Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

Gia vị cay trong thức ăn đem lại lợi ích ngoài sức mong đợi

Gia vị cay trong thức ăn đem lại lợi ích ngoài sức mong đợi

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao mọi người yêu thích một thứ ăn vào có vẻ khó chịu, còn khiến chảy cả nước mắt, nước mũi? 
Hóa ra, sự yêu thích này mang đến những điều tuyệt vời cho cơ thể bạn. Trong khi capsaicin – hóa chất gây cảm giác nóng, chảy nước mắt – là một chất kích thích, gia vị tăng cường sức khỏe tốt và có thể làm nhiều điều từ kiểm soát cơn đau tới giảm cân.
Hãy tìm hiểu về những lợi ích bạn sẽ thu được khi ăn đồ cay nóng nhé.

Lợi ích thứ 1: Thêm hương vị không thêm năng lượng (calories)

Nếu bạn quan tâm đến cân nặng, có vẻ như tất cả các thức ăn ngon, nhiều hương vị cần hạn chế. Nhưng điều đó không cần thiết.
Nước sốt nóng là một hương vị bổ sung tuyệt vời cho mọi thứ – patê, trứng, thịt và thậm chí rau – nhưng nó không tăng thêm năng lượng.

Lợi ích thứ 2: Xóa tan mọi tắc nghẽn

Gia vị làm nước mũi chảy và thật tuyệt vời khi đầu bạn lạnh và tắc nghẽn do xoang.
Nếu bạn bị ngạt mũi, hãy thêm một chút gia vị vào bữa ăn và đầu bạn sẽ thông suốt ngay. Đó là vì capsaicin không chỉ làm sạch xoang mà còn làm xoang tăng sức đề kháng. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng hóa chất này cũng có thể làm giảm nhiễm trùng xoang. Chỉ có điều bạn sẽ phải dùng khăn giấy do chảy nước mũi.

Lợi ích 3: Thúc đẩy sự trao đổi chất

Nước sốt nóng rất tốt để kích thích sự trao đổi chất. Nước sốt không chỉ chứa capsaicin mà còn nhiều vitamin C là một chất thúc chuyển hóa năng lượng.
Thêm một chút nước sốt nóng vào trứng tráng giúp sự trao đổi chất của bạn trở nên mạnh hơn trong phần ngày còn lại.

Lợi ích 4: Giữ huyết áp khỏe mạnh

Capsaicin là toàn bộ bí mật cải thiện sức khỏe và một trong số đó là khả năng làm giảm huyết áp.
Huyết áp cao có thể dẫn đến tất cả các biến chứng nghiêm trọng và nước sốt nóng là một cách làm huyết áp của bạn xuống.
Nó có vẻ ngược lại với trực giác khi nghĩ thức ăn nóng làm cho vị giác của bạn kích thích mạnh sẽ gây tăng huyết áp nhưng một nghiên cứu đã chỉ ra rằng capsaincin kích thích tiết N2O trong máu làm hạ huyết áp.

Lợi ích 5: Chất chống oxi hóa.

Mỗi loại hạt tiêu có sự pha trộn các chất chống oxy hóa của riêng nó nhưng tất cả có một vài đặc tính tuyệt vời. Ví dụ, hạt tiêu đỏ làm chậm lại quá trình phát triển của khối u và có thể ức chế một số loại bệnh ung thư. Hạt tiêu Chipotle rất tốt cho mắt của bạn và bảo vệ chống lại sự thoái hóa điểm vàng và đục thủy tinh thể.

Lợi ích 6: Bảo vệ tuyến tiền liệt

Capsaicin đã cho thấy có thể ngăn chặn sự phát triển các tế bào ung thư ở tuyến tiền liệt, đây thực sự là vấn đề lớn khi 14% đàn ông ở Mỹ mắc ung thư tuyến tiền liệt.
Hóa chất gia vị chứng minh có thể ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư ở hầu hết các giai đoạn.

Lợi ích 7: Giúp bạn ăn ít hơn

Khi bạn ăn một thứ cay bạn sẽ không thể cắn miếng lớn. Thay vào đó, bạn sẽ nhấm nháp một chút chậm hơn để không bị bỏng miệng.
Ăn chậm hơn sẽ giúp bạn thưởng thức món ăn và bạn sẽ nhận thấy bạn cảm thấy ít đói hơn và không cần ăn nhiều.

Lợi ích 8: Làm dịu cơn đau

Chắc chắn rằng khi lưỡi của bạn cảm thấy nóng, là lúc capsaincin gây cơn đau cho lưỡi. Nhưng nó cũng là thành phần chủ yếu trong rất nhiều các loại kem giảm đau tại chỗ. Nhiệt do hóa chất gây ra làm giảm đau và thư giãn cơ bắp.
Khi ăn cay, não bạn sẽ tiết ra endorphins và bạn sẽ cảm thấy thật tuyệt vời.

Lợi ích 9: Đặt bạn vào trạng thái tốt

Một điểm khác là endorphin rất tốt cho việc cải thiện tâm trạng. Cảm giác cay nóng đầu lưỡi nhưng sẽ khiến giảm lo lắng, căng thẳng, giúp tâm trạng vui vẻ hơn.

Lợi ích 10: Giữ cho bạn trẻ trung

Một nghiên cứu chỉ ra rằng những người thường xuyên ăn thức ăn có nhiều gia vị sống lâu hơn người không ăn. Vì đồ cay nóng mang đến tất cả những lợi ích sức khỏe tuyệt vời và ảnh hưởng tích cực đến vi khuẩn đường ruột, dẫn tới giảm các bệnh tật như tiểu đường và tim.
Bạn có phải người yêu thích gia vị không?
Hãy cho chúng tôi biết món ăn cay yêu thích của bạn bằng những ý kiến và chia sẻ những lợi ích sức khỏe bất ngờ với bất cứ ai yêu thích đồ cay nóng.
Theo littlethings
Ngọc Linh
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/12/2016

Phương pháp dưỡng sinh, ăn ít ‘ba trắng’, ăn nhiều ‘ba đen’

TP
Ăn quá nhiều đường, sẽ dẫn tới các bệnh như cao huyết áp, béo phì, ảnh hưởng tới chức năng gan..
an nhieu1
Ả Rập có một câu tục ngữ như sau: “Có sức khỏe sẽ có hy vọng, có hy vọng sẽ có tất cả.” Muốn được sống khỏe và trường thọ, trong ăn uống hằng ngày nên chú ý rất nhiều điều, biết tự giữ miệng, ăn đủ no, ăn đủ dinh dưỡng. Trong phương pháp dưỡng sinh, có một phương pháp: ăn ít “ba trắng”, ăn nhiều “ba đen”.
“ Ba trắng” ở đây là chỉ muối, đường, chất béo.
Ăn quá nhiều muối, sẽ dẫn tới huyết áp tăng cao, xơ cứng động mạch, còn làm tăng gánh nặng cho thận. Thông thường, mỗi ngày nên hấp thu 6 gram muối vào cơ thể là thích hợp. Đường là chất cơ bản cần thiết cho cơ thể, nhưng nếu hấp thu quá lượng cho phép vào cơ thể sẽ dễ dẫn tới các loại bệnh như cao huyết áp, béo phì, và làm tổn thương chức năng gan…
Khi nấu ăn, có thể nấu thành canh, sau đó thêm bột canh hoặc luộc lên rồi chấm nước chấm hoặc bột canh, như vậy vị ngọt, mặn chỉ còn ở bề mặt món ăn, vừa có thể thỏa mãn khẩu vị, lại không bị hấp thu quá nhiều muối, đường vào cơ thể.
Mỡ động vật, sẽ làm tăng xơ cứng động mạch, tăng cholesterol, không thể ăn quá nhiều, nhưng cũng không thể không ăn. Lượng dầu mỡ mỗi người mỗi ngày cần hấp thu là 25 -30 gram, tỉ lệ dầu thực vật và chất béo động vật thích hợp là 10:7.
“Ba đen” là nấm, mộc nhĩ đen, gạo đen.
an nhieu2
Gạo đen tức gạo nếp cẩm là gạo bên ngoài có màu đen như mực, nhưng hàm lượng dinh dưỡng rất phong phú
Nấm có thể chống ung thư kháng lão hóa, nhất là nấm hương, có tác dụng loại bỏ cholesterol, có thể làm giảm mỡ máu, cholesterol trong huyết thanh, ngăn ngừa loãng xương. Về cách làm, cách tốt nhất là kết hợp “xanh với đen” nghĩa là kết hợp xào nấm với rau.
Mộc nhĩ đen là chất chống đông tự nhiên, có tác dụng bổ máu, hoạt huyết, phòng ngừa bệnh tim, mạch vành và xơ vữa động mạch hiệu quả, nhưng được khuyến cáo chỉ nên ăn khoảng hai lần một tuần.
Gạo nếp cẩm còn được gọi với các tên gọi mỹ miều “Trân châu đen” và “vua của các loại gạo trên thế giới”, đặc biệt thích hợp sử dụng cho những người già mỏi lưng, đau đầu gối, tứ chi yếu ớt, ngoài ra gạo còn được gọi là “dược mễ “ (loại gạo thần dược), khi nấu cháo có hương thơm, mềm, bóng mượt, dễ tiêu hóa và hấp thu, còn có tác dụng bồi bổ rất tốt.
Theo Secretchina
Kiên Định biên dịch
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/12/2016 

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

Loại rau kỳ diệu chữa 3 chứng bệnh cao máu, mỡ, đường ai cũng nên biết

Mật ong dưỡng âm, quế bổ dương, phối hợp hai vị, kết quả thật kỳ diệu

Hỗn hợp mật ong và quế ẩn chứa nhiều công dụng kỳ diệu
Hỗn hợp mật ong và quế ẩn chứa nhiều công dụng kỳ diệu
Theo đông y, mật ong và quế đều là những phương thuốc hiệu quả để trị bệnh, chúng lại rẻ tiền và dễ kiếm nên được nhiều người ưa dùng. Nhưng ít ai biết khi phối hợp hai loại vị này sẽ cho ra kết quả rất bất ngờ.
Dưới đây là một số lợi ích tuyệt vời từ hỗn hợp mật ong và quế:
Ngăn ngừa lão hóa
Các gốc tự do (chất oxy hóa) tấn công và tiêu diệt các tế bào trong cơ thể, nguyên nhân dẫn đến lão hóa sớm và bệnh tật. Chất chống oxy hóa trung hòa các gốc tự do sẽ làm chậm quá trình lão hóa.
Mật ong có chứa phenol, các enzym, flavonoids và các axit hữu cơ, các chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mật ong sẫm màu hơn , như mật ong kiều mạch rất giàu các hợp chất này.
Trong khi đó, quế chứa polyphenol, cũng là chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Quế là một trong 26 loại gia vị chứa các chất chống oxy hóa hữu hiệu.
Cải thiện chức năng tim mạch
Mật ong và quế còn giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch, được báo cáo là nguyên nhân phổ biến gây tử vong trên toàn thế giới hiện nay.
Mật ong làm tăng lưu lượng máu đến tim, do đó làm giãn nở các động mạch. Mật ong cũng chứa chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa các cục máu đông, nguyên nhân dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ.
Quế được chứng minh có thể làm giảm cholesterol xấu (hình thành mảng xơ vữa trên thành động mạch) và làm tăng lượng cholesterol tốt trong cơ thể chúng ta.
Chính vì vậy, hãy thêm một vài thìa quế vào hũ mật ong rồi trộn đều. Ăn thường xuyên cùng với một miếng bánh mì hoặc chiếc bánh gạo cho bữa sáng để bảo vệ hệ tim mạch của bạn.
Chống nhiễm khuẩn
Mật ong và quế đều có tác dụng kháng khuẩn, vì vậy, bạn có thể sử dụng hỗn hợp này không chỉ khi bị cảm lạnh mà còn để chống lại các bệnh truyền nhiễm như nhiễm trùng thận hoặc bàng quang.
Mật ong vốn được xem là một loại kháng sinh tự nhiên, từ lâu đã được sử dụng để khử trùng vết thương. Mật ong chứa protein defensin-1 và enzym glucose oxidase, có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn.
Quế cũng có tính kháng khuẩn, chống viêm, kháng nấm và các tác nhân gây hại khác. Quế chứa aldehyde cinnamic, giúp tăng hương thơm cho các sản phẩm như khử mùi, món ăn, nước xịt phòng…
Hỗ trợ giảm cân
Mật ong và quế không phải là sản phẩm giảm cân. Tuy nhiên, chúng có thể giúp bạn giảm cân nhanh chóng nếu mục đích của bạn là có một cơ thể mảnh mai và sẵn sàng kết hợp cùng các bài tập và ăn uống đúng cách.
Thay vì dùng đường và đồ ngọt, hãy dùng mật ong. Tiêu thụ lượng mật ong vừa phải sẽ giúp giảm lượng calo trong chế độ ăn của bạn. Hơn nữa, đường tinh luyện sẽ gây tăng lượng đường trong máu và sau đó làm giảm lượng đường huyết đột ngột. Sự thay đổi về nồng độ đường trong máu sẽ gây hại cho sức khỏe của bạn. Dùng mật ong sẽ giúp cơ thể từ từ hấp thụ và ngăn ngừa tình trạng bất ổn về lượng đường trong máu của bạn.
Quế làm giảm lượng đường trong máu và tăng sự nhạy cảm với insulin (hormone giúp các tế bào cơ thể hấp thu glucose và dùng glucose biến thành năng lượng), đồng nghĩa tăng sự trao đổi chất cho cơ thể bạn. Do đó, quế giúp cơ thể tăng tốc độ trao đổi chất và chuyển đổi glucose thành năng lượng chứ không phải thành chất béo.
Uống một ly nước với 1 muỗng cà phê mật ong và ½ muỗng canh quế 30 phút trước khi ăn sáng hoặc 30 phút trước khi đi ngủ, bạn sẽ có được kết quả bất ngờ.
Giúp giảm lượng đường trong máu
Đường huyết cao có thể gây ra nhiều bệnh và bệnh tiểu đường là một trong những căn bệnh liên quan. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, mật ong có thể giúp giảm lượng đường trong máu. Chỉ có 17% mật ong là nước, phần còn lại chủ yếu là fructose và glucose. Chúng có thể dễ dàng được cơ thể hấp thụ và không gây đột biến lượng đường trong máu. Vì vậy, bệnh nhân tiểu đường có thể ăn mật ong.
Quế cũng giúp làm giảm lượng đường trong máu. Dĩ nhiên, quế không phải là một loại thuốc nhưng là thực phẩm bổ sung vô cùng hiệu quả.
Khi chọn mật ong, hãy chọn lựa địa chỉ đáng tin cậy và kiểm tra độ tinh khiết của nó. Hãy dùng mật ong nguyên chất, không được lọc và tiệt trùng để có hiệu quả tốt nhất. Lưu ý không dùng mật ong cho trẻ dưới 2 tuổi để tránh ngộ độc. Mua quế thay vì bột quế vì sẽ dễ dàng phân biệt được được quế chất lượng hơn là quế bị pha thêm tạp chất.
Lưu ý
Mật ong và quế mặc dù là hai vị thuốc quý trong y học cổ truyền, dùng phối hợp có thể hỗ trợ điều trị một số bệnh, tuy nhiên chúng cũng có nhiều chống chỉ định: mật ong nhuận trường nên không dùng cho người có thai; vì có chỉ số đường cao nên không thích hợp với người bệnh tiểu đường. Quế đại nhiệt nên không dùng được cho người âm hư dương thịnh, người cao huyết áp, người đang bị viêm nhiễm cấp tính. Do đó, người bệnh cần hết sức cảnh giác khi áp dụng bài thuốc này. Không nên vì những lời phóng đại thuốc quý, thần kỳ, trị bá bệnh… mà tuỳ tiện sử dụng.
Việc phối hợp bài thuốc này với các loại thuốc đang dùng cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị. Quế đã tán hoặc xay nhuyễn nên giữ trong lọ đậy kín và chỉ dùng trong vòng vài tuần để tránh giảm chất lượng. Không nên chứa mật ong trong đồ đựng bằng kim loại để tránh mật ong biến chất do tác dụng với kim loại.
Thanh Long tổng hợp
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2016

Mật ong dưỡng âm, quế bổ dương, phối hợp hai vị, kết quả thật kỳ diệu

Hỗn hợp mật ong và quế ẩn chứa nhiều công dụng kỳ diệu
Hỗn hợp mật ong và quế ẩn chứa nhiều công dụng kỳ diệu
Theo đông y, mật ong và quế đều là những phương thuốc hiệu quả để trị bệnh, chúng lại rẻ tiền và dễ kiếm nên được nhiều người ưa dùng. Nhưng ít ai biết khi phối hợp hai loại vị này sẽ cho ra kết quả rất bất ngờ.
Dưới đây là một số lợi ích tuyệt vời từ hỗn hợp mật ong và quế:
Ngăn ngừa lão hóa
Các gốc tự do (chất oxy hóa) tấn công và tiêu diệt các tế bào trong cơ thể, nguyên nhân dẫn đến lão hóa sớm và bệnh tật. Chất chống oxy hóa trung hòa các gốc tự do sẽ làm chậm quá trình lão hóa.
Mật ong có chứa phenol, các enzym, flavonoids và các axit hữu cơ, các chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mật ong sẫm màu hơn , như mật ong kiều mạch rất giàu các hợp chất này.
Trong khi đó, quế chứa polyphenol, cũng là chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Quế là một trong 26 loại gia vị chứa các chất chống oxy hóa hữu hiệu.
Cải thiện chức năng tim mạch
Mật ong và quế còn giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch, được báo cáo là nguyên nhân phổ biến gây tử vong trên toàn thế giới hiện nay.
Mật ong làm tăng lưu lượng máu đến tim, do đó làm giãn nở các động mạch. Mật ong cũng chứa chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa các cục máu đông, nguyên nhân dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ.
Quế được chứng minh có thể làm giảm cholesterol xấu (hình thành mảng xơ vữa trên thành động mạch) và làm tăng lượng cholesterol tốt trong cơ thể chúng ta.
Chính vì vậy, hãy thêm một vài thìa quế vào hũ mật ong rồi trộn đều. Ăn thường xuyên cùng với một miếng bánh mì hoặc chiếc bánh gạo cho bữa sáng để bảo vệ hệ tim mạch của bạn.
Chống nhiễm khuẩn
Mật ong và quế đều có tác dụng kháng khuẩn, vì vậy, bạn có thể sử dụng hỗn hợp này không chỉ khi bị cảm lạnh mà còn để chống lại các bệnh truyền nhiễm như nhiễm trùng thận hoặc bàng quang.
Mật ong vốn được xem là một loại kháng sinh tự nhiên, từ lâu đã được sử dụng để khử trùng vết thương. Mật ong chứa protein defensin-1 và enzym glucose oxidase, có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn.
Quế cũng có tính kháng khuẩn, chống viêm, kháng nấm và các tác nhân gây hại khác. Quế chứa aldehyde cinnamic, giúp tăng hương thơm cho các sản phẩm như khử mùi, món ăn, nước xịt phòng…
Hỗ trợ giảm cân
Mật ong và quế không phải là sản phẩm giảm cân. Tuy nhiên, chúng có thể giúp bạn giảm cân nhanh chóng nếu mục đích của bạn là có một cơ thể mảnh mai và sẵn sàng kết hợp cùng các bài tập và ăn uống đúng cách.
Thay vì dùng đường và đồ ngọt, hãy dùng mật ong. Tiêu thụ lượng mật ong vừa phải sẽ giúp giảm lượng calo trong chế độ ăn của bạn. Hơn nữa, đường tinh luyện sẽ gây tăng lượng đường trong máu và sau đó làm giảm lượng đường huyết đột ngột. Sự thay đổi về nồng độ đường trong máu sẽ gây hại cho sức khỏe của bạn. Dùng mật ong sẽ giúp cơ thể từ từ hấp thụ và ngăn ngừa tình trạng bất ổn về lượng đường trong máu của bạn.
Quế làm giảm lượng đường trong máu và tăng sự nhạy cảm với insulin (hormone giúp các tế bào cơ thể hấp thu glucose và dùng glucose biến thành năng lượng), đồng nghĩa tăng sự trao đổi chất cho cơ thể bạn. Do đó, quế giúp cơ thể tăng tốc độ trao đổi chất và chuyển đổi glucose thành năng lượng chứ không phải thành chất béo.
Uống một ly nước với 1 muỗng cà phê mật ong và ½ muỗng canh quế 30 phút trước khi ăn sáng hoặc 30 phút trước khi đi ngủ, bạn sẽ có được kết quả bất ngờ.
Giúp giảm lượng đường trong máu
Đường huyết cao có thể gây ra nhiều bệnh và bệnh tiểu đường là một trong những căn bệnh liên quan. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, mật ong có thể giúp giảm lượng đường trong máu. Chỉ có 17% mật ong là nước, phần còn lại chủ yếu là fructose và glucose. Chúng có thể dễ dàng được cơ thể hấp thụ và không gây đột biến lượng đường trong máu. Vì vậy, bệnh nhân tiểu đường có thể ăn mật ong.
Quế cũng giúp làm giảm lượng đường trong máu. Dĩ nhiên, quế không phải là một loại thuốc nhưng là thực phẩm bổ sung vô cùng hiệu quả.
Khi chọn mật ong, hãy chọn lựa địa chỉ đáng tin cậy và kiểm tra độ tinh khiết của nó. Hãy dùng mật ong nguyên chất, không được lọc và tiệt trùng để có hiệu quả tốt nhất. Lưu ý không dùng mật ong cho trẻ dưới 2 tuổi để tránh ngộ độc. Mua quế thay vì bột quế vì sẽ dễ dàng phân biệt được được quế chất lượng hơn là quế bị pha thêm tạp chất.
Lưu ý
Mật ong và quế mặc dù là hai vị thuốc quý trong y học cổ truyền, dùng phối hợp có thể hỗ trợ điều trị một số bệnh, tuy nhiên chúng cũng có nhiều chống chỉ định: mật ong nhuận trường nên không dùng cho người có thai; vì có chỉ số đường cao nên không thích hợp với người bệnh tiểu đường. Quế đại nhiệt nên không dùng được cho người âm hư dương thịnh, người cao huyết áp, người đang bị viêm nhiễm cấp tính. Do đó, người bệnh cần hết sức cảnh giác khi áp dụng bài thuốc này. Không nên vì những lời phóng đại thuốc quý, thần kỳ, trị bá bệnh… mà tuỳ tiện sử dụng.
Việc phối hợp bài thuốc này với các loại thuốc đang dùng cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị. Quế đã tán hoặc xay nhuyễn nên giữ trong lọ đậy kín và chỉ dùng trong vòng vài tuần để tránh giảm chất lượng. Không nên chứa mật ong trong đồ đựng bằng kim loại để tránh mật ong biến chất do tác dụng với kim loại.
Thanh Long tổng hợp
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/12/2016

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Tìm hiểu về Asen trong thực phẩm dưới góc độ khoa học

Tìm hiểu về Asen trong thực phẩm dưới góc độ khoa học

VIAM - Các kết quả của rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Asen hữu cơ được đào thải ra khỏi cơ thể nhanh và ít độc tính hơn nhiều so với Asen vô cơ. Vì vậy, cần có thông tin cụ thể về Asen hữu cơ hay vô cơ trong từng loại thực phẩm.

Asen có trong thực phẩm như thế nào?
Đối với những người bình thường (nghĩa là không bị phơi nhiễm nghề nghiệp với Asen hoặc uống nước nhiễm độc Asen), Asen đi vào cơ thể chủ yếu qua thực phẩm [3, 4, 5]. Hải sản là một trong nguồn thực phẩm chứa Asen phổ biến. Đầu thế kỉ 20, các nhà khoa học đã tìm thấy Asen trong các sinh vật biển [6]. Nồng độ Asen dao động tùy thuộc vào loại thực phẩm, điều kiện nuôi trồng (loại đất, nước, sử dụng thuốc trừ sâu có Asen..) và phương pháp chế biến thực phẩm [3].
Phần lớn những số liệu quan sát chỉ báo cáo chỉ số Asen toàn phần (tAS) mà không phân biệt hàm lượng các loại Asen khác nhau, mặc dù Asen vô cơ và hữu cơ thường tồn tại lẫn lộn trong thực phẩm[2]. Thực phẩm trên cạn thường chứa tổng lượng Asen thấp hơn 0,02 mg Asen/kg trọng lượng [7]. Ngoại lệ, thực vật có thể tích tụ Asen qua hấp thụ dinh dưỡng từ đất (VD: cây lúa,..) [8] hoặc hấp thụ khi Asen trong không khí lắng đọng trên lá (VD: trà…) [9]. Ngũ cốc, đặc biệt gạo và các sản phẩm từ gạo có hàm lượng Asen vô cơ tự nhiên cao nhất với 0,1-0,4 mg Asen/kg trọng lượng khô [2,10,11]. Tỉ lệ Asen vô cơ chia cho Asen toàn phần trong gạo từ 10-93%, gạo lứt thường có lượng Asen vô cơ cao hơn gạo trắng, cho thấy lượng Asen có liên quan đến thành phần cám gạo [12, 13]. Gạo cũng chứa lượng nhỏ Asen hữu cơ chẳng hạn dimethylarsenate (DMA) [14, 15].  
Mặc dù cá và hải sản là nhóm thực phẩm có lượng Asen toàn phần cao hơn, tuy nhiên lượng Asen vô cơ lại ở mức thấp [2, 16]. Đôi khi có ngoại lệ, ví dụ một số loại rong biển bao gồm hijiki  (Hizikia  fusiforme) có hàm lượng Asen vô cơ cực kì cao (arsenate >60mg/kg) [11]. Họ sò chẳng hạn như vẹm xanh (Mytilus edulis) cũng có hàm lượng Asen vô cơ tương đối cao từ 0,001đến 4,5 mg Asen/kg [17].
Trong khi sinh vật trên cạn thường chứa Asen dạng vô cơ, hầu hết Asen trong sinh vật biển là Asen hữu cơ ở mức từ 1 đến 100 mg Asen/kg trọng lượng [2]. Dưới đây là những dạng Asen hữu cơ phổ biến trong sinh vật biển:
  • Arsenobetaine (AB) – một trong những Asen hữu cơ,  tìm thấy trong tôm hùm năm 1977 – là hợp chất của Asen hữu cơ phổ biến nhất trong sinh vật biển [18]. Sinh vật nước ngọt cũng chứa AB nhưng ở mức thấp hơn nhiều (< 0.1 mg Asen/kg trọng lượng khô) [1]. AB cũng được tìm thấy ở một số thực phẩm trên cạn như nấm [19] và gia cầm, có thể do trong thức ăn chăn nuôi hoặc chất tăng trưởng có chứa hải sản [20, 21].
  • Arsenosugar (Asen hữu cơ) là hợp chất Asen chính trong rong biển  (2-50  mg  Asen/kg  trọng lượng khô) và trong động vật ăn rong biển, chẳng hạn vẹm thường chứa 0,9-3,4 mg Asen/kg trọng lượng khô [22]. Arsenosugars được xem là sản phẩm biến đổi sinh học từ Asen vô cơ trong quá trình rong biển chuyển hóa dinh dưỡng.
  • Arsenolipid là arsen hữu cơ được báo cáo trong dầu gan cá tuyết và cá ốt vảy, cá ngừ [23-26].
  • Các loại Asen hữu cơ khác có nồng độ thấp hơn ở sinh vật biển bao gồm trimethylarsoniopropionate  (TMAP),  arsenocholine  (AC),  methylarsonate  (MA), dimethylarsinate  (DMA),  trimethylarsine  oxide  (TMAO), and  tetramethylarsonium  ion (TETRA) [1, 2].
Chuyển hóa Asen trong thực phẩm
Các loại thực phẩm khác nhau và tương tác giữa chúng khi chế biến, tiêu hóa ảnh hưởng đến hấp thụ hợp chất Asen trong cơ thể. Ngoài ra, hợp chất Asen tan trong nước dễ hấp thụ hơn hợp chất Asen tan trong dầu [2].
Các nghiên cứu ban đầu về hấp thụ và đào thải hợp chất Asen trong hải sản (chủ yếu là AB), cho thấy  các chất này dễ hấp thụ và đào thải nhanh chóng [6, 27, 28]:
  • Gần đây, một nghiên cứu về đồng vị của AB cho thấy quá trình đào thải chất này nhanh và gần như hoàn toàn, chỉ 1% còn lại trong cơ thể 24 ngày sau khi tiêu hóa [29].
  • Một nghiên cứu thực nghiệm trên người tình nguyện cho thấy cả hai hợp chất Asen hữu cơ là MA (methylarsenate) và DMA dễ dàng hấp thụ qua đường tiêu hóa và được đào thải 75% qua nước tiểu sau 4 ngày [30].
  • Tại một nghiên cứu trên khác, arsenosugar hầu như được hấp thụ hoàn toàn (>80 %) [31], tuy nhiên thay đổi tùy từng người [32].
  • Một nghiên cứu chuyển hóa arsenolipid ở những người tình nguyện viên cho thấy chất này dễ dàng hấp thu và chuyển thành hợp chất Asen tan trong nước; 90% được đào thải qua nước tiểu trong 66 giờ [33].
Cơ chế và độc tính của hợp chất Asen
Mặc dù qua nhiều năm nghiên cứu, cơ chế chính xác về độc tính của Asen vẫn chưa được làm rõ, lý do chính vì Asen phải trải qua các chuyển hóa trao đổi chất phức tạp trong cơ thể và chúng tương tác với các đại phân tử trong và ngoài tế bào.
Asen vô cơ, MA (methylarsenate) và DMA (dimethylarsenate) đều ức chế hô hấp của ty lạp thể dẫn đến hình thành các chất oxy phản ứng (ROS) có thể dẫn đến đột biến AND, vì vậy góp phần tiến triển ung thư và làm chết tế bào [34]. Hấp thụ Asen vô  cơ với liều cấp tính có thể dẫn đến suy đa cơ quan và tử vong. Tiêu hóa Asen vô cơ mãn tính trong thời gian dài (ví dụ nước uống nhiễm Asen) có liên quan đến rất nhiều vấn đề sức khỏe chẳng hạn tổn thương da, ung thư phổi, bàng quang, thận và da, có hại trong quá trình phát triển ở trẻ, độc thần kinh, bệnh tim mạch, chuyển hóa glucose bất thường và tiểu đường [2]
Trong khi đó, AB (Arsenobetaine), một Asen hữu cơ phổ biến, được xem như chất không độc tính. Bên cạnh đó, các hợp chất Asen hữu cơ như TMAO, TETRA và AC (arsenocholine) được coi như không có độc tính mặc dù hợp chất TETRA có tính độc cao hơn AB [4, 36]
Ảnh hưởng từ việc lưu trữ và chế biến thực phẩm
Khâu chuẩn bị thức ăn có thể ảnh hưởng đến nồng độ và sự biến đổi các hợp chất Asen.
Đối với Asen vô cơ: Vo gạo, rửa thức ăn trước khi nấu và nấu với nhiều nước (nước không nhiễm Asen) sẽ làm giảm lượng Asen vô cơ [38-40]
Đối với Asen hữu cơ: Khi đun nấu hải sản ở nhiệt độ cao  (trên 150°C), như nướng vỉ hay nướng lò, AB trong thịt sống biến đổi và sản xuất một lượng nhỏ TETRA. [42-45]. Tuy nhiên, nấu với nước (hầm, luộc hay hấp) không làm giảm lượng AB [154]. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra AB có thể bị phân hủy trong môi trường oxy hóa [46].
Những kết luận được tham khảo cho đến thời điểm hiện nay
Asen hữu cơ được đào thải ra khỏi cơ thể nhanh và ít độc tính hơn nhiều so với Asen vô cơ. Asen hữu cơ được xem là không có nguy cơ đối với sức khoẻ. 
Phần lớn các kết luận về ảnh hưởng đến sức khoẻ được cho là từ phơi nhiễm Asen vô cơ. Theo báo cáo của Ủy ban liên hợp các chuyên gia của WHO/FAO về phụ gia thực phẩm, (JECFA – 2010), phơi nhiễm dinh dưỡng đối với Asen vô cơ ở Mỹ và nhiều nước châu Âu và châu Á dao động từ 0,1 đến 3.0 μg/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày và thực trạng phơi nhiễm đối với Asen vô cơ trong thực phẩm nhìn chung cũng ở mức thấp. [47]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]  Borak  J,  Hosgood  HD.  Seafood  arsenic:  Implications  for  human  risk  assessment. Regul Toxicol Pharmacol 2007; 47 (2):204-212.
[2]  EFSA.  Scientific  Opinion  on  Arsenic  in  Food.  EFSA  Panel  on  Contaminants  in  the Food Chain (CONTAM), 2009.
[3] WHO. Arsenic and arsenic compounds. World Health Organization, Geneva, 2001.
[4]  Hughes  M,  Beck  BD,  Chen  Y,  Lewis  AS,  Thomas  DJ.  Arsenic  Exposure  and Toxicology: A Historical Perspective. Toxicol Sci 2011; 123 (2):305-332.
[5] Agency for Toxic Substances and Disease Registry. Toxicological profile for arsenic. U.S. Department of Health and Human Services, Public Health Service, Atlanta, GA, 2007.
[6]  Chapman  A.  On  the  presence  of  compounds  of  arsenic  in  marine  crustaceans  and shellfish. Analyst 1926; 51:548-563.
[7] Kuehnelt D, Goessler W. Organoarsenic compounds in the terrestrial environment, in:  Craig  P  J  (Ed.)  Organometallic  compounds  in  the  environme nt,  Wiley,  Chichester, 2003, pp. 223-275.
[8]  Abedin  MJ,  Cresser  MS,  Meharg  AA,  Feldmann  J,  Cotter-Howells  J.  Arsenic accumulation  and  metabolism  in  rice  (Oryza  sativa  L.).  Environ  Sci  Technol  2002; 36:962-968.
[9]  Yuan  C,  Gao  E,  He  B,  Jiang  G.  Arsenic  species  and  leaching  characters  in  tea (Camellia sinensis). Food Chem Toxicol 2007; 45 (12):2381-2389.
[10] Sun GX, Williams PN, Carey AM, Zhu YG, Deacon C, Raab A, Feldmann J, Islam RM, Meharg  AA.  Inorganic  arsenic  in  rice bran  and  its  products  are  an  order  of  magnitude higher than in bulk grain. Environ Sci Tech 2008; 42 (19):7542-7546.
[11] Meharg AA, Williams PN, Adomako E, Lawgali YY, Deacon C, Villada A, Cambell RCJ, Sun  G,  Zhu  YG,  Feldmann  J,  Raab  A,  Zhao  FJ,  Islam  R,  Hossain  S,  Yanai  J.  Geographical variation  in  total  and  inorganic  arsenic  content  of  polished  (white)  rice.  Environ  Sci Technol 2009; 43 (5):1612-1617.
[12]  Torres-Escribano  S,  Leal  M,  Velez  D,  Montoro  R.  Total  and  inorganic  arsenic concentrations in rice sold in Spain, effect of cooking,and risk assessments. Environ Sci Tech 2008; 42:3867-3872.
[13] Meharg AA, Lombi E, Williams PN, Scheckel KG, Feldmann J, Raab A, Zhu Y, Islam R. Speciation  and  localization  of  arsenic  in  white  and  brown  rice  grains.  Environ  Sci Technol 2008; 42:1051-1057.
 [14] Alava P, Du Laing  G, Tack F, De Ryck T, VanDe Wiele T. Westernized diets lower arsenic  astrointestinal  bioaccessibility  but  increase  microbial  arsenic  speciation changes in the colon. Chemosphere 2014; 119C:757-762.
[15]  Rahman  MA,  Rahman  MM,  Reichman  SM,  Lim  RP,  Naidu  R.  Arsenic  speciation  in Australian-grown and imported rice on sale in Australia: implications for human health risk. J Agric Food Chem 2014; 62:6016-6024.
[16]  Uneyama  C,  Toda  M,  Yamamoto  M,  Morikawa  K.  Arsenic  in  various  foods: cumulative data. Food Addit Contam 2007; 24:447-534.
[17] Sloth JJ, Julshamn K. Survey of total and inorganic arsenic content in blue mussels (Mytilus edulis L.) from Norwegian fiords: revelation of unusual high levels of inorganic arsenic. J Agric Food Chem 2008; 56:1269-1273.
[18] Edmonds JS, Francesconi KA. Methylated arsenic from marine fauna. Nature 1977;265:436.
[19] Smith PG, Koch I, Reimer KJ. Arsenic speciation analysis of cultivated white button mushrooms  (Agaricus  bisporus)  using  high-performance  liquid  chromatographyinductively  coupled  plasma  mass  spectrometry,  and  X-ray  absorption  spectroscopy.Environ Sci Technol 2007; 41:6947-6954.
[20]  Lindberg  A-L,  Goessler  W,  Gurzau  E,  Koppova  K,  Rudnai  P,  Kumar  R,  Fletcher  T, Leonardi  G,  Slotova  K,  Gheorghiu  E,  Vahter  M.  Arsenic  exposure  in  Hungary,  Romania and Slovakia. J Environ Monit 2006; 8:203-208.
[21] Silbergeld E, Nachman K. The environmental and public health risks associated with arsenical use in animal feeds. Environmental Challenges in the Pacific Basin. Ann New York Acad Sci 2008;
[22]  Gueguen M,  Amiard  J-C,  Arnich  N,  Badot  P-M,  Claisse  D,  Guerin  T,  Vernoux  J-P.Shellfish  and  residual  chemical  contaminants:  hazards,  monitoring,  and  health  risk assessment along French coasts. Rev Environ Contam Toxicol 2011; 213:55-111.
[23]  Taleshi  MS,  Edmonds JS,  Goessler  W,  Ruiz-Chancho  MJ,  Raber  G,  Jensen  KB,Francesconi  KA.  Arsenic-containing  lipids  are  natural  constituents  of  sashimi  tuna. Environ Sci Tech 2010; 44:1478-1483.
[24]  Taleshi  MS,  Jensen  KB,  Raber  G,  Edmonds  JS,  Gunnlaugsdottir  H,  Francesconi  KA .Arsenic-containing  hydrocarbons:  natural  compounds  in  oil  from  the  fish  capelin, Mallotus villosus. Chem Comm 2008; 4706-4707.
[25] Rumpler A, Edmonds JS, Katsu M, Jensen KB, Goessler W, Raber G, Gunnlaugsdottir H, Francesconi KA. Arsenic-containing long-chain fatty acids in cod-liver oil: a result of biosynthetic infidelity? Angew Chem Int Ed Eng 2008; 47:2665-2667
[26] Schmeisser E, Rumpler A, Kollroser M, Rechberger G, Goessler W, Francesconi KA.Arsenic fatty acids are human urinary metabolites of arsenolipids present in cod liver.Angew Chem Int Ed Engl 2005; 45:150-154.
[27]  Freeman  HC,  Uthe  JF,  Fleming  RB,  Odense  PH,  Ackman  RG,  Landry  G,  Musial  C. Clearance  of  arsenic  ingested  by  man  from  arsenic  contaminated  fish.  Bull  Environ Contam Toxicol 1979; 22:224-229.
[28] Tam GK, Charbonneau SM, Bryce F, Sandi E. Excretion of a single oral dose of fish arsenic in man. Bull Environ Contam Toxicol 1982; 28:669-673.
[29] Brown RM, Newton D, Pickford CJ, Sherlock JC. Human metabolism of arsenobetaine ingested with fish. Hum Exp Toxicol 1990; 9:41-46.
[30]  Buchet  JP,  Lauwerys  R,  Roels  H.  Comparison  of  the  urinary  excretion  of  arsenic metabolites  after  a  single  oral  dose  of  sodium  arsenite,  monomethylarsonate,  or dimethylarsinate in man. Int Arch Occup Environ Health 1981; 48:71-79.
[31]  Francesconi  KA,  Tanggaar  R,  McKenzie  CJ,  Goessler  W.  Arsenic  metabolites  in human urine after ingestion of an arsenosugar. Clin Chem 2002; 48:92-101.
[32] Raml R, Raber G, Rumpler A, Bauernhofer T, Goessler W, Francesconi KA. Individual variability  in  the  human  metabolism  of  an  arsenic-containing  carbohydrate,  2',3'-dihydroxypropyl  5-deoxy-5-dimethylarsinoyl-beta-D-riboside,  a  naturally  occurring arsenical in seafood. Chem Res Toxicol 2009; 22:1534-1540.
[33]  Schmeisser  E,  Goessler  W,  Francesconi  KA.  Human  metabolism  of  arsenolipids present in cod liver. Anal Bioanal Chem 2006; 385:367-376.
[34]  Fowler  BA,  Chou  CSJ,  Jones  RL,  Sullivan  DW,  Chen  C-J.  Arsenic,  in:  Nordberg  G, Fowler  B,  Nordberg  M  (Eds.)  Handbook  of  the  Toxicology  of  Metals,  Academic  Press, Burlington, USA, 2014, pp. 581-624.
[35] International  Agency  for  Research  on  Cancer (IARC).  A  review  of human carcinogens.  Part  C:  Arsenic,  metals,  fibres  and  dusts/  IARC  Working  Group  on  the Evaluation of Carcinogenic Risks to Humans (2009: Lyon, France). Lyon, France, 2012.
[36]  Shiomi  K,  Horiguchi  Y,  Kaise  T.  Acute  toxicity  and  rapid  excretion  in  urine of tetramethylarsonium salts found in some marine animals. Appl Organomet Chem 1988; 385-389.
[37] Sele V, Sloth JJ, Lundebye A-K, Larsen EH, Berntssen MHG, Amlund H. Arsenolipids in  marine  oils  and  fats:  a  review  of  occurrence,  chemistry  and  future  resea rch  needs. Food Chem 2012; 133:618-630.
[38]  Diaz  OP,  Leyton  I,  Munoz  O,  Nunez N,  Devesa  V,  Suner  MA,  Velez  D,  Montoro  R. Contribution  of  water,  bread,  and  vegetables  (raw  and  cooked)  to  dietary  intake  of inorganic arsenic in a rural village of Northern Chile. J Agric Food Chem 2004; 52:1773 -1779.
[39] Raab A, Baskaran C, Feldmann J, Meharg AA. Cooking rice in a high water to rice ratio reduces inorganic arsenic content. J Environ Monit 2009; 11:41-44.
[40]  Sengupta  M,  Hossain  M,  Mukherjee  A,  Ahamed  S,  Das  B,  Nayak  B,  Pal  A, Chakraborti  D.  Arsenic  burden  of  cooked  rice:  Traditional  and  modern  methods.  Food Chem Toxicol 2006; 44:1823-1829.
[41]  Devesa  V,  Velez  D,  Montoro  R.  Effect  of  thermal  treatments  on  arsenic  species contents in food. Food Chem Toxicol 2008; 46:1-8.
[42] Dahl L, Molin M, Amlund H, Meltzer HM, Julshamn K, Alexander J, Sloth JJ. Stability of  arsenic  compounds  in  seafood  samples  during  processing  and  storage  by  freezing. Food Chemistry 2010; 123 (3):720-727.
[43]  Devesa  V,  Suner  MA,  Algora  S,  Velez  D,  Montoro  R,  Jalon M,  Urieta  I,  Macho ML. Organoarsenical species contents in cooked seafood. J Agric Food Chem 2005; 53:8813-8819.
[44] Devesa V, Martinez A, Suner MA, Velez D, Almela C, Montoro R. Effect of cooking temperatures on chemical changes in species of organic arsenic in seafood. J Agric Food Chem 2001; 49:2272-2276.
[45] Hanaoka K, Goessler W, Ohno H, Irgolic KJ, Kaise T. Formation of toxic arsenical in roasted muscles of marine animals. Appl Organomet Chem 2001; 61–66.
[46] Murer AJ, Abildtrup A, Poulsen OM, Christensen JM. Effect of seafood consumption on  the  urinary  level  of  total  hydride-generating  arsenic  compounds.  Instability  of arsenobetaine and arsenocholine. Analyst 1992; 117:677-680.
[47] FAO/WHO. Joint FAO/WHO Expert Commitee on Food Additives. Seventy-second meeting, Rome, 16–25 February 2010. Rome, 2010.
Ts.Bs.Trương Hồng Sơn và Ban Biên tập (tổng hợp từ các tạp chí khoa học)
Vĩnh Bảo sưu tầm 26/10/2016