40g tỏi thái mỏng, nửa chén rượu vang, gia vị vừa đủ.  Gà làm sạch, bỏ lông và nội tạng.  Hấp cách thuỷ, ăn trong ngày.  Không dùng cho người thể tạng nhiệt, nóng sốt hoặc đang bị các chứng viêm nhiễm đang phát triển.
Lưu ý. Do có tính nóng và tác dụng hành khí mạnh, cẩn thận khi  dùng tỏi cho người đang có thai, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang.  Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người.  Ngoài ra, người sắp được phẫu thuật không nên dùng tỏi vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu.  Một nghiên cứu còn cho biết dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm đối với những người đang điều trị HIV/AIDS[iv].

 

[i] Phạm hoàng Hộ. Cây có vị thuốc ở Việt Nam. NXB Trẻ. 2006. Tr. 608
[ii] Are there health benefits in using garlic?www.gourmetgarlicgardens.com/health.htm

[iii] Mark Bricklin. The practical Encyclopedia of Natural Healing. Rodale Press. Tr.204

[iv] Garlic supplements can impede HIV Medication.http://www3.niaid.nih.gov/news/newsreleases/2001/garlic.htm

Tác dụng chữa bệnh ít biết của tỏi

Tỏi chẳng những dùng làm gia vị mà còn dùng làm thuốc là điều đã được ghi nhận trên toàn thế giới. Khoa học hiện đại đã nói về về tác dụng của tỏi với sức khỏe của người xưa, và phát hiện nhiều lợi ích mới của tỏi.
Khoa học hiện đại cũng đã phát hiện nhiều tác dụng chữa bệnh của tỏi. Ảnh minh họa.
Tỏi có nguồn gốc từ Trung Á, được trồng cách đây 5 000 năm. Người Ai Cập cổ đại rất tôn sùng tỏi, là nơi trồng tỏi đầu tiên. Họ coi tỏi thiêng liêng đến mức đã đặt trong mộ của các pharaoh. Các vận động viên Hy Lạp và La Mã cổ đại ăn tỏi trước khi thi đấu và binh lính buộc phải ăn tỏi trước khi xung trận. Hippocrates, được coi là “Cha đẻ của Y học” đã dùng tỏi chữa lành các khối u.
Tỏi (allium sativum) là thành viên của họ thân thảo gốc phình to (củ), chứa các hợp chất hữu cơ của lưu huỳnh thiosulfinat, sulfoxit, và dithiin. Những hợp chất của lưu huỳnh gây ra mùi đặc trưng (hôi) của nó, song chính chúng mang lại nhiều lợi ích cho việc tăng cường sức khỏe.
Sulfua trong tỏi tạo ra khí sulfua hydro (H2S) – mùi hôi, nhưng ức chế sự ngưng đọng của các tiểu cầu, làm giãn mạch máu, giúp huyết áp được kiểm soát (ổn định). Hơn nữa những hợp chất lưu huỳnh còn hỗ trợ quá trình trao đổi chất sắt và chống ôxy hóa và làm giảm cholesterol tỷ trọng cao (LDL).
Tỏi có đặc tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống ký sinh trùng, và kháng virút rất mạnh. Nó thay thế lý tưởng cho các loại kháng sinh nguy hiểm trong khi các thuộc tính kháng nấm giúp quản lý nấm lưỡng bội (ở miệng và bộ phận sinh dục người) (candida albicans), chống AIDS và ung thư.
Tỏi giúp chống bệnh như cảm lạnh, cúm, ho gà, viêm phế quản, và nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiều tài liệu nói rằng chỉ cần mỗi ngày ăn một tép tỏi ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh.
Một số nghiên cứu dịch tễ học cho rằng uống tỏi làm giảm nguy cơ đau dạ dày và ung thư đại tràng. Theo dõi trên 40 000 phụ nữ sau mãn kinh, những người đã ăn một lượng tỏi phù hợp  gần như giảm 50% nguy cơ ung thư đại tràng. Các tế bào ung thư bị các hợp chất allyl trong tỏi trấn áp nên phát triển chậm và thậm chí còn ngừng hẳn lại.
Tỏi chẳng những chứa nhiều hợp chất hữu cơ của lưu huỳnh mà còn là nguồn các vi chất dinh dưỡng. Trong tỏi chứa các chất mangan, vitamin B6, vitamin C, vitamin B1, phốt pho, selen, canxi, kali, và đồng.
Khi nấu chín tỏi gần như không còn tác dụng nữa, vì allicin rất dễ bị phân hủy. Chỉ nghiền hoặc cắt tỏi để kích hoạt enzym chuyển đổi alliin thành allicin. Allicin là thành phần có ích lợi lớn cho sức khỏe. Thái nhỏ hoặc nghiền rồi để tỏi ngoài không khí chừng 10 phút sẽ hòan thành được quá trình enzym hoá alliin.
Với khả năng phòng ngừa và chữa bệnh tốt, tỏi chính là “đồng minh” tốt cho sức khỏe con người.
Nguyễn An


Tỏi không tốt cho người bị bệnh gan
Tỏi không tốt cho người bị bệnh gan
Những ai không nên ăn tỏi?


Ăn nhiều tỏi trong thời gian dài là tác nhân làm tổn thương mắt và tổn thương gan.
Bệnh gan

Với những bệnh nhân viêm gan, tỏi không hề có tác dụng trị bệnh, trái lại, một số thành phần của tỏi khi vào dạ dày, ruột gây kích thích mạnh, có thể ức chế tiết dịch vị ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn, khiến các bệnh nhân mắc bệnh gan dễ buồn nôn.

Ngoài ra, các thành phần dễ bay hơi của tỏi làm giảm hemoglobin có thể dẫn đến thiếu máu, không có lợi cho việc điều trị bệnh gan.
Những ai không nên ăn tỏi? - 1
Khi bị tiêu chảy bạn không nên ăn tỏi sống vì dễ làm tổn thương niêm mạc đường ruột... (ảnh minh họa)
Tiêu chảy

Khi bị tiêu chảy đồng nghĩa đường ruột bị vi khuẩn xâm nhập và bạn không nên ăn tỏi sống vì sẽ dễ làm tổn thương niêm mạc đường ruột, xung huyết, quá trình tiêu hóa và phân giải các chất tắc nghẽn, bạn càng đau bụng và đi tiêu nhiều hơn.

Các bệnh về mắt

Y học Trung Quốc tin rằng ăn nhiều tỏi trong thời gian dài là tác nhân làm tổn thương mắt và tổn thương gan. Vì vậy khi có các bệnh về mắt, khí sắc kém, thiếu máu, giảm thị lực, ù tai, hoa mắt, mất trí nhớ… không nên ăn quá nhiều tỏi.
Theo Hàn Giang (Dân Việt)


Tỏi - vị thuốc tuyệt hảo không ngờ

Tỏi là một vị thuốc tuyệt hảo tác dụng vào dạ dày, phổi và lách.

Trong ngăn tủ bếp của các bà nội trợ có rất nhiều gia vị. Một trong các gia vị quen thuộc mà hiếm ai không biết đó là tỏi. Tỏi là thứ gia vị không thể thiếu trong một số món xào. Nhưng bạn biết không, tỏi còn là một vị thuốc tuyệt hảo tác dụng vào dạ dày, phổi và lách.

1. Trị nhiễm trùng đường ruột

Tỏi có công dụng trị nhiễm trùng đường ruột cực kỳ mạnh, do trong tỏi có kháng sinh tự nhiên alllicin. Kháng sinh này có tác dụng ức chế và tiêu diệt vi khuẩn mạnh với vi khuẩn gây ra bệnh thương hàn, phó thương hàn, lỵ trực khuẩn, tả. Mức độ diệt khuẩn đường ruột của nó tương đương với một số kháng sinh như tetracylin, sulfaguanidin. Ngoài ra, tỏi còn có tác dụng diệt ký sinh trùng amip gây ra bệnh lỵ amip. Do đó, tỏi rất có ích với những người bị bệnh nhiễm khuẩn đường ruột, ngộ độc thực phẩm.
2. Chống nhiễm trùng ngoài da

Chất khách sinh allicin ngoài công dụng tiêu diệt vi khuẩn đường ruột còn có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn tụ cầu khuẩn và vi khuẩn mủ xanh, vi khuẩn sinh hơi, nấm da, nên có tác dụng điều trị các nhiễm trùng ngoài da như mụn nhọt, đinh nhọt, viêm loét, chảy nước, chảy mủ, nhiễm trùng vết thương.
Tỏi - vị thuốc tuyệt hảo không ngờ - 1
Tỏi điều trị các nhiễm trùng ngoài da như mụn nhọt, đinh nhọt, viêm loét,
chảy nước, chảy mủ, nhiễm trùng vết thương. (ảnh minh họa)
- Cách dùng

Củ tỏi được bóc vỏ sạch sau đó giã nát. Nếu là nhiễm trùng nặng, bạn cần vệ sinh sạch sẽ ổ viêm nhiễm sau đó đắp tỏi lên chỗ tổn thương. Nếu như nhiễm trùng nhẹ bạn cần pha loãng bớt tỏi, sau đó vớt lấy cái, đắp lên chỗ tổn thương. Trong trường hợp bạn bị nhiễm nấm da, bạn trộn 2 – 3 củ tỏi giã nát với một chút dầu olive. Dầu olive sẽ dần đường cho tỏi ngấm vào da. Đắp hỗn hợp này lên vùng nhiễm nấm da, sau 1 giờ thì bỏ ra, làm như vậy chừng 2 tuần là khỏi. Tuy nhiên cần chú ý giảm dần liều tỏi khi da đã có dấu hiệu lành. Không đắp tỏi vào các vết thương đang có mủ.

3. Chữa viêm phế quản mạn

Tỏi có tác dụng thông khí, tiêu đờm nên thích hợp với người viêm phế quản mạn.
Tỏi - vị thuốc tuyệt hảo không ngờ - 2
Tỏi rất có ích với những người bị bệnh nhiễm khuẩn đường ruột,
ngộ độc thực phẩm. (ảnh minh họa)
- Cách dùng
Bóc tỏi, tách và cắt lát nhánh tỏi ra, ngậm trong miệng chừng vài giờ(ngày 2 lần vào sáng tối). Trong quá trình ngậm, khi đã giảm cay bạn có thể nhai một phần và ngậm tiếp cho đến khi dùng hết lát. Chú ý đừng ngậm quá nhiều có thể cay phồng miệng.

Ngoài ra có thể làm nước tỏi và uống một thìa nước tỏi này sau 15 phút. Uống đến khi nào thấy dễ khạc đờm và hết khó thở. Sau đó thì cứ 3 giờ uống 1 thìa. Những ngày sau duy trì một ngày uống từ 2-3 thìa nước tỏi. Chú ý nước tỏi khá cay, nếu bạn không chịu được cay thì nên pha loãng với tỷ lệ 1:1. Nước tỏi là tỏi bóc vỏ, giã nát hoặc cắt nhỏ, sau đó cho vào lọ chừng 400g tỏi và đổ ngập giấm. Đậy kín và đợi chừng 4 ngày là dùng được.
4. Hạ mỡ máu và chữa tăng huyết áp

Trong tỏi có một số chất có tác dụng hạ mỡ máu, giảm cholesterol, triglyceride, có tác dụng giãn mạch và hạ huyết áp. Tỏi cũng có tác dụng giảm tích mỡ ở thành mạch, giảm sự co cứng của thành mạch nên giảm vữa xơ động mạch. Trên bệnh tim mạch và huyết áp, tỏi làm giảm huyết áp tương đối tốt và ngăn ngừa rối loạn mỡ máu xảy ra.

- Cách dùng
Bóc tỏi sạch và ăn từ 3-5 nhánh tỏi trong 1 ngày. Ăn kèm thực phẩm. Ăn liên tục trong vài tháng. Bạn cũng có thể cắt lát các nhánh tỏi chừng 3 nhánh rồi trộn lẫn vào salad hoặc nộm. Sau đó ăn hàng ngày. Duy trì trong 1 tháng bạn sẽ thấy hiệu quả. Bạn cũng có thể dùng bột tỏi nghiền khô, liều lượng chừng 900mg/ ngày. Dùng liên tục từ 4 năm trở lên bạn cũng có thể kiểm soát được huyết áp.

Muốn chế rượu tỏi, có thể lấy tỏi bóc sạch, ngâm với rượu với tỷ lệ 1 phần tỏi và 4 phần rượu. Ngâm thứ hỗn hợp này chừng 1 tháng. Một ngày bạn uống chừng 30 giọt rượu tỏi 20%, bạn sẽ hạ được cholesterol và triglycerid rất hiệu quả.
Theo Sức khỏe & ATTP

Bài thuốc trị huyết áp cao bằng tỏi
Bài thuốc từ tỏi dưới đây có tác dụng rất tốt để điều trị bệnh cao huyết áp.

Dùng 100g tỏi và 100g đậu trắng (có mài trắng, to hơn hạt đậu đen một chút). Bóc vỏ tỏi và vo sạch đậu.
Sau đó nấu nhừ tỏi và đậu với khoảng hai lít nước. Chia làm hai hoặc ba lần, ăn cả cái lẫn nước trong một ngày. Cũng có thể ninh nhừ còn 1/8 lượng nước ban đầu, cho vào rây chắt lấy nước uống. Để tránh làm giảm hoạt chất của tỏi, không nên nấu bằng lò vi sóng.

Do phải dùng tỏi với liều khá cao nên để tránh những ảnh hưởng phụ, người bệnh không nên dùng hàng ngày. Chỉ nên dùng cách khoảng tối thiểu từ hai – ba tuần. Hầu hết các trường hợp đã sử dụng đều có biểu hiện giảm được huyết áp ngay ngày hôm sau và tiếp tục hạ dần sau đó.
Theo Dược sĩ Nguyễn Thành Toan (Sài gòn tiếp thị)


DÙNG TỎI TRỊ BỆNH THẾ NÀO CHO ĐÚNG?



Tỏi có thể ăn tươi, ngâm dấm, đường hoặc pha trà. Tuy nhiên, trong môi trường axit, tác dụng của tỏi tăng gấp 4 lần nên dùng tỏi ngâm dấm là tốt nhất.


Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, có công dụng hành khí trệ, làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng. Do đó, nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầy bụng, chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng do lạnh, phù thũng, tiêu chảy, bệnh lỵ, sốt rét, ho gà, mụn nhọt, đỉnh độc, viêm loét lâu liền, rụng tóc, nấm tóc, rắn cắn…

Tỏi tươi: là dạng dễ dùng nhất, có thể ăn sống hoặc dầm vào nước chấm. Tỏi sống giúp tiêu diệt vi khuẩn trong khoang miệng. Mỗi ngày nên ăn 2 tép tỏi, nhiều hơn hoặc ít hơn một chút đều được. Tuy nhiên, ăn nhiều quá không có lợi vì dạ dày sẽ dễ bị kích thích và chất axilin có trong tỏi có thể gây ra chứng tan máu. Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày ăn khoảng 10 g tỏi là vô hại. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng kiếm được tỏi tươi và ăn tỏi tươi hay để lại mùi hôi, do đó người ta thường chế biến thành các dạng khác.

Tỏi ngâm: có thể ngâm dấm hoặc ngâm đường. Trong môi trường axit, tác dụng của tỏi tăng gấp 4 lần nên dùng tỏi ngâm dấm là rất tốt. Cách chế biến: lấy 50 g tỏi tươi bóc vỏ rồi ngâm với 100 ml giấm gạo, sau chừng mươi ngày là dùng được, nếu để đủ 30 ngày thì càng tốt.

Tỏi ngâm đường: lấy 50 g tỏi đem ngâm nước trong 7 ngày, mỗi ngày thay nước một lần, sau đó bóc bỏ vỏ rồi ngâm với muối một lúc cho chảy hết nước. Hòa 800 g đường trắng trong một cái liễn miệng nhỏ với lượng nước chín vừa đủ, đổ tỏi vào ngâm trong 1 tháng là có thể ăn được. Tỏi ngâm đường có vị mặn ngọt, mùi thơm rất thú vị.

Rượu tỏi: có nhiều cách chế rượu tỏi.

- Lấy 25 g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm với 100 ml rượu trắng, bịt kín miệng bình, để chỗ thoáng mát, sau 7 ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 25-30 ml.

- Dùng một cái bình miệng hẹp hoặc một vò rượu, đổ tỏi đã bóc vỏ vào đầy chừng 7/10 bình, xen kẽ với tỏi, rải từng lớp đường phèn đã đập vụn, rót rượu trắng vào cho ngập tỏi. Bịt kín miệng bình, để chỗ râm mát, sau 30 ngày là có thể dùng được, để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 25ml.

Trà tỏi:
 có thể chế biến theo 2 cách.

- Tỏi 15 g, sơn tra 30 g, thảo quyết minh 10 g. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với sơn tra và thảo quyết minh, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: hạ mỡ máu, chống béo phì, tiêu thực tích.

- Tỏi vỏ tím 10 g, kim ngân hoa 6 g, trà xanh 3 g, cam thảo 2 g. Tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với kim ngân hoa, trà xanh và cam thảo, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt giải độc, thanh nhiệt trừ thấp.

Tỏi và các món ăn - bài thuốc

Bài 1: Tỏi 30 g, chim bồ câu 1 con. Chim bồ câu làm thịt, bỏ lông và nội tạng, rửa sạch cho vào bát cùng với tỏi đã bóc vỏ, cho đủ gia vị, chế thêm một chút rượu vang và nước trắng rồi đem hấp cách thủy, ăn nóng. Công dụng: bổ khí dưỡng huyết, ích tủy sinh tinh.

Bài 2: Tỏi 50 g, thịt dê nạc 250 g. Thịt dê rửa sạch, thái miếng, ướp gia vị, tỏi bóc vỏ đập giập. Cho dầu thực vật vào chảo đun cho nóng già, bỏ thịt dê vào xào chín tái, bỏ tỏi và các gia vị vừa đủ đun thêm một lát là được, ăn nóng. Công dụng: ôn thận tráng dương, bổ khí sinh tinh.

Bài 3: Tỏi 30 g, thịt yếm ba ba 250 g. Thịt yếm ba ba rửa sạch, cắt thành miếng bỏ vào đun sôi vài lần, vớt ra rồi đem rán qua, tỏi bóc bỏ vỏ, cho vào chảo rán qua cho có màu vàng non, tiếp đó cho thịt ba ba vào xào, chế thêm các gia vị như gừng, hành, muối, đường, một chút rượu và nước vừa đủ, dùng lửa nhỏ ninh trong 30 phút là được. Công dụng: tư âm bổ thận.

Bài 4:
 Tỏi 100 g, dạ dày lợn 1 cái, sa nhân 3 g. Dạ dày lợn rửa sạch, cho sa nhân và tỏi đã bóc vỏ vào trong, lấy chỉ khâu lại, cho vào nồi, chế thêm rượu, muối và nước lượng vừa đủ rồi hầm cho đến khi chín nhừ là được, cho thêm một chút mì chính, ăn nóng. Công dụng: bổ hư nhược, kiện tỳ vị.

Theo suckhoedoisong


Rượu Tỏi (Thần Dược)

Trần Duy Linh


I - Xuất Xứ

Vào những năm 1960-1970, WHO_cơ quan theo dõi sức khoẻ & bệnh tật thế giới của Liên Hiệp Quốc phát hiện ở Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khoẻ chung của nhân dân Ai Cập lại vào loại tốt, ít bệnh tật & tuổi thọ trung bình tương đối cao. WHO đặt vấn đề với chính phủ Nasser xin cử một phái đoàn của WHO về Ai Cập nghiên cứu xem tại sao có hiện tượng lạ như thế mà nghành Y tế Ai cập chưa giải thích được. 

Ðược Tổng Thống Nasser đồng ý, WHO huy động nhiều chuyên gia y tế về Ai Cập nghiên cứu chia nhau đi xuống nông thôn, các vùng có khí hậu khắc nghiệt để thu thập các tài liệu đặc biệt. Cuối cùng các nhà nghiên cứu (đông nhất là Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản) nhận xét là ở Ai Cập nhà nào cũng có 1 lọ rượu ngâm tỏi để uống. Nhân dân Ai Cập nói từ bao nhiêu thế kỷ nay nước họ vẫn là thế. 

Ngày xưa Ai Cập là một đế chế lớn, chinh chiến liên miên, chủ yếu là xử dụng gươm dao chém giết nhau.Thời ấy làm gì có thuốc kháng sinh, nên họ chỉ dùng nước tỏi để uống & cũng để rửa các vết thương. 
Ở các vùng tỏi được ngâm rượu theo những công thức khác nhau. Chuyên gia các nước đem những công thức đó về nước mình nghiên cứu và phân tích. Kết luận cái gì tốt rồi sau đó thông qua một báo cáo gởi cho WHO. Sau đó WHO tổng kết & hội thảo về vấn đề này. Rồi đến năm 1980 họ thông báo : 

Rượu tỏi chữa trị được 04 nhóm bệnh :
1) Thấp khớp (sưng khớp, vôi hoá các khớp, mỏi xương cốt). 
2) Tim mạch (huyết áp thấp, huyết áp cao, hở van tim, ngoại tâm thư) 
3) Phế quản (viêm phế quản, viêm họng, hen phế quản). 
4) Tiêu hoá (ăn khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét bao tử). 

Ðến năm 1983, Nhật lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là :
5) Trĩ nội & trĩ ngoại. 
6) Ðại tháo đường (tiểu đường)
Nhật cũng công bố : "Ðây là một loại thuốc tuyệt vời của nhân loại vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ & có hiệu quả chữa bệnh rất cao".


II – Nguyên Lý
   
Con người ta thông thường tuổi từ 40 trở lên (có thể trẻ hơn nữa) là đã có bệnh. Các bộ phận trong cơ thể bắt đầu thoái hoá, bộ phận nào yếu thì thoái hoá nhanh, đặt biệt là làm cho các chức năng hấp thụ chất béo (lipid) chất đường (glucone) bị suy giảm. Các chất đó không hấp thụ hết qua đường tiêu hoá, phần thừa không thải ra ngoài được, dần dần lắng đọng trong thành vách mạch máu, làm xơ cứng động mạch & xơ cứng một số bộ phận khác rồi lâu ngày gây ra những chứng bệnh như trên.

Trong tỏi có 2 chất quan trọng :
1) Phitoncid là loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn. 
2) Hoạt tính màu vàng giúp làm tiêu chất béo dưới dạng cholesterol bám vào thành quách mạch máu, làm cho đường đi của máu từ tim ra & về tim bị nghẽn. Chính nhờ 02 chất này mà tỏi có tác dụng chữa bệnh cao.

III - Kết quả chữa bệnh

Tác giả tổng hợp bài viết này theo kinh nghiệm chứng thực cho biết : Từ năm 1970 bị thấp khớp nặng_sưng cả các khớp phải đi bằng gậy chống. Thuốc tân dược & đông y dùng đã nhiều như "Cao hổ cốt", "rượu tắc kè" (lúc nào cũng có sẵn), thế mà bệnh không đỡ lại nặng thêm. Năm 1975 bị ngã gần chết. Năm 1981 bị ngất phải đưa vào cấp cứu ở bệnh viện 3 ngày mới hết nên sức khoẻ càng giảm.
Vào cuối năm 1982 mới bắt đầu uống rượu ngâm tỏi, thì 20 ngày sau bắt đầu thấy giảm bệnh sưng khớp.Qua 3 tháng, huyết áp trở lại bình thường. Bệnh viêm họng cũng khỏi. Hen phế quản giảm nhiều. Ngoài ra tác giả còn cho biết bịnh trĩ nội mỗi năm đi mất 5, 7 lần. Hen phế quản nặng cấp cứu nằm bệnh viện 2, 3 lần. Từ khi liên tục dùng rượu tỏi cho tới nay đã gần 8 năm mà không phải đi bệnh viện lần nào cả. Ngủ rất bình thường, ăn thì tiêu hoá tốt, đặt biệt đối với bệnh thấp khớp thì coi như thuốc thần. Vì tác giả trước đây khổ vì thấp khớp, nay khỏi hẳn không còn biểu hiện gì cả.
Cho nên, kết luận của người Nhật phần trên là hoàn toàn đúng : 
"Ðây là thứ thuốc tuyệt vời của nhân loại, vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ & lại có hiệu quả chữa bệnh rất cao.
(Theo World Hearth Organizations)

Tôi có dùng rượu tỏi để phòng và trị một số bệnh. Tuy nhiên, khi tôi dùng rượu tỏi vào buổi tối thì có cảm giác bị xót bao tử vào giữa đêm, hơi bứt rứt. Nhờ chuyên mục sức khoẻ của quý báo tư vấn giúp : có phải rượu tỏi gây ảnh hưởng bao tử không ; có cách nào khác dùng tỏi chữa bệnh thay cho rượu tỏi ? Cám ơn quý báo ! (lehang@ ... )
Trả lời :

Anh (chị) dùng rượu tỏi có cảm giác bị xót bao tử có thể là do ảnh hưởng của rượu. Chứ tỏi có tác dụng làm lành vết thương, tỏi cũng nóng, nhưng không đến mức làm xót bao tử. Dân gian còn có một cách khác dùng tỏi thay cho rượu tỏi đó là tỏi trộn mật ong, được làm bằng cách : dùng tỏi còn tươi có tép nhỏ, xay nát rồi đem trộn với mật ong, cho vào trong chai để dành dùng dần (mật ong có tác dụng bảo quản tỏi không hư). Dùng tỏi trộn mật ong, ngoài những tác dụng gần giống như rượu tỏi : hỗ trợ tiêu hoá, tiêu diệt các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh (nhờ tỏi có một số tinh dầu, chất kháng khuẩn, có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh), còn giúp kháng được một số gốc oxy hoá, các yếu tố thuận lợi dẫn đến ung thư ... Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng sát trùng, giải độc, hành khí. Mật ong khi trộn với tỏi, ngoài công dụng bảo quản tỏi không hư, mật ong còn là chất bổ dưỡng cung cấp các vitamin, giúp làm lành các vết loét bao tử. Người bình thường mỗi ngày dùng một muỗng mật ong cũng rất tốt, có thể dùng riêng một mình mật ong, hoặc có thể pha với nước chanh để dùng.
   Nói thêm : dân gian còn có cách dùng mật ong đánh với lòng đỏ trứng gà (trứng gà đã được kiểm dịch), đánh đến khi lòng đỏ trứng chuyển sang màu trắng hơi vàng lợt (lúc này mật ong đã làm chín lòng trứng), xong rót bia vào và đánh đều lên sẽ có một thức uống rất thơm ngon và bổ dưỡng. 
Trần Duy Linh (SG)

-----------

Cách bào chế rượu tỏi

Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn ; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.
* * * * *

Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn ; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.  Đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi trên của WHO, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi /lần) nhưng không thấy phản ứng phụ.
* * * * *

1 - 250 gam tỏi . Tỏi có tép nhỏ và có mùi thơm khi bấm vào, lột vỏ, cho vào cối giả hoặc máy sinh tố xay nhỏ hạt. Không cần nhuyễn nhừ như trái cây uống sinh tố. Cho vào 1/2 lít rượu trắng, loại rượu ngon chuyên dùng để ngâm thuốc.
2 - Đậy kín nắp lọ (dùng lọ thuỷ tinh). Sau khi ngâm 10 ngày, múc bả tỏi cho vào compress (vải mùng) vắt ráo.Nhớ làm mỗi lần một tí, cho đến khi hết tỏi đã ngâm trong lọ.
3 - Nước cốt tỏi có được và rượu còn trong lọ, cho tất cả vào chai thuỷ tinh. Đậy kín để 1 tuần, sau đó bắt đầu uống.
Rượu tỏi hơi khó uống vì hôi nồng và nóng, vì thế lúc bắt đầu nên uống chừng 5, 10 giọt, khi quen dần thì tăng lên, nhưng đừng quá 5 ml mỗi lần uống. Ngày có thể uống 1 hoặc 2 lần.
* * * * * 

Cách làm Rượu Tỏi
Việt Nam Thư Quán 


Vật liệu : 

- 40 gram tỏi khô (mua 50 gram, sau khi bóc vỏ còn chừng 40 gram) 
- 100 ml rượu trắng 45 độ (tốt nhất là rượu Lúa mới) 
  
Cách làm : 

1. Thái tỏi thật nhỏ 
2. Cho tỏi vào lọ đã rửa sạch 
3.
 Cho rượu vào 
4.
 Ngâm 10 ngày, thỉnh thoảng lắc chai để tỏi ngấm rượu cho đều 

Quan sát : 

Mới đầu rượu có màu trắng, sau chuyển dần sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thành màu nghệ. 
Cách dùng : 


Mỗi lần dùng 40 giọt (compte gouttes) vào buổi sáng trước khi ăn và buổi tối trước khi ngủ. Vì lượng ít nên chế thêm nước sôi để nguội vào thì mới uống thành một ngụm. 
Uống liên tục cả đời. 
Người phải kiêng rượu không uống được rượu vẫn có thể dùng được vì mỗi lần chỉ uống 40 giọt, một số lượng không đáng kể. 

Bí quyết : 

40 gram tỏi như thế, dùng trong 20 ngày thì hết, trong khi phải ngâm đến 10 ngày mới dùng được, cho nên cứ phải ngâm sẵn một lọ gối đầu để dùng liên tục. 
Chữa bệnh : 

World Health Organization đã chính thức công bố rượu tỏi có thể chữa được 5 nhóm bệnh sau: 
1. Thấp khớp (sưng, vôi hoá, mỏi) 
2. Tim mạch (huyết áp thấp hoặc cao, nở van tim, ngoại tâm thu) 
3. Phế quản, họng (viêm, hen, xuyễn) 
4.
 Tiêu hoá (khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét bao tử) 
5.
 Ngủ bất bình thường hay mất ngủ



Vĩnh Bảo sưu tầm 30/11/2012