Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

TÍNH CÁCH HÀ NỘI


Theo Thể thao và Văn hóa
Phan Cẩm Thượng

Cánh cổng ngăn cách giữa hai phường trong
khu phố Kẻ Chợ, Hà Nội. Tranh khắc kim loại Pháp
đầu TK 20. Nguồn: NXB Thế giới.
Từ rất lâu, người Tràng An – Hà Nội được coi là một tính cách đặc trưng cho sự thanh lịch và cẩn trọng. Tính cách ấy có lẽ cũng từ lâu là quá khứ, bởi con người Hà Nội ngày nay hoàn toàn khác, cũng như không còn mấy người Hà Nội gốc.

1. Hà Nội không phải là một thành phố ổn định, mà là một thành phố liên tục thay đổi, nếu nói hay ho là phát triển và còn thay đổi trong hàng chục năm tới. Nó là sự cộng sinh của các tính cách địa phương.

Khái niệm thành phố ở phương Tây gắn bó với các ý nghĩa văn minh và công dân, bắt đầu từ các thành bang Hy Lạp và các thành phố La Mã từ vài trăm năm trước Công nguyên. Thành phố ở VN hay ở phương Đông nói chung không mang những ý nghĩa như thế. 

Ở VN văn minh nằm trong các làng xã, còn con người công dân cho đến tận bây giờ cũng rất yếu. Thành phố được gọi là thành thị thì đúng hơn, tức là một cái thành trì phong kiến nằm bên một cái chợ. Cái chợ này mang tính toàn quốc, là tập trung của hình ảnh cái chợ từ chợ làng, chợ tổng, chợ huyện và chợ tỉnh, mà lại rất yếu về kinh tế thị trường trong quá khứ.

Cái chợ Hà Nội là tổng thể của các làng nghề tách ra từ các tỉnh địa phương lên thành phố vừa sản xuất vừa buôn bán cố định, hình thành các phường thợ, một hình thức liên kết kinh doanh lỏng lẻo.

Tính cách người Kẻ Chợ hình thành từ đó, thoạt tiên lấy chữ Tín làm căn bản, nghĩa là vay, mượn và cho vay, chất lượng hàng được đảm bảo bởi uy tín của gia chủ, không lấy việc làm giầu làm mục đích. Thị dân Kẻ Chợ tích lũy vốn bằng làm ăn chăm chỉ, không có bóc lột công nhân, không trở thành các tư bản nhà nước.

Kề theo đó là tính cách cẩn thận trong tay nghề để tạo ra các sản phẩm chất lượng hàng trăm năm không thay đổi. Cẩn thận và giữ chữ Tín là hai tính cách căn bản hình thành trong khoảng 500 năm của dân Kẻ Chợ từ sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1427, khi Hà Nội được coi là Đông Đô – kinh đô của nhà Lê sơ.

Trải qua những cuộc biến động như sự di dân Hoa kiều vào VN sau năm 1644, cuộc tạo phản của nhà Mạc và trung hưng nhà Lê thế kỷ 16, Trịnh – Nguyễn phân tranh trong thế kỷ 17, Kiêu binh biến loạn thế kỷ và cuộc tấn công của Tây Sơn, cũng như cuộc chiến đánh quân Thanh thế kỷ 18..., tính cách Kẻ Chợ dường như không thay đổi và nó càng được củng cố thêm trong thời Nguyễn khi chỉ là Bắc thành mà mất vai trò Kinh kỳ. Từ hai tính cách đó, nhiều tính cách khác nảy sinh, đó là sự khó tính trong sinh hoạt, sự lễ nghĩa trong ứng xử, sự khinh mạn bên trong khi tiếp xúc với người nhà quê... và rồi pha trộn đôi chút tính phù phiếm, tính giảo hoạt và tính kênh kiệu, khách sáo, dần trở thành chút đạo đức giả.

2. Chúng ta nên nhớ rằng trước khi Pháp chiếm Hà Nội, các phường thợ Kẻ Chợ đa phần vẫn dựng bằng tre nứa gỗ lá. Con người sống trong căn nhà lá thường là nghèo và chất phác, dù tham gia kinh doanh.

Chuyển từ nhà lá lên nhà gạch xây một tầng rưỡi kiểu mái thu hồi, như trong tranh của Bùi Xuân Phái, người Kẻ Chợ chính thức trở thành người Thăng Long đô thị. Đình đền chùa của phường thợ cũng khang trang hơn, đồ đạc nội thất cũng được làm cầu kỳ hơn bằng gỗ tốt, kim loại, đá quý, thậm chí còn đặt mua đồ từ Paris, các bà các cô ăn mặc cũng tân thời và đúng mốt hơn.

Năm 1930, khi chiếc áo dài tân thời được họa sĩ Cát Tường và Lê Phổ thiết kế từ chiếc áo tứ thân truyền thống, người Hà Nội chính thức trở thành thị dân tiểu tư sản. Và họ bắt đầu có những tính cách của trí thức và thị dân phương Tây đương đại. Cả nam lẫn nữ đều được đi học trường Tây, nói tiếng Pháp và cả tiếng Anh, đọc tiểu thuyết, mua tranh của danh họa, nghe ca kịch và giao hưởng, buôn bán được mở rộng đến tận Sài Gòn, Phnompenh, Viên Chăn, hàng hóa đem sang chợ đấu xảo ở Paris... thậm chí còn cạnh tranh với các nhà buôn phương Tây ở VN.

Song về bản chất thị dân Hà Nội là những người thích yên trí với cửa hiệu nhỏ số vốn ít của mình, không thích thay đổi, không thích mở rộng, không thích nhà quá to, không thích phát minh sáng tạo, sợ đầu tư vào thị trường lớn và mong muốn con cái trở thành trí thức, thoát khỏi làng nghề. Đặc tính này làm cho thị dân Hà Nội hoàn toàn bị đè bẹp qua những cuộc cải cách công thương nghiệp, bị lụi tàn trong nền kinh tế bao cấp, và cuối cùng trong nền kinh tế thị trường họ hoàn toàn rút lui trước những người địa phương ào vào chiếm thị trường Hà Nội. 

3. Sau năm 1954, Hà Nội có sự xáo trộn lớn, nhiều người vào Nam, nhiều người từ chiến khu về, nhiều cán bộ và sỹ quan lập nghiệp ở Hà Nội.

Có được hộ khẩu ở Hà Nội là cả một vấn đề, vì thủ đô cũng hạn chế sự gia tăng dân số. Dẫu vậy thì một lớp người mới từ miền Nam tập kết và từ các nơi khác có xu hướng định cư lâu dài và trở thành dân Hà Nội sau hòa bình. Ở Hà Nội cũng không ít người chuyển cả nhà đi khai hoang miền núi. Lớp người mới phần nhiều từ thanh niên đến trung niên: người chưa có gia đình thì lo lấy vợ lấy chồng Hà Nội, người có gia đình thì lo chuyển cả nhà về Hà Nội.

Những tư gia ở Hà Nội được phân chia lại, theo tiêu chuẩn một người /4m2. Từ năm 1954 - 1964, đất sân vườn ở các tư gia vẫn còn tương đối rộng, nhưng sau năm 1970, chúng bị chiếm hết do những căn nhà tư gia biến thành nhà tập thể và người ta lấn chiếm dần dần. Hình ảnh Hà Nội thay đổi trong từng căn nhà góc phố, các quan hệ hộ gia đình cũng trở nên căng thẳng, do nơi ở chật chội, bếp chung, nhà vệ sinh, nhà tắm chung, vòi nước chung, công tơ điện chung. Vừa thỏa hiệp vừa cãi nhau, sự lịch thiệp của người Hà Nội cũng suy thoái dần.

4. Sự tăng dân số Hà Nội, bắt đầu với nhịp độ nhanh từ năm 1973, sau Hiệp định Paris về Việt Nam, và sau năm 1975, khi đất nước thống nhất. Số người di cư vào TP.HCM và miền Nam nói chung không làm vơi đi số người vào Hà Nội.

Bốn huyện ngoại thành bị thu hẹp đất nông nghiệp trông thấy, các khu vực đầm lầy Giảng Võ, Kim Liên, Trung Tự, Thái Hà, Ngọc Hà, Bưởi, Láng, các bãi sông Hồng như Phúc Xá, Phúc Tân... trở thành các khu chung cư mới, được xây dựng theo kiểu tập thể bốn năm tầng và nhà tạm cấp bốn nhanh chóng trở nên chật chội, và tất cả những khoảng đất giữa các nhà cao tầng cũng nhanh chóng bị lấn chiếm.

Sinh viên tốt nghiệp không muốn trở về địa phương, công nhân xây dựng định cư tại chỗ, bộ đội phục viên, những trường học và công sở mới xây dựng... từng đợt, từng đợt nhiều lớp người từ mọi miền di cư vào Hà Nội, hình thành một những tính cách Hà Nội theo kiểu mới, trong đó tính cách cơ hội, chụp giật nổi bật.

Những người mới vào Hà Nội không phải ai cũng có nhà ngay, nhiều trai tân phải kết đôi với những cô gái “quá thì” để có hộ khẩu Hà Nội, nhiều cô gái ngoại tỉnh xinh đẹp sẵn sàng lấy các chàng trai “hoi” nội thành. Năm năm tồn tại ở Hà Nội và có một căn phòng là thành công mỹ mãn.

5. Trước khi có những căn nhà tập thể, quan hệ xóm giềng ở Hà Nội không khác mấy nông thôn, người ta qua lại nhau chơi thường xuyên. Nhưng sống trong nhà tập thể không ai biết ai, không ai thăm hỏi ai, cùng tầng có khóa chung, đóng cửa vào là không biết đến hàng xóm nữa. Đôi khi người ta cảm thấy như vậy còn tiện hơn lối quan hệ kiểu làng xã cổ phiền toái.

Ý thức công dân từ những năm 1975 cho đến nay giảm đi trông thấy, tất cả chỉ cần sạch nhà mình, quẳng rác ra đường, dắt chó sang cửa nhà hàng xóm ỉa, vòi nước công cộng chảy bao nhiêu cũng mặc kệ... không ai kiểm soát chất lượng đô thị ngày càng chịu sức ép của dân số quá lớn. Các căn nhà tha hồ xộc xệch và trở thành các chuồng chim, các cống rãnh ùn tắc, nhất khi trời mưa, các con đường sửa chữa theo kiểu cứ đổ cho cao dần lên (từ năm 1992 đến nay nhiều con đường đã cao hơn nhà đương thời tới 120cm), các hè đường chỗ nào cũng bấp bênh, lở loét, các mặt đường tuổi thọ chừng nửa năm là vênh váo.

“Mặc kệ” trở thành tính cách đặc trưng của Hà Nội hiện tại của cả người tốt lẫn người xấu. 

(Còn tiếp)

Vĩnh Thuận sưu tầm - 31/7/2012 - từ Tạp chí Tia Sáng

TẬP KÝ HỌA của Lão họa sĩ LƯU LY


HOÀI NIỆM TỪ VƯỜN BỘI TRÂN GALERY

http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2012/07/30/7935/

VĂN CẦM HẢI
Họa sĩ Bội Trân
Họa sĩ Bội Trân
Tôi tình cờ gặp ông trong một chiều mưa rừng Thiên An mướt xanh vườn Bội Trân Galery xứ Huế. Ngạc nhiên khi nhìn thấy, trên gương mặt phảng phất nét hào hoa lấm bụi trường chinh một thời kháng chiến, đôi mắt khép mở nhân gian gần 80 năm của lão họa sỹ Lưu Ly, vẫn tinh anh những sắc màu ký ức dậy lên qua từng trang giấy mỏng, ố vàng thời gian. Tập giấy mỏng bristol, bìa xám mùn đất, hư hao ấy là một báu vật của lão họa sỹ Lưu Ly bởi nó ân tình bao nhiêu hoài niệm gắn liền với những tác phẩm ký họa của các danh họa, thuở họ chưa thành danh nhưng lòng dạ đã giang hồ vượt qua mọi gian nan chiến tranh, mà mơ màng một cõi phụng sự nàng nghệ thuật. 
3 BÚT DANH LẠ CỦA MỘT HỌA SỸ TÀI DANH
Gương mặt thanh tú. Đôi mắt trong sáng đến đắm đuối. Mái tóc bồng bềnh thi ca. Áo len cổ trái tim lãng mạn ôm lấy khuôn ngực trai trẻ. Đó là chân dung tự họa của SIPI vẽ bằng bút sắt, mực tàu ngày 12/3/48. Bên góc trái có lời đề tặng, nét chữ nền nã như gương mặt, mê muội rằng “thân ái tặng anh Việt Hồ tấm tranh Sipi tự họa, khi Sipi xa anh, anh phải nhớ đến hắn, cầu cho hắn luôn luôn mạnh khỏe để phụng sự nàng nghệ thuật”.
 
Chân dung tự họa của Bùi Xuân Phái ký tên SIPI
Và đây nữa, dù nét chữ không còn dáng nền nã, nhưng vẫn giang hồ một bút pháp lãng mạn trong sắc màu tư duy: SIPI tĩnh tọa, chàng đang mãi tìm một lý thuyết để… Lang Bang! Lại là Sipi! “Hắn” ngồi đó như một sự im lặng dữ dội giữa cánh chim non mơ ước hòa bình trước mặt, đối chọi với bầy máy bay quần đảo bầu trời sau lưng. Áo khoác lạnh, quần hồng đỏ như một nghệ sỹ chèo, khuôn mặt xa xăm, cả thân người rực vàng ánh lửa, soi tìm một mảnh tương lai nào đó đang phiêu dạt. Tự xưng là SIPI nhưng với bức chân dung này, “hắn’ lại ký là Lang Bang!
Lại thêm một ký họa, không phải tự họa, mà đây là khuôn mặt ông Việt Hồ hiền hậu dưới vầng trán quắc thước do Lang Thang vẽ chì màu năm 48! Vẫn là “hắn- Sipi” vì nét bút, gam màu xa vắng chân thành không lẫn vào đâu được!
SIPI! Lang Bang! Lang Thang! Chàng là ai mà dám công khai một miền mê phụng sự nàng nghệ thuật trong cảnh chiến tranh lửa khói? Chàng là ai mà vẫn gương mặt thơ trai, lừng lững một chân dung trên nền giấy mỏng, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng vẫn ánh lên bao niềm tin và cầu nguyện cho tâm trí với nghệ thuật đến vậy? Bao nhiêu thăng trầm thân phận thời đại, Chàng bây giờ còn hay mất nơi chân trời góc bể và liệu có được hiện thực hóa ước mơ “phụng sự “ và được “nàng nghệ thuật” ban phước lành hay không?
- Hắn, hay là chàng SiPi, chàng Lang Bang, chàng Lang Thang ấy, anh biết là ai không?- Lão họa sỹ Lưu Ly nhìn thấy ánh mắt tò mò của tôi, từng lời giải thích, như hồ là mưa từ quá khứ khẽ khót qua rừng thông Thiên An- Chàng ấy mất rồi! Chàng ấy là anh Phái! Bùi Xuân Phái đấy!
- Bùi Xuân Phái?- Tôi ngập ngừng.
- Vâng! Anh Phái vẽ đấy!
 
Chân dung Việt Hồ của Tạ Tỵ vẽ
Cũng như anh, 60 năm trước tôi hỏi vì sao có SIPI, vì sao lại Lang Bang, Lang Thang. Anh Phái bảo tôi, Sipi là gọi tắt cái tên hiệu máy bay Speed Fire của bọn Pháp. Trên trời có Speed Fire rực lửa thì dưới đất Sipi Phái cũng cháy bỏng không kém! Còn Lang Bang hay Lang Thang, là bởi những tháng năm đầu kháng chiến, anh Phái và chúng tôi nay đây mai đó, lang thang qua nhiều vùng đất lang bang thuộc chiến khu 3.
Ngoài các bức ký họa có bút tích, lão họa sỹ Lưu Ly còn chỉ cho tôi những bức tranh của họa sỹ Bùi Xuân Phái vẽ không đề bút danh về họa sỹ Hoàng Lập Ngôn với quán café Bồ Câu, họa sỹ Hoàng Tích Chù… Đặc biệt có một bức phác thảo 3 gương mặt của nhạc sỹ Văn Cao. Gương mặt tác giả quốc ca Việt Nam phân thân thành 3 tâm trạng luân hồi trên trang giấy: Văn Cao ưu tư, nghiêm nghị. Văn Cao vui tươi, mắt môi phím nhạc. Văn Cao chìm đắm sáng tác.
Có lẽ, đây là một trong những bức ký họa đặc biệt nhất về một nhạc sỹ đặc biệt do một họa sỹ đặc biệt vẽ! Và đối ứng với 3 gương mặt của Văn Cao, là 3 khuôn mặt của Regnaut được biểu hiện bằng 3… thiếu nữ khoả thân trong một bức tranh khác của một họa sỹ theo trường phái lập thể- họa sỹ Tạ Tỵ!
NHƯ VỆT MÁU GỬI VÀO TƯƠNG LAI
 
Bùi Xuân Phái vẽ 3 gương mặt Văn Cao
Theo lời của lão họa sỹ Lưu Ly, sau khi nhìn thấy ký họa 3 gương mặt Văn Cao của Bùi Xuân Phái, họa sỹ Tạ Tỵ liền vẽ bức ký họa 3 khuôn mặt của Regnaut để trả lời bạn! Bức tranh được vẽ vào tháng 11/1948 bằng bút chì than miêu tả chân dung 3 thiếu nữ dáng hình đậm đà Tây phương đứng khoác tay nhau. Trong thời buổi chiến tranh, kỷ luật hà khắc, tất cả đều phục vụ tiền tuyến, việc họa sỹ Tạ Tỵ vẽ tranh khỏa thân, quả nhiên là một điều hiếm hoi, nếu không nói là liều lĩnh!
Ngoài tranh khỏa thân, Tạ Tỵ còn xuất hiện qua một số chân dung vẽ ông Việt Hồ và họa sỹ Lưu Ly với những gương mặt góc cạnh, tinh giản, hàm chứa nhiều điểm nhìn của một môn đệ của trường phái lập thể.
Góp mặt trong tập ký họa này, nhạc sỹ Văn Cao cũng có một bức chân dung ký họa ông Việt Hồ tại phố Me trên đường lên Tam Đảo với nét bút gồ ghề, gai góc bằng mực xanh phản ánh hình ảnh và tâm trạng của một người lính nghệ sỹ trong hoàn cảnh kháng chiến. Ký họa về ông Việt Hồ, còn một tác phẩm rất chân phương, như chụp ảnh chân dung của họa sỹ Tô Ngọc Vân thực hiện tại Lỗ Từ năm 1947.
Cùng với các họa sỹ bậc thầy Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ, trong tập ký họa của lão họa sỹ Lưu Ly có cả tác phẩm của họa sỹ Lê Quốc Lập, Lưu Ly và một họa sỹ ký tên Khôi. Ngày đó, những họa sỹ Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ, Tô Ngọc Vân, Văn Cao… chỉ mới trên dưới 30 tuổi, danh chưa thành, công chưa toại, nhưng với niềm đam mê nghệ thuật, họ đã có những bức ký họa chứa đựng bao nhiêu trăn trở, thể hiện bản lĩnh tự do của một nghệ sỹ. Ký họa, cũng như truyện ngắn, cô đọng những thi ảnh bùng lên trong phút chốc cảm xúc, người họa sỹ trong khoảnh khắc chớp lấy và phóng túng “họa lại” cái thần thái của đối tượng được vẽ hòa quyện với tâm thức của người vẽ.
 
Chân dung Việt Hồ của Tạ Tỵ vẽ
Tinh thần phản kháng chiến tranh, đau đớn trước chiến tranh, và lãng mạn tình yêu cuộc sống, không chỉ phản ánh qua ký họa, mà còn day dứt mấy vần thơ được (hình như là họa sỹ tên Khôi) lưu bút như những vệt máu chẳng bao giờ nguôi ngoai ánh lửa buồn năm tháng.
Một vài vệt đỏ máu
thấm giấy gửi cho ai
hiện tại đang chiến đấu
hay gửi về tương lai

Chiến thắng vì những ai?
Tương lai ơi! Tương lai
đếm xem: bao giọt máu
loang rỏ thấm ngày mai
(Khôi- rút trong tập Đỏ Máu 24/7/1950)
Tôi chạnh lòng và lấy làm cảm kích trước những tấm lòng khí khái, những góc khuất âm thầm mà dữ dội máu và nước mắt của những nghệ sỹ tiền chiến. Những vần thơ, những bức tranh ký họa lang bang này, nếu lỡ may rơi vào tay ai không lòng chia sẻ, không chừng sẽ có một “nghi án văn nghệ’ trong cái thời “rải rác biên cương mồ viễn xứ/ chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” như Quang Dũng tráng ca trong Tây Tiến.
SỰ RA ĐỜI VÀ NƠI TRỞ VỀ CỦA TẬP KÝ HỌA
 
Chân dung tự họa củaBùi Xuân Phái, ký tên Lang Bang
Nhân vật Việt Hồ trong nhiều bức ký họa, chính là ông Trần Văn Minh, Trưởng đoàn kịch bình dân thuộc Nha bình dân học vụ, anh cả của họa sỹ Lưu Ly. Ngày chia tay Hà Nội để lê la theo gánh kịch của người anh cả Việt Hồ, ông cụ thân sinh, vốn là một họa sỹ đã trao tặng Lưu Ly một cuốn vở giấy bristol, bìa xám cứng mùn đất. Tập vở ấy, thay vì viết nhật ký, lại trở thành một tập ký họa cho các họa sỹ là thành viên của đoàn kịch như Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ và các họa sỹ bạn bè trình diễn sắc màu tâm tư nghệ thuật.
Biết Lưu Ly đam mê hội họa, một đêm trăng thu ở làng Đào Xá, họa sỹ Bùi Xuân Phái đã rủ Lưu Ly, dọc theo dòng sông Đáy, đến thôn Phù Lưu Chanh tham gia lớp học hội họa thu đông 49. Lớp học có khoảng 30 học viên do các thầy Lương Xuân Nhị, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái dạy cấp tốc những kiến thức cơ bản về chuyên ngành hội họa. Lớp học tuy ngắn, chỉ 3 tháng, nhưng chất lượng làm vì thầy giỏi, trò tâm huyết học.
- Tôi nhớ anh Phái vẽ chân dung tự họa trong một chiều mưa ở làng Đào Xá-chợ Đại gần chùa Hương, anh ngồi trong mưa, ngóng vào hòa bình và chiến tranh- Lão họa sỹ Lưu Ly nhung nhớ-  Nơi anh ở là một ngôi nhà, xung quanh thưng chiếu dùng làm treo tranh. Ngày đó, hầu hết ở nhiều cuộc triễn lãm, chúng tôi dùng chiếu làm vách treo tranh đấy chứ lấy đâu ra phòng ốc mà triễn lãm. Anh Phái còn bảo, vẽ tranh, vẽ luôn cái móc như ở bức ký họa anh Việt Hồ là không cần treo mà vẫn cảm giác là tranh được treo lên tường ngắm nghía! Còn bút vẽ, chúng tôi dùng ống đạn, đập dẹp, kẹp lấy lông đuôi bò đuôi trâu làm thành bút vẽ nên nhiều nơi chúng tôi đi qua, đuôi trâu đuôi bò ngắn lại do bị cắt!
 
Chân dung Lưu Ly do Lê Quốc Lập vẽ tặng
Sau khi kết thúc lớp học được xem là lớp hội họa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ấy, Lưu Ly chuyển sang công tác địch vận, chuyên in ấn tài liệu, truyền đơn ở liên khu 3. Và trong bao lần công tác vào sinh ra tử, họa sỹ Lưu Ly không bao giờ rời tập ký họa lưu bút các bậc họa sỹ đàn anh.
- Thuở ấy, những hôm trời mưa lạnh, thân hình phải mặc áo giấy lót bên trong cho ấm thân hình, tôi cũng cất giữ tập ký họa này vào nơi ấm áp nhất. Còn khi ra mưa, nói thật với anh- Lão họa sỹ Lưu Ly kể với tôi- thà thân xác mình dầm mưa chịu rét chứ nhất định phải bảo vệ cho kỳ được mấy trang giấy mỏng này đấy!
Hết thời kháng chiến, một lần nữa họa sỹ Lưu Ly lại chuyển ngành công tác. Ông phụ trách một xưởng chế tác sơn mài của Bộ công thương nhưng ngày đêm vẫn không xa tập ký họa. Không còn cảnh mưa rét, nhưng nguy cơ bị tan ra do độ ẩm cao là điều có thể nên họa sỹ Lưu Ly, rang gao nếp thơm, bỏ vào ni lon, ủ nguyên cả tập ký họa như thể ủ nóng trái tim mình.
Chao ôi! Người vẽ đã can trường lãng mạn, người gìn giữ cũng kiên trì đam mê lắm thay! Nghệ thuật tồn tại, không chỉ nhờ tài năng của nghệ sỹ, mà còn bởi tấm lòng của thiên hạ!  60 năm trôi qua, trải qua bao nhiêu thăng trầm, tập ký họa nhỏ nhoi, sờn gáy, mờ bóng giấy này đã thành một báu vật của họa sỹ Lưu Ly vì với ông, mỗi bức tranh ký họa mộc mạc này, là một nỗi hoài niệm lớn mà các họa sỹ bậc thầy đã dành và ông đã may mắn có trong đời!
 
Chủ quán Hoàng Lập Ngôn do Bùi Xuân Phái vẽ
60 năm trôi qua, Lưu Ly chàng học viên lớp hội họa thu đông năm nào đã là một lão họa sỹ gần 80 tuổi trước mắt tôi. Con người và thời gian đổi thay, nhưng 19 bức ký họa bản gốc vẫn rõ ràng từng nét họa, gam màu, phảng phất mùi vị lịch sử và hơi thở của những tác giả góp mặt.
Sau bao nhiêu năm trường kỳ lưu giữ, giờ đây lão họa sỹ Lưu Ly quyết định chuyển giao tập ký họa cho chị Bội Trân, chủ nhân Bội Trân Galery trên đồi Thiên An mướt xanh mùa thu Huế. Thật là duyên cơ, lớp học hội họa thu đông ngày đó, do họa sỹ  Thân Trọng Sự – một người Huế đứng ra tổ chức và 60 năm sau, qua bao nhiêu bước đường, tập ký họa liên quan mật thiết đến lớp học ấy lại đến với một người Huế, là nữ họa sỹ Bội Trân, người mà lão họa sỹ Lưu Ly gửi gắm và tin rằng, chị sẽ tiếp bước cuộc hành trình lưu giữ và giới thiệu nó với mọi người.
Bài và ảnh của Văn Cầm Hải – Nguồn: Tia Sáng
(Vĩnh Thuận sưu tầm - Ngọc Hà - 31/7/2012 - Nguồn: Blog của nhà thơ Ng. Trọng Tạo)

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

THƯ VIỆN QUỐC HỘI NHẬT Ở KANSAI


Thăm Thư viện Quốc hội Nhật tại Kansai


11/11/2011
nguyentuancuonghn blogspost

Cả ngày hôm nay đi Kyoto thăm Thư viện Quốc hội Nhật Bản tại Kansai (国立国会図書館関西館), thư viện lớn nhất mà tôi từng đến. Lớn, và rất đẹp! Rất tiếc là bên trong thư viện cấm chụp ảnh, nên những ảnh bên trong thư viện chủ yếu được hạ tải từ Internet, hoặc chụp lại từ các tài liệu giới thiệu.




Lúc đến, do có kế hoạch của Viện Nhật ngữ Kansai, nên nhân viên thư viện đã chuẩn bị mọi thứ để đón tiếp: thẻ quẹt, biển tên từng người, một tập các loại tài liệu giới thiệu và hướng dẫn sử dụng... Họ cử 3 cô hướng dẫn rất chi là nhiệt tình và chuyên nghiệp. Đầu tiên là xem video giới thiệu khoảng 15 phút, rồi chia thành các nhóm để họ dẫn đi giới thiệu về Phòng đọc, đi ăn trưa; rồi thì tài liệu đấy, tự tra, tự đọc... Tổng quỹ thời gian chỉ có 4 giờ đồng hồ. Vậy nên xác định trước là đọc sách thì chẳng được mấy, nên tranh thủ quan sát xem cách tổ chức thư viện của họ thế nào thôi.
日本国際交流基金関西国際センター平成23年度文化学術専門家クラスの国会図書館関西館訪問


Hệ thống Thư viện Quốc hội Nhật Bản (http://www.ndl.go.jp) có 3 nhánh: một nhánh (trung tâm) ở Tokyo (東京本館), một nhánh ở Kyoto (関西館, Quan Tây Quán, là nhánh Kansai mà tôi vừa đến), một nhánh dành riêng cho trẻ em, gọi là "Thư viện Trẻ em Quốc tế" (国際子ども図書館) ở Tokyo. 

Thư viện Quốc hội Nhật Bản tại Kansai có tổng diện tích sử dụng khoảng 150.000 m2, trong đó diện tích mặt bằng khu chứa sách là khoảng 80.000 m2, gồm 4 tầng chìm dưới mặt đất. Khu còn lại cũng 4 tầng nhưng ở trên mặt đất, là khu sự vụ, tổ chức sự kiện, phòng họp, nhà ăn (tầng 4). Đây cũng là một công trình kiến trúc được đánh giá cao tại Nhật Bản.



 





 Ở khu chứa sách, 3 tầng sách bên dưới thì độc giả không được vào. Ở 3 tầng dưới ấy có hệ thống lấy sách tự động, tức là ở khoảng giữa các giá sách cao ngất có một đường ray để cho một cái máy chạy đến, "gắp" đúng quyển sách có kí hiệu theo yêu cầu. Kiểu này nghe nói cũng có ở một số nơi, nhưng tôi chưa từng gặp. Tầng sát mặt đất có Phòng đọc (閱覽室), riêng phòng này rộng 4.500 m2. Trong phòng, tôi đếm được cả thảy 83 dãy giá để tài liệu sách. Sách trong phòng này là đọc tự do, còn những tài liệu quý hoặc cũ lưu ở 3 tầng bên dưới thì đăng kí sẽ được mượn. Số ghế chỗ ngồi đọc thì thú thật là tôi không có thời gian để đếm, hix, chỉ biết là rất nhiều và rất... xịn. Hệ thống máy đọc microfilm, máy phóng to (trong trường hợp chữ quá nhỏ)... được trang bị rất hoành tráng. Giá photo một trang tài liệu là 15 yen (~ 4.000 VND) nếu mình tự sử dụng được máy photo ở đó, thêm 5 yen nữa nếu nhờ nhân viên thư viện photo giúp.



 





Về số lượng tài liệu, sách tiếng Nhật có 1.127.000 cuốn, sách tiếng nước ngoài có 63.000 cuốn; tạp chí và báo tiếng Nhật có 46.200 tít, tiếng nước ngoài có 45.000 tít; luận án TS tại Nhật có 532.000 cuốn, luận án TS nước ngoài có 470.000 cuốn. Riêng tư liệu bằng các thứ tiếng châu Á thì có 335.000 cuốn sách, 8.400 tên tạp chí và báo. Ấn tượng nhất với tôi ở đây là kho báo cũ, cực kì hoành tráng, đẹp và đều tăm tắp, đóng thành từng tập chắc chắn. Nghĩ đến kho báo cũ Saigon thiếu nham thiếu nhở ở thư viện Quốc gia và thư viện Quân đội tại Hà Nội mà thấy buồn...



 

Vì không có nhiều thời gian, nên sau khi đi xem quanh một lượt, tôi dừng lại ở chỗ tài liệu về Việt Nam, chủ yếu bằng tiếng Việt, Nhật, Anh, Pháp. Đập ngay vào mắt là cuốn Sự thành lập và biến đổi của quốc gia Đại Việt thời trung thế  中世大越国家の成立と変容 』 của Momoki Shiro 桃木至朗 vừa được Hội xuất bản Đại học Osaka 大阪大学出版会 in tháng 2/2011, 470 trang khổ lớn trông rất cường tráng. Ngoài ra cũng có một cuốn rất đáng nể là Tóm lược các tài liệu nhân học văn hóa Việt Nam: Điểm nhìn từ Nhật Bản ベトナム文化人類学文献解題―日本からの視点』 do Suenari Michio 末成道男 chủ biên (trong nhóm làm việc có cả Chu Xuân Giao), in năm 2009. Khá nhiều tài liệu về pháp luật và thể chế chính trị VN (có vẻ người Nhật quan tâm đến vấn đề này để dễ đầu tư vào VN). Về Vietnam War thì có 5 bộ từ điển khác nhau về Vietnam War bằng tiếng Anh, 2 bộ tiếng Nhật, đấy là chỉ tính từ điển thôi.

 



 

Ở đây, tôi tìm được 3 bản dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Nhật. Một bản nhan đề Kim Vân Kiều Tân Truyện 『金雲翹新伝』 do Takeuchi Yonosuke 竹内与之助 dịch in năm Chiêu Hòa 60 (1984), 186 trang, là bản dịch gọn lại của bản dịch đã in năm 1975 của cùng dịch giả. Bản thứ hai nhan đề Kim Vân Kiều 金雲翹』 , do Akiyama Tokio 秋山時夫 dịch, NXB Kodansha 講談社 in năm 1996, 228 trang. Bản thứ ba nhan đề Truyện Thúy Kiều トゥイ・キォウの物語』 , do Sato Seiji 佐藤清二 và Kuroda Yoshiko 黒田佳子 dịch, NXB Kibito 吉備人 in năm 2005, 252 trang, dịch từ bản tiếng Anh của Lê Xuân Thủy. Thông tin này cũng bổ sung cho bài viết trước đây của Đoàn Lê Giang về việc dịch Truyện Kiều tại Nhật thời kì "hậu Takeuchi". Vậy là còn bản dịch của Komatsu Kiyoshi 小松 清 năm 1942 (dịch từ tiếng Pháp) là tôi chưa được sờ vào :-) 

Một chuyến đi hữu ích trong 1 ngày toàn số "1" (2011/11/11)! Tiếc là thời gian hơi ít nên chưa quan sát được nhiều.
 
Nguồn:nguyentuancuonghn blogspost

----------------------------------------------------

(Vĩnh Thuận sưu tầm - Ngọc Hà - 30/7/2012)

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

SÁCH NGHỆ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI VN


Ra mắt sách về nghệ thuật đương đại VN
PV
Tạp chí Tia Sáng - 25/7/2012

Cuốn sách về nghệ thuật đương đại Việt Nam những năm 1990-2010 của hai tác giả Bùi Như Hương và Phạm Trung sẽ có buổi ra mắt tại Cà phê Sách Trung Nguyên, Hà Nội, vào sáng 28/07.

NXB Tri thức, nơi ấn hành cuốn sách, cho biết, Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990-2010 sẽ ra mắt phiên bản tiếng Anh trước phiên bản tiếng Việt, với phần dịch thuật do Quỹ Trao đổi và phát triển văn hóa - Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội CDEF tài trợ kinh phí.
Dưới đây, Tia Sáng xin giới thiệu khái quát về nội dung cuốn sách qua Lời mở đầu của chính nhóm tác giả:
"Sau hơn hai mươi năm mở cửa và đổi mới, mỹ thuật Việt Nam chứng kiến sự phát triển bùng nổ không chỉ hội hoạ hiện đại, mà bên cạnh đó còn có cả những thử nghiệm nghệ thuật mới như sắp đặt, trình diễn, pop-art, video-art, digital- art…, cái mà trên thế giới nói chung gọi là nghệ thuật đương đại- contemporary art (để tạm phân biệt với modern art của thời kỳ trước). Nếu ở 10 năm đầu đổi mới, hội họa là tiếng nói đặc sắc, nổi trội, chiếm ưu thế, thì những năm về sau, nghệ thuật đương đại lại gây ra các scandal, sự kiện.

Sự hiện diện của các hình thức nghệ thuật đương đại đã được dư luận báo chí, văn đàn nghệ thuật thời gian qua đề cập tới ít nhiều, và là đề tài gây tranh cãi bởi tính tiền phong, cực đoan của nó. Bên cạnh sự thay đổi đột ngột về hình thức, chất liệu, phương tiện nghệ thuật, là sự thách thức, gây sốc về cảm giác và thẩm mỹ. Bên cạnh sự thay đổi các giá trị nghệ thuật, sự đi ngược hoàn toàn các quan niệm truyền thống về cái đẹp và giá trị vĩnh hằng, là tính xã hội hoá nghệ thuật, “Pop hoá” nghệ thuật, và cuối cùng là sự can thiệp trực tiếp của nghệ thuật vào các vấn đề chính trị, xã hội, môi trường và con người ở thời kỳ toàn cầu hoá.
 

Cũng do phát triển chậm và mở cửa muộn nên nghệ thuật Việt Nam hiện nay đang trải nghiệm và giải quyết cùng một lúc cả hai giai đoạn: phát triển nghệ thuật hiện đại và thể nghiệm nghệ thuật đương đại. 


Một mặt, hội hoạ vẫn tiếp tục nảy nở, phát triển cho hết vòng quay, chu trình của nó với đủ loại ngôn ngữ, phong cách cá nhân khác nhau. Rất nhiều họa sĩ vẫn say mê trải nghiệm hội họa. Đây chính là quá trình đổi mới, “hiện đại hoá” của mỹ thuật Việt Nam theo cách riêng của nó, không giống với phương Tây. Trong khi hội họa phương Tây, có thể nói, dường như đang khô kiệt dần vì đời sống công nghiệp và ý thức công nghiệp, thì hội họa Việt Nam còn tràn trề tính hồn nhiên dân gian, bản năng, gắn với thói quen và lối sống nông nghiệp. Câu chuyện hội họa vẫn còn là mới, và chắc sẽ không bao giờ kết thúc bởi hội họa luôn là tiếng nói cá nhân, là hành vi thuộc bản năng con người. Hết vòng quay này, có thể sẽ lại bắt đầu một vòng quay khác mới hơn. Tuy nhiên, có thể thấy ở Việt Nam, hội họa đích thực, chân thành ngày càng trở nên hiếm hoi, có xu hướng mệt mỏi, đi vào tháp ngà nội tâm, riêng tư. Một phần khác, khá phổ biến, xuống cấp trở thành nghệ thuật hàng chợ dân gian, trang trí mỹ nghệ kiếm sống, ít tính nghệ thuật. Phần còn lại cấp tiến hơn, trở thành phương tiện có mặt trong các trò chơi thể nghiệm đương đại, dưới hình thức nghệ thuật sắp đặt, Body-art, Pop- art, Collage, Graffiti, Digital art…
 

Trong lĩnh vực nghiên cứu, đã có một số sách giới thiệu chung về nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới, chủ yếu là về hội họa. Có thể thấy, mối quan tâm về nghệ thuật đương đại còn rời rạc, chưa được hình thành rõ nét, thiếu hệ thống. Dường như chưa có một ấn phẩm nào được xuất bản đề cập một cách khái quát, chuyên sâu những đặc điểm, sự kiện nghệ thuật, những cá nhân nghệ sĩ tiêu biểu của nghệ thuật đương đại Việt Nam thời gian qua. 


Cuốn sách 
Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990-2010 chính là nỗ lực của nhóm tác giả với mong muốn giản dị: trước hết là tập hợp thông tin, sau là bù đắp được phần nào những thiếu hụt kể trên của lĩnh vực nghiên cứu, đồng thời, hy vọng có thể đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu của công chúng yêu thích nghệ thuật gần, xa.

Cuốn sách bao gồm 3 phần chính:
 

Phần I: Nghệ thuật đương đại trong khái niệm. 


Phần II: Nghệ thuật đương đại trong thực tiễn ở Việt Nam:

              - Sự kiện              - Quá trình phát triển nghệ thuật Sắp đặt, Trình diễn và Video Art ở Việt Nam. Một số đặc điểm.              - Hội họa và Đồ họa đương đại

Phần III: Tác giả - Tác phẩm


Cuối cùng là Phụ lục với các mục: 
Niên biểu một số sự kiện nghệ thuật đương đại chính, Index, Tư liệu tham khảo.

Như một lẽ tự nhiên, cuốn 
Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990-2010 không có tham vọng khái quát hết toàn bộ hoạt động sáng tạo nghệ thuật đương đại đa dạng ở Việt Nam thời gian qua, cũng như khó có thể khẳng định những gì còn đang là vấn đề thời sự mới mẻ của nghệ thuật. Chúng tôi chỉ cố gắng đưa ra một số đặc điểm, một số nhận định ban đầu còn mang tính nhất thời của nghệ thuật. Các nghệ sĩ được đề cập tới ở đây là những người thể hiện cá tính sáng tạo riêng biệt, có những tác phẩm để lại dấu ấn nhất định trong lòng người xem, đồng thời, họ cũng là những người có đóng góp cho hoạt động nghệ thuật đương đại một thời kỳ. Mọi sự lựa chọn thông qua lăng kính cá nhân chắc chắn không tránh khỏi những chủ quan, thiếu sót. Hy vọng rằng trong tương lai sẽ có thêm các công trình bổ khuyết cho cuốn sách này."

(Vĩnh Thuận sưu tầm - 29/7/2012)

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Cá CHÌNH hay LƯƠN BIỂN

(cá chình Mỹ - theo Wikipedia)
 
Tiến sĩ Dược khoa Trần Việt Hưng

Theo phân loại khoa học, Bộ Cá Chình = Anguilliformes là một bộ cá rất lớn, chia thêm thành 4 bộ phụ, bao gồm trên 19 họ và khoảng 800 loài. Cá có hình dạng chung là thân hình ống trụ, giống như rắn và thường được gọi chung là lươn biển. Tên này thật ra cũng chỉ giúp phân biệt với lươn đồng, lươn ruộng vì nhiều loài cá chình lại là cá nước ngọt. Trong khi đó lươn đồng, tuy hình dáng tương tự nhưng lại thuộc một bộ sinh vật khác hẳn (Bộ Synbranchiformes) và đặc điểm hình thái khác biệt rõ nhất là cá chình có vây..còn lươn đồng không vây. Bên cạnh đó còn có lịch, trạch..cũng được dân gian xem là có..họ hàng với lươn..! chưa kể đến rắn biển hay đẻn.. (Xin xem những bài riêng về các loài thủy sản này). Tên gọi tiếng Anh : Eel cũng cần lưu ý vì đây là một tên chung để gọi nhiều sinh vật thuộc nhiều bộ và loài cá khác nhau, tuy có chung hình dạng ống thuôn dài nhưng nhiều khi không hề có liên hệ với nhau. American eel, Japanese eel, European eel đều trong nhóm cá chình, nhưng còn có Snake eel, Moray eel, Conger eel, có khi được gọi là lịch. Trái lại Lamprey eel, Electric eel, Spiny eel lại là nhưng sinh vật hoàn toàn riêng biệt.
(Bài này xin chỉ giới hạn trong loài Cá chình nước ngọt, các loài Moray, Lamprey..Lươn đồng, Rắn biển sẽ được trình bày trong các bài kế tiếp)
Đặc điểm chung của Cá chình :
Cá chình có thân hình ống dài, có loài chỉ 5cm như Monognathus ahlstrom và có loài dài đến 3.75 m như Moray. Cá trưởng thành cũng tùy loài, cân từ 30 gram đến 25 kg. Cá không có vây bụng, có loài còn không có vây ngực. Vây lưng và vây hậu môn kết hợp với vây đuôi để tạo thành một 'dải' vây dọc theo lưng cá. Đa số sinh sống tại các vùng nước nông hay ẩn nấp dưới đáy biển sâu, có khi trong các hốc, được gọi là hang cá chình (eel pits). Riêng cá thuộc họ Anguillidae tuy thường sinh sống nơi vùng nước ngọt nhưng chúng phải trở về biển (nơi chúng sinh ra) để sinh sản..Có những loài có thề sống dưới độ sâu đến 4000 m. Cá chình bơi lội rất giỏi và thuộc loại động vật săn mồi..
Chu trình sinh sản của tất cả các loài Cá chình có chung đặc điểm : Chúng đẻ trứng tại vùng nước biển rất xa nơi chúng sinh sống đến giai đoạn trưởng thành. Các nhà nghiên cứu cho rằng nơi đẻ trứng của Cá chình Âu châu và Cá chình Mỹ châu là tại vùng biển Sargasso, một vùng biển tại Đại tây dương nằm giữa Bermuda và West Indies, và của Cá chình Nhật là tại vùng gần Quần đảo Marianas. 
Ấu trùng của cá chình cả 3 loài trên hình lá liễu gọi là leptocephalus trôi theo giòng nước về hướng Bắc để đến vùng nước lợ và nước ngọt nơi chúng sẽ sinh sống. Có khi ấu trùng phài mất đến 2-3 năm mới đến nơi (Chình Mỹ mất 1 năm, chình Âu mất đến 3 năm !) Khi đến khu vực cận duyên, ngoài khơi, ấu trùng sẽ trải qua nhiều giai đoạn biến thái để trở thành cá bột, có hình dạng ống thuôn dài trong suốt (glass eel) đây là lúc các trại nuôi vớt về để nuôi tiếp trong các trại sản xuất hải sản. Cá bột lớn dần, sắc tố trong cơ thể tăng dần, biến đổi thành cá con elvers, rồi sau đó thành cá chình hương, màu hồng-vàng= yellow eel di chuyển vào sâu hơn, bơi ngược giòng vào các vùng nước ngọt nơi chúng sẽ tự chọn vùng cư trú thích hợp, sắc tố trong da tăng dần, thân đổi từ từ sang đen. Sau nhiều năm, có khi cả chục năm (Cá chình Âu mất 16- 20 năm, cá chình Mỹ 6-2 năm, cá Nhật 7-20 năm) Yellow eel đến giai đoạn trưởng thành về phát dục, thân thể biến đổi, màu sắc trở thành xậm trở thành cá chình bạc= silver eel , chúng bơi trở về vùng đẻ trứng ban đầu, phối ngẫu và chết..
Cá chình thuộc loại cá dữ, săn mồi, và kiếm ăn ban đêm, ban ngày chúng thường ẩn mình trong hang, hốc. Thực phẩm là những động vật có xương sống, cá và giáp xác nhỏ..
Cá chình có tuổi thọ khá cao : Chình Mỹ sống đến 43 năm, Cá chình Âu có tuổi thọ kỷ lục là con cá tên Putte, nuôi tại Copengagen Aquarium sống được 88 năm.
* Vài loài Cá chình chính:
Anguilla japonica : Cá chình Nhật, Cá thiết lình. Japanese eel, Anguille du Japon, Anguila japonesa. Japanischer Aal.
Cá phân bố ở Trung Hoa, Triều tiên, Nhật, xa hơn về phia Nam đảo Hải Nam, Bắc Philippines, Việt Nam..Tại Việt Nam, cá sinh sống trong vùng hạ lưu sông Hồng (Bắc Việt), phia đông Vịnh Bắc Việt và vùng ven biển miền Trung, nhất là tại các vùng cửa sông thuộc Quảng Ngãi và Bình định.
Cá có thân hình ống trụ, dài khoảng 40 cm. Chiều dài của thân gấp 18-20 lần chiều cao. Phần thân dài gấp 9-10 phần đầu. Mõm hẹp và tù. Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Răng nhỏ hình nón. Vây lưng nằm lùi về phía sau, liên tục nối với vây đuôi và vây hậu môn. Vây ngực nhỏ, không có vây bụng. Toàn thân cá màu xám có ánh xanh. Cá có thể dài đến 1.5 m nặng 1 kg.
Cá chình Nhật không nhất thiết phải di chuyển vào sống trong vùng nước ngọt, có những loài phụ (57%) tiếp tục sinh sống nơi ven biển, trong khi đó 23 % vào vùng nước ngọt và 20% ở vùng nước lợ.
Cá có giá trị kinh tế cao, được nuôi tại các trại thủy sản. Sản lượng cao nhất lên đến 4-5 ngàn tấn vào năm 1970, nay chỉ còn chừng 700 tấn (2008). 
Anguilla anguilla : Cá chình Âu châu. European eel, Anguille d' Europe , Anguila europa.
Cá phân bố trong các vùng biển từ Iceland sang đến Na Uy và xuống đến vùng ven biển Phi châu đến khoảng vĩ tuyến 25 Bắc và vào đến cả Địa trung hải, Biển Đen.
Thân hình ống trụ hẹp lại về phía đuôi. Đầu hơi dài, mắt tròn khi lươn nhỏ, nhưng sẽ rất lớn khi phát dục. Răng nhỏ, xếp thành hàng ở cả 2 hàm. Mang nhỏ và thẳng đứng. Vây cũng tương tự như ở cá chình nhật. Cá ở vùng nước ngọt có thân màu xanh-lục/ nâu-đen, bụng vàng đổi dần thành đen và chuyển sang bạc khi đến giai đoạn đẻ trứng. Cá mái dài đến 140 cm, trung bình 40-60 cm Cá đực ngắn hơn, có thể đến 55 cm, trung bình 30-40 cm. Cá kỷ lục câu được tại Anh nặng 4 kg. Tổng sản lượng đánh bắt năm 2007 khoảng 8000 tấn, lượng cá nuôi cũng khoảng 8-9 ngàn tấn.
Cá chình Âu châu đang bị nguy cơ bị tận diệt. Từ thập niên 70 lượng cá đến được vùng biển Âu châu xuống thấp đến 90% có thể do một số yếu tố như đánh bắt quá mức, gặp nhiểu trỡ ngại cho việc di cư như các đập thủy điện, sự thay đổi của giòng nước biển Bắc Đại tây dương.. vấn đề ô nhiễm môi sinh do PCB.
Anguilla rostrata : Cá chình Mỹ châu, American eel, Anguille d'Amerique, Anguila americana.
Cá phân bố rộng rãi trong vùng biển phía Tây của Bắc Đại tây dương từ Greenland xuống đến Trinidad, kể cà vùng Vịnh Mexico. Cá thường gặp tại các cửa sông dọc bờ biển phia Đông Hoa Kỳ và phía Nam Canada.
Thân hình ống dài đến 150cm, trung bình 50cm. Hình dáng và màu sắc thân rất giống với Cá chình Âu châu, mắt nhỏ hơn. Anguìlla rostrata sống phần lớn nơi vùng nước ngọt và cửa sông, đến giai đoạn phát dục, chúng cũng trở về vùng biển Sargasso vào mùa thu, để đẻ trứng vào cuối mùa đông. Sản lượng theo FAO vào khoảng từ 2 đến 43 tấn mỗi năm (Cá chình ít được ưa chuộng tại Mỹ nên đa số cá đánh bắt được xuất cảng sang Nhật và Taiwan)
Anguilla marmorata : Cá chình bông (Cá chình hoa), Marbled eel= Giant mottled eel.
Đây là loài cá chình được xem là có vùng phân bô rộng rãi nhất, chúng có mặt tại nhiều vùng biển : từ Đông Phi châu sang đến vùng Polynesia (thuộc Pháp ở Thái bình dương) và vùng biển phia Nam Nhật. Tại Việt Nam cá phân bố từ Quảng Bình xuống đến Bình thuận.
Thân dài, dạng rắn phia sau hơi dẹp về một bên. Mõm nhọn : chiều dài của mõm lớn hơn chiều rộng của đáy miệng. Miệng tương đối rộng, rạch miệng kéo dài, có nhiều răng xếp thành dải. Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền với nhau. Khởi điểm của vây lưng gần phần trươc thân hơn mọi loại chình khác. Cá có mầu xậm phia lưng, phia bụng màu sáng hơn. Trên thân có nhiều đốm đen đa dạng nên được gọi là chình bông hay chình hoa, đôi khi các đốm có màu xanh-đen như cẩm thạch (chình cẩm thạch). Chình bông dài trung bình 50-70 cm, nặng 0.3-1.1 kg, tuy nhiên có thể dài trên 1m, nặng 7-2 kg. Cá kỷ lục dài đến 2m, nặng đến 27 kg.
Vùng sinh đẻ của cá được xác định là trong vùng biển phia Tây đảo Guam, phia Tây cùng vùng Bắc Thái bình dương. Cá phát dục và từ vùng nước ngọt trở về biển khi dải trung bình 150cm, nặng cỡ 11 kg, khoảng 15 tuổi. Một mẫu cá duy nhất bắt được tại Hồ Kaupu (Hawaii) vào năm 2002.
Anguilla reinhardtii : Cá chình Úc châu. Longfin eel
Đây là loài chình phân bố riêng tại vùng biển Úc, gặp tại các cửa sông và giòng suối phia Đông lục địa Úc như Queesland, New South Wales. Cá có thể dài khoảng 105 cm. Thân thay đổi màu tùy giai đoạn tăng trưỡng như cá Chình Nhật. Cá đẻ trứng tại vùng Coral Sea nơi độ sâu 300m. Lượng câu bắt được Chinh phủ Liên Bang Úc định mức giới hạn tùy năm. Tại Úc, còn có loài A. australis= short-finned eel. 

Cá chình tại Việt Nam:
Theo các nghiên cứu của Viện Thủy sản, vùng biển Việt Nam có 5 loài cá chình, trong đó quan trọng nhất là Chình Nhật (A. japonica, Chình bông, chình cẩm thạch (A. marmorata), còn có Chình mun (A. bicolor pacifica) và Chình dừa (thân màu nâu vàng nhưng có thể là chình Nhật trong giai đoạn tăng trưởng ?) Cá chình tại Việt Nam phân bố dọc duyên hải, vùng đánh bắt quan trọng nhất là Bình định, Phú Yên.. 
Tại sông Lam (Nghệ An) ngày 19 tháng 10 năm 2009 ngư dân đã câu bắt được một con cá chình bông dài 1.6 m, đường kính thân 5 cm và nặng 13 kg. Do nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu cao nên đang được khuyến khich nuôi tại những bể nuôi có tính cách gia đình bằng cách vớt cá bột về để nuôi cho tăng trưởng. Hiện nay tại Long Sơn (Vũng tàu) có những trại nuôi cá chình bông theo quy mô công nghiệp. Tại vùng Đầm Ô loan (Bình định), các ngư dân có nghề bắt lịch. Lịch, tên khoa học Pisodonophis boro, tuy cũng thuộc bộ cá chình, nhưng thuộc họ Ophychthyidae. Lịch còn co các tên khác như Snake eel. Theo tài liệu của 'Tra cứu Động vật Rừng Việt Nam, thì cá được gọi là Cá lịch cu. 

Cá chình tại Hoa Kỳ : 
Tại Hoa Kỳ, lượng cá chình tiêu thụ tương đối thấp, và cá chỉ được chế biến tại các nhà hàng ăn Nhật, Hoa..dùng cá nuôi nhập từ Taiwan, Trung Hoa và Việt Nam. Lượng cá nhập từ Trung Hoa năm 2006, chiếm 82 %,khoảng 1.4 ngàn tấn, trị giá 12. 5 triệu USD. Trong khi đó, ngay tại Hoa Kỳ hiện có (2005) ít nhất là 3 trại nuôi cá chình A. rostrata tại Maryland, New JerseyPennsylvania. Cá sản xuất được xuất cảng sang Nam Hàn và Bỉ dưới dạng cá đông lạnh. Năm 2008, Nam Hàn đã mua lượng cá trị giá 3.4 triệu USD, Bỉ mua khoảng 2.2 triệu USD, hiện nay HongKong chiếm vị tri thứ ba với 1.4 triệu USD..
Để đối phó với tình trạng số lượng cá đánh bắt càng ngày càng giảm sút, các Cơ quan US Fish and Wildlife Service và National Marine Fisheries Service đã khuyến cáo nên đưa cá chình vào danh sách các sinh vật cần bào vệ. Canada đã cấm khai thác cá chình trong vùng Hồ Ontario và vùng cửa sông St Lauwrence.. 

Giá trị dinh dưỡng :
Cá chình được xem là một thực phẩm bổ dưỡng, chứa nhiều chất béo. 100 gram thịt cá chình (nấu chin bằng nhiệt khô) chứa :
- Calories                          236
 
- Cht đm                        23.65 g
- Ch
t béo                         14.95 g
- Calcium                          26 mg
- S
t                                  0.64 mg
- Magnesium                    26 mg
- Phosphorus                    227 mg
- Potassium                      349 mg
- Sodium                          65 mg
- K
m                               2.08 mg
- Đ
ng                              0.029 mg
- Manganese                     0.04 mg
- Selenium                        8.3 microgram
- Thiamine (B1)               0.183 mg
- Riboflavine (B2)            0.051 mg
- Niacin (B3)                    4. 487 mg
- Pantothenic acid            0.28 mg
- Folate                            17 microgram
- Vitamin B12                 2.89 microgram
- Vitamin A                    3787 microgram hay 1137 IU
- Choline                         67 mg
Thành phần chất béo (trong 100 gram) của cá Chình :
- Chất béo tổng cộng
14.95 g
- Chất béo bão hòa
2.4 g
- chưa bão hòa đơn (mono)
7.35 g
- chưa bão hòa đa (poly)
0.95 g
- Acid béo Omega-3
670 mg
Omega-6
200 mg
- Cholesterol
137 mg
Trong một Hội nghị quốc tế tại Tokyo vào tháng 10 năm 1990, các nhà khoa học Anh cho biết thịt cá chình chứa nhiều DHA có tác dụng bồi bổ sức khoẻ, giúp tăng hoạt động của não, hạn chế sự tăng trưởng của bướu ung thư. 
Máu cá chình : 
Máu cá chình được ghi nhận là có độc tính đối với người và các động vật có vú khác, tuy nhiên sau khi đun, nấu các proteins gây độc này bị mất tác dụng. Huyết thanh của máu cá chình đã được dùng để nghiên cứu trong lãnh vực miễn nhiễm học và GS Charles Richet đã đoạt giải Nobel khi dùng huyết thanh này để nghiên cứu về các phản ứng quá mẫn (anaphylaxis) thử nghiệm trên chó. BS Justin de Lisle đã nghiên cứu về máu cá chình tại Viện Pasteur Paris từ đầu thế kỷ 20. 
Huyết thanh máu cá chình là một dung dịch trong, màu xanh lục nhạt và có phản ứng kiềm khá mạnh. Huyết thanh này có độc tính mạnh khi chích cho thỏ và gây các phản ứng như co giật, giãn nở đồng tử mắt, chảy nước bọt, hoại huyết và làm tim ngưng đập, liều gây độc được ghi nhận là 0.1 ml/ 5kg. 
Các nhà nghiên cứu Nhật tại ĐH Tokyo đã ly trích và tinh khiết hóa được chất độc này và xác định được đây là một hợp chất phức tạp loại protein. Chất độc này gây tử vong cho chuột và cua thử nghiệm : liều LD 50 khi chích qua tĩnh mạch chuột là 670 microgram/kg (-1) và khi chích vào khoang thân cua là 450. Hợp chất loại protein này có phân tử lượng khoảng 100 kDa . (Protein Journal Số 27/2008) 
Cá chình trong ẩm thực : 
Thịt cá chình tuy không được ưa thich tại Bắc Mỹ như Hoa Kỳ, nhưng lại là món ăn đắt giá tại Âu châu và nhất là tại Nhật Thịt cá chình khá béo, những món ăn từ cá tươì tương đối nhiều mỡ. Phương pháp tốt nhất khi ăn cá chình tươi là lột da, rửa sạch, chặt thành khúc và nướng than hay xông khói, hoặc nấu súp, đun lửa nhỏ.. 
Âu châu : 
Món cá chình nổi tiếng nhất tại Âu châu là món Anguilles au vert = Eel in green sauce của Bỉ: cá lột da, cắt khúc, nấu chung với hành, rượu trắng sau đó nấu với rau spinach và làm đặc bằng lòng trắng trứng.. 
Pháp có khá nhiều món như cá chình nấu theo các kiểu catigot, matelote, bouilleture, à la flamande.. Cá bột được gọi là civelles hay piballes. Món Catigot d'Anguilles là món truyền thống của vùng Provence : Cá được nấu với rượu chát trong niêu sành..đút lò theo kiểu..kho tộ. Một trong những món đặc sắc nhất của Restaurant Marquée mà các khách phương xa tìm đến để thưởng thức là Matelotte d'anguilles , đây cũng là món mà các Tổng thống Pháp luôn luôn dùng đễ đãi các vị Nguyên thủ các Quốc gia khi đến thăm nước Pháp 
Người Anh rất thich lươn bột elvers..chiên giòn. Giá elvers hiện nay tại London lên đến 700 bảng Anh/kg. 
Người Hòa lan rất thích món Cá chình hun khói với những món nổi tiếng như Gebakken Paling' Philê cá chình chiên'( Fried fillets of eel); Gestoofde Paling met Appeltjes = Cá chình nấu với táo (cá cắt khúc, quết bơ đút lò chung với bánh mì vụn, chanh cắt miếng, ăn với khoai và táo..) 
Người Đan mạch ăn cá chình bột chiên giòn, hay trộn với trứng (Ristet roget Al med Roaeg) 
Món ăn từ Cá chình được ưa chuộng nhất tại vùng Quebec Canada là Aiguille au vin blanc (Cá chình nấu rượu nho trắng) 
Nhật và Á châu : 
Tại Á châu, cá chình là món ăn ưa thich tại Trung Hoa, Triều tiên và nhất là Nhật. Giá cá tươi tại Hong Kong khoảng 1000 đô la HK/ 1 kg, và có khi lên đến 5000 HKD 
Người Nhật đã ăn cá chình từ thời thượng cổ, cá chình được xem là món ăn bổ dưỡng, rất tốt cho mắt. Được gọi là Unagi, cá chình là một món ăn 'truyền thống của Nhật. Phần lớn cá chình trên thị trường là do các trại nuôi thủy-hải sản cung cấp. Trươc đây cá được nuôi trong các ao hồ nhân tạo, nhưng hiện nay được nuôi trong các bể có mái che, với các hệ thống điều hòa nhiệt độ. Phương thức ăn cá thông thường nhất là kabayaki (cá cắt khúc, sỏ que thép hay tre, quết nuớc sốt rồi nướng), hay ăn với cơm dưới dạng nabemono Nhật tiêu thụ mỗi năm khoảng 100 ngàn tấn cá chình đủ loại. Thị trường kabayaki cần cá nặng trung bình cỡ 200 gram. Cá chình được xem là một món ăn đặc biệt dành cho các nhà đô vật sumo và các võ sĩ. 
Người Trung Hoa, chế biến cá chình cầu kỳ hơn, và phân biệt lươn (thiện ngư) với cá chình (mạn lệ ngư). Cá chình được xem là lươn có vây hay lươn biển. Thịt cá chình thường được hầm chung với Hà thủ ô, hạt Sen, Nấm mèo, linh chi.. để làm thuôc trị bất lực, bổ thận. Các sách cổ Trung hoa ghi chép là Cá chình là loại cá 'trường sinh' vì sống lâu, không già, không bao giờ bắt được cá 'con' (vì chưa biết là cá chình phải di chuyển về nơi chúng sinh ra để đẻ trứng) 
Cá chình trong Dược học cổ truyền : 
Dược học cổ truyền Trung Hoa và Việt Nam dùng thịt và một số bộ phận của Cá chình để làm thuốc. Cá chình được gọi là Mạn lệ ngư, cá lạc. 
Thịt cá chình = Mạn lệ ngư nhục, được xem là có vị ngọt, tính bình với các tác dụng 'bổ hư luy', 'khư phong thấp', sát trùng. Thịt cá chình được dùng trị 'hư lao' nóng trong xương, phong thấp, tê đau; cước khí, phong ngứa. Trị trẻ em cam tích; phụ nữ băng lậu. Trị trĩ và ngứ lở ngoài da. 
Máu cá chình = Mạn lệ ngư huyết, dùng chữa các chứng lở; dùng nhỏ mắt trong trường hợp bị đậu mùa, gây mắt mờ (?). 
Xương cá chình = Mạn lệ ngư cốt, nướng cháy, nghiền thành bột, rắc vào vết thương, ghẻ lở để sát trùng.. 
Theo Tuệ Tĩnh (Nam dược Thần hiệu) : Mạn lệ ngư - Cá lạc, vị ngọt, tính bình, không độc, công dụng trừ các chứng độc, trị phong sang, thuốc độc, sát trùng lao, chữa tê thấp đau lưng, mỏi chân. 
Theo Hải thượng Lãn ông (Lĩnh nam Bản thảo) : 
' Mạn lệ ngư gọi là cá Lạc 
Không độc, ngọt bình, trừ tật ác
 
Chữa thuốc độc, mụn lở, trùng lao
 
Lưng đau, tê thấp, chân yếu ớt


Tài liệu sử dụng :
FAO Fisheries & Aquaculture- Species fact sheets : Anguilla anguilla and Anguilla japonica.
The Oxford Companion to Food (Alan Davidson)
Seafood- A connoisseur's guide and cookbook (A. Davidson)
Seafood Watch : Unagi Final Report.
Aquatic Species at Risk- The Americal Eel (COSEWIC Status Report 2006)
The Book of Eels (Tom Fort).



Tiếp theo bài LƯƠN ĐỒNG xin tiếp LƯƠN BIỂN

DS. Vĩnh Bảo sưu tầm 28/7/2012

------------------------------------

(BBT - 29/7/2012): Xin xem thêm bài về cá chình trên Từ điển BK trực tuyến http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_ch%C3%ACnh