Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

NGƯỜI BỆNH CÓ THỂ TỰ MÌNHLÀM GIẢM NHANH CƠN CAO HUYẾT ÁP


NGƯỜI BỆNH CÓ THỂ TỰ MÌNHLÀM GIẢM NHANH CƠN CAO HUYẾT ÁP


Ðược xem là cao huyết áp khi chỉ số huyết áp cao hơn 14cmHg và chỉ số huyết áp dưới lớn hơn 9cmHg. Dot quy 3Cao huyết áp với hệ quả tai biến mạch máu não và những di chứng của nó luôn là nỗi ám ảnh của nhiều người lớn tuổi. Ngày nay, mặc dù y học đã có những bước tiến vượt bậc, các triệu chứng này hiện vẫn gây tốn kém nhiều công sức và tiền của cho xã hội.
Tuy nhiên có một điều mà ít người quan tâm là với một số động tác đơn giản của y học dân gian, người ta có thể làm giảm cơn cao huyết áp đang phát triển để khống chế phần lớn những tác hại của nó hoặc ít ra có thể ngăn chận những diễn biến xấu hơn trong khi bệnh nhân chờ được chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở chuyên môn cần thiết.
Huyết áp cao có thể là triệu chứng của nhiều căn bệnh khác nhau, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó việc điều trị dứt điểm cần sự chẩn đoán và thời gian thích hợp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến một phương pháp đơn giản mà người bệnh có thể tự thực hiện để “cắt cơn” cao huyết áp, giải tỏa kịp thời nguyên nhân gây ra tai biến về não trước khi được sự chăm sóc của thầy thuốc.
Theo y học cổ truyền, triệu chứng huyết áp cao là một tình trạng khí nghịch do tình chí hoặc do yếu tố lục dâm (phong, hàn, thử, thấp, táo hỏa) gây ra.Huyet ap 2 Giải quyết triệu chứng này đồng nghĩa với việc giáng khí, làm cho khí đang lưu chuyển ngược lên đầu sẽ hướng xuống phía dưới và tỏa ra lớp da ngoài của cơ thể.
NHỮNG ÐỘNG TÁC CỤ THỂ GỒM :
1/. Vuốt ấm hai vành tai : Dùng ngón cái và ngón trỏ của mỗi bàn tay vuốt dọc vành tai cùng bên, từ trên xuống dưới khoảng 9, 10 lần. Vành tai và cột sống có những điểm phản xạ tương ứng với nhau, do đó vuốt ấm vành tai cũng là tác động vào cột sống lưng, vừa có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm, vừa kích thích sự lưu thông khí huyết ở phần vệ khí do kinh bàng quang phân bố dọc hai bên sống lưng (nếu có người thứ hai bên cạnh có thể nhờ người này trực tiếp ngồi sau lưng dùng bàn bay tay phải vuốt dọc sống lưng từ trên gáy xuống đến tận thắt lưng để gia tăng thêm tác dụng).
Veo co2/. Vuốt dọc hai bên mũi : Mỗi bàn tay vuốt một bên mũi, vuốt đều hai bên cùng một lúc. Dùng ngón tay trỏ vuốt từ ấn đường (điểm giữa hai đầu chân mày) xuống dọc theo hai bên mũi qua khóe miệng đến tận chót cằm. Vuốt chậm, nhẹ và làm không dưới 15 lần.
Kích thích huyệt ấn đường có tác dụng làm phóng thích chất endorphine nội sinh có thể làm cho an thần, hạ huyết áp và giáng khí. Vuốt dọc theo hai bên mũi xuống cằm là tác động vào hai kinh dương minh. Học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền cho rằng kinh dương minh là kinh dương, tập trung nhiều huyết khí, huyết; có chức năng quan trọng nhất trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài. Ðộng tác này làm gia tăng sự lưu thông khí huyết ở phần vệ khí, gây ấm người và làm nhẹ áp lực lên thành mạch.
3/. Vuốt dọc hai chân mày : Dùng hai ngón tay trỏ và giữa vuốt từ ấn đường đi dài theo xương chân mày ra thái dương đến tận mí tóc ở phía ngoài đuôi mắt. Vuốt mỗi bên khoảng 10 lần. Vùng chân mày và hai cánh tay có những điểm phản xạ tương ứng nhau, do đó động tác này ngoài việc giải tỏa sự sung huyết tại những huyệt vị thường bị tắc nghẽn ở vùng trán còn làm cho khí huyết lưu thông ra hai cánh tay và bàn tay để giúp nhẹ áp lực ở đầu.
4/. Ngồi hoặc nằm thư giãn : Ngồi thoải mái, lưng tựa ghế hoặc nằm xuổng thư giản hít thở điều hoà, tư tưởng tập trung vào mười đầu ngón chân. Theo y học cổ truyền thì thần ở đâu khí ở đó, do đó khi tập trung ý nghĩ tại vùng bàn chân, khí trong cơ thể từ phía trên đầu sẽ lưu chuyển về hướng bàn chân nên có tác dụng hạ khí. Tr bac siViệc tập trung tư tưởng càng tốt, hiệu quả hạ khí càng cao. Ðộng tác này phải kéo dài hơn 10 phút. Trên thực tế, có nhiều người có khả năng thư giãn và tập trung tốt trong khi thực hành đến bước 4 đã từ từ rơi vào giấc ngủ.
Mỗi khi cảm nhận được những dấu hiệu huyết áp tăng cao như căng, nặng ở vùng thái dương, đau đầu, mờ mắt, mắt đỏ…, người bệnh nên ngồi xuống, tập trung tinh thần thực hành lần lượt 4 động tác trên. Bình tĩnh và tự tin là yếu tố cần thiết trong quá trình thực hiện các động tác. Sau khoảng 15 phút thực hành, bệnh nhân có thể cảm thấy bớt đi cảm giác khó chịu ở vùng đầu, nhịp đập của tim sẽ chậm lại, tay chân sẽ ấm lên. Ðó là lúc huyết áp đã hạ bớt.
Ngoài việc áp dụng đã hạ huyết áp, thực hiện những động tác trên còn là một biện pháp dưỡng sinh tốt để ổn định thần kinh, gia tăng việc lưu thông khí huyết trong cơ thể, giúp giữ thể trạng tốt.
Trường hợp thực hành để giúp giữ gìn sức khỏe, riêng giai đoạn 4 nên tập trung tư tưởng tại vùng đan điền (dưới rốn khoảng 3 phần) thay vì tập trung ở 10 đầu ngón chân.
Mỹ Nhàn post
Vĩnh Bảo sưu tầm 24/2/2013

MÙA XUÂN TẢN MẠN VỀ CHỮ PHÚC VỚI TAM ĐA


MÙA XUÂN TẢN MẠN VỀ

CHỮ PHÚC VỚI TAM ĐA


Tr phuc loc tho


Tam đa là ba cái nhiều : Nhiều phúc, nhiều lộc, nhiều thọ. Ba ông biểu tượng cho ba điều mà nhân gian thường mong muốn.
Mỗi độ xuân về, những cánh hoa xinh tươi khoe sắc bên nhà, ngoài phố phường đông vui, nhộn nhịp với muôn màu áo mới, tiếng pháo nổ ròn tan chào mừng một năm mới, chúng ta lại thấy tâm hồn mình lâng lâng trong không khí thiêng liêng ngày đầu năm. Bên bàn thờ gia tiên với khói nhang thơm ngát lan tỏa trên mâm ngũ quả cùng bánh chưng xanh và rượu Tết. Hình tượng của vị Phúc, Lộc, Thọ đã được lau chùi sạch sẽ, đặt trang trọng trên nóc tủ hoặc kệ cao, đôi khi còn được đặt thêm bát nhang cho tăng phần cung kính, với niềm hy vọng là ba ông sẽ mang lại sự tốt lành, tiền tài và sức khỏe cho gia chủ. Người ta cũng còn chúc nhau năm mới tăng phúc, tăng thọ và nhiều lộc, v.v…
Trên bìa một vài tờ lịch cũng in hình vẽ ba ông Phúc, Lộc, Thọ tươi cười với xiêm áo chỉnh tề và rực rỡ.
Ông Phúc bế đứa chắt năm đời, ông Lộc trên tay cầm thỏi ngọc, xấp tiền hoặc vàng nén, đôi khi ông còn cầm những chiếu chỉ bằng vải điều với chữ “Phúc tinh cao chiếu” hoặc “Tam tinh lâm môn”. Ông Thọ tay mang trái đào tiên, 9 Phuc loc tho 1do tích vườn đào của Tây Vương Mẫu trên thiên đình, ai ăn được đào tiên sẽ sống muôn thuở, bởi vậy nên xưa kia, Tề Thiên Đại thánh đã từng lên hái trộm để bị đày xuống hạ giới!
Ngày nay, người Trung Quốc tôn thờ ba ông Phúc, Lộc, Thọ như ba vị thần, nhiều đền đài được thiết lập để dân chúng đến chiêm bái. Tại tỉnh Hà Bắc, có một khách sạn 13 tầng với tên là Tienzi, xây theo hình tượng của ba ông để tiếp đón những người hiếu kỳ và mê tín. Nền văn hóa của Trung Quốc cũng liệt các ông vào hàng các vị sao để sánh ngang với Quan Công hoặc Khổng Tử.
Theo truyền thuyết thì ông Lộc là người sinh ra ở thuở xa xưa nhất (trên 3.000 năm) tới ông Thọ (2.000 năm) và cuối cùng là ông Phúc (1.200 năm). Căn cứ vào thứ tự thời gian đó, chúng ta tìm hiểu về thân thế của các ông.
- Ông Lộc (1125-1063 trước Công Nguyên) : Làm quan đến chức thừa tướng (tương đương thủ tướng) đời nhà Thương (có sách chép là nhà Tấn). Ông Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, là một quan tham thường ăn hối lộ để mua quan bán tước, các tội phạm có thể đem vàng bạc ra để chạy tội, phép nước không được công minh.Tr Ong Loc 2 Trong nhà ông, kho báu chứa đầy của cải. Năm 60 tuổi, ông vẫn chưa có cháu đích tôn, ngồi trên đống vàng mà chỉ mong có người nối dõi tông đường, ông cầu danh y và pháp thuật xong vẫn vô phương và nhà trở thành hoang vắng !
Tới tuổi quá lục tuần, ông thất vọng sinh ra buồn chán rồi lâm bệnh ! Ông bị liệt não nên phải nằm đến thối giường, thối chiếu, cơ thể sinh ra hôi hám khiến không ai muốn tới gần. Trước khi từ giã cõi đời, ông than rằng :
“Lộc nhà ta nhiều sẽ để lại cho ai hưởng đây ! Bàn thờ ta sau này sẽ nhang tàn khói lạnh mất thôi.”
Lúc ông giã từ trần thế, mắt còn mở chừng chừng như oán trời trách đất, phải có người đến vuốt mắt để ông được yên ổn ra đi !
Trong đời, người ta thường được cái này thì mất cái kia, vì nhân vô thập toàn. Nếu có lộc nhiều mà nghĩ đến những kẻ bất hạnh đem bố thí, hoặc chia sẻ bớt cho những người khốn khó thì có lẽ cũng được thảnh thơi tâm hồn. Vì lúc chết cũng không ai mang theo được gì. “Lộc bất khả hưởng tận.” Lấy tiền bạc, của cải để làm việc thiện, công ích xã hội sẽ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Xem ra, ông Lộc trở thành người bị thất lộc, cũng do tham lam và vị kỷ nên cuối đời không được yên vui.
- Ông Thọ (154-93 trước Công Nguyên). Tên thật là Đông Phương Sóc, làm quan thừa tướng đời nhà Hán. Ông Thọ quan niệm rằng, trong đời buôn chính trị là lời lãi nhất. Khi làm quan, ông chủ trương thanh liêm để được vua tin dùng. Ông cũng quan niệm phải nhận được nhiều bổng lộc vua ban để giàu có. Suốt thời gian làm quan, ông chỉ nịnh hót vua và không bao giờ dám phản đối hoặc can gián vua điều gì ! Khiến vua rất tương đắc và hài lòng, ban thưởng cho ông rất nhiều, ông nói: “Làm quan mà không lấy lộc của vua thì làm quan để làm gì ?Tr Ong Tho Và ta can gián vua, nếu ngài phật ý tức giận, chém đầu cả ba đời có phải là ngu không?”
Từ những lộc thưởng, ông mua gái đẹp về làm thê thiếp để dưỡng tuổi già. Ông quan niệm là lấy sinh khí của tuổi trẻ để dưỡng tuổi già, lấy âm dưỡng dương để cân bằng khí huyết (sau này được nôm na gọi là môn “hấp tinh đại pháp”). Sự cân bằng và hòa hợp đó sẽ nuôi dưỡng con người trường thọ.
Tuy vậy, ông chỉ sống được 61 tuổi. Ở vào thời cách đây 2.000 năm, sống tới 60 hoặc 70 thật rất khó, nên mới có câu “Thất thập cổ lai hy.” Cũng có sách viết ông mất vào năm 125 tuổi. Tin được hay không cũng tùy suy nghĩ của mỗi người.
Hiện tại, ở tiểu bang Illinois có ông Shelby Harris cũng sống được 110 tuổi và tại nước Somalia cũng có ông Ahmed Muhamed Dore sống được 112 tuổi và vừa làm đám cưới với cô Safia Abdullah, chỉ mới 17 tuổi !!!
Khi ông Thọ mất, các con đều chết trước cả, cháu ba đời nghèo quá nên chắt bốn đời phải làm tang chay cho ông trong cảnh thanh đạm. Xem ra đời ông Thọ cuối cùng cũng chẳng vui sướng gì !
- Ông Phúc (697-781). Tên thật là Quách Tử Nghi là thừa tướng đời nhà Đường. Vốn giòng dõi quí tộc với đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Ông là một vị quan liêm khiết và sống rất có nhân cách. Phu nhân ông là người phụ nữ phúc hậu và cùng tuổi. Hai người sống với nhau rất tương đắc, gia đình êm ấm, con cháu khá giả, thuận hòa.
Tr Ong PhucÔng Phúc mất năm 84 tuổi, lúc mất miệng còn cười tươi và trên tay đang bế đứa chắt năm đời. Phu nhân thấy vậy ôm choàng lấy ông mà khóc ngất, sau đó người nhà mới thấy bà đã theo ông về bên kia thế giới. Hai người sinh cùng năm, sống bên nhau suốt đời, chết cùng ngày và giờ một cách bình yên. Cuộc đời như vậy là quá tốt đẹp, nhân gian có ai bằng. Bởi thế mới được đặt tên là ông Phúc.
Người ta thường quan niệm chữ Phúc với nhiều ý nghĩa khác nhau. Đó là những điều tốt lành và trời cho bản thân, gia đình và con cháu được bình yên, may mắn khiến lòng vui sướng. Ngược lại với phúc là họa.
Con người được sinh ra do duyên và nghiệp. Phúc và họa phần lớn ngoài khả năng đảo ngược của con người mà chỉ lấy thành tâm, thiện chí, tu thân tích đức để bộ máy huyền vi của trời đất thay đổi, hy vọng đô. được cho chúng ta mà thôi.
Sư rằng : “Phúc họa đạo trời
Cõi nguồn cũng ở lòng người mà ra”
(Truyện Kiều của Nguyễn Du)
Cuộc sống trong thế gian này không có gì là tuyệt đối, nên người ta cũng không nên đòi hỏi quá nhiều để mà chuốc lấy thất vọng và ưu phiền.
Theo Đạt Lai Lạt Ma : Thân tâm an lạc là chìa khóa của hạnh phúc, muốn được an lạc chúng ta phải chấp nhận năm điều mà chúng ta không thể thay đổi được trong đời sống, đó là :
Vu lan 11) Mọi việc đều biến đổi và có ngày chấm dứt như sinh, lão, bệnh, tử.
2) Cuộc sống không diễn tiến như ta trông đợi vì do vũ trụ chi phối: như nắng mưa, hòa bình và xung đột.
3) Trong cuộc sống thường không có sự công bằng: như năm ngón tay dài ngắn, kẻ giàu người nghèo, v.v…
4) Sự đau khổ cũng chỉ là một phần trong đời sống: mỗi người có những điều bất hạnh khác nhau.
5) Người đời không phải là luôn yêu thương và trung thành với nhau: Để tránh bớt bị tổn thương ta phải luôn đầu tư và tái lập niềm tin mới.
Theo giáo sư Manel Baucells (đại học Barcelona) và giáo sư Rakesh Sarin (đại học UCLA) trong cuốn Engineering Happiness thì chúng ta có thể tự kiến tạo hạnh phúc bằng nhiều cách :
1) So sánh sở hữu với ước vọng : nên thực tế, ước vọng trong khả năng thì dễ có hạnh phúc.
2) Hạnh phúc tức thời : Ta sẽ cảm thấy hạnh phúc trong một thoáng bất chợt khiến ta hài lòng.
3) Hạnh phúc thực sự : So sánh tình cảm tích cực với tiêu cực; Hạnh phúc khi ta yêu thương nhiều hơn lúc ta bực, ghét bỏ.
4) So sánh mình với người khác : Hãy nhìn về những sự việc tốt, hay, đẹp của mình mà người khác không có.
9 Phuc loc tho 25) So sánh hiện tại với quá khứ: Trong đời sống có nhiều thứ hôm nay ta đã đạt được mà thuở xưa không có.
Mỗi lúc buồn phiền ta thử thực hiện những điều như trên xem có giúp ta thoải mái hơn không ?
- Chữ phúc với tượng Phật di lạc : Với sáu đứa bé bám trên một ông Phật ngồi cười. Sáu bé đó phá mắt, mũi, mồm, tai, đầu, bụng tượng trưng cho lục tặc phá sáu căn nguyên của con người. Lục căn đó là gốc của sinh tử luân hồi. Nếu lục căn vô chấp thì sẽ không sinh ra “Tam bành” tức là tham, sân, si. Vì quan niệm đời là vô thường nên trở thành vô ngã và vô chấp. Muốn thế theo đạo Phật là phải diệt dục để đi từ vô minh tới giác ngộ. Thực hiện được bao nhiêu thì sẽ bớt nghiệp xấu đi bấy nhiêu tức là thêm phúc vậy.
Tại Trung Quốc, thời Cách Mạng Văn Hóa với chủ trương vô thần và chỉ suy tôn lãnh tụ, Mao Trạch Đông đã ra lệnh đập phá tượng Phật và hạ bệ Khổng Tử, 9 Di lac 1một vạn thế sư biểu đã từng chủ trương “Quân tử quần nhi bất đảng” tức là người quân tử hợp quần với mọi người nhưng không gây bè đảng, điều này phản lại đường lối của đảng cộng sản Trung Quốc, cũng thời Cách Mạng Văn Hóa các ông như Thần Tài, Quan Công và ba ông Phúc, Lộc, thọ đều không có chỗ đứng !
Ngày nay, Trung Quốc với chủ trương bành trướng và đề cao chủ nghĩa dân tộc để phô trương sức mạnh, Hán hóa các nước lân bang nên Trung Quốc đã phục hồi lại Khổng Tử cũng như tô vẽ lại các hình ảnh của các nhân vật có tài mà thiếu đức như Tần Thủy Hoàng, Ngô Tam Quế để trở thành người Hán lý tưởng. Ba ông Phúc, Lộc, Thọ cũng được nằm trong mưu đồ đó ! Nhưng dẫu thế nào cũng không thể nào biến ba ông trở thành “đạo Tam đa” được !
Người Hoa hạ sống vất vả, khổ sở từ đời này qua đời khác nên khó có cuộc sống vinh hoa phú quí bèn lập nên hình tượng của ba ông mà an ủi cho đời còn có hy vọng.
Có lẽ sau này, các ban chuyên trách về văn hóa và tôn giáo của Trung Quốc cần phải sửa lại tiểu sử của ba ông Phúc, Lộc, Thọ để xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của dân chúng, hòng có thể lập được đạo “Tam đa” mà song hành với các tôn giáo khác. Theo ghi nhận thì ba ông Phúc, Lộc, Thọ không để lại một triết lý nào để học hỏi, gương đạo đức và lòng vị tha cũng không có !
Ba cuộc sống là biểu tượng của quyền cao chức trọng, vợ đẹp con khôn, sống lâu giàu bền tức là ước vọng thụ động của đời thường không phải lý tưởng của thánh nhân, anh kiệt!
Một vị tướng mà thờ ông Thọ thì có trở thành một danh tướng được không ? Một lãnh tụ mà thờ ông Lộc thì có tránh khỏi tham ô không ? Ai mà thờ ông Phúc thì chắc hẳn sẽ có nhiều bầu đoàn thê tử!
Tuy rằng, ba ông Phúc, Lộc, Thọ không chứng tỏ được những hào quang nhiệm màu của các siêu nhân hoặc hiển thánh, nhưng người xưa đã nói “Có thờ có thiêng có kiêng có lành” biết đâu ai đó được chút lộc thừa của ba vị thì đời cũng bớt khổ !
Có một điều cần nói là những điều hay ta nên Việt hóa để du nhập. Còn những gì vu vơ mà ta nhắm mắt làm theo tức là chúng ta đã vô tình Hán hóa dân tộc Việt vậy.
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/2/2013
Yên Huỳnh post (theo Huy Trung)

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Sông ở Hà Nội

Sông ở Hà Nội
Sông Tô Lịch
 
Các tài liệu văn hoá dân gian Hà Nội cho biết sông Tô Lịch còn có nhiều tên gọi khác nhau như sông Tô, sông Lai Tô (thời thuộc Minh).

Đoạn sông Tô Lịch xưa chảy qua Cầu Giấy.
Tháng 8 năm Ất Tỵ (1725), sông Tô Lịch được đổi tên làm sông Địa Bảo cùng với sông Hát làm sông Vân Bảo, để đối với hai sông Thiên Đức và Nguyệt Đức (khu vực Bắc Ninh ngày nay). Những cái tên gắn với những thời kỳ khác nhau càng làm nhân lên giá trị và chiều sâu văn hoá của dòng sông lịch sử. 

Sông Tô Lịch ảnh chụp từ năm 1885.
Chảy trong địa phận Hà Nội. Dòng chính sông Tô Lịch khi chảy qua quận Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì còn được gọi là Kim Giang. Tên sông tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La. trải qua các giai đoạn lịch sử, sông Tô mang nhiều tên khác nhau: Tô Lịch, Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo, nhưng người Hà Nội thường gọi một cách thân thương: Sông Tô.
 
Tô Lịch vốn là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng sang sông Nhuệ. Sách Đại Nam nhất thống chí (soạn giữa thế kỷ 19) có viết: "Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành (Hà Nội) là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đông Xuân, huyện Thọ Xương (cửa sông xưa nằm ở vị trí phố Cầu Gỗ quận Hoàn Kiếm) chuyển sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ."
 
Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi, nay đã bị lấp, không còn dấu tích gì. Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ Cầu Gỗ ngược lên (cống chéo) Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay).
 
Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ cầu Giấy, chảy cùng hướng với đường Láng và đường Kim Giang về phía Nam tới sông Nhuệ.
Tên sông Tô Lịch do đâu mà có? Theo sách ”Việt điện u linh” thì Tô Lịch là tên một vị thủ lĩnh làng - Hà Nội - gốc (cách gọi của giáo sư Trần Quốc Vượng). Tô Lịch có nhiều công với dân làng nên khi ông mất, làng Hà Nội gốc được mang tên ông, rồi được phong là Long Đỗ Thần hay Tô Lịch Giang Thần. Về mùa mưa lũ, nước trong đồng đổ dồn vào sông Tô và thường cao hơn nước sông Hồng nên dòng nước sông Tô chảy vào sông Hồng; bọn đô hộ phương Bắc không biết nên gọi là sông ”nghịch thuỷ”; chúng đã tổ chức lễ tế Tô Lịch Giang Thần ở đền Bạch Mã và phong ông là ”Đô Phủ Thành hoàng Thần Quân”.
Trên sông Tô Lịch đã có ít nhất là 3 nơi được sử sách nhắc tới như là một địa danh lịch sử. Đó là cửa sông Tô (cửa ra) ở phường Giang Khẩu.
Vào thế kỷ VIII, IX bên bờ nam sông Tô, nhánh chảy qua vùng đất nội thành bây giờ, lần lượt xuất hiện 3 toà thành: Thành Giao Châu hay thành Giao Chỉ tức La Thành, có cửa mở ra sông Cái, gọi là Đông La Môn.
Thành thứ hai là Tử thành (Thành con) nằm trong La Thành. Đến năm 858, thành này được mở rộng, bên ngoài rào bằng tre trúc, nên có tên là thành Lặc Trúc và đều ở bên bờ sông Tô Lịch, nên gọi là thành Tô Lịch. Đây cũng là phần đất của thành Thăng Long thời Lý - Trần.
Địa danh quan trọng nhất bên bờ sông Tô, đó là ngã ba sông Thiên Phù Tô Lịch có bến Hồng Tân (vùng chợ Bười bây giờ), trên đường từ Hoa Lư về thăm quê ở Cổ Pháp, vua Lý Công Uẩn đã dừng thuyền ngự tại đây và nhận ra thế đất ”dựng nghiệp để vương cho muôn đời”. Và cũng chính tại đây, sau Chiếu dời đô, vào mùa thu, tháng bảy năm Canh Tuất (1010), thuyền ngự với chiến thuyền và văn võ bá quan hộ tống, từ Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ đã ngược dòng cặp bến Đại La, tức bến Hồng Tân. Dân vùng Bưởi đón nhà vua với lụa là, gấm vóc và nhiều sản vật quý, sau được nhà vua ban tặng tên làng Nghĩa Đô và Bái Ân.
Từ ngày Lý Thái Tổ định đô Thăng Long và trải qua các triều Lý - Trần Lê, sông Tô Lịch có một sức sống mạnh mẽ, phong phú.
Trước hết , hai bên sông xuất hiện nhiều làng dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, nhiều công trình kiến trúc, chủ yếu là chùa, quán và cũng tại hai triền sông Tô này, xuất hiện nhiều danh nhân văn hóa đất nước - bên tả ngạn gồm phần đất của 2 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, ngoài thành nội, còn có 61 phường thợ thủ công, dân thập tạm trại, từ Lệ Mật sang khai khẩn, trồng luá, rau, hoa; dân Kẻ Láng có sản vật húng Láng nổi tiếng suốt mấy đời nay.
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây.

Ngoài các sản phẩm nông nghiệp, dân cư ven sông Tô còn có các nghề thủ công nổi tiếng như Nghĩa Đô, An Thái, Hồ Khẩu, Kẻ Cót có nghề làm làm giấy, trong đó giấy đó Nghĩa Đô, An Thái được triều đình dùng để viết chiếu chỉ, sắp phong. Các làng Trích Sài, Bái Ân, Nghĩa Đô có nghề dệt lụa lĩnh nổi tiếng từ ngàn xưa. Dân huyện Long Đàm xưa có nhiều làng xã nằm ven sông Tô, có các nghề nổi tiếng như dưa cà làng Gừng, kim hoàn ở Định Công Thượng, nghề làm quạt và kẹo bột bỏng gạo ở Kim Lũ, làng Ngâu có nghề nấu rượu, Tứ Kỳ làm bún đã mấy trăm năm…
Dọc hai bờ sông Tô xưa từ Bưởi đến chợ Gạo và từ Bưởi đến chợ Gạo và từ Bưởi đến Thanh Trì, Thường Tín có nhiều làng cổ, mỗi làng đếu có đầy đủ thiết chế đình đền, chùa, tính sơ bộ có tới cả trăm đình, đền chùa, miếu. Nhưng nổi tiếng nhất có đền Bạch Mã thờ Tô Lịch Giang thần, đền Quán Thánh thờ thần Trấn Võ; đến Đồng Cổ ở thôn Đông Xã, thờ thần Đồng Cổ và là nơi từ thời Lý Thái Tông, hàng năm mở hội thề. Gọi là Hội thề đền Đông Cổ: ”Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt!”. ở vùng Bưởi còn có đình An Thái thờ ông Dầu, bà Dầu, tương truyền là người hy sinh thân mình cứu thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt; đền Voi Phục thờ Linh Lãng Đại Vương, con vua Lý Anh Tông, có công đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt, Kẻ Cót, Kẻ Mọc có rất nhiều đình , chùa thờ các nhân thần có công với nước và có các dòng hộ nổi tiếng về khoa bảng. Làng An Lãng có chùa ”Chiêu Thiền Tự” (tức chùa Láng), gắn liền với tên tuổi thiền sư Từ Đạo Hạnh, một nhà sư, một nghệ sĩ chèo.
Kim Lũ là quê hương của danh nhân văn hoá Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thể và Nguyễn Trọng Hợp.
Vùng Thanh Liệt, Hoàng Liệt, Tam Hiệp gắn liền với tên tuổi danh tướng Phạm Tu, võ tướng trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí, thế kỷ VI và tiên triết Chu Văn An, bậc túc nho thời Trần, người thầy giáo nổi tiếng, vị quan thanh liêm, đã dâng ”Thất trảm sớ” lên vua Trần, xin chém 7 viên quan đại thần gian tham. Trên đất trang Cung Hoàng xưa bên bờ sông Tô, Chu Văn An đã từng mở trường học dạy học; nơi đây nay là văn chỉ Chu Văn An cùng với bia trên 30 vị khoa bảng của huyện Thanh Trì. Đối diện với văn chỉ Chu Văn An, bên này sông Tô, trên đất Bằng Liệt xưa là miếu Xạ Can (Miếu trừ nạn hạn hán), gọi nôm là miếu Gàn, thờ người học trò thuỷ thần của Chu Văn An - nghe lời thầy, người học trò này đã dùng bút mực cầu đảo trời làm mưa chống hạn cứu lúa cho cả vùng. Truyền thuyết về người học trò thuỷ thần đã trở thành tín ngưỡng văn hoá của dân vùng hồ Linh Đàm. Hồ này cùng là dấu tích của sông Tô, giống như hồ Tây là dấu tích sông Hồng.
Đời sống sông Tô thật phong phú. Nó chứa đầy ắp những sự tích và di tích lịch sử văn hoá. Sau bao năm trở thành dòng sông ”chết” nay Tô Lịch đang được cải tạo để khơi lại dòng chảy vốn có - một cảnh đẹp hy hữu của Thủ đô.

Sông Kim Ngưu là một dòng sông tại Hà Nội.
 
Kim Ngưu (chữ Hán Việt) có nghĩa là Trâu Vàng. Theo truyện cổ dân gian, Trâu Vàng ở bên Tàu khi nghe thấy tiếng chuông đồng đen của thiền sư Nguyễn Minh Không ở nước Nam thì tưởng là tiếng trâu mẹ gọi liền chạy sang. Đường nó chạy lún xuống thành sông Kim Ngưu. Đến phía Tây thành Thăng Long thì tiếng chuông dứt, Trâu Vàng liền xới đất tung lên để tìm mẹ làm đất chỗ đó thụt xuống, thành hồ Kim Ngưu, tức Hồ Tây.
 
 
Sông Kim Ngưu cổ, theo Trần Quốc Vượng, là một phân lưu của sông Tô Lịch. Nó lấy nước từ Tô Lịch ở ô Cầu Giấy, chảy theo hướng Tây-Đông tới Đội Cấn và lại lấy nước từ Tô Lịch khi tới ô Thụy Chương (Thụy Khê), chảy theo hướng Bắc-Nam (đoạn này còn gọi là sông Ngọc Hà) , chảy qua Ngọc Khánh, Giảng Võ, Hào Nam, ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Kim Liên, ô Cầu Dền, ô Đông Mác, Yên Sở, rồi hợp lưu trở lại ở Văn Điển. Đến lượt mình, Kim Ngưu lại có các phân lưu là sông Trung Liệt (tách ra tại Hào Nam), sông Sét và sông Lừ (đều tách khỏi Kim Ngưu tại khu vực Kim Liên, Phương Liệt), v.v... Dân gian có câu:
 
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
 
để chỉ Tô Lịch ở phía Tây kinh thành, còn Kim Ngưu ở phía Nam.
 
Sông Kim Ngưu xưa là một tuyến giao thông đường thủy, nay chỉ có chức năng là một sông thoát nước cho nội thành Hà Nội.
 
Đoạn từ chỗ phân lưu với Tô Lịch đến Đông Mác đã bị lấp hoặc bị lấn bờ nhiều làm bề rộng của sông thu hẹp lại đáng kể, và được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông) gần hết vào cuối thập niên 1980, chỉ còn lộ thiên đôi chỗ ở Cát Linh. Đoạn từ Đông Mác tới Yên Sở còn rộng, được kè bờ, làm hàng rào từ cuối thập niên 1990, để chống lấn chiếm, và trồng nhiều liễu hai bên bờ. Hai bên bờ sông ở đoạn này còn được làm đường giao thông, đó là các đường Đông Kim Ngưu, Tây Kim Ngưu, Nguyễn Tam Trinh, v.v... Ngoài kè bờ, người ta còn tích cực nạo vét đoạn sông ở đây để tăng cường khả năng thoát nước và nắn dòng chảy của sông tại Yên Sở để cho hai phần ba lượng nước của Kim Ngưu đổ vào hồ điều hòa Yên Sở. Một phần ba lượng nước còn lại theo đoạn từ Yên Sở tới Văn Điển mà đổ vào Tô Lịch. Đoạn cuối cùng này không được cải tạo, lượng nước lại còn ít, và bị lấn chiếm và đổ phế thải xuống lòng sông, nên đang mất dần.
 
Sông Sét cổ
 
Là một phân lưu của sông Kim Ngưu. Nó tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt. Tại chỗ sông Sét tách ra, Kim Ngưu đổi hướng chảy lên phía Bắc tới khu vực hồ Bảy Mẫu và đầm Kim Liên, còn sông Sét chảy về phía Nam. Tuy nhiên, do bồi, lấp, sông Kim Ngưu tại Phương Liệt bị đứt quãng khiến cho đoạn Kim Ngưu ngược lên phía Bắc bị tách riêng ra. Sông Sét ngày nay bao gồm cả đoạn sông Kim Ngưu đó. Nó chảy trong địa phận các quận Hai Bà Trưng và Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
 
Sông Sét dài hơn 3,6 km, bắt nguồn từ hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai). Sông Sét suốt nhiều năm bị bùn bồi lắng và bị các công trình xây dựng lấn bờ, nên bề rộng và độ sâu của sông đã giảm đáng kể. Nhiều nơi, sông chỉ rộng chừng 5 m. Độ sâu trung bình của sông chỉ hơn 1 m. Từ đầu năm 2003, sông Sét được nạo vét và cống hóa với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản trong dự án thoát nước, cải thiện môi trường Hà Nội giai đoạn 1 (1997-2005). Hiện nay đoạn phía Bắc của sông chảy qua khu vực các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân đến phố Đại La đã được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông trên mặt sông thành đường Trần Đại Nghĩa). Đoạn từ phố Đại La đến hồ Yên Sở được kè bờ, nạo vét, làm đường và trồng cây hai bên bờ.
 
Sông Lừ là một dòng sông tại Hà Nội.
 
Sông Lừ cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu (và Kim Ngưu đến lượt nó lại là một phân lưu của sông Tô Lịch), tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt và chảy về phía Nam Thanh Trì và hợp lưu với Tô Lịch. Tuy nhiên, do sông Kim Ngưu có nhiều đoạn bị lấp, nên đoạn Kim Ngưu còn sót từ Nam Đồng tới Phương Liệt ngày nay cũng được coi là sông Lừ. Mặt khác, khi thực hiện dự án cải tạo hệ thống thoát nước ở Hà Nội vào cuối thập niên 1990 đầu thập niên 2000, người ta đã nắn dòng cho sông Lừ đổ vào hồ điều hòa Yên Sở.
  
Công nhân Công ty Thoát nước Hà Nội thi công nạo vét, khơi thông dòng chảy, làm sạch môi trường sông Lừ
Sông Lừ ngày nay dài khoảng 10 km, lòng sông rộng từ 10 đến 20 m, chảy qua địa bàn các phường Nam Đồng, Trung Tự, Kim Liên, Khương Thượng, Phương Mai, Phương Liên (quận Đống Đa), Định Công, Đại Kim, Tân Mai, Yên Sở (quận Hoàng Mai).
Sông Sét
Sông Sét cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu. Nó tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt. Tại chỗ sông Sét tách ra, Kim Ngưu đổi hướng chảy lên phía Bắc tới khu vực hồ Bảy Mẫu và đầm Kim Liên, còn sông Sét chảy về phía Nam. Tuy nhiên, do bồi, lấp, sông Kim Ngưu tại Phương Liệt bị đứt quãng khiến cho đoạn Kim Ngưu ngược lên phía Bắc bị tách riêng ra. Sông Sét ngày nay bao gồm cả đoạn sông Kim Ngưu đó. Nó chảy trong địa phận các quận Hai Bà Trưng và Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Sông Sét dài hơn 3,6 km, bắt nguồn từ hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai). Khi đi qua Giáp Bát, nó nhận nước từ một phân lưu của sông Lừ từ Phương Liên chảy sang. Sông Sét suốt nhiều năm bị bùn bồi lắng và bị các công trình xây dựng lấn bờ, nên bề rộng và độ sâu của sông đã giảm đáng kể. Nhiều nơi, sông chỉ rộng chừng 5 m. Độ sâu trung bình của sông chỉ hơn 1 m. Từ đầu năm 2003, sông Sét được nạo vét và cống hóa với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản trong dự án thoát nước, cải thiện môi trường Hà Nội giai đoạn 1 (1997-2005). Hiện nay đoạn phía Bắc của sông chảy qua khu vực các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân đến phố Đại La đã được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông trên mặt sông thành đường Trần Đại Nghĩa). Đoạn từ phố Đại La đến hồ Yên Sở được kè bờ, nạo vét, làm đường và trồng cây hai bên bờ.
Vĩnh Bảo sưu tầm 24/2/2013

Thân thể là đền thờ tâm linh


Thân thể là đền thờ tâm linh


image
Theo tuệ giác của đạo Bụt, thân và tâm không tách biệt. Nếu thân bị ô nhiễm thì tâm cũng trở nên chán chường, ô nhiễm và thương tích. Nếu thân được nguyên vẹn thì tâm cũng được nguyên vẹn.
Ngày xưa, việc cưới vợ lấy chồng là vấn đề của đại gia đình. Nhưng bây giờ, người trẻ nghĩ đó là vấn đề của riêng họ. Đứng về phương diện tâm lý, gia đình nhỏ ngày nay không còn được vững chãi như ngày xưa nữa; nguy cơ tan vỡ của nó rất lớn. Nếu sống trong mạng lưới đại gia đình ngày xưa, mình sẽ được bảo vệ nhiều hơn. Bởi nếu mình có những quyết định bồng bột, sai đường thì sẽ được những thành viên trong gia đình kể cả những em nhỏ của mình giúp định hướng lại.
Bây giờ thì ngược lại, mình muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, mình không muốn nghe theo ai hết. Trong thập niên 60 đã xảy ra một cuộc cách mạng về tình dục với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai. Nó đã làm thay đổi xã hội rất nhiều. Phong trào này bắt đầu từ các trường đại học tại Mỹ, tại Pháp. Những cô thiếu nữ cũng đòi có tự do về tình dục. Họ nghĩ rằng, đàn ông có tự do về tình dục, tại sao họ lại không được? Trước đây, người phụ nữ phải gánh chịu phần lớn hậu quả của chuyện phóng túng tình dục, còn đàn ông, sau khi xong chuyện thì phủi tay trốn chạy. Nhưng với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai đã làm đảo lộn quan điểm của rất nhiều người về tình dục. Ban đầu, bác sĩ chỉ áp dụng thuốc ngừa thai đối với những cặp vợ chống không muốn có con. Nhưng sau đó thì được sử dụng tràn lan, không còn mục đích rõ ràng. Cuộc cách mạng tình dục đã tạo phản ứng rất mạnh từ giới bảo thủ. Nhưng đối với những người phụ nữ trẻ thì họ thấy đây là cơ hội cho họ được giải phóng. Trong truyền thống, nếu người phụ nữ không có chồng mà có mang thì chịu sự trừng phạt rất nặng, có thể bị ném đá cho tới chết, có thể bị bỏ bè trôi sông. Trong khi đó, người đàn ông không bị truy cứu hoặc có thể trốn chạy. Đây là một sự bất công lớn.
Năm 1962, Mỹ có 1.200.000 người đùng thuốc ngừa thai. Nhà chức trách ngăn cản phong trào này bằng cách: bác sĩ sẽ không cấp thuốc ngừa thai cho những phụ nữ không chồng. Nhưng làm vậy cũng không ngăn cản nổi phong trào này. Nhiều gia đình tan nát, vợ chồng thù hận nhau vì chuyện ngoại tình không chung thủy. Những đứa con trong những gia đình ấy rất khổ đau. Trong giới thứ 3 của năm giới giành cho các vị cư sĩ có nói rất rõ:"Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con" 

Theo tuệ giác của đạo Bụt, thân và tâm không tách biệt. Nếu thân bị ô nhiễm thì tâm cũng trở nên chán chường, ô nhiễm và thương tích. Nếu thân được nguyên vẹn thì tâm cũng được nguyên vẹn. Trong giới tiếp hiện, có đề cập đến thân như đền thờ tâm linh. Thân cũng linh thiêng như tâm vậy. Nếu thân không còn linh thiêng thì tâm cũng không còn linh thiêng nữa. Mình cần gìn giữ thân như việc gìn giữ tâm và ngược lại.  Có lẽ trong quá khứ, quan niệm về sự gìn giữ thân và tâm giữa Tây phương và Đông phương không khác biệt là bao nhiêu. Thông thường, mình chỉ chia sẻ những gì sâu kín nhất trong tâm mình với người mà mình tin tưởng, với người tri kỷ. Đối với thân thể của mình cũng vậy. Nếu không có tình yêu sâu sắc với một người thì mình không bao giờ phó thác cái thân này cho người ấy. Do vậy, tình yêu trở thành rất thiêng liêng. Nó nuôi dưỡng được cả hai phía yêu nhau. Nếu coi xác thân người kia là dụng cụ phục vụ cho sự khoái lạc của mình thì tình yêu bị đánh mất đi yếu tố linh thiêng. Người Đông phương rất coi trọng việc giữ gìn thân thể của mình. Khi bị lạm dụng trong chuyện tình dục, họ có cảm tưởng như bị đánh mất đi những gì rất quý giá của đời mình. Đối với những em bé gái, bé trai khi bị lạm dụng, các em đau khổ rất nhiều, và niềm đau ấy có thể đeo đuổi suốt cuộc đời của các em. Cơ thể của mình có những vùng linh thiêng mà không có ai được quyền chạm tới. Sự toàn vẹn của cơ thể có liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn. Cái thấy thân tâm nhất như rất quan trọng. Thân nằm trong tâm và tâm nằm trong thân. Nếu không kính trọng thân thể thì không thể nào kính trọng được tâm hồn. Thân thể không thể là một món đồ chơi của chính mình và người khác. Điều này có liên hệ đến hạnh phúc của mình và con cháu của mình. Giữ gìn thân thể không phải chỉ để cho riêng mình mà còn cho con cháu của mình nữa.
Giới thứ ba có liên hệ đến tình yêu, và sự liên hệ giữa hai người đứng về phương diện tình dục. Đức Thế Tôn dạy về tình yêu rất sâu sắc và đầy đủ. Tình yêu chân thật có chứa những yếu tố: từ, bi, hỷ và xả. Phải thấy mình và người kia là một. Những khổ đau của người kia là những khổ đau của mình, và khổ đau của mình cũng là khổ đau của người kia. Mình không loại trừ người kia ra khỏi hạnh phúc và khổ đau của mình. Muốn xây dựng tình yêu chân thật thì phải thực tập giới thứ ba. Đi tìm thú vui trong tình dục mà phá đổ những yếu tố của tình thương đích thực, là phạm giới. Phải thấy rằng, sự an ninh và toàn vẹn của người kia là sự an ninh và toàn vẹn của chính mình. Phải thấy rằng, cái thân và cái tâm của người kia là nơi linh thiêng, và cần phải tôn trọng thì lúc đó tình thương chân thật mới thật sự có mặt. Sự toàn vẹn của cơ thể liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn. Với nền văn hóa xưa thì mình chỉ giao phó thân tâm cho người kia khi người ấy trở thành bạn tri kỷ của đời mình.
Tuy hai người đã cưới nhau, nhưng vẫn phải luôn luôn kính trọng lẫn nhau, không được có những cử chỉ, hành động thô lỗ với người bạn hôn phối. Phải thấy, thân thể của mình cũng linh thiêng như của người kia, và mình vẫn tiếp tục khám phá ra những cái hay cái đẹp ở nơi người kia thì lúc đó tình yêu mới kéo dài được. Tình yêu là một quá trình của sự khám phá, đi tìm khoái lạc trong tình dục sẽ chỉ làm phá vỡ hạnh phúc mà thôi. Tuổi trẻ bây giờ không được hướng dẫn về tình yêu, nhà trường chỉ dạy về sinh học thôi, nên các bạn trẻ biết tình dục mà chưa kịp biết tình yêu. Các nhà giáo dục cần xét lại điều này. Nếu chỉ dạy cho học trò về sinh học mà không dạy về tình thương thì e rằng, cái đẹp, cái linh thiêng nơi họ sẽ bị đánh mất.
Trong xã hội ngày nay, năng lượng tình dục quá nhiều, những hình ảnh, âm thanh độc hại trong sách báo, truyện trò tràn lan. Vì vậy chúng ta phải nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của mình. Người nào cũng có năng lượng tình dục, và chính đức Thế Tôn cũng có năng lượng tình dục. Ngài thành đạo hồi 35 tuổi, và dĩ nhiên ngài vẫn còn những năng lượng tình dục; nhưng ngài biết cách chăm sóc năng lượng ấy nên nó không gây hại đến ngài. Ngài đã biết hướng toàn bộ năng lượng của ngài về phía độ đời, thương người.
Vậy chúng ta cần chăm sóc năng lượng tình dục ấy thế nào? Chuyện ăn uống cũng có liên quan đến năng lượng tình dục. Người xuất gia không còn làm chuyện dâm dục, nhưng làm thế nào để quản lý năng lượng ấy? Bụt có dạy, người xuất gia không ăn mặn, không uống rượu. Đây là một phương pháp rất hay để hỗ trợ cho việc quản lý năng lượng này. Bên đạo Bụt nguyên thủy, mỗi ngày các thầy, các sư cô chỉ ăn một bữa vào buổi trưa, đây cũng là phương pháp hay. Trước khi ăn, mình luôn nhớ, ăn như thế nào cho có chừng mực và điều độ. Mỗi thầy, mỗi sư cô đều có chiếc bình bát để làm ứng lượng khí. Khi lấy thức ăn phải chừng mực, phải nhận diện được tâm hành tham ăn của mình. Chuyện ăn uống có ảnh hưởng rất quan trọng đến năng lượng tình dục. Trong đạo Bụt còn có phương pháp đệ nhị thân, tức là không được đi ra ngoài một mình, không chuyện trò với người khác phái một mình, mà phải luôn có một người cùng giới bên cạnh để bảo hộ. Đây cũng là một phương pháp hữu hiệu để quản lý năng lượng tình dục khi đi ra ngoài. Ngoài ra, thực tập sám pháp và thực tập khí công cũng là những cách chăm sóc những năng lượng tình dục. Không phải chỉ người xuất gia mới học hỏi phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của mình mà người tại gia cũng phải học. Bởi những người tại gia trong cuộc sống hằng ngày tiếp xúc quá nhiều với những yếu tố kích thích như phim ảnh, sách báo, âm thanh... Do vậy, người tại gia thực tập vấn đề chăm sóc năng lượng tình dục khó hơn nhiều so với người xuất gia. Giới tà dâm đôi khi lại khó thực hiện hơn giới bất dâm. Bất dâm là hoàn toàn không có dâm dục, còn giới tà dâm là chỉ có liên hệ với vợ hay chồng của mình thôi. Người cư sĩ cũng phải ăn uống như thế nào để không chế tác quá nhiều năng lượng tình dục...
Thực tập giới là giúp bảo hộ đem lại cho mình bình an và hạnh phúc. Trong giới bản năm giới mới chúng ta sẽ bổ xung thêm vào giới thứ ba như sau: "Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của con, để thấy được tính bất nhị của thân và của tâm" - thân và tâm là một. Nếu không kính trọng thân là cũng không kính trọng tâm. Những điều này phải học hỏi và thực tập mới thấy được, chứ không phải chỉ đọc là đã hiểu. Sau khi thọ giới, người hành trì giới phải pháp đàm và học hỏi một tháng hai lần. Tu tập để chế tác thêm các chất liệu từ bi hỷ xả - bốn yếu tố căn bản của tình yêu chân thật có công năng làm lớn lên hạnh phúc của mình và của người khác. Xã hội ngày nay, tình yêu thì ít mà tình dục thì nhiều. Do vậy mà khổ đau trong gia đình, xã hội rất lớn. Mỗi người cần phải tập chế tác tình yêu chân thật, để làm giảm thiểu năng lượng tình dục nơi mình và nơi người kia.Nguồn: Làng Mai
Vĩnh Bảo sưu tầm 24/2/2013

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

Những loài hoa tiêu biểu của mùa xuân

Những loài hoa tiêu biểu của mùa xuân


Hoa đào miền bắc, hoa mai miền nam là hai loài đặc trưng và được cho là biểu tượng của mùa xuân Việt Nam.
Hoa mai
Hoa mai.
 Loài hoa này thường được người miền nam mua về trong ngày tết. Từ lâu, người xưa xếp hoa mai vào loại hoa quý nhất trong các loài hoa. Mai thường nở hoa rực rỡ vào mùa xuân khi tiết trời ấm áp. Hoa mai có 5 cánh kết thành vòng tròn tượng trưng cho Ngũ phúc thần, mang lại sự may mắn thịnh vượng, vì thế dịp Tết, gia đình nào cũng muốn có cây mai trong nhà để cầu may mắn hạnh phúc cho một năm mới.
Hoa mai còn là hiện thân của kẻ sĩ, đấng trượng phu, vì nó chịu được các thời tiết đổi thay dù ấm áp hay giá buốt. Xuân về Tết đến, mai luôn nở hoa chào đón mùa Xuân. Loài hoa này còn trở thành cảm hứng để các thi sĩ diễn tả nét đài trang, thanh nhã của những người phụ nữ đẹp qua các thời đại tân cổ.
Hoa đào
Hoa Đào.
 Đối với người miền bắc, đây là loài hoa không thể bỏ qua trong những ngày Tết. Hoa đào là biểu tượng nét đẹp văn hóa tết, một mỹ tục của dân tộc ta. Đối với văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với những cô gái trẻ, mảnh mai, và yếu đuối, thể hiện qua thành ngữ "liễu yếu đào tơ". Hình ảnh hoa đào còn gắn bó với tình yêu và duyên nợ của trai gái nông thôn, xuất hiện trong rất nhiều ca dao dân gian Việt Nam.
Loài hoa này nở vào mùa xuân biểu tượng cho sự may mắn, hạnh phúc, tình bạn khắng khít, thân thiết trường tồn.Chưng một cây đào trong nhà hoặc đem tặng cho một người mà bạn yêu mến là thể hiện lời cầu chúc cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc mỹ mãn, niềm vui và sự yên ấm.
Nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân.
 Ngày tết hầu hết trên khắp đất nước Việt Nam luôn nụ tầm xuân được nhiều người tìm mua về trang trí. Theo quan niệm của họ, hoa này với những nụ hồng nhỏ nhắn lại truyền cho người ngắm nó hy vọng, niềm tin và nghị lực vô cùng mạnh mẽ.
Hoa cẩm chướng
Hoa cẩm chướng.
 Tùy theo màu sắc, hoa cẩm chướng mang ý nghĩa khác nhau. Hoa cẩm chướng đỏ thể hiện sự ái mộ, cẩm chướng trắng thể hiện ngọt ngào và đáng yêu, ngây thơ, trong sáng, món quà may mắn cho phụ nữ; nhưng hoa cẩm chướng vàng thể hiện sự từ chối, khinh thường.
Hoa thủy tiên
Hoa thủy tiên
 được chọn là loài hoa của tháng ba - tiết xuân phân. Ngày nay, người ta xem màu vàng tươi sáng của hoa như là một biểu tượng của sự hồi sinh - dấu hiệu cho sự bắt đầu mùa xuân. Thủy tiên vàng thể hiện tình yêu đơn phương, lòng yêu mến, kính trọng và tinh thần, phong cách hiệp sĩ.
Hoa lưu ly
Hoa Lưu ly.
 Hoa này thường gắn với những hoài niệm yêu thương và tình yêu chân thành.
Hoa đồng tiền
Hoa đồng tiền.
 Loài hoa này có thể nở quanh năm, nhưng vào mùa xuân nó được nhiều người chú ý hơn cả, nhất là dịp năm mới, vì nhiều người cho rằng, đây là loài hoa mang đến nhiều tài lộc, tiền của cho gia đình. Hoa đồng tiền còn tượng trưng cho hạnh phúc, tươi sáng và vui vẻ. 
Theo VNE
Vĩnh Bảo sưu tầm 21/2/2013

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

ĐỪNG VỘI VÃ




Voi va 1ĐỪNG VỘI VÃ

Trong mỗi ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ, ta hãy dành một giờ cho sự thực tập đời sống không vội vã. Nghĩa là ta thực tập đi không vội vã, ngồi không vội vã, đứng không vội vã, nằm không vội vã, ăn uống không vội vã, nói cười không vội vã, làm việc không vội vã, lái xe không vội vã, ngắm trăng sao, nghe chim hót hay nhìn những bông hoa nở với tâm hồn trầm tĩnh, không vội vã,… nghĩa là trong một ngày ta chỉ dành một giờ thực tập tiếp xúc mọi sự hiện hữu trong ta và chung quanh ta với tâm hồn tĩnh lặng, không vội vã.
Nhờ có tư duy không vội vã, nên trong đời sống hàng ngày, ta không vội vã khen ai và cũng không vội vã chê ai; không vội vã theo ai và cũng vội vã chống đối ai; không vội vã ghét ai và cũng không vội vã thương ai; không vội vã kiêu hãnh và cũng không vội vã tự ty.
Voi va 2Thương ai hay ghét ai trong vội vã ta sẽ ân hận; khen ai hay chê ai trong vội vã ta sẽ ân hận; theo ai hay chống đối ai trong vội vã ta sẽ ân hận; vội vã kiêu hãnh hay vội vã tự ty ta sẽ ân hận…
Sống không vội vã, ta sẽ lấy được những hạt giống ân hận ra khỏi tâm ta, ra khỏi nơi những lời nói và hành động của ta, và ra khỏi ngay nơi đời sống của ta.
Thọ mạng của ta ngắn hay dài, an hay bất an, chúng hoàn toàn tùy thuộc vào tâm tĩnh lặng sâu hay cạn của ta. Tâm ta tĩnh lặng sâu, những hạt giống vội vã trong tâm ta không có điều kiện để hoạt khởi, khiến những mạch máu trong thân thể ta lưu thông tự nhiên, tim ta không bị những áp lực của lòng tham hay tâm sân hận, để phải co bóp vội vã, ấy là một trong những điều kiện giúp ta có một thân thể thanh thoát, nhẹ nhàng, ít bệnh hoạn và thọ mạng lâu dài.
Voi va 3Trong khi một xã hội con người đang hấp hối, không có được một giây phút nào cho tâm hồn tĩnh lặng, cho những hoạt động không vội vã, thì núi vẫn xanh, suối vẫn chảy reo mỗi ngày, không gian vẫn thênh thang và mây trời vẫn thong thả bay giữa không gian thênh thang ấy, muôn vật đang sống và làm việc với chính nó một cách trọn vẹn chẳng có gì vội vã cả và chỉ có con người sống với lòng tham nên vội vã mà thôi ! Nhưng, thực ra khi một người biết sống hết lòng, thì ngay trong đời sống của con người, chẳng có cái gì để cho ta vội vã cả.
Vĩnh Bảo 19/2/2013

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

Đêm năm Canh, Ngày sáu khắc tính như thế nào ?


Đêm năm Canh, Ngày sáu khắc tính như thế nào ?

Thập Nhị Địa Chi Thuở xa xưa, những bậc tiền nhân thường dùng Thập Nhị Địa Chi tức12 con Giáp để gọi cho Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Số 12 con Giáp tức 12 con vật tượng trưng đó được sắp theo thứ tự như sau : Tý (Chuột), Sửu (Trâu), Dần (Cọp), Mão hay Mẹo (Mèo), Thìn (Rồng), Tỵ (Rắn), Ngọ (Ngựa), Mùi (Dê), Thân (Khỉ), Dậu (Gà), Tuất (Chó) và Hợi (Heo).
Ngoài ra, phương cách dùng để tính các tháng theo con Giáp thì : GIÊNG (Dần = Cọp), HAI (Mão hay Mẹo = Mèo, BA (Thìn = Rồng), TƯ (Tỵ = Rắn), NĂM (Ngọ = Ngựa), SÁU (Mùi = Dê), BẢY (Thân = Khỉ), TÁM (Dậu = Gà), CHÍN (Tuất = Chó), Mười ( Hợi = Heo), Mười Một (Tý = Chuột) và Chạp (Sửu =Trâu).
Nhưng tại sao, thời kỳ xa xưa đó lại đặt tháng Giêng là tháng đầu năm mà không gọi là tháng Một?
Theo thiển nghĩ của tôi, bởi vì lúc bấy giờ, dưới thời quân chủ còn Vua Chúa, thường dành con số Một để chỉ nhà Vua, là thiên tử (con trời) để cai trị dân chúng tức nhứt nhân (người đứng đầu, người lớn hơn hết), từ đó trong thiên hạ phải kiêng cử, cho nên mới đặt tháng Giêng?
Ngoài ra, khi sanh con đẻ cái cũng không thể gọi con đầu lòng là con Một mà chỉ gọi là con Trưởng hay con Hai hoẵc con Cả, vì sợ húy kỵ đến nhà vua, bằng chứng ở Việt Nam không có nhà nào gọi con đầu lòng là con Một là thế đó !.
Còn tháng Giêng tại sao là Tháng Dần ?
Căn cứ theo sách xưa, xin trích dẫn như sau :
Nhân sinh ư Dần    
(Loại người sanh ra ở hội Dần).

Nhứt niên chi kế tại ư Xuân         
(Kế hoạch trong 1 năm phải được sắp đặt ở mùa Xuân).
Nhứt nhựt chi kế tại ư Dần 一日之    
(Kế hoạch trong 1 ngày phải sắp đặt ở giờ Dần).
Hơn nữa, trong 12 con Giáp, con Cọp là chúa sơn lâm, rất mạnh bạo hơn 11 con Giáp kia, cho nên người xưa chọn tháng Giêng là tháng Dần cho con Cọp cầm tinh là như thế?
Người xưa, tại sao tháng gọi tháng Chạp là tháng cuối năm mà không là tháng Mười Hai như năm Dương Lịch?
Theo thiển nghĩ của tôi, nước chúng ta thời bấy giờ phần đông làm ruộng, cho nên tháng cuối cùng của một năm, ruộng đã làm xong, đã đem lúa vô bồ, vì thế phần đông dành thời gian này lo các lễ cúng, tiệc tùng để tạ ơn Thần Nông hoặc cúng Đình Thần sau khi vụ mùa đã hoàn tất, hết nhà này đến nhà khác, có khi kéo dài cho đến Tết Nguyên Đán.
Hơn nữa, chữ Chạp là lễ cúng. Vì thế, nó còn có các tên lễ cúng khác như : Giỗ Chạp, Chạp Miếu, Chạp Mả…
Do vậy, thay vì gọi tháng Mười Hai là tháng Chạp là thế đó !.
< Khi nhắc đến Lễ Cúng Đình Thần, hằng năm thường cử hành lễ này (được biết ngày xưa các vị cựu quan chức ngày xưa, đơn cử như : Cụ Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) là người có công trạng chống Pháp, nên sau khi Cụ bị quân Pháp chặt đầu, Cụ được vua ban Sắc Chỉ Thần và được thờ tại Đình Thần Nguyễn Trung Trực Rạch Giá ngày nay, nếu cần xin xem quyển Danh Nhân Việt Nam hậu bán thế kỷ 19 cùng tác giả Nguyễn Phú Thứ từ trang 161 đến trang 195) trong các ngày Lễ Cúng Đình Thần, các vị bô lão cùng Ban Hội Tề mặc áo dài khăn đóng để đi rước sắc thần, (nếu làng xã đó chưa hoàn thành Đình Thần, để an vị nơi làm lễ cúng Thần), đặc biệt phải có các học trò lễ đứng hai hàng để : dâng hương, dâng trà, dâng rượu…và lễ bái (lạy) >.
Ngoài ra, phải nói đến Hát Bộ (có người gọi Hát Bội) để cúng Thần, thông thường Ông Hương Cả trong làng là người đứng đầu chủ xướng lễ cúng Đình và là người có thực quyền hơn hết, cho nên mỗi lần có gánh hát về hát cúng Đình, Ông Hương Cả chính là người Cầm Chầu để đánh những hồi trống chầu thưởng phạt cho nghệ sĩ, bởi vì Ông Hương Cả là bực thâm nho lại rất rành tuồng tích, kể cả cách dặm mặt và các câu hát tuồng tích của các nghệ sĩ, cho nên Ông Hương Cả cầm chầu để khen thưởng hoặc bắt lỗi các đào kép trong lúc trình diễn, vì các nghệ sĩ không thuộc tuồng hát cương, cho nên không thể bắt một người nào đó đến cầm chầu mà không rành tuồng tích.
Thời xưa, các nghệ sĩ nào được Ông Hương Cả đánh nhiều hồi trống chầu, thì sau khi hát xong, sẽ được Ban Hội Tề (*) thưởng phẩm vật tặng riêng cho cá nhân nghệ sĩ đó.
Còn trái lại, các nghệ sĩ nào bị Ông Hương Cả đánh Khắc là gõ bên vành trống kêu cắc cắc thì các nghệ sĩ đó bị Ông Hương Cả phạt vì hát sai, hát cương, để nghệ sĩ biết thân mà hát lại cho đúng và nghệ sĩ nào bị đánh khắc nhiều lần, sau khi hát xong sẽ bị Ban Hội Tề cùng Ông Bầu đoàn hát quở phạt. Đó là, luật lệ thưởng phạt công minh của người Cầm Chầu đối với nghệ sĩ.
Mặc dù, Ông Hương Cả là người có thực quyền ở trong làng, nhưng những hồi trống chầu đôi khi cũng không hài lòng hết mọi người, cho nên cũng bị chê trách như thường.
Vì thế, trong dân gian mới có câu :
Ở đời có bốn cái ngu,

Làm mai, lãnh nợ gác cu, cầm chầu.

(*) Được biết, thời xưa Ban Hội Tề trong làng có 12 vị Hương Chức như sau : Hương Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Bộ, Hương Quản, Hương Thân, Hương Hào, Xã Trưởng là người có bổn phận giữ con dấu để thâu thuế Điền, thuế Thân trong làng và Chánh Lục Bộ là người có bổn phận giữ Sổ Bộ Đời như : Khai Sanh, Khai Tử, Hôn Thú …)
Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc
Được biết, niên lịch cổ truyền Á Đông đã xuất hiện từ đời Hoàng Đế bên Tàu, 2637 trước Thiên Chúa năm 61.
Còn đối với : Đêm Nam Canh, Ngày Sáu Khắc như thế nào ?.
Chúng ta để ý sẽ thấy : Ngày tính Khắc, Đêm tính Canh, cho nên chúng ta đã từng nghe thấy như sau :
Canh Một dọn cửa, dọn nhà
Canh Hai dệt cửi, canh Ba Đi nằm…
Hoặc là : Nửa đêm giờ Tý canh Ba
Theo thiển nghĩ, chúng ta thấy câu :
Nửa đêm giờ Tý canh Ba
thì chúng ta có thể đoán được chữ nửa đêm (tức khoảng 12 giờ đêm hoặc 0 giờ), còn giờ Tý canh Ba (tức khoảng 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng). Bởi vì, các bậc tiền nhân dùng 12 con vật cầm tinh tuợng trưng tức12 con Giáp, để phân chia bảng Giờ trong một ngày có 24 giờ như sau :

Bảng giờ  trong 1 ngày cûa 12 con giáp
 
Gi


Thi Gian

Gi


Thi Gian
Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng
Ngọ
Từ 11 giờ đến 13 giờ trưa
Sửu
Từ 1 giờ  đến 3 giờ sáng
Mùi
Từ 13 giờ đến15 giờ xế trưa
Dần
Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng
Thân
Từ 15 giờ đến 17 giờ chiều
Mão
Từ 5 giờ đến 7 giờ sáng
Dậu
Từ 17 giờ đến 19 giờ tối
Thìn
Từ 7 giờ đến 9 giờ sáng
Tuất
Từ 19 giờ đến 21 giờ tối
Tỵ
Từ 9 giờ đến 11 giờ sáng
Hợi
 Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya
Căn cứ sự phân chia giờ ở trên, chúng ta thấy :
a)- Ban ngày dài được 14 giờ, còn ban đêm dài được 10 giờ và thấy được giờ Tý canh Ba, từ đó chúng ta tính được bảng 5 Canh như sau :
Tên Canh
Thi Gian
Canh 1
Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất
Canh 2
Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi
Canh 3
Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý
Canh 4
Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu
Canh 5
Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần
Do vậy, nếu chúng ta đem so sánh Canh với giờ, thì có hai giờ bằng một Canh và nếu đem so sánh bảng Giờ trong một ngày của 12 con Giáp ở trước sẽ thấy đúng.
b)- Mỗi ban ngày dài 14 giờ, đươc chia cho 6 khắc như bảng sau đây :
Tên Khắc
Thời Gian
Tên  Khắc
Thời Gian
    Khắc 1
Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng
Khắc 4
Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa
    Khắc 2Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40  sáng
Khắc 5
Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều
    Khắc 3
Từ 9 giờ 40 đến12 giờ trưa

Khắc 6
Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối
Như vậy, nếu chúng ta đem so sánh Khắc với Giờ, thì có 2 giờ 20 phút bằng 1 Khắc. Bởi vì, ban ngày dài 14 giờ, đem chia đều cho 6 Khắc, thì đuợc 140 phút, tức là 2 giờ 20 phút.
Thế nên, chúng ta thường thấy câu : Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc là quả đúng vậy.
Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ(Trich dẫn từ trang 60 đến trang 70 quyển Tử-vi & Địa-Lý Thực-hành của Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ
Vĩnh Bảo sưu tầm 17/2/2013


Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

HẠT CHIA TRONG TRỊ BỆNH BÉO PHÌ



6 Hat Chia 2HẠT CHIA

TRONG TRỊ BỆNH 

BÉO PHÌ

Nhiều người sử dụng hạt Chia đã giảm được cholesterol, triglycerides, đường trong máu, giảm cân, làm nhỏ bụng, và nhuận trường. Kết quả rất tốt. Gần đây Hạt Chia cũng đuợc phổ biến trên chương trình Oprah bởi BS tim mạch Mehmet Oz và BS Andrew Weil chuyên về tuổi thọ cũng khen ngợi hạt Chia là một môn thuốc rất tốt để phòng những chứng bệnh nan y hiện nay đang lan tràn ở Mỹ.
Vậy thì Chia là gì ?
Chia seed là một loại thảo mộc đã đuợc nguời Aztec, Maya thuần hóa từ cả ngàn năm về truớc và đem trồng làm thực phẩm dành riêng cho các chiến sĩ ra trận hoặc phải đi làm công tác ở xa. Chia có tên khoa học là Salvia Hispaniola thuộc loại Lamiaceae tức cùng loại với các loại thảo mộc dùng làm gia vị như loại húng quế, bạc hà (mint). Hạt Chia rất nhỏ trông nhu các hạt mè hoặc hạt é (basil). Loại húng quế (Ocimum basilicum) cũng đuợc dùng trong nuớc uống tại các nuớc Đông Nam Á tức là nuớc hạt é (basil seed).
6 Hat Chia 1Những thí nghiệm sơ khởi cho thấy là hạt Chia khi đuợc pha với nuớc thì có thể nở lớn gấp 12 lần và tạo nên một lớp gel mềm do chất xơ hoà tan (soluble fiber). Nhờ lớp gel ,chất đuờng trong bao tử đuợc thấm chậm và đều hơn nên trị số glycemic index thấp giúp tránh đuợc bệnh tiểu đuờng.
Nhờ chất gel nên việc biến duỡng của chất đuờng điều hòa hơn và giúp cho việc điều trị bệnh tiểu đuờng tốt hơn và tránh đuợc nạn mập phi. Nhiều nguời sau khi uống một ly nuớc pha 1 muỗng lớn hạt Chia thì không bị đói cả nửa ngày.
Một lợi điểm của hạt Chia là dễ sử dụng. Chỉ cần pha 1 muỗng lớn với nuớc cam, chanh hay sữa đậu nành rồi để lâu khỏang 30 phút thì hạt sẽ nở ra trông giống nhu nuớc hạt é [Hiện nay chưa có khảo cứu về công dụng của nuớc hạt é nhung có lẽ cũng có một vài lợi điểm giống như hạt Chia]. Có rất nhiều cách để dùng hạt Chia như rắc trên sà-làch, rắc trên thực phẩm cho trẻ em, pha với yogurt, sherbet hay với bánh ngọt, bánh mì.. (theo BS Trường Xuân)
Yên Huỳnh post 
Vĩnh Bảo sưu tầm 15/2/2013