Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

5 lời khuyên giúp tối ưu hóa lợi ích sức khỏe của trà

Benjamin Chasteen được chứng nhận là một chuyên gia về trà và là người dạy các lớp học trà đạo. Sau đây là bài viết của ông nhằm giúp bạn đọc tối ưu hóa lợi ích sức khỏe của trà
tra dao
Để nhận được nhiều lợi ích nhất từ việc uống trà, tốt nhất là nên pha trà khô với nhiệt độ nước thích hợp. Loại trà được đổ vào cốc trên đây là trà xanh sencha của Nhật Bản. Trà của Nhật được pha với nhiệt độ thấp hơn trà của Trung Quốc. (Ảnh: Benjamin Chasteen/ Epoch Times)
Trà – loại thức uống phổ biến thứ hai trên thế giới sau nước, có lịch sử cổ xưa. Qua nhiều thời đại nó đã gây ra sự bàn cãi trên nhiều lục địa, được cho là bí quyết sống lâu, là nguồn cảm hứng cho thơ ca, kể chuyện, và với một số người, pha trà đã và đang là nghệ thuật mà chỉ sau nhiều năm mới có thể trở nên chuyên nghiệp.
Cho dù bạn là người mới tập uống trà, người uống trà thường xuyên hay là người muốn tìm hiểu thêm về trà, dưới đây là 5 lời khuyên giúp tận dụng tối đa nguồn tài nguyên tuyệt vời này.
1. Trà khô hay trà túi lọc
Tôi thường thấy ngạc nhiên vì có rất nhiều người nói họ không thích trà, đặc biệt là trà xanh vì nó “quá đắng”. Để đáp lại, tôi hỏi họ uống loại trà xanh gì, họ nói, “Tôi không biết, đó chỉ là trà xanh trong một cái túi lọc”
Sự khác biệt về chất lượng giữa trà khô và trà túi lọc tương tự như sự khác biệt giữa hotdog và thịt filet mignon.
Uống trà từ loại túi lọc sẽ làm dịu cơn khát của bạn nhưng hương vị và chất lượng sẽ kém hơn. (Tất nhiên trà khô cũng được bán dưới dạng những túi trà chất lượng tốt, phần lớn đây là ngoại lệ)
Vậy tại sao lại có sự khác biệt lớn này? Khi nông dân bán trà, họ thường ưu tiên bán trà có chất lượng cao nhất trước. Lá chè còn nguyên vẹn, gần như không trộn lẫn với thân cây, có chứa nhiều nụ chè màu trắng nên có giá cao nhất. Khi càng có nhiều nụ bạn thấy trong đám lá chè khô thì lợi ích càng cao hơn, bởi vì nụ chè khiến loại trà đó mang lợi ích sức khỏe cao nhất và có thêm vị ngọt. 
Sau khi đã bán loại tốt nhất, nông dân bán loại trà hạng trung với lá chè không còn nguyên, trộn lẫn với thân cây và không chứa nhiều nụ. Tất cả những gì còn sót lại ở dưới cùng của rổ trà, được hốt lên và bán với giá rẻ để chế biến thành túi trà lọc.
2. Pha trà khô 
Làm sao có thể pha trà để mang lại lợi ích cao nhất? Có 5 loại trà chính được sản xuất từ cây chè (Camellia Sinensis). Đó là trà trắng, trà xanh, trà ô long, trà đen và trà Phổ Nhĩ (trà Pu er). 
Tôi thường thích dùng lượng trà nhiều hơn một chút và pha với thời gian ngắn hơn. Với cách này bạn sẽ cảm nhận đầy đủ hương vị với lợi ích sức khỏe và bạn có thể thưởng thức lần thứ hai hay thậm chí là lần thứ ba với cùng lượng trà ban đầu. Lượng thích hợp là khoảng một muỗng trà với 10 ounce (300 ml) nước. Với các loại trà Ô long, bạn chỉ cần khoảng một muỗng trà bởi vì trọng lượng của nó lớn hơn. 
Thời gian pha trà và nhiệt độ của nước có thể khác nhau tùy thuộc vào loại trà và lượng trà sử dụng. Nếu bạn không ngại thưởng thức vị đắng và muốn tăng lợi ích sức khỏe, chỉ cần pha trà lâu hơn công thức liệt kê dưới đây. 
Tuy nhiên, nếu bạn có ý định pha trà nhiều hơn một lần, thì bạn cũng sẽ nhận được lợi ích tương tự như khi bạn pha trà lâu hơn cho một lần duy nhất.
Trà trắng: 77 – 80 độ C (tương đương 170-175 độ F) trong vòng 2 phút rưỡi đến 3 phút. 
Trà xanh: 82 – 85 độ C (180-185 độ F) trong vòng 2 phút rưỡi.
Trà xanh Nhật Bản: 66 – 77 độ C (150-170 độ F) trong vòng 2 phút.
Trà Ô long: 90 – 93 độ C (195-200 độ F) trong vòng 3 phút.
Trà đen: 96 – 99 độ C (205-210 độ F) trong vòng 1 phút rưỡi (Tôi thích pha loãng trà đen để hương vị của nó ngọt, nếu bạn thích uống đặc hơn, có thể ngâm trà lâu hơn)
Trà Phổ Nhĩ (Puer): 99 độ C (210 độ F) trong vòng 2 phút rưỡi
Nếu bạn áp dụng theo lượng trà và thời gian pha trà như trên, bạn sẽ có thể pha với cùng lượng trà 2 đến 3 lần. Đối với trà Ô long có chất lượng càng tốt thì bạn càng có thể pha nhiều lần hơn. Trà Ô long thường có vị ngon nhất và đem lại lợi ích cao nhất sau lần pha thứ hai bởi vì lá chè khô sẽ bắt đầu nở ra sau lần pha trà đầu tiên.
3. Chất lượng trà và mua trà
Tôi thường nghe mọi người hỏi tại sao lá trà khô Long Tỉnh được bán với giá từ 10 đến 50 đô la cho mỗi 50 gram.
Trà ngon cũng tương tự như rượu ngon; một chai rượu vang cabernet sauvignon có thể có giá 10 đô nhưng cũng có thể được bán với giá hàng trăm đô là dựa vào khoảng thời gian bao lâu sẽ cho chất lượng tốt. 
Giống như rượu, trà có thể được thu hoạch, hái và chế biến theo nhiều cách và từ nhiều nông trại khác nhau. Bạn không cần chi hàng trăm đô la cho trà mới có thể nhận được những lợi ích của nó, nhưng bạn chi nhiều hơn thì chất lượng trà sẽ tốt hơn, hương vị ngon hơn và tươi hơn. 
Độ cao và khí hậu có thể ảnh hưởng đến hương vị trà giống như rượu nho vậy. Cây chè thường được trồng ở vùng cao hơn để có được loại trà chất lượng tốt nhất, người trồng chè sẽ đánh giá mật độ sương và sương mù, ánh sáng mặt trời hay những đám mây, thậm chí là tốc độ gió vào ngày thu hoạch vì đó là những nhân tố ảnh hưởng đến hương vị cuối cùng của trà. Thời gian nào hái chè trong ngày cũng tác động đến hương vị. 
Những nông trại chè nhỏ mà chế biến trà thủ công theo cách truyền thống luôn bán với giá đắt hơn vì họ thường trồng ở nơi cao hơn và khó thu hoạch hơn, nhưng đây chính là loại trà có chất lượng thượng hạng. Những nông trại lớn mang tính thương mại hay thuộc sở hữu nhà nước mà dùng máy móc để chế biến trà thường bán với giá rẻ hơn và chất lượng thấp hơn, bởi vì họ trồng chè ở độ cao thấp hơn nên dễ dàng thu hoạch hơn. 
Vậy bạn có thể mua trà tốt nhất ở đâu? Thông thường đa số các cửa hàng tạp hóa truyền thống bán rất nhiều các loại trà phổ thông, nhưng các cửa hiệu chuyên về trà hay các cửa hàng tạp hóa hữu cơ mà có nhiều nhân viên hiểu biết về trà sẽ là những nơi tốt nhất để mua. 
4. Lợi ích của mỗi loại trà
Mỗi loại trà mang lại cho cơ thể những lợi ích khác nhau, vì vậy bạn nên cân nhắc đến chức năng cũng như hương vị khi bạn chọn loại trà.
Trà trắng
Là loại trà ít qua chế biến nhất và chứa hàm lượng chất chống oxi hóa cao nhất, trà trắng được biết đến với những đặc tính giúp ngăn ngừa ung thư. Nó cũng giúp hạ nhiệt cơ thể.
Trà xanh
Trà xanh cũng giúp hạ nhiệt cho cơ thể và là nhân tố giải độc tự nhiên. Nó cũng chứa theanine là một loại amino axit giúp tăng cường khả năng tập trung và cải thiện trí nhớ.
Trà Ô long
Trà Ô long giúp hạ huyết áp, hỗ trợ giảm cân và cải thiện đường tiêu hóa.
Trà đen
Trà đen giúp giữ ấm cơ thể, hỗ trợ tiêu hóa và chứa một lượng chất chống oxi hóa nhưng ít hơn trà trắng vì nó được chế biến nhiều hơn.
Trà Phổ Nhĩ (Puer)
Trà Phổ Nhĩ giúp làm giảm lượng cholesterol và vô hiệu hóa các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo trong cơ thể nếu bạn uống ngay sau bữa ăn.
5. Uống trà theo mùa
Hầu hết mọi người không biết rằng theo truyền thống của người Trung Hoa, tùy theo mùa mà họ uống các loại trà khác nhau. Dưới đây là thời gian khi nào có thể tối ưu hóa lợi ích của trà theo mỗi mùa trong năm.
Mùa xuân: Tốt nhất là tất cả các loại trà tươi mới vừa được thu hoạch trong mùa.
Mùa hè: Trà trắng và trà xanh là tốt nhất vì chúng giúp làm mát cơ thể và duy trì sự cân bằng khí trong cơ thể suốt mùa nóng.
Mùa thu: Khi nhiệt độ xuống thấp, trà Ô long và trà đen sẽ giúp giữ ấm cơ thể. Trà đen pha với một lượng nhỏ hoàng kỳ giúp giảm nguy cơ sưng phổi trong suốt mùa lạnh.
Mùa đông: Trà đen rất tốt cho việc giữ ấm cơ thể vào mùa đông. Thêm một miếng vỏ cây quế và một ít quả kỷ tử sẽ giúp hỗ trợ lưu thông khí huyết. Thêm một ít đường phèn cũng giúp làm dịu cổ họng và chống lại cảm cúm.
Benjamin Chasteen
Theo vietdaikynguyen
Vĩnh Bảo sưu tầm 1/3/2016

Bí mật muôn thuở về giấc ngủ

Một bài viết trên Sina blog có tên “Bí mật muôn thuở về giấc ngủ”, đã tiết lộ những bí mật thiên cổ về giấc ngủ của con người .
(Fotolia)
(Fotolia)
Trong bài viết có nói, theo y học và kinh nghiệm bản thân cũng như những gì quan sát được, thời gian ngủ thực sự của một người tối đa là hai giờ đồng hồ, còn lại đều là một sự lãng phí thời gian. Chúng ta nằm trên gối và đi vào trong những giấc mơ, không ai là không có những giấc mơ cả. Nhưng chúng ta lại không cảm nhận được chúng, đó là vì chúng ta đã quên đi ngay sau khi thức dậy. Thông thường để ngủ đủ thì chúng ta chỉ cần 2 giờ, vậy thì tại sao rất nhiều người muốn ngủ đến bảy hay tám giờ? Đó là vì chúng ta đã nuôi dưỡng thói quen, tập quán nghỉ ngơi trên giường trong thời gian lâu, chúng ta không cần quá nhiều thời gian để ngủ, đặc biệt là những người tu thiền và luyện võ thuật, họ biết rằng, chỉ cần nhắm mắt lại và thực sự đi vào giấc ngủ thì vào buổi trưa chúng ta chỉ cần ngủ ba phút, đã là tương đương với hai tiếng đồng hồ ngủ rồi. Khi đêm đến thì cũng phải ngủ, tốt nhất là vào nửa đêm, năm phút tương đương với sáu giờ đồng hồ.
Như vậy chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn dành cho việc học tập, thuận theo nguyên lý vũ trụ, quy luật của đất trời, và mối quan hệ giữa Âm và Dương, chúng ta sẽ cảm thấy rằng: Một khối năng lượng từ tim và cơ quan nội tạng sẽ hạ xuống phần bên dưới và hội tụ tại đan điền (bụng dưới), năng lượng này sẽ được dung hòa ở đây. Khi ấy “Thủy hỏa đủ đầy”, tất cả đều sẽ trở nên lắng dịu lại, sau một giấc ngủ đủ, tinh thần của chúng ta sẽ trở nên rất tốt.
Vì vậy, những người bị mất ngủ hoặc có thói quen thức thâu đêm, phải tự mình rèn luyện đi ngủ vào 12h, cho dù chỉ là ngủ 20 phút.
Nếu chúng ta hăng say làm việc quá nửa đêm (sau 12 rưỡi), chúng ta sẽ không cảm thấy buồn ngủ nữa, đây là điều rất không tốt. Nghiêm trọng hơn, là làm việc cho đến bình minh , bốn, năm, sáu giờ, giả sử bạn lại buồn ngủ, nếu bạn ngủ lúc đó dù chỉ là một lát thôi thì cả ngày hôm đó bạn sẽ cảm thấy đầu óc mệt mỏi và choáng váng.
Vì vậy, những người muốn làm việc muộn vào ban đêm , thì dù cho là việc quan trọng thế nào đi nữa đến 12h cũng phải ngủ ít nhất là nửa tiếng, đến giờ Mão (5-7h sáng) nếu bạn lại muốn ngủ thì hãy xin nhớ là không được ngủ nữa, ngày hôm đó tinh thần của bạn sẽ vẫn tốt.
Nhưng cũng có những người trằn trọc mãi trong đêm, không ngủ được và chỉ thiếp đi lúc bình minh. Ngày hôm sau họ sẽ cảm thấy tinh thần mệt mỏi và không thoải mái, họ cảm giác bị mất ngủ và thiếu ngủ, thực tế là do họ không có kinh nghiệm.
Giấc ngủ và sức khỏe
Nguyên tắc của giấc ngủ
Một danh y thời chiến quốc trong bài đối thoại với Tề Uy Vương đã nói: “Chế độ ngủ luôn phải ở vị trí hàng đầu, giấc ngủ giúp con người và động vật sinh trưởng, giấc ngủ giúp dạ dày tiêu hóa thức ăn, vì vậy, ngủ đủ giấc là chế độ dưỡng sinh đầu tiên, người mà một đêm không ngủ thì phải mất cả một trăm ngày để phục hồi lại.”
Khoảng thời gian từ 21 giờ cho đến 5 giờ sáng là thời gian ngủ có hiệu quả nhất. Con người, động vật và thực vật đều có cùng một nhịp điệu sinh học. Thời gian ban ngày 5h sáng đến 9h tối là khoảng thời gian hoạt động nhằm tạo ra năng lượng, trong khi đó vào ban đêm các tế bào bắt đầu phân chia, đưa năng lượng vào tế bào mới, phục hồi hoạt động tế bào. Con người nên thuận theo vận động của trời và đất. Khi trời tối, không gian tĩnh lặng, con người nên đi ngủ, tinh thần sau đó mới trở nên khỏe mạnh, vào giờ đó mà đi ngủ thì tinh thần và thân thể đều có được trạng thái tốt đẹp. Giấc ngủ tròn đầy, trẻ con mau lớn, tròn trịa, tính tình vui tươi; còn trẻ hiếu động, ít ngủ, thì sẽ phải chịu những tác dụng ngược lại.
Giấc ngủ là một chức năng quan trọng của sức khỏe, tác dụng của giấc ngủ là sử dụng một số lượng lớn các tế bào khỏe mạnh để thay thế cho các tế bào suy yếu, vậy thì nếu như chúng ta không ngủ đủ giấc, thì các tế bào cũ không thể được thay thế. Nếu trong một ngày có 1 triệu tế bào bị suy yếu mà khi ban đêm chúng ta chỉ có thể thay mới được 5 trăm nghìn tế bào, như vậy cơ thể sẽ dẫn đến sự thiếu hụt. Nếu sự thiếu hụt này kéo dài, thì con người sẽ thiếu đi sinh lực sống, cảm thấy thân thể mệt mỏi rã rời. Tại sao có những người có thể sống 100 tuổi, đó là vì họ luôn đi ngủ vào 21 giờ tối.
Thực vật hấp thụ năng lượng mặt trời và tăng trưởng vào ban đêm, vì vậy khi đêm xuống ở các khu vực nông thôn, chúng ta có thể nghe thấy âm thanh của tiến trình sinh trưởng. Con người và thực vật đều là những cơ thể sinh học, có thời gian phân chia tế bào không khác nhau là bao, do đó nếu bỏ lỡ thời gian ngủ quý giá vào ban đêm, tế bào mới sinh ra không thay thế được hết các tế bào tiêu vong, con người sẽ bị già sớm và mắc nhiều bệnh tật. Con người phải thuận theo tự nhiên, nên hoạt động theo chu kì của mặt trời, mặt trời thức ta cũng thức, mặt trời đi ngủ, ta cũng đi ngủ. Con người so với mặt trời thì bé như một hạt bụi, lựa chọn “chống lại với mặt trời” khác nào là một lựa chọn ngu xuẩn. Ngủ quá trưa cho đến khi mặt trời đứng bóng có thể khiến sinh lực bị hao tổn. Đây là một sự thật khách quan.
Trong hiện thực cuộc sống, có nhiều người bị khó ngủ, chất lượng của giấc ngủ không cao. Giấc ngủ kém là một vấn đề mang tính toàn diện, can hỏa quá thịnh, giấc ngủ chập chờn; vị hỏa quá thịnh, giấc ngủ bồn chồn; gan thiếu khí âm, khi ngủ cảm thấy mệt mỏi.
Thứ hai , giấc ngủ và bệnh
Thói quen sinh hoạt và lối sống hiện đại mang lại rất nhiều tác động tiêu cực cho cơ thể con người dẫn đến sự hình thành của bốn loại bệnh nghiêm trọng: bệnh trái cây, bệnh tủ lạnh, bệnh truyền hình máy tính, bệnh thức đêm, đây là những căn bệnh trầm kha thuộc về tâm bệnh. Gan có một đặc tính : là vùng thu hồi máu và cung cấp máu cho bên ngoài.
Trên thực tế, thời gian nửa đêm từ 23:00 đến 1:00, thì 23:00 mới là khởi đầu của một ngày mới chứ không phải là 00:00 như chúng ta vẫn lầm tưởng. Gan mật hỗ trợ trong ngoài, tựa như một thể thống nhất, vào lúc 23:00 túi mật bắt đầu hoạt động, nhưng nếu chúng ta không ngủ, sẽ làm tổn thương nghiêm trọng khí huyết tại mật, mà trong khi đó, 11 cơ quan nội tạng đều phụ thuộc vào mật. Như vậy nếu mật bị tổn thương thì toàn bộ cơ quan nội tạng đều giảm chức năng, trong đó bao gồm hoạt động trao đổi chất, hệ thống miễn dịch đều suy giảm, hiệu suất làm việc cũng giảm thiểu nghiêm trọng. Khí huyết tại mật còn duy trì hỗ trợ hệ thần kinh trung ương, do đó nếu khí huyết tại mật bị thương tổn có thể dẫn đến các chủng bệnh tật rối loạn tinh thần như trầm cảm, tâm thần phân liệt, căng thẳng, nóng nảy bồn chồn không yên. Vào khoảng thời gian nửa đêm thì túi mật chủ yếu biến đổi sang dạng dịch thể, người mất ngủ thì kinh lạc tại mật quá thịnh, dịch mật chuyển vào tình trạng bất lợi, nếu quá nhiều thì sẽ kết tinh thành thể rắn, một thời gian dài tích lũy sẽ thành sỏi mật, nếu như mật trong tình trạng này kéo dài, thì hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm chỉ còn 50%, do vậy không thể để mật bị tổn thương, cẩn phải sử dụng hợp lý tiềm năng to lớn của hệ thống này.
Vào giờ Sửu (1:00 – 3:00) thì hoạt động tại gan là tối quan trọng, nếu chúng ta mất ngủ, thì gan không có cách nào giải độc và thanh lọc máu tươi cho cơ thể, bởi vì máu bẩn chứa nhiều chất độc nên nếu cơ thể chứa nhiều loại máu này, mặt mày sẽ xanh xao, dễ mắc các bệnh về gan, hiện tại số người mắc bệnh về gan không phải là ít, trung bình cứ 4 người châu Âu thì có một người dương tính với kết quả kiểm tra siêu vi, chủ yếu là do không tuân thủ việc thực hiện giấc ngủ vào ban đêm. Viêm gan A điều trị dễ hơn so với viêm gan B. Viêm gan B là do nhiễm virus vì cơ thể thường xuyên không ngủ vào ban đêm, gây ra các rối loạn, virus dễ dàng xâm nhập vào các tế bào. Khi virus xâm nhập vào được bên trong tế bào thì chúng ta có nguy cơ bị viêm gan, khi cơ thể quá yếu nhược thì bệnh viêm gan sẽ được hình thành, người mắc viêm gan B thì trong tương lai nguy cơ bị xơ gan có thể lên đến 40 – 60%. Những người thông minh nên hiểu mối quan hệ giữa trời, đất và con người, người thiếu hiểu biết chính là đang tự hủy hoại bản thân mình.
Giấc ngủ không ngon mang lại nhiều tác hại cho gan ?
Hoạt động của gan bị rối loạn; quá nửa đêm mà vẫn chưa ngủ, có thể là nguyên nhân làm cho gan phát tác các nhân tố bất lợi, gan khí trì trệ, làm cơ thể cảm thấy khó chịu, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, đau mắt, ù tai, khó nghe, tức ngực, phụ nữ kinh nguyệt không đều, táo bón, cũng có thể dẫn tới tức khí ở gan, gây đau đầu, mệt mỏi, đầu gối run rẩy, chóng mặt, mất ngủ, tim hồi hộp, nếu nặng có thể gây bất tỉnh.
Gan có thể chứa đựng máu, chức năng của gan chính là điều tiết máu, nếu ban đêm không ngủ, có thể gây ra thiếu máu ở gan, gây tình trạng thổ huyết, chảy máu cam, xuất huyết dưới da, chảy máu nướu răng, xuất huyết võng mạc, chảy máu tai và các chứng xuất huyết tương tự.
Gan khai mở huyệt vị ở mắt, do đó nếu mất ngủ vào ban đêm, có thể dẫn đến tổn hại gan làm cho mắt bị mờ, viễn thị, quáng gà, sợ ánh sáng, chảy nước mắt (nghênh phong lưu lệ), và các triệu chứng khác, không những thế còn có thể gây ra các bệnh nguy hiểm hơn như tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, xơ cứng động mạch võng mạc, và các bệnh về mắt khác.
Gan làm chủ gân cơ, tinh hoa trong móng tay, mất ngủ vào ban đêm có thể gây ra thiếu máu ở gan, xuất hiện đau gân, tê bại, chuột rút, co giật, nấm móng, tụt Canxi, thoát hóa xương bánh chè, động kinh, loãng xương và nhiều chứng bệnh khác.
Gan và tim, khi cơ thể thiếu ngủ, có thể gây ra thiếu máu ở gan, do tim giữ vai trò chủ đạo trong việc điều hòa khí huyết còn gan giữ chức năng lưu trữ máu cung cấp cho tim, do đó thiếu máu ở gan có thể gây ra suy tim, tim đập mạnh, nghiêm trọng nhất là hình thành các bệnh nặng liên quan đến tim như tăng huyết áp, bệnh tim mạch và mạch máu não bộ.
Gan và lá lách, mất ngủ ban đêm có thể gây ra xung đột giữa gan và tỳ vị do gan có chức năng hỗ trợ tỳ vị trong quá trình tiêu hóa, nếu gan hoạt động không tốt thì hoạt động tiêu hóa của tỳ vị không tốt, làm chức năng tiêu hóa suy giảm, cơ thể biểu hiện ra trạng thái nổi ban ở lưỡi, một thời gian dài có thể làm thành khí cơ suy nhược.
Gan và phổi, cơ thể mất ngủ vào ban đêm, không có cách nào tăng âm mà giảm dương, tính âm ở gan giảm mạnh, gan nóng quá làm đốt cháy phổi, dẫn đến ho khan hoặc ho có đờm, thổ huyết, và có thể dẫn đến bệnh vảy nến và các bệnh về da khác.
Gan và thận , không ngủ vào ban đêm, gan yếu dẫn đến suy thận, do gan và thận có cùng nguồn gốc, có khả năng gây rối loạn sinh sản, vô sinh, bệnh về xương và răng, rụng tóc, bệnh tiểu đường, suy thận và các bệnh khác .
Thứ ba, phương pháp ngủ
Quy tắc giao thông – người không hiểu biết sẽ tự mình gây tai nạn cho bản thân. Ví dụ, 23:00-3:00 là từ giờ tí đến giờ sửu là khoảng thời gian gan và mật hoạt động tích cực nhất, gan mật giữ vai trò đưa máu về “thảng hạ khứ hồi huyết, trạm khởi lai cung huyết” nghĩa là nằm thì máu thu về, đứng lên thì máu chuyển đi, nếu bạn đi nằm lúc 22h và nhất định phải tĩnh lặng không được nói chuyện thì đến 23h cũng chìm vào giấc ngủ. Gan và mật bắt đầu thu máu về, lọc bỏ chất độc, làm máu trở nên tươi sạch, như vậy thì đến trăm tuổi cũng không bị sỏi mật, không bị viêm gan, không bị u nang.
Nếu bạn còn thức đến 1h sáng thì gan không thể thu máu về, không thể tiến hành quá trình giải độc, như vậy máu tươi sạch không được sử dụng cho cơ thể, mật không thể chuyển thành dịch thể, như thế có thể gây ra sỏi mật, u nang và các chủng viêm gan.
Tại châu Âu, trung bình bốn người thì có một người bị viêm gan, có thể nguyên nhân là họ không nắm rõ các nguyên lý của giấc ngủ. Tốt nhất là không nói chuyện vào nửa đêm khi đi ngủ, chúng ta đi ngủ chứ không phải đi nói chuyện, vì khi nói chuyện, sẽ động đến phổi và sau đó là động đến tim, (vì tim phổi hợp lại có thể sinh năng lượng), người nói chuyện sẽ làm cho tâm tình hưng khởi, vì vậy rất khó đi vào giấc ngủ.
Giờ hợi (21:00-23:00), vào giờ hợi tam tiêu kinh lạc cường thịnh, tam tiêu khởi thông bách mạch. Ngủ vào giờ Hợi, trăm mạch đều được nuôi dưỡng, những lão nhân trăm tuổi xưa nay thông thường đều ngủ vào giờ Hợi. Phụ nữ xưa giờ đều mong muốn có dung nhan kiều diễm, để được vậy phải đi ngủ sớm và thức dậy sớm.
Khi ngủ quan trọng phải đóng cửa sổ, có thể không mở quạt, không mở điều hòa, rất nhiều người bị bệnh vì sử dụng quạt và điều hòa khi ngủ, bởi vì người đang trong giấc ngủ thì tuần hoàn máu rất chậm, thân nhiệt hạ xuống, cơ thể sẽ hình thành một lớp khí dương bao bọc bên ngoài, lớp khí dương này được cho rằng có khả năng :quỷ mị bất xâm, có nghĩa là khi khí dương cường thịnh, khi ngủ sẽ không có ác mộng. Khi mở điều hòa không khí, mở quạt, đều không giống nhau, mở cửa sổ có nghĩa là đón gió, gió vào cơ bắp, nếu như mở điều hòa thì gió vào gân cơ, lạnh vào xương cốt, buổi sáng thức dậy, cơ thể vàng vọt, mặt vàng, cơ gân cổ vùng gáy bị tê cứng, thậm chí một số người bắt đầu bị sốt, nguyên nhân là vì gió lạnh xâm nhập vào xương và dây chằng làm nguyên khí bị tổn thương.
Đóng cửa sổ vào ban đêm khi ngủ, không có điều hòa, không có quạt, ngay cả cửa chính cũng đóng thì hiệu quả rất tốt. Tuy nhiên, nếu phòng nóng quá thì có thể mở cửa chính, đóng cửa sổ, hiệu quả sẽ giảm đi một chút, nhưng sáng hôm sau thức dậy, toàn thân đều không có hiện tượng mệt mỏi, phần lưng không bị tê cứng. Nếu phòng ngủ mở cửa cùng với việc mở điều hòa cùng lúc khi ngủ thì rất không tốt. Vì nếu như vậy thì khí hàn sẽ xâm nhập vào xương cốt, thân tâm cảm hàn, tâm ngụ ở đâu, chẳng phải ngụ tại não, tủy đối với não đóng vai trò quan trọng, cốt tủy nhiễm hàn nên chắc chắn thân tâm sẽ cảm hàn, vậy thì phải làm sao? Bồi bổ khí dương cho thận, bồi bổ trung khí, như thế thì tâm lý không còn lạnh lẽo, bệnh sốt tự khỏi, cảm hàn tự xuất ra.
Khi ngủ cần phải ngủ sớm, nếu ngủ muộn, có thể gây tổn thương phần khí dương, có thể làm cho ngày hôm sau cảm thấy mệt mỏi, do đó, trong lúc ngủ quan trọng nhất là phải đóng cửa, không mở điều hòa, không bật quạt máy để bảo vệ dương khí.
Nếu như gan mật đều thương tổn dẫn đến vấn đề với dạ dày thì ngủ sẽ không ngon giấc, một người nếu tỳ vị bị hàn mà khí dương không được bồi bổ đầy đủ, lại uống quá nhiều trà xanh, sẽ làm cho tỳ vị bị lạnh, khiến giấc ngủ không tròn, hoặc ăn quá nhiều thứ khó tiêu hóa vào dạ dày, thì tỳ vị có nguy cơ bị hàn, chắc chắn giấc ngủ sẽ không ngon.
Một người nếu tỳ vị bị nhiệt, thì khí nóng sẽ đi lên làm miệng và hơi thở nóng, trong trường hợp này ngủ cũng không ngon giấc,như vậy người này có tỳ vị khô, khô miệng, cảm giác khô nóng trong dạ dày.
Người có dạ dày dầy dặn, ăn cảm giác ngon miệng. Dạ dày dầy dặn, ở trong tình huống có nhiều món ăn thơm ngon, béo ngậy, có nhiều thức ăn hải sản, cá rán, gà hầm,mùi vị ngon lành, họ sẽ ăn nhiều hơn, thực ra món ngon không nên dùng nhiều, trong bữa ăn nên ăn vừa phải, nếu ăn không vừa phải thì bụng chướng đầy khí, giấc ngủ cũng không tròn.
Một khi bụng chướng, bụng căng lên thì đêm không thể ngủ được, khi bụng đã bớt chướng, cũng khó lòng mà ngủ trở lại. Người này lâm vào tình trạng hư tổn tỳ vị, người cảm lạnh, ngủ không ngon giấc, đều do dạ dày bồn chồn, dạ dày bồn chồn thì giấc ngủ không yên.
Khi ngủ tay chân phải ấm áp, chân tay ấm như là khí dương tại các chi, điều này chúng ta đều biết, chân tay không ấm, chắc chắn thận sẽ có khí dương không đủ, do đó, trước khi ngủ thì chân tay và cả rốn cùng vùng bụng nên được giữ ấm, phần lưng phía sau cũng cần được giữ ấm thật tốt.
Các phương pháp ngủ khác nhau, chúng tôi xin giới thiệu ba cách sau đây:
1. Làm các động tác chân đơn giản trước khi đi ngủ, sau đó tự nhiên ngồi bắt chéo chân trên giường , hai tay đặt trên hai chân chồng lên nhau, hơi thở tự nhiên, cảm giác được hơi thở đều đặn của cơ thể qua từng lỗ chân lông, nếu có thể ngáp đến chảy nước mắt thì hiệu quả rất tốt, khi cảm thấy buồn ngủ thì rất dễ đi vào giấc ngủ.
2. Nằm ngửa , hít thở tự nhiên, cảm thấy hơi thở như gió mùa xuân, trước tiên thả lỏng ngón chân cái và ngón chân khác, sau đó đến bàn chân, cẳng chân, đùi và dần dần thả lỏng toàn thân. Nếu vẫn còn tỉnh táo, hãy làm lại từ đầu.
3. Mọi người có thể rơi vào giấc ngủ nhanh chóng trong tư thế nằm nghiêng, tay phải áp sát tai phải. Lòng bàn tay phải có tính hỏa, trong khi tai có tính thủy, thủy hỏa giao hòa tức thời làm thành mối liên thông giữa tim và thận, nuôi dưỡng cả tim và thận.
Phải thức dậy sớm, ngay cả trong mùa đông cũng không được ngủ quá 6:00 giờ. Vào mùa xuân và mùa thu thì phải thức dậy trước 5 giờ, bởi vì vào giờ Dần ( 3h – 5h) thì phổi đang hưng thịnh nên sau khi thức dậy, phổi có thể triển khai hoạt động tốt, hít thở mạnh để phổi có thể kéo giãn phù hợp với tầng khí dương hoàn thành quá trình chuyển hóa toàn diện, loại bỏ phần khí dơ bẩn, làm trong sạch phổi, như vậy có thể giúp phổi hòa hợp với hừng đông, thuận theo khí trời, thân thể thăng hoa dương khí. Nếu qua thời điểm tốt này thì rất khó phát huy phần dương khí trong cơ thể, phần dương khí này sẽ bị tích lại trong phần thân dưới không thể phát huy tác dụng do phần mệnh môn phía trên có vai trò khởi phát phần dương khí này. Một khi không được phát huy năng lượng, phần dương khí này sẽ trở thành khí xấu trong cơ thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe.
5:00-7:00 là ruột già của con người vào thời điểm thịnh vượng nhất, cơ thể cần để bài tiết các chất chuyển hóa của vào thời điểm này nếu bạn không thức dậy, ruột già không thể tự mình chủ động hoạt động, không có biện pháp tốt nào để bài xuất các chất cặn bã ra ngoài cơ thể, các chất này lưu tồn sẽ hình thành chất độc cho cơ thể có hại cho máu và các cơ quan nội tạng. 7:00-9:00 là thời khắc hoạt động tốt của dạ dày, 9:00-11:00 lá lách của con người hoạt động tốt, như vậy là khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt, nếu như đến thời điểm đó mà chưa thức dậy thì niêm mạc dạ dày bị ăn mòn nghiêm trọng, vào giai đoạn hấp thu dinh dưỡng tốt nhất thì không được cho ăn, tình trạng này kéo dài thì có thể gây bệnh dạ dày, khiến cơ thể suy dinh dưỡng, cơ thể suy nhược. Vì vậy, vào thời điểm này không nên cố nằm ngủ trên giường, tiếp tục ngủ trong giai đoạn này có thể gây chóng mặt, mệt mỏi, tạo cảm giác ngủ không đủ, trong lịch sử, danh nhân nổi tiếng có người hình thành thói quen dậy sớm lúc 3 – 4h sáng như như Washington, Napoleon , Hoàng đế Khang Hy, Tăng Quốc Phiên,… . Thức dậy sớm có thể tăng hiệu quả làm việc, có câu nói : “Ba ngày dậy sớm, một ngày công”.
Y học hiện đại đã chứng minh được rằng những người đi ngủ sớm và thức dậy sớm, ít nhạy cảm với bệnh tâm thần. Không đi ra ngoài tập thể dục buổi sáng quá sớm, bởi vì vào buổi sáng trước khi mặt trời mọc, khí độc từ các ống cống ngầm và khí từ các nguồn nước thải cũng bắt đầu bốc lên (đặc biệt là ở các thành phố), các khí không tốt này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể.
Nuôi dưỡng cơ thể có ba việc quan trọng, đó là: giấc ngủ, thứ hai là sự tiện lợi, thứ ba là ăn uống, ngoài ra còn có xây dựng nơi ăn chốn ở, còn việc mặc chỉ là điều thứ yếu.
Trong ba điều thì quan trọng nhất là giấc ngủ. Tuy nhiên, khi ăn không thấy ngon miệng, đêm ngủ cũng sẽ không ngon. Còn việc bài tiết đứng vị trí số 2. Ăn vào mà không bài tiết, người ăn quá no, tràng vị có thể bị tổn thương, do đó việc ăn uống cần phải tiết chế. Giấc ngủ ngon lấy tinh thần làm chủ, tinh thần tốt lấy sự tĩnh tâm làm mục tiêu, ngoài ra còn phụ thuộc vào tuổi tác, kẻ tráng niên cần ngủ khoảng 7 đến 8 tiếng, ngủ nhiều có thể khiến chóng mặt, trí nhớ sa sút, mắt mỏi, tay chân rã rời, trẻ em thì có thể ngủ 8 đến 9 tiếng không sao, còn người già hoặc người bệnh thì ngủ 6 tiếng là đủ.
Đối với người bị rối loạn giấc ngủ thì không thể bỏ qua các cảnh báo này!
(A) Nên ngủ sớm, buổi tối bình thường không quá 10h, người cao tuổi thì 8h không nên quá 9h . Nếu đến 11h thì khí dương được tạo thành liên thông với thận, sau đó sẽ khó ngủ, thận bị mất nước, thận nối kết với tim, thủy suy yếu thì hỏa sẽ vượng, sẽ gây tổn thương tinh thần. nhưng trong tình huống nào đi nữa thì cũng không sử dụng thuốc an thần để hỗ trợ giấc ngủ.
(B) Khi đã nằm trên gối tránh suy nghĩ, tránh tính toán đủ loại cơ sự, khi đã ngủ thì không nên suy tư, hơi thở đều đặn, tâm tĩnh khi ngủ có thể nghe được hơi thở của chính mình, tuy thô nhưng rất tinh tế, trong cái tinh tế lại có cả sự vi tế trong từng hơi thở. Khi ngủ, coi bản thân như hư vô, hoặc như đường hòa vào nước, người hòa vào hư không, giấc ngủ sẽ tự nhiên đến.
(C) Nếu có nhiều suy nghĩ thì giấc ngủ không yên, nằm trên gối không ngủ lại chuyển thành tư lự, điều này là mệt mỏi nhất, như thế hãy ngồi dậy một chút rồi hãy đi ngủ lại.
(D) Vào buổi trưa, lúc 11:00, là thời điểm sinh âm khí, liên quan đến trái tim, vào giờ đó không ngủ được thì có thể ngồi tĩnh tâm trong 15 phút, nhắm mắt lại dưỡng tinh thần, khí của tim sẽ dồi dào. Người có bệnh tim nên lưu ý, mỗi ngày vào lúc 2:00 cần phải chú ý, lúc đó nguyên khí sẽ rất mạnh, có thể gây ra tiêu chảy, đi tiểu nhiều lần.
(E) Mùa hè nên dậy sớm, mùa đông có thể muộn hơn một chút. Môi trường không khí ở các tỉnh miền Bắc Trung quốc hơi lạnh, chẳng hạn như Quảng Đông, Quảng Tây nên khi dậy sớm phải phòng ngừa chướng khí có thể gây bệnh, không ngủ sau khi ăn, thức dậy lúc 3 đến 5 giờ sáng. Sau khi thức dậy tránh nóng giận, vì có thể gây tổn thương phổi và ảnh hưởng đến gan, mong mọi người hết sức chú ý !
Nhạc Thanh
Theo vietdaikynguyen
Vĩnh Bảo sưu tầm 1/3/2016

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

vềCHUYỆN ĐÔI ĐŨA

vềCHUYỆN ĐÔI ĐŨA

MỘT CỘNG MỘT BẰNG MẤY?
Với người phương Tây thì một cộng một bằng hai, nhưng với người phương Đông lại chỉ bằng một. Ở đây, lời giải là... đôi đũa. Chẳng ai gọi đũa là "hai chiếc", vì chúng luôn là “một đôi”. Tuy hai mà một, dẫu một mà hai; trong đôi đũa ta dùng hàng ngày đã ẩn tàng khái niệm Thái cực sinh lưỡng nghi của triết học phương Đông.
Khi sử dụng, đũa luôn phối hợp hòa điệu nhịp nhàng, một chiếc động một chiếc tịnh. Nếu cả hai chiếc cùng động hoặc cùng tịnh cả sẽ không gắp được thức gì. Đây chính là nguyên lý âm dương, mà cũng là nguyên tắc vật lý của đòn bẩy. Trong khi chờ đợi tìm ra điểm tựa có thể nhấc bổng địa cầu, sao ta không thử tìm hiểu thêm về đôi đũa?

1/- NGUỒN GỐC – LỊCH SỬ ĐÔI ĐŨA

Đũa có khởi nguồn từ Trung Hoa. Tiếng Hán cổ gọi đũa là “trợ” (櫡) - sau giản hóa thành “trợ" (箸); hoặc “hiệp đề” (挟提), là đồ dùng để gắp thức ăn cho vào miệng. Cùng với sự giao thoa văn hóa, dụng cụ này được phổ biến nhiều nơi trên thế giới.
Sử sách đã có ghi chép về đũa từ rất sớm. Thiên “Dụ Lão”, sách “Hàn Phi tử”: “Trụ dùng ngà voi làm trợ 櫡 (đũa), Ky tử sợ hãi”. Trụ vương trị vì từ 1154–1123 trCn, nghĩa là đũa ngà voi đã xuất hiện ở Trung Hoa từ hơn 3.000 năm trước.
Tuy có nhiều thuyết về nguồn gốc, nhưng đũa do ai phát minh, vào lúc nào, đến nay vẫn chưa thể xác định. Có thuyết cho rằng chữ “trợ” (箸) của đũa liên quan đến việc đun nấu. Khi xưa, người thái cổ muốn nấu chín thức ăn phải sử dụng đá: dùng thùng gỗ đựng nước, cho thịt vào thùng, rồi nung đỏ hòn đá lên, nhúng hòn đá vào thùng nước, cứ thế cho đến khi nước sôi làm chín thịt. Hòn đá bị nung đỏ, nên phải dùng que kẹp mới bỏ vào thùng nước được, hai que này gọi là “trợ” (箸), rất gần với “chử” 煮 là nấu.
Đũa phải xuất hiện vào thời kỳ người thái cổ đã biết nấu nướng canh, súp. Chữ “trợ” 箸 là đũa với chữ “chử” 煮 là nấu, do đó gắn bó mật thiết với nhau.
Qua chữ trợ 櫡 trong sách Hàn Phi có bộ “mộc” và bộ “trúc”, có thể thấy rằng đũa chủ yếu được làm từ gỗ và tre trúc.
Từ sách Hàn Phi đã dẫn ở trên cho thấy vào cuối đời Thương, người ta đã dùng ngà voi làm đũa. Sang thời Chiến quốc, trong sách “Lễ ký” do Khổng tử (551–479 trCn) san định, đũa được gọi là “giáp” 梜. Thời Tiên Tần (thời kỳ trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, -221 trCn), sau giản hóa thành chữ "Giáp" 莢. Đến Tư Mã Thiên (145–86 trCn) trong “Sử ký” trở lại gọi đũa là “trợ” 箸 theo đời Thương.
Đời Tùy Đường, người ta đã có thói quen dọn cơm ra bàn để ngồi dùng bữa. Đương thời, đũa bạc đã thông dụng trong dân gian, trong triều thì dùng đũa dát vàng. Đến thời kỳ này, đũa đã "phủ sóng" toàn cõi Á Đông.
Đến đời Minh, theo bộ bút ký “Thục viên tạp ký” của Lục Dung, người đi biển vì kiêng kỵ, cho rằng chữ “trợ” (箸) như chữ “trụ” (住), có nghĩa là đậu lại. Thuyền mà đậu lại bến thì còn làm ăn gì, bởi thế bèn đổi thành chữ “khoái” (快; có nghĩa là nhanh). Và vì đũa thường được làm bằng tre, nên lại thêm bộ “trúc” (竹) vào, thành chữ “khoái tử” (筷子 – đôi đũa), danh từ này ổn định đến nay.

2/- ĐŨA Ở CÁC NƯỚC

Đũa của người Trung Hoa thoạt đầu có hình trụ, tròn đều từ trên xuống dưới. Theo nhu cầu tiện dụng, đũa dần dà có dạng cán vuông mũi tròn, để đũa không bị lăn đi trên bàn ăn, và cũng là ám hợp với quan niệm trời tròn đất vuông thời cổ; phần mũi tròn của đũa cũng dần trở nên thon nhọn hơn để dễ gắp thức ăn. Cũng có những đôi đũa làm bằng vật liệu quý như hồng mộc, ngà voi, nhưng đũa tre được phổ biến và ưa dùng hơn cả.
Dùng đũa đã trở thành truyền thống văn hóa, không chỉ trong ẩm thực Trung Hoa, mà còn được dùng làm dụng cụ điểm huyệt, đấm bóp trong y học cổ truyền, cùng những biến tấu khác. Truyền sang các nước, tùy theo đặc sắc từng vùng, đũa cũng có những nét riêng.
NHẬT BẢN: Kế thừa từ Trung Hoa, nhưng đôi đũa của Nhật Bản có nét tinh tế đặc sắc riêng. Tiếng Nhật gọi đũa là “hashi” はし, do tên gọi “hiệp đề” 挾提 cổ của Trung Hoa. Đũa Nhật luôn có đầu rất nhọn để thuận tiện cho việc gỡ bỏ xương cá.
Trong các nước thịnh hành dùng đũa, thì ở Trung, Đài, Hàn, Việt, đũa được vắt trong ống đựng, dùng chung cho cả gia đình và khách khứa. Chỉ riêng ở Nhật, đũa là vật dụng cá nhân. Mỗi thành viên trong gia đình Nhật Bản đều có đôi đũa riêng. Thậm chí với giai tầng thượng lưu, đũa còn có túi đựng cho từng đôi. Đũa Nhật được sơn mài và trang trí lộng lẫy, gọi là “đũa sơn” ぬりばし (nuribashi). Với khách ghé nhà dùng cơm, người Nhật mời khách sử dụng đũa không sơn むくばし (mukubashi).
Trong nhà hàng Nhật, nhất là các “Kaiseki”, lại có loại đũa gọi là “đũa ăn” さいばし (saibashi). Người ta dùng tre tươi vót đũa để thực khách dùng. Loại đũa này dài hơn “đũa ăn thật” まなばし (manabashi), dùng để gắp những lát cá tươi trong món “sashimi”. Vì không thuộc về cá nhân, lại không trực tiếp chạm vào miệng thực khách, nên “saibashi” có thể được tái sử dụng nhiều lần.
ĐÀI LOAN: Trong ẩm thực, người Đài Loan cũng như các nước khác, đại thể không xem đũa là vật dụng cá nhân. Nhưng từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đã xuất hiện loại đũa tiện lợi, chỉ dùng một lần, từ đây nảy sinh vấn đề liên quan vệ sinh. Nguyên nhân bởi loại đũa tiện dụng này làm từ các loại cây lá kim, hoặc tre trúc, rất khó kiểm soát dung môi tẩy trắng cũng như chất bảo quản trong khâu sản xuất. Từ đó, đã bắt đầu có khuynh hướng dùng đũa cá nhân.
HÀN QUỐC: Bán đảo Triều Tiên là khu vực du nhập văn hóa dùng đũa của Trung Hoa sớm nhất. khoảng hơn ngàn năm trước, người dân ở bán đảo này đã phân định rõ ràng các dụng cụ ẩm thực, xúc cơm bằng thìa muỗng và gắp thức ăn bằng đũa.
Người Triều Tiên thường dùng đũa inox. Đũa Triều Tiên có dạng dẹp, bằng phẵng. Riêng ở Hàn quốc, kích thước đũa được thống nhất để có thể rửa bằng máy rửa chén.
VIỆT NAM: Người Việt biết dùng đũa từ rất sớm. Trải qua thời gian dài ngót trăm năm tiếp xúc văn minh Âu Mỹ, họ vẫn duy trì thói quen dùng đũa. Đũa của Việt Nam thường là hình trụ và bằng phẵng.
SINGAPORE: Đảo quốc Singapore có 70% Hoa kiều, do đó, sau Việt Nam, đây là lãnh thổ có số lượng người dùng đũa nhiều thứ nhì Đông Nam Á.
ĐŨA Ở PHƯƠNG TÂY: Người có công đầu trong việc giới thiệu đũa với thế giới phương Tây là nhà truyền giáo người Ý Matteo Ricci (1552-1610). Trong quyển “Ghi chép về Trung Hoa”, ông đã có những mô tả về văn hóa cũng như cách dùng đũa của người Tàu.
Theo chân những người Trung Hoa di cư, đũa dần càng trở nên quen thuộc với người phương Tây. Hiệp hội du lịch Pháp có giải thưởng “Đũa vàng” (Golden Chopsticks Award) để biểu dương các nhà hàng nấu món Tàu. Ở Đức, có cả Viện bảo tàng Đũa triển lãm hơn 10.000 đôi đũa bằng vàng, bạc, ngọc, xương v.v…, thu thập từ các nước và nhiều thời kỳ.

3/- VẤN NẠN MÔI TRƯỜNG VÀ CƠ HỘI KINH DOANH:

Người Á Đông có tục gắp thức ăn mời nhau, nếu dùng đũa riêng mình đang ăn để chia sẻ thức ăn sẽ gây ô nhiễm, nên thường người ta sẽ đặt thêm đôi “đũa chung”, dùng để gắp mời nhau. Tức là bên cạnh đôi đũa của mỗi người, giờ đây lại phát sinh mỗi món ăn bày ra phải kèm thêm một đôi đũa chung nữa.
Rồi để tiết kiệm chi phí và các nguyên nhân đáp ứng nhu cầu tiện dụng của người tiêu dùng, người ta làm ra những đôi đũa rẻ tiền dùng một lần rồi bỏ. Ước tính hàng năm, trên toàn thế giới có đến 800 tỷ đôi đũa tiện dụng làm bằng tre vụn gỗ tạp này bị vất bỏ, riêng ở đại lục là 450 tỷ đôi, Nhật Bản 250 tỷ đôi (theo báo cáo của tờ “Minh báo” Hongkong). Để làm ra 800 tỷ đôi đũa này, người ta cần khối lượng gỗ tương đương 2.640.000 cây xanh.
Theo điều tra của truyền thông đại lục, một cây trồng trong thời gian 20 năm có thể dùng để làm ra 4.000 đôi đũa. Hãy thử hình dung: Nếu mỗi đôi đũa có chiều dài 20cm, rộng 1cm, dày 0,5cm, thì 80 tỷ đôi đũa này có thể phủ kín diện tích 440.000 mét vuông của Quảng trường Thiên An Môn, với độ dày 31m!
“Đũa tiện dụng” không chỉ góp phần tàn hại môi trường mà còn gây ra những vấn nạn về an toàn vệ sinh. Trong quá trình sản xuất, người ta đã dùng sulfite tẩy trắng và chất bảo quản với hàm lượng cao, khiến người dùng có nguy cơ bị dị ứng, nôn mửa, và các triệu chứng ngộ độc khác. Cụ thể là vào tháng 6/2012, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hàn quốc (KFDA) đã phát hiện một lô hàng hơn 10.000 đôi đũa có chứa chất gây ung thư được nhập khẩu từ Trung quốc.
Trung quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”, hầu như tất cả các mặt hàng ăn mặc, tiêu dùng trên toàn cầu đều có gắn mác “made in China”. Nhưng với mặt hàng đũa thì đã phải nhập khẩu từ Nhật, Hàn, thậm chí cả của Mỹ. Sản lượng đũa hàng năm của Trung quốc hiện là 63 tỷ đôi, không đủ đáp ứng cho nhu cầu người tiêu thụ đại lục. Đũa, cùng với những phụ kiện đi kèm (túi đựng, dụng cụ gác đũa) sẽ là cơ hội hứa hẹn nhiều tốt đẹp cho các nhà đầu tư.
Theo “International Business Times”, Hoa Kỳ với số lượng lớn bách hương và cây phong ở bang Georgia, vào năm 2010 đã bắt đầu sản xuất đũa bán cho Trung quốc, với sản lượng hãy còn khiêm nhường: 2.000.000 đôi/ngày.

4/- CÁCH SỬ DỤNG ĐŨA:

Đũa là ngón tay con người nối dài để nhón gắp thức ăn. Chúng ta dùng đũa ngày ba lần trong các bữa ăn, đôi đũa được cầm nắm thuần thục đã thành phản xạ có điều kiện, ít người quan tâm đến cách sử dụng đũa của mình.
Thường thì đũa được cầm tựa vào ngón trỏ, và đầu ngón này tiếp xúc với vị trí ngay giữa đôi đũa. Có hai “thủ pháp” sử dụng đũa phổ biến:
- Chiếc đũa phía trên được điều khiển bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. chiếc đũa phía dưới ở trạng thái cố định, chỉ chiếc phía trên là chuyển động để gắp thức ăn.
- Chỉ dùng hai ngón cái và ngón trỏ để điều khiển chiếc đũa phía trên. Chiếc dưới tựa vào “hổ khẩu” (chỗ giáp giữa ngón cái và ngón trỏ).
Hình 5 trong bài có những hướng dẫn cụ thể hơn về những quy tắc cầm đũa.

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI DÙNG ĐŨA

Sau đây là những chiêu thức tuyệt học mà nếu thi triển khi sử dụng đũa, ta sẽ trở thành kẻ thô thiển hoang dã, gây ức chế và tạo ác cảm cho người xung quanh.
1. Tam trường lưỡng đoản (Ba dài hai ngắn):
Trong và sau bữa ăn, đặt đũa xuống bàn một cách cẩu thả, khiến chúng bị so le hoặc xô lệch. Cử chỉ này trong bữa tiệc mời khách có ý nghĩa bảo khách hãy… đi chết đi. Ba dài hai ngắn, là tả cái hòm khâm liệm tử thi (dọc hai bên thân và lót dưới đáy là 3 tấm ván dài, ở phía đầu và chân là hai tấm ngắn).
2. Tiên nhân chỉ lộ (Người tiên chỉ lối):
Cầm đũa với ngón trỏ duỗi thẳng chỉ ra phía trước, đây là cử chỉ nhục mạ người đối diện. Vào quán ăn Tàu, hãy cẩn thận với ngón trỏ này, kẻo bạn có thể bị xáng cho cái ghế đẩu vào đầu mà không biết nguyên nhân tại sao. Lưu ý: trong bữa ăn, nếu bạn dùng đôi đũa để chỉ người khác thì ý nghĩa cũng tương tự như trên.
3. Phẩm trợ lưu thanh (Nếm đũa thành tiếng):
Đang ăn món khoái khẩu, bạn không kềm chế được nên cho luôn đầu đũa vào miệng để mút đánh soạt một tiếng? Hãy cẩn trọng, cử chỉ đó tố cáo bạn không được hấp thụ nền giáo dục tốt.
4. Kích trản xao chung (Gõ ly khua chén):
Đây là chiêu thức của bọn cái bang dùng để xin cơm thừa canh cặn, là hành vi cực kỳ vô sỉ.
5. Chấp trợ tuần thành (Vác đũa đi tuần):
Cầm đũa huơ thành vòng tròn quanh đĩa thức ăn để lục lọi tìm miếng ngon. Ăn uống thô tục, hỗn như ruồi.
6. Mê trợ bào phần (Say đũa khoét mồ):
Dùng đũa xới tung đĩa thức ăn lên để tìm miếng ngon, được ví như kẻ đào mộ, đây là hành vi mất dạy đáng ghét.
7. Lệ trợ di châu (Đũa khóc rơi châu):
Chấm nước dùng hoặc gắp thức ăn trong món canh để nhểu nhão dây bẩn ra bàn, hoặc khi chấm để đũa mình rót cả nước chấm vào món ăn trên bàn.
8. Điên đảo càn khôn (Đảo lộn trời đất):
Ăn đũa lộn đầu, người vô ý vô tứ ham ăn hốt uống đến nỗi không kịp so đũa trước khi ăn thì khó khiến người ta vị nể.
9. Định hải thần châm (Kim vàng dằn biển):
“Định hải thần châm” vốn là cây thiết bảng của Tôn Ngộ Không, đây dùng để chỉ động tác dùng đũa cắm thẳng vào đĩa thức ăn. Hành vi này có ý nghĩa thô tục, lăng nhục người khác, nó tương tự như “ngón tay thối” của người phương Tây.
10. Đương chúng thượng hương (Thắp nhang giữa đám):
Bới cơm ra chén cho người khác, tiện tay cắm luôn đôi đũa lên đó để mời. Đây là hành vi bất kính: chén cơm cắm đôi đũa là dùng để cúng người chết.
11. Giao thoa thập tự (Bắt chéo chữ thập):
Đặt đũa xuống bàn cách cẩu thả, khiến chúng nằm chéo lên nhau. Đây là hành vi xem thường người khác. Dùng đũa đánh dấu gạch chéo, khác nào văng câu chửi "fuck you" vào mặt người cùng bàn?
12. Lạc địa kinh thần (Rơi đũa lạc hồn):
Ăn uống loi choi vướng víu ẩu tả làm rớt đũa, nếu là rớt đũa của người khác thì lại càng khó được chấp nhận.

NÊN DÙNG LOẠI ĐŨA NÀO?

Đũa tre vẫn là lựa chọn tốt nhất, vì vệ sinh và rẻ, dễ rửa; nên chọn loại đũa tre chất lượng tốt không bị cong vẹo khi tiếp xúc nhiệt độ cao.
Nếu bạn thích dùng đũa gỗ, nên chú ý chọn chất liệu gỗ tốt đã được xử lý hấp điện; tuyệt đối tránh dùng đũa gỗ có sơn mài. Đũa sơn mài trông đẹp đẽ bắt mắt, nhưng thường có chứa chất kim loại nặng như chất chì, có thể gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe.
Đũa nhựa cũng không nên dùng, vì dễ biến dạng, khô giòn, và có thể sản sinh ra chất độc hại do phản ứng hóa học sinh ra khi dùng đũa gắp thức ăn nóng.
Đũa inox ngày càng thịnh hành, nhưng nặng nề không thích hợp cho người già và trẻ em. Đũa bạc có thể dùng để đãi khách. Đũa gốm Trung quốc rất mong manh dễ vỡ, không nên dùng nó làm vật dụng hàng ngày.

VÀI KHUYẾN CÁO NHO NHỎ KHI SỬ DỤNG ĐŨA:

- Cách 3-6 tháng nên thay đũa mới một lần, tuy đũa đã được rửa kỹ mỗi ngày, nhưng vẫn phải đề phòng vi khuẩn tích tụ bám vào đó.
- Sau khi rửa đũa, không nên cho ngay vào ống đựng, mà hãy cho đũa vào rổ, đặt nơi thông thoáng cho khô ráo mới cắm vào ống.
- Trong ống đựng đũa, thường dưới đáy có miếng vỉ lọc, đây là nơi dễ sinh vi khuẩn, hãy chú ý lau rửa để chắc chắn nó luôn sạch sẽ.

Hình 1. Từ trên xuống: 1. Đũa nhựa Đài Loan; 2. Đũa gốm sứ Trung Quốc; 3. Đũa Tây Tạng; 4. Đũa Việt Nam bằng phẳng; 5. Đũa Hàn quốc bằng inox dẹp phẳng; 6 và 7: Đũa phu thê của đôi vợ chồng Nhật Bản; 8. Đũa trẻ em Nhật Bản; 9. Đũa tiện lợi (waribashi) của Nhật.


Hình 2: Cách cầm đũa đúng và sai.

Hình 3: Những đôi “đũa tiện dụng” bị vất bỏ trong thùng rác một nhà hàng Trung quốc.

Hình 4: Đũa và đồ gác đũa.

Hình 5: Tư thế cầm đũa.
- Trước khi cầm đũa, phải so hai đầu đũa cho đều.
- Lúc sử dụng chỉ động cạnh trên của đũa.
- Dùng đầu ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa để điều khiển nhẹ nhàng.
- Ngón cái áp vào ngón trỏ.
- Móng tay ngón áp út đặt dưới mắt đũa.
- Ngón cái và ngón trỏ kẹp đũa.
- Phần cuối đũa thừa ra khoảng 1cm.

ST facebook - Vinhhuy Le
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/2/2016

ĐŨA ĂN CÓ NGUỒN GỐC ĐẦU TIÊN TỪ VIỆT NAM?

ĐŨA ĂN CÓ NGUỒN GỐC ĐẦU TIÊN TỪ VIỆT NAM?

Chúng ta đã biết nhiều về đôi đũa – một vật dụng thường ngày của người Việt Nam, hơn thế nữa, đó là một biểu tượng văn hóa.
Nếu như ở Nhật Bản có hẳn 8 điều răn khi sử dụng đũa:
1. Không liếm đũa; 2.Không để đũa lộn xộn trên mâm cơm và trên bàn ăn; 3.Dùng đũa gắp thức ăn lên ăn với cơm rồi mới gắp tiếp, không nên gắp thức ăn nhắm liền tù tì; 4.Không được cho đũa vào miệng ngậm, nhai, hoặc lấy đũa xỉa răng (chọc vào kẽ răng); 5.Không nên cắm đũa vào bát, vào đĩa thức ăn; 6.Không nên dùng đũa gạt đĩa, bát; 7.Không nên đặt đũa trên bát, đĩa; 8.Không nên dùng đũa bới chọn thức ăn. (theo Almanach Những nền văn minh thế giới. Nhiều tác giả, Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin, Hà Nội 1999).
Và bản thân người Nhật cũng nâng đôi đũa lên tầm biểu tượng văn hóa (là một cách ứng xử đặc trưng của người Nhật, nâng tầm của những hoạt động - có vẻ thông thường ở các nền văn hóa khác – thành Đạo; đáng để chúng ta học hỏi) với những giá trị được sản sinh quanh đôi đũa, đến mức cả thế giới biết đến Nhật Bản như một cường quốc sử dụng đũa với số lượng trung bình, mỗi người dân Nhật sử dụng 200 đôi mỗi năm. Điều này đồng nghĩa với việc 127 triệu người Nhật sẽ bỏ khoảng 90.000 tấn gỗ vào sọt rác mỗi năm. (theo AFP).
Thì ở Trung Hoa cũng có hẳn 12 điều kiêng kỵ khi dùng đũa:
1. Ba dài hai ngắn; 2. Tiên nhân chỉ đường; 3. Dùng đũa để âm thanh phát ra; 4. Dùng đôi đũa gõ bát (chén); 5. Cầm đũa tìm thành; 6. Dùng đũa đào bới; 7. Để đũa rơi lệ; 8. Lật ngược trời đất; 9. Kim thần trấn biển; 10. Cắm hương vào bát; 11. Bắt chéo chữ thập; 12. Lạc địa kinh thần. (theo Tri thức trẻ, số 252, 20/7/2008). Chúng tôi không đi sâu vào việc so sánh cách thức và những kiêng kỵ khi dùng đũa giữa người Nhật và người Trung Quốc. Và tôi cũng tạm thời chưa đề cập đến những giá trị văn hóa của người Việt Nam xoay quanh đôi đũa.
Chúng tôi muốn đi tìm chủ nhân đích thực đã sáng tạo ra đôi đũa.
Lịch sử Trung Hoa và Nhật Bản đều ghi nhận, chính người Nhật, trước khi học cách chế tạo và sử dụng đôi đũa từ Trung Hoa thì họ chỉ có cách ăn bốc (dùng tay bốc thức ăn, giống như người Lào, người Xiêm xưa...).
Ở Trung Hoa thì sao? Liệu chủ nhân sáng tạo ra đôi đũa có phải là cư dân của nền văn hóa Trung Hoa vốn đã rất nổi tiếng về bề dày, rất giàu và đẹp hay không?
Các học giả, kể cả người Trung Hoa (Lượng Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Quách Mạt Nhược...) đều thừa nhận, tổ tiên của người Hán vốn phát tích từ phía Tây của lưu vực Hoàng Hà trên nền phù sa hoàng thổ với gốc văn hóa du mục và canh tác nông nghiệp khô (trồng kê, mạch...), nghĩa là phi lúa nước.
Theo cuốn sách rất có giá trị khoa học bởi tính khách quan của nó – Lịch sử văn hóa Trung Quốc (do Đàm Gia Kiện chủ biên) – thì người Trung Quốc thời Tiên Tần không biết dùng đũa, không dùng đũa để ăn mà lấy tay bốc, đó là tập quán của cư dân trồng kê, mạch, ăn bánh mì, bánh bao, ăn cháo, thịt và canh (chủ yếu là canh thịt, chính xác là súp thịt). Họ chỉ bắt đầu dùng đũa từ khi thôn tính phương Nam (Nền văn hóa Đông Nam Á cổ, cụ thể và lân cận là khối cư dân Bách Việt).
Cũng theo cố GS Trần Quốc Vượng, động tác dùng đũa gắp thức ăn là mô phỏng theo con chim dùng mỏ để mổ và nhặt hạt.
Số lượng chim mỏ dài đậm đặc trên trống đồng (chim Lạc và chim Hồng) đã chứng tỏ vai trò của nó quan trọng như thế nào trong nền văn hóa Việt Nam. Chim nước, một loài đặc trưng và là vật tổ của các nền văn hóa, văn minh lúa nước, miền sông nước Đông Nam Á cổ. Nền văn hoa gốc du mục và nông nghiệp khô nếu có chọn chim làm vật tổ thì chỉ là loài chim mỏ ngắn và cư trú ở miền xa mạc, miền thảo nguyên (chim ưng, chim đại bàng, kền kền...). Tức là những loài chim không có động tác nhặt hạt, mà chỉ có động tác săn mồi, xé thịt.
Xuất phát từ thói quen ăn những thứ khó có thể dùng tay bốc hoặc mó tay vào được như cơm, cá, rau dưa, nước mắm... Và đôi đũa có hai chiếc, ngoài hai hoạt động cơ bản là "và cơm, lùa cơm" và "gắp thức ăn", nó còn thực hiện được một loạt các động tác khác phục vụ cho bữa ăn như : xé, xẻ, dầm, khoắng, trộn, vét, đảo, san...Điều này thể hiện tính chất linh hoạt, đa năng nhưng lại thiếu tính chuyên môn hóa. Khác với dụng cụ ăn của người phương Tây, mỗi dụng cụ có chức năng riêng phục vụ cho bữa ăn: dao để cắt; nĩa để găm, xé; muỗng (thìa) để múc thức ăn - thể hiện tính chuyên môn hóa cao (theoTìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm).
Đến đây, bằng góc nhìn về gốc văn hóa, dường như chúng ta đã mường tượng ra phần nào được chân dung của chủ nhân sáng tạo ra đôi đũa? Phải chăng là những cư dân thuộc nền văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước với thành phần bữa ăn cơ bản là: cơm + rau + cá, thịt (tinh bột, vitamin, đạm)?. Nhìn vào thành phần bữa ăn cơ bản này, ta thấy rằng, tất cả những đồ ăn ấy chỉ có sử dụng đôi đũa mới đem lại hiệu quả tối ưu.
Trong kho tàng văn học đan gian Việt Nam, hẳn ai cũng biết đến chuyện cô tích Trầu Cau. Trong truyện ấy có 2 chi tiết đáng quan tâm. Khi cô gái dọn 2 chén cơm cho hai anh em sinh đôi là Tân Sinh và Tân Lang (còn có tên khác là Cao Tân và Cao Lang) nhưng lại chỉ để có 1 đôi đũa nhằm thử xem ai nhường cho người kia ăn trước thì người đó là em. Truyện Trầu Cau ra đời từ thời Hùng Vương, có nghĩa là trước khi bị ách đô hộ của nhà Tần, sau đó là nhà Hán (ngàn năm Bắc thuộc) thì đôi đũa đã hiện hữu và quen thuộc đối với người dân đất Việt rồi.
Trong khi giảng bài về định nghĩa văn hóa (theo thống kê của UNESCO, hiện nay thế giới đang có trên 300 định nghĩa về văn hóa), tình cờ tôi phát hiện thêm một bằng chứng khá thú vị để củng cố cho việc khẳng định chủ nhân của đôi đũa chính là cư dân nông nghiệp lúa nước.

Hai từ vănvà từ hóatrong tiếng Hán, dùng để chỉ định nghĩa về văn hóa của người Trung Hoa.
Văn: “Cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là văn”.(theo Hán – Việt từ điển (HVTĐ) của Đào Duy Anh, Nxb KHXH, 2001 và HVTĐ của Thiều Chiểu, Nxb Nhà in Đuốc Tuệ, 1943).
Hóa: - “Biến đổi” (dùng sức người).
- “Dẫn bảo chúng (dân chúng) khiến cho chúng thuận tòng gọi là giáo hóa”.
Nếu chiết tự chữ Hóa ra thì ta sẽ có bộ Nhân đứng bên phải để chỉ người – chủ nhân của các giá trị văn hóa; bộ Chuy bên trái để chỉ ý. Chuy có nghĩa là cái thìa (cái muỗng). (Trong HVTĐ của Đào Duy Anh, Nxb KHXH, 2001 thì phiên âm là Chủy, HVTĐ của Thiều Chiểu thì phiên âm là Trủy).
Cái muỗng vốn là vật dụng phổ biến trong việc dùng để múc cháo và súp của tổ tiên người Hán vốn gốc văn hóa du mục và nông nghiệp khô, thành phần bữa ăn cơ bản gồm có: Cháo, súp, thịt, bánh bao...(mạch, kê không thể nấu cơm được) vốn không cần dùng đến đôi đũa.
Đến đây thì hẳn ta đã rõ, chủ nhân đích thực của đôi đũa chính là cư dân gốc nông nghiệp lúa nước. Tôi chưa dám khẳng định liệu đó có phải là sản phẩm của riêng người Việt Nam hay không (điều này cần thêm tư liệu và thời gian, nhất là tư liệu từ những bằng chứng khảo cổ học và sử dụng phương pháp truy nguyên, so sánh các yếu tố về văn hóa giữa các nước thuộc nền văn hóa cổ Đông Nam Á) .
Cao Văn Đức -VHNT
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/2/2016

Khương Tử Nha, Đát Kỷ, Đại Vũ: Ai là người phát minh ra đôi đũa?

Khương Tử Nha, Đát Kỷ, Đại Vũ: Ai là người phát minh ra đôi đũa?

Đôi đũa là dụng cụ dùng cho bữa ăn rất độc đáo do người tộc Hán, Trung Quốc phát minh ra. Trong “Hàn Phi Tử - Dụ Lão” ghi: “Vua Trụ dùng ngà voi làm trợ, Ky Tử sợ hãi”. Trụ Vương là vua cuối đời nhà Thương, như vậy có thể thấy loại đũa làm bằng ngà voi đã xuất hiện rất sớm, ngay từ thế kỷ 11 trước CN, có nghĩa là lịch sử dùng đôi đũa đến nay đã hơn 3000 năm.
Đôi đũa vừa nhẹ nhàng lại linh hoạt, là công cụ độc đáo trong các đồ dụng cụ dùng cho ăn uống trên thế giới, được người phương Tây khen là “văn minh của phương Đông”. Khởi nguồn của đũa là từ Trung Quốc, tiếng Hán cổ gọi là “trợ” (箸), hoặc “hiệp đề” (挟提). Dùng để kẹp đồ ăn cho vào miệng. Cùng với quá trình di dân, dụng cụ này sau đó ngày càng được phổ biến đến nhiều nơi trên thế giới.
Nguồn gốc của đôi đũa
“Đũa” người xưa gọi là “trợ” (箸), sử sách ghi chép về đôi đũa xuất hiện rất sớm, từ thời vua Trụ nhà Thương. “Hàn Phi Tử – Dụ Lão” có ghi: “Vua Trụ dùng ngà voi làm trợ, Ky Tử sợ hãi”. Trụ Vương là vua cuối đời nhà Thương, nghĩa là đũa ngà voi đã xuất hiện ở Trung Quốc từ hơn 3000 năm trước. Thế nhưng đũa do ai phát minh ra, vào thời điểm nào, điều này có nhiều thuyết nhưng cho đến nay chưa thể khảo chứng được.
100804023805100445--ss
(Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)
Có thuyết cho rằng “đũa” còn gọi là “trợ” (箸), có liên quan đến việc đun nấu. Người xưa khi dùng lửa nấu chín thức ăn, ban đầu họ phải sử dụng đá. Họ lấy cái thùng gỗ to đựng nước, trước tiên cho thịt vào trong thùng, tiếp đó lại cho hòn đá nung đỏ vào thùng nước, cứ làm thế nhiều lần khiến nước sôi lên làm chín thịt.
Đương nhiên, hòn đá bị làm nóng thì không thể dùng tay cầm trực tiếp. Người xưa phải dùng hai cái cây để kẹp hòn đá bỏ vào trong thùng nước, hai cái cây này khi đó gọi là “trợ” (箸), cách gọi gần với “chừ” (nấu – 煮). Vì phải bỏ hòn đá nóng vào thật nhanh, và “trợ” là do lấy nhánh trúc làm thành, vì thế người ta bổ sung thêm chữ “trúc” (竹) trên đầu, tạo thành chữ “khoái” (đũa – 筷).


Một thuyết khác cho rằng, người xưa gọi đũa là “cân” (筋) hoặc “trợ” (箸). Sau đó vì lý do kiêng kỵ, cho rằng “trợ” (箸) giống với “trú” (住), có ý là “chấm dứt”, là không may mắn, vì thế đổi thành chữ có ý nghĩa trái ngược lại, gọi là “khoái” (快 – nhanh). Vì đa số “trợ” làm bằng tre trúc, vì thế lại bổ sung thêm chữ “trúc” (竹) trên đầu chữ “khoái” (快), vậy là thành chữ chúng ta ngày nay dùng là “khoái tử” (筷子- đũa”).
Truyền thuyết về đôi đũa
Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến đôi đũa, một thuyết cho rằng Khương Tử Nha làm ra đũa trúc theo gợi ý của chim thần; một thuyết khác cho rằng Đát Kỷ trong một lần hầu hạ Trụ Vương đã nghĩ ra cách dùng trâm ngọc làm đũa; cũng lại có thuyết nói rằng khi Đại Vũ trị thủy, để tiết kiệm thời gian vào lúc phải ăn đồ ăn nóng đã dùng nhánh cây trúc để khều đồ ăn cho vào miệng.
1. Truyền thuyết về Khương Tử Nha
Đây là truyền thuyết xuất phát từ Tứ Xuyên. Thuyết này kể, vì Khương Tử Nha quá nghèo túng, vợ của ông muốn hại chết ông để lấy người khác. Một hôm người vợ nói: “Ông đói phải không? Tôi nấu thịt cho ông rồi, mau dùng đi nhé!”
Khương Tử Nha tay đang cầm miếng thịt, bỗng một con chim bay từ ngoài cửa sổ vào rồi mổ vào tay Khương Tử Nha. Khương Tử Nha đau quá kêu “ai da” một tiếng, rồi xua đuổi con chim đi. Lần thứ hai cầm miếng thịt con chim lại bay vào mổ vào tay ông. Sau ba lần liên tục, Khương Tử Nha bất giác nghi ngờ, không lẽ miếng thịt này không ăn được? Thế là Khương Tử Nha đuổi theo con chim ra ngoài, chạy đến một sườn núi không có người. Con chim lúc này đậu trên một cành trúc rồi kêu lên lảnh lót: “Khương Tử Nha ôi Khương Tử Nha, ăn thịt không được dùng tay cầm, đồ để gắp thịt ở dưới chân ta đây…”
Khương Tử Nha nghe thế thì nghĩ đây đúng là con chim thần, bèn nghe theo chỉ điểm của chim, bẻ hai nhánh trúc nhỏ rồi đi về nhà. Về đến nhà người vợ lại thúc giục ông ăn thịt, Khương Tử Nha dùng hai que trúc thò vào trong bát kẹp miếng thịt, đâu ngờ từ một đám khói xanh bốc lên từ que trúc, “tại sao que trúc lại bốc khói, không lẽ có độc?” Nghĩ thế Khương Tử Nha liền gắp miếng thịt bắt vợ ăn. Người vợ sợ hãi vội bỏ chạy đi. Câu chuyện sau đó bị nhiều người biết, vợ Khương Tử Nha không còn dám đầu độc ông nữa, còn hàng xóm láng giềng thì ai nấy học cách dùng nhánh trúc ăn cơm.
Truyền thuyết này không phù hợp với lịch sử. Khương Tử Nha sống cùng thời vua Trụ nhà Thương, đã có vua Trụ dùng đũa ngà voi, vậy thì đũa trúc của Khương Tử Nha không phải nguồn gốc đầu tiên của đũa.
2. Truyền thuyết về Đát Kỷ
Truyền thuyết này xuất phát từ Giang Tô. Thuyết kể rằng vua Trụ buồn vui thất thường, khi hắn ăn uống thì hoặc là chê thịt cá không tươi, hoặc là chê canh gà nóng quá, có khi lại chê mặt nhạt không hợp khẩu vị… kết quả rất nhiều đầu bếp thành ma quỷ dưới đao của hắn. Đát Kỷ được vua Trụ sủng ái, mỗi lần có yến tiệc, để tránh làm Trụ Vương nổi giận, Đát Kỷ đều thử đồ ăn uống trước. Có một lần Đát Kỷ thử mấy món ngon thì thấy món nào cũng quá nóng, nhưng thời gian quá gấp không kịp cho đổi, trong lúc vội quá Đát Kỷ liền nhanh trí rút trâm ngọc trên đầu rồi kẹp đồ ăn và thổi, sau đó mới đút cho Trụ Vương. Trụ Vương thấy hành động gắp đồ ăn của Đát Kỷ lạ mắt nên rất vui, từ đó ngày nào cũng yêu cầu Đát Kỷ làm như thế. Đát Kỷ liền nhờ người thợ thủ công làm cho hai cây trâm ngọc thật dài để gắp đồ ăn, đây chính là hình thức đầu tiên của đũa ngọc. Về sau cách gắp đồ ăn này được truyền đến dân gian, sinh ra đôi đũa trúc.
Truyền thuyết này không hợp với bằng chứng lịch sử. Giới khảo cổ học trước đây đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương và đã tìm thấy loại đũa bằng thép, qua khảo chứng niên đại thì sớm hơn thời mạt kỳ Trụ Vương nhà Thương.
3. Truyền thuyết về Đại Vũ trị thủy
Truyền thuyết này lưu truyền từ vùng Đông Bắc. Kể rằng thời Nghiêu Thuấn xảy ra nạn nước lũ khắp nơi, Vũ thụ mệnh của Thuấn đi trị thủy. Sau khi thụ mệnh, ông thề phải trừ bằng được nạn hồng thủy. Thế rồi từ ngày nọ đến đêm kia, đừng nói là nghỉ ngơi, đến chuyện ăn ngủ cũng tiếc thời gian. Một lần trong khi ăn, vì miếng thịt đang ở trong nước sôi nên không cách nào dùng tay lấy được. Để tiết kiệm thời gian, Đại Vũ lấy nhánh cây trúc kẹp thịt trong nồi nước sôi ra. Quân lính thấy ông làm như thế không bị bỏng tay, lại không làm tay dính dầu mỡ, ai nấy đều bắt chước, từ đây dần dần hình thành mô hình ban đầu của đũa.
cach-phan-biet-dua-go-va-dua-son
Truyền thuyết này nếu tính theo thời gian thì hợp lý. Tuy nhiên cũng không có gì khảo chứng được.
Đoàn Thanh biên dịch


Vì sao đôi đũa có độ dài là 7 tấc 6 phân?

doi dua
Người Việt Nam chúng ta ai cũng biết dùng đũa để ăn cơm. Thói quen này đã trải qua hàng ngàn năm nay. Nhưng bạn có biết văn hóa sử dụng và độ dài của đôi đũa mình dùng mỗi ngày không?

Văn hóa dùng đũa trong ăn cơm

Cho dù là người Việt Nam, người Trung Quốc, người Hàn Quốc hay người Nhật Bản thì đều sử dụng đũa trong bữa ăn hàng ngày. Người Việt Nam chúng ta từ xưa đến nay thông thường khi ngồi ăn thì khoảng cách giữa chỗ ngồi và mâm cơm là tương đối xa. Cho nên, đôi đũa phải có độ dài tương đối. Để thuận tiện trong việc gắp đồ ăn và tránh bị trượt, đôi đũa thường được làm từ tre và gỗ. Ngoài ra, chiếc đũa đối với người Việt Nam cũng có một số điều cấm kỵ thường được nhắc đến như sau:
1. Tuyệt đối không được cắm đũa thẳng đứng trong bát cơm, đây là điều tối kỵ.
2. Tuyệt đối không dùng đũa để gõ lên bát, đĩa và bàn.
3. Không cho đũa vào trong miệng để gặm.
4. Không dùng đũa cắm vào thức ăn để đưa lên miệng.
5. Tránh việc dùng đũa cao thấp khác nhau trong bữa ăn.
6. Không dùng đũa đẩy bát đĩa hay chỉ người này người khác, nối đũa…

Độ dài và tác dụng của chiếc đũa

Nguồn gốc của đôi đũa mà chúng ta dùng ngày nay là có bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa. Đôi đũa của người Trung Hoa có tiêu chuẩn về chiều dài là 7 tấc 6 phân. (khoảng 25.308 cm). “7 tấc 6 phân” là tượng trưng cho “thất tình lục dục” của con người. Ngày nay, có thể nhiều người làm đũa đã không còn chú ý đến chi tiết này nữa.
Điểm mấu chốt là đũa phải gồm hai chiếc và được gọi là một đôi. Vì sao, rõ ràng hai chiếc đũa không gọi là “hai chiếc đũa” lại gọi là một đôi? Đây là bởi vì có lý niệm thái cực và âm dương. Thái cực là một còn âm và dương là hai. Một chính là hai, hai chính là một, trong một bao gồm hai và hợp hai làm một. Đây là triết học của người Trung Quốc, người Phương tây khó có thể hiểu được.
Khi sử dụng chiếc đũa phải chú ý sự phối hợp và cân đối. Một chiếc động và một chiếc không động mới có thể giữ chặt được thức ăn. Nếu như hai chiếc đều động, hoặc hai chiếc đều bất động thì không thể kẹp được thức ăn. Đây là nguyên lý âm dương của người Trung Quốc, cũng có nguyên lý đòn bẩy của cơ học Tây phương.
Ngoài việc dùng để ăn cơm, đũa còn có tác dụng điểm huyệt, mát xa và cạo gió. Trước đây những người đi lang bạt, đi xa thường mang theo bên mình một đôi đũa, có bệnh gì đều có thể tự mình chữa trị. Nếu như quên mang đũa, người ta chỉ cần bẻ một nhánh cây, tước ra làm hai rồi mài vào đá, rửa một chút là có thể sử dụng được.
Theo Secretchina
Mai Trà biên dịch
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/2/2016