Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021

CHUYỆN ĐẰNG SAU NHỮNG ĐỒNG TIỀN HÀN QUỐC

CHUYỆN ĐẰNG SAU NHỮNG ĐỒNG TIỀN HÀN QUỐC

Trên tờ 5.000 won là hình của Yulgok Yi I, một nhà Nho lỗi lạc của Hàn Quốc cùng với hình ảnh ngôi nhà Ojukheon nơi ông được sinh ra, hiện là một điểm du lịch thuộc tỉnh Gang won.


Chỉ quan sát và tìm hiểu hình ảnh trên các tờ tiền hay đồng xu won bạn cũng biết được ít nhiều về lịch sử, văn hóa và một số điểm du lịch Hàn Quốc.

Học giả thời Joseon trên tờ 1.000 won

Tờ tiền phổ biến nhất tại Hàn Quốc có mệnh giá 1.000 won với màu xanh nhạt bắt mắt. Mặt trên của tờ tiền có những bông hoa, ngôi nhà hanok và chân dung một người đàn ông: học giả Toegye Yi Hwang dưới triều Joseon.

Hình ảnh học giả Yi Hwang và hoa maehwa trên tờ tiền 1,000 won. Ảnh: english.visitkorea

Ông là một trong những người có đóng góp quan trọng với học viện Khổng Tử Dosanseowon. Ngoài ra, Yi Hwang cũng là hiệu trưởng của Myeongnyundang, trung tâm giáo dục quan trọng dưới triều đại Jeseon với hình ảnh được in sau chân dung ông.

Sinh thời, Yi Hwang rất thích loài hoa maehwa và khi ông qua đời, Yi Hwang muốn con trai mình tiếp tục chăm sóc loài hoa này. Đó là lí do hình ảnh những bông hoa maehwa xuất hiện trên tờ 1.000 won. Đặc biệt hơn, mặt sau tờ tiền là bức tranh phong cảnh với công trình tiền thân của Dosanseodang, nơi mà Yi Hwang nghỉ hưu để chuyên tâm học hành. Đây là công trình lâu đời nhất trong quần thể học viện Khổng Tử Dosanseowon.

Tình mẫu tử trên tờ 5.000 won và 50.000 won

Đằng sau hai tờ tiền này là một bí mật mà khó có thể tìm thấy ở bất cứ tờ tiền nào trên thế giới. Điểm đặc biệt ở đây là hai nhân vật khắc họa trên tờ 5.000 won và 50.000 won là hai mẹ con: Shin Saimdang và con trai Yulgok Yi I.

Hai mẹ con Shin Saimdang và Yulgok Yi I trên tờ tiền 5,000 và 50,000 won. Ảnh: english.visitkorea

Trên tờ tiền 5.000 won, đằng sau chân dung của Yulgok Yi là bức hình ngôi nhà Ojukheon, nơi sinh ra của bà Shin Saimdang và cũng là nơi bà đã hạ sinh Yulgok YI vào năm 1536. Giờ đây, ngôi nhà trên đã thành điểm tham quan du lịch nổi tiếng tại Hàn Quốc.

Đặc biệt hơn cả, bức tranh phong cảnh trên cả hai tờ tiền này đều được vẽ bởi Shin Saimdang. Bà không chỉ nổi tiếng là người vợ hiền, người mẹ thông minh mà còn là một họa sĩ tài năng. Trong số đó, bức tranh dây nho trên tờ 50.000 won là tác phẩm nổi tiếng nhất của bà.

Vị vua nhân từ trên tờ 10.000 won

Tờ 10.000 won của Hàn Quốc có màu xanh lá cây và khắc họa hình ảnh của vị vua thứ 4 triều Joseon, vua Sejong. Ông là một trong những vị vua nhân từ và thương dân nhất trong lịch sử Hàn Quốc.

Vua Jesong và tác phẩm của mình trên tờ tiền 10,000 won. Ảnh: english.visitkorea

Trong khi các tờ tiền khác thể hiện hình ảnh những công trình quan trọng với cuộc đời nhân vật, tờ 10.000 won lại khắc họa một trong những đóng góp to lớn nhất của vua Sejong. Mặt trước tờ tiền với hình ảnh một đoạn trích từ tác phẩm hoàn chỉnh đầu tiên bằng tiếng Hàn Quốc, Yongbieocheonga với ý nghĩa “những bài ca của rồng bay tới thiên đường”. Tác phẩm này đã được viết bởi vua Sejong và đang được lưu trữ tại bảo tàng hoàng gia quốc gia Hàn Quốc.

Câu chuyện trên những đồng xu

Không chỉ với tiền giấy, các đồng xu cũng có in hình nhiều công trình hay biểu tượng có ý nghĩa với người dân Hàn Quốc.

Đồng tiền xu Hàn Quốc khắc họa hình ảnh một vị tướng hải quân. Ảnh: blog.continentalcurrency

Với đồng 10 won, bạn có thể chiêm ngưỡng Dabotap – ngôi chùa đá nổi tiếng tại Hàn Quốc. Đồng 50 won có in hình bông lúa chín và đồng xu 100 won thể hiện hình ảnh tướng Yi Sun shin, người đã một mình đánh bại quân xâm lược Nhật Bản trong chiến tranh Imjin. Trên đồng xu 500 won – đồng xu với mệnh giá lớn nhất là hình ảnh một chú hạc, biểu trưng cho các học giả Hàn Quốc.


Và với đồng xu 1 won có giá trị nhỏ nhất, bạn có thể nhìn thấy hình quốc hoa của Hàn Quốc, hoa hồng Sharon.

Theo Vnexpress


Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

PHIẾM SỬU PHÚ

PHIẾM SỬU PHÚ

 

Gia đình trâu
Tranh của Hoạ sĩ Tô Chiêm
                     CAO BỒI GIÀ
Nhân năm con trâu, bác Cao Bồi Già gửi cho TCTP bài "Phiếm Sửu phú", xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.

Pháo nổ, nêu vươn;

Mai khoe, đào nở.

Canh Tý kỷ, mai sớm về vườn;

Tân Sửu niên,  đêm nay chạm ngõ.

Tiện dịp hội dịp hè, tống Tý vương cuốn gói, tán lan man sự thế sự đời;

Nhân ngày tư ngày tết, mừng sửu Đế lên ngôi, phiếm nhăng nhít chuyện Trâu chuyện Ngọ .

Nhóm Mười Hai, Cọp ngậm ngùi xếp kế, bọn rồng rắn ắt phải kính danh;

Hàng Thập Nhị, Trâu đĩnh đạc ngôi nhì,  lũ gấu beo dám đâu thất thố.

Ngôi Bắc Đẩu, trên cao rạng lấp lánh song hành;

 

Chòm Kim ngưu, giữa trời thẳm long lanh sáng tỏ.

Trâu biểu trưng sức khỏe khang cường;

Ngưu thể hiện tinh thần thượng võ.

Là đầu cơ nghiệp của bác nông gia;

Là bạn dân cày từ thời thượng cổ.

Khi nhớn phổng, đời gọi  bác trâu ngưu;

Thuở bé choai, người gọi em nghé ọ .

 

Vốn bản dòng:

Đức cần mẫn, biết giống  nào so;

Tính hiền lành, đố loài chi đọ.

Quanh năm vất vả cầy sâu ;

Khắp nẻo nhọc nhằn kéo cố.

Chốn bình nguyên lội bùn ruộng, cày đất bừa nương;

Miền sơn cước ngược dốc đèo, thồ than kéo gỗ .

Lúc nhọc nhằn, xay mía - ép dầu - vỡ đất, thu đổi áo cơm   ;

Khi vất vả,  kéo xe  - cõng củi – thồ hàng, đem ra phố chợ.

Vắt sức oằn vai cùng chủ, sương giá ruộng lầy;

Chung lưng đấu cật với người,  mưa sa nắng đổ.

Lười nhác như kia, nhã nhàn quá thể, ấy phần chó ưu ái toàn hưởng thịt xơi cơm ;

Siêng năng là thế, vất vả nhường bao, mà phận trâu thiệt thòi toàn nhai rơm gặm cỏ.

 

Phải chăng vì:

Vốn phần  cao trọng   mệnh thần, Xưa tuân lệnh  Ngọc Đế, xuống trần để cấy lúa gieo ngô;

vì tội nhác lười hành ẩu, nay phải khoác phận  ngưu, hạ thế   mà nhai rơm dọn cỏ. (1)

lập công đái tội,  mong được độ hồi đáo thiên cung;

vắt sức cùng người, hòng cố công trả đền thóc đỗ .

 

Mồng 10 tháng 8:

Người ùn ùn đến hội chọi trâu;

Kẻ thương lượng ngả tiền bắt độ .

Nghề chơi cũng lắm công phu;

Nghiệp chọi cũng đầy thách đố  .

Tuyển sừng dài, giỏi luyện, giỏi chăm;

 Chọn nòi tốt, khéo nuôi, khéo vỗ .

hai chiến ngưu, mắt gườm mắt, giở thế giương oai;

Đôi võ sĩ, sừng đấu sừng, tung đòn tấn bộ .

Oai hùng  tợ thể chúa sư;

Uy dũng nào thua tướng hổ .

Bên tám lạng, dũng mãnh lao sừng như thể thuẫn xuyên;

Phía nửa cân,  can trường trả miếng tuồng như búa bổ.

Say máu vì đối thủ cuồng hung ;

Sôi gan bởi biển người la ó .

 

Thương ôi, huynh đệ tương tàn:

Thịt nát ruột phơi;

Đầu toang máu đổ.

Thằng thảm bại, kìa xương hứng thớt dao;

Đứa vinh quang, cũng thịt bày mâm cỗ. (2)

Bớ người thế lòng hung;

Sao nhân sinh dạ nỡ?

 

Ôi thơ mộng làm sao:

Người ra ngoạn cảnh cho tường ;

Ai bảo chăn trâu là khổ ?

Vi vu tiếng sáo, giữa đồng thả hồn phách lơ lửng trên mây;

Vắt vẻo mình trâu, xế bóng dìu cánh diều lộng lồng treo gió .

Lúc đông hừng, trải đồng cỏ, bày bố trận trắng ngọn cờ lau;

Khi chiều ngả, đáo cô thôn, thúc gọi bầy vang trời tiếng mõ.

 

Kiếp thân ngưu:

Sống đà hiến sức vô bờ ;

Chết lại cho người vô số…

Bì da thợ bịt trống đóng giày;

Gạc sừng người tiện cờ gióng mõ.

Cao da ngưu thuốc giúp thai an;

Chót sừng trâu vị ngăn huyết thổ.

Cốt trâu ấy thanh ngọt nước dùng;

Thịt nghé chà sênh sang mâm cỗ.

om lá lồm, ngon tuyệt cú, vừa thử nếm đà sướng tê môi;

Xào lá lốt,  thơm tận cùng, chưa kịp nhai, đà trôi tuột cổ.

nghé sốt vang, say lúy túy, mợ ngon mồm cạn mấy lít bia hơi ;

Ngưu nhúng mẻ, nhậu đã đời, ông sướng lưỡi hết vài be rượu bổ.

Nghé hầm khế chua, thôi chẳng kể, e  bụng người ùng ục ruột sôi;

Trâu xào xả ớt, ôi mới nghe, đã miệng ai dầm dề rãi nhỏ.

 

Văn học dân gian:

Tục ngữ nhiều câu  thâm thúy chí kim;;

Ca dao lắm lẽ thâm sâu tự cổ.:

Không bóng trâu bò;;

Hoang vu điền thổ..

Bởi …con cháu được ngày giỗ ông;

Nên …Trâu bò được hôm phá đỗ. (3)

thân nam tử: Trâu giỏi khiển, ruộng giỏi cày;

phận liễu đào: Trầu khéo têm, cau khéo bổ.(4)

Muốn được vợ lời khéo lời chiều;

Sợ mất trâu mắt dim mắt mở.

 

Tán chuyện Sửu, leo qua sự đời:

Chuyện đồng cỏ trâu buộc thù ghét ngưu ăn;

thói thế phàm, kẻ không tỵ ganh người có.(5)

Trâu già khoái gặm cỏ non;

Lão khọm  mãi mơ mèo mỡ.

Vẫn biết Trâu chậm khỏi uống nước trong;(6)

Thế nhưng miệng mau dễ buông lời lỡ .

Rởm đời nhiều kẻ vẫn đàn gẩy tai trâu; (7)

Ngông chơi lắm tay cũng Ngọc đeo cổ chó.

Lời truyền khẩu: Thật thà như thể lái trâu; (8)

Tiếng thở than: Ngây tin mới đâm vỡ nợ.

 

Buồn thay:

Ngưu chẳng rủa ngưu mặt ngựa đầu trâu;

Người lại mắng người hạng dê đồ chó.

Trâu chọi kê  có lúc sinh què;

Gà đá trâu bao lâu thì đổ? (9)

 

Năm mới năm me:

Hình cu nghé  khoe răng chiếm lĩnh trang bìa;

Ảnh bác trâu ngoác miệng tràn lan xóm ngõ.

Tống Thử Đế cuốn cờ, rác đóng thùng sạch sẽ, giờ đã điểm chuồn lẹ xa bay ;

Nghinh Sửu Vương chấp chính, ngai vào đít   đừng huênh hoang, cờ đến tay phất sao minh tỏ.

Đuổi lũ ngu lũ ngọng về vườn ;

Nhốt bọ nhũng bọn tham vào rọ.

Cho đất nước thăng hoa;

Cho nhân dân đỡ khổ.

Mong bốn mùa mưa thuận, thoát nhân họa lũ trôi;

Cầu một năm gió hòa,  chẳng thiên tai bão đổ.

Cho hoa trái um vườn;

Cho lúa ngô đầy khố.

Mong trăm họ an vui;

Chúc muôn người khang thọ.

Canh Tý phắn, điều xấu gió bay;

Tân Sửu sang, lòng người hoa nở.

Dịp hội dịp hè, phiếm linh tinh vớ vẩn, chín mười điều nghe lóm đông tây ;

Ngày xuân ngày tết,  bàn tếu táo tào lao,bảy ba chuyện nhặt chôm đây đó..

           

CAO BỒI GIÀ

Ghi chú:

(1): chuyện cổ tích kể trâu vốn là vị thần,được Ngọc Hoàng truyền sai xuống dương gian, để gieo hạt. Nhưng khi xuống thế, vị thần này đã gieo lộn túi hạt cỏ  trên vùng đất con người sinh sống, thay vì gieo nơi thú vật sinh sống. Hậu quả cỏ mọc tràn lan, con người kêu thấu Trời. Ngọc Hoàng đã nổi giận phạt vị thần này phải hóa kiếp thành trâu xuống trần dọn…cỏ.

 

(2): Sau trận đấu, trâu chiến thắng  hay bại trận cũng đều bị xẻ thịt để …khao quân ta!

(3): Từ câu ca dao: Trâu bò được ngày phá đỗ/Con cháu được ngày giỗ ông

(4): Từ câu ca dao: Trai thì cày ruộng khiển trâu/Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

(5): Từ câu tục ngữ: Trâu buộc ghét trâu ăn.

(6): Từ câu tục ngữ : Trâu chậm uống nước đục.

(7): Từ câu tục ngữ : Đàn gẩy tai trâu.

(8): Từ câu ca dao: Lái trâu, lái lợn, lái bò/Trong ba anh ấy, chớ nghe anh nào. Hoặc: Thật thà như thể lái trâu/Yêu nhau như thể nàng dâu mẹ chồng.

(9): Từ câu ca dao: Gà đá trâu bao lâu mới thắng/Trâu đá gà què cẳng con trâu
.

ĐÍT BỒ TRÔN VẠI ĂN HẠI CHỒNG CON

ĐÍT BỒ TRÔN VẠI ĂN HẠI CHỒNG CON


Mông Square Image
                    : ST
Hoàng Tuấn Công Một số hình ảnh, từ ngữ trong bài viết, có thể gây dị ứng cho những người cảm. You read balance before see. Trân trọng. Trong khá nhiều từ điển và tục ngữ Việt Nam mà chúng tôi có trong tay, duy nhất “ Từ điển tục ngữ Việt ” (Nguyễn Đức Dương-NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh-2010) thu thập và giải thích : “ Dít bồ kết, ăn hại chồng con . Dít mà to như cái bồ, (lỗ) trôn mà lớn như cái vại (là hai nét hay gặp ở đàn bà) chuyên ăn hại chồng con ”.






Tiếc rằng, tác giả “ Từ điển tiếng Việt ”, mới dừng ở mức diễn giải nội dung câu tục ngữ, chứ không giải thích tại sao dân gian lại nói như vậy. Other face, how to do not precision.
Chúng tôi không tìm thấy hình ảnh minh họa của cái bồ kết trong câu tục ngữ.
Nhưng về cơ bản, cái bồ lúa (đến gấp đôi lần) cũng giống
hình dạng cái bao đựng thức ăn của người Thái.
Ảnh: St

Hình dáng cái vại
Ảnh:ST
Kiểu mông "đít bồ trôn vại"
Ảnh: ST

Cụ thể, “đít” (trong “đít bồ”); “trôn” (trong “trôn vại”), đều chỉ cái “đít”, "mông", “mông đít”, "khu", "khu đít", "trái đít"..., (“khối thịt dày và chắc ở hai bên hậu môn; Ăn rồi cắp đít ra về, Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào-cd”-Từ điển tiếng Việt-Vietlex), chứ không phải “đít” chỉ cái “mông”, còn “trôn” lại là “(lỗ) trôn” (tức “lỗ đít”, “hậu môn” của người, như Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương giải thích).

Có lẽ, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương cho rằng, "(lỗ) trôn" lớn như cái vại", nên "ăn lắm, ỉa nhiều" ("ăn hại chồng con"). Nhưng, về hình tượng, không ai ví “(lỗ) trôn” to như cái vại. Vì trôn vại kín mà bằng, không hề có lỗ. Mặt khác, đây là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm “nhân tướng học dân gian”, cụ thể là “tướng mông” (đồn bộ tướng-臀部相), chứ không phải tướng “(lỗ) trôn” (to, nhỏ). Lỗ trôn đàn hồi, to nhỏ, giãn rộng hay đóng kín, còn tuỳ theo cơ chế hoạt động. Và nhất là không ai xem tướng qua quan sát “(lỗ) trôn” cả. Thế nên, ở dị bản thuộc mục chữ cái C, chính Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã giải thích: “Chân vò đít vại ăn hại chồng con: Chân mà to như cái vò, mông mà to như cái vại (là hai nét hay gặp ở những ả đàn bà chỉ giỏi ăn hại chồng con)”. Theo đó, “đít vại” hay “trôn vại” đều chỉ cái mông, cái đít, theo lối nói ngoa dụ của dân gian mà thôi[1].

 Trở lại với nội dung câu tục ngữ.

Người xưa tổng kết, “Đàn bà to mông, đàn ông to vai”. Đàn ông sức dài vai rộng, nên vai, lồng ngực phải vạm vỡ ; đàn bà đảm nhận thiên chức sinh đẻ, nên mông cần nở nang, khung xương chậu phải phát triển (phong nhũ, phì đồn-豐乳肥臀-Vú đầy, mông nở).
1.Mông vuông (phương hình); 2.Mông tròn (viên hình); 3.Mông trái tim (tâm hình); 4.Mông chữ V
Ảnh: ST

 Về “tướng mông” (chủ yếu) người ta chia làm ba loại:
1.Mông vuông (phương hình đồn-方形臀), còn gọi mông chữ H.
 2. Mông tròn (viên hình đồn-圓形臀), còn gọi mông chữ O.
 3. Mông trái tim (tâm hình đồn-心形臀), còn gọi mật đào đồn-蜜桃臀 (mông trái đào), hoặc mông chữ A.
 4. Mông chữ V.
Mông trái tim
Ảnh: ST 

Xét về mặt mỹ học và nhân tướng học:

-Kiểu “mông vuông”, trên dưới bằng nhau, đại cơ nhỏ; cơ phát triển về hai bên; “mông chữ V”, trên rộng dưới hẹp (phía trên mông rộng; dưới mông [phần trái đít] beo lại, chúm lại). Hai loại mông này nhìn xấu, không có đường nét gì, biểu hiện cơ mông hoặc khung xương chậu nói chung kém phát triển; mông to mà thẳng đuột (hầu như không phân biệt phần mông với eo lưng).



Mông vuông
"Mông vuông". Phía dưới của mông vuông, bằnglép, trông như "đít bồ, trôn vại"
Ảnh: ST

Xét hình dáng, thì bồ và vại cũng to thô, bằng phẳng, trùng trục từ trên xuống dưới đáy, không hề có dáng phình, cong (“Cháy nhà hàng phố, bình chân như vại”-tục ngữ). Thế nên, “đít bồ, trôn vại”, hay “chân vò, đít vại”, là kiểu mông to mà kém nở nang, không có đường nét, khi ngồi thì bằng, thẳng đuột, to thô như đít bồ, trôn vại. Câu tục ngữ “Cả vú to hông, cho không chẳng màng”, chính là chê tướng đàn bà “đít bồ trôn vại”, hông to bằng mông, sồ sề, cục mịch, lười vận động.
Mông tròn (còn gọi "mông chữ O") không xấu, nhưng cũng không đẹp
Ảnh: ST

-Kiểu “mông tròn”, cơ mông khá nở nang, phát triển săn chắc, hai “trái đít” tròn, ngắn, không sệ; mông phân biệt rõ ràng với phần eo lưng. Tuy nhiên, vì mông tròn nên phần chuyển tiếp giữa eo lưng và mông không thon, mà hơi gẫy, không xấu không đẹp. Có lẽ kiểu mông tròn nằm giữa "phân khúc" của mông vuông và mông trái đào.

-Đẹp nhất là kiểu “mông trái tim” (trông như hình trái tim lộn ngược, còn gọi mông trái đào), phía trên  (phần giáp eo lưng) hẹp, dưới rộng; khung xương chậu và cơ mông phát triển đầy đặn, nở nang, săn chắc; mông phân biệt với phần eo lưng bằng đường cong mềm mại. Dù Á hay Âu, xưa hay nay, đây cũng là kiểu mông mơ ước của nhiều phụ nữ.


Mông trái đào (còn gọi mông trái tim)
Ảnh: ST
Hình dáng màu sắc trái đào gợi sư liên tưởng đến mông
Ảnh: ST
Kiểu mông trái đào nở nang, khoẻ mạnh
Ảnh: ST

Sở dĩ “mông trái tim”, còn được gọi là “mật đào” 蜜桃 (quả đào ngọt, đào ăn quả), vì hình khối của trái đào, một bên cũng chia làm hai “múi” tròn căng, hồng hào, phơn phớt tơ mịn. Vẻ mơn mởn của “mông trái đào”, không chỉ là vẻ đẹp về hình thể, đường nét, màu sắc, mà còn biểu hiện một cơ thể khoẻ mạnh, khả năng sinh dục, tình dục dồi dào, đảm nhận tốt thiên chức làm mẹ, làm vợ nói chung của người phụ nữ. 


Mông "vuông đít bồ", "bằng trôn vại" (trái) và mông trái đào (phải).
Thẩm mĩ phụ thuộc vào con mắt mỗi người. Nhưng, có lẽ ít ai
khen kiểu "mông vuông", và chê kiểu "mông trái đào"

Ảnh: ST
Mông trái đào dù ở góc độ nào, thì cũng luôn tạo được hình khối thẩm mỹ.
                         Ảnh: ST



Thế nên, trong khi đàn bà “đít bồ, trôn vại” bị xếp vào diện “Cả vú to hông, cho không chẳng màng”, thì kiểu mông trái đào, mông trái tim, lại được dân gian đánh giá là “To mông rộng háng, đáng quan tiền”, “Những người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”; "Bổ củi xem thớ, lấy vợ xem hông/mông" (mông không nở không thể có “thắt đáy lưng ong”; mà đã thắt đáy lưng ong, thì mông thường nở nang).


Mông hình chữ V
Ảnh: ST


Đàn bà mông vuông, hoặc mông chữ V, khi ngồi, lưng và mông thành đường thẳng, phẳng tịt xuống, tựa như “đít bồ, trôn vại”; trong khi đàn bà mông trái đào khi ngồi, mông vẫn phân biệt với lưng bằng đường cong, căng hình trái đào tơ. 
Tướng mông nở nang, khi ngồi lộ rõ hai “múi đít” cong cong, dân gian còn gọi là “đít bọ ngựa” [đường lang đồn-螳螂臀], hoặc “đít vịt” [áp tử đồn-鴨子臀]. Tú Xương mô tả “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt”, chính là nói cái tướng “đít ngồi cong cong” đĩ thoã của bà đầm)[2]. Theo dân gian, đây cũng là tướng mắn đẻ, vì khung xương chậu phát triển, dồi dào sinh lực (“Đít ngồi cong cong, con đông như vịt”].
Kiểu mông trái đào biểu hiện khung xương chậu phát triển.
Ảnh: ST
Khung xương chậu của phụ nữ có mông hình trái đào
Ảnh: ST
Như vậy, n ếu câu tục ngữ  “Lưng chữ cụ, chữ tâm”  (mà chúng tôi từng giới thiệu với bạn đọc, trên báo Người Lao Động), nói về kinh nghiệm xem “tướng lưng” (tiền tướng-背相), “tướng vú” (nhũ tướng-乳相), thì câu “Đít bồ trôn vại ăn hại chồng con”, nhân tướng học dân gian lại tổng kết kinh nghiệm xem “tướng mông” (đồn tướng , hay đồn bộ tướng-臀部相; đồn = mông, đít). 
"Đít ngồi cong cong con đông như vịt" (tục ngữ Việt)
Người "Đít bồ trôn vại" khi ngồi không thể tạo dáng "cong" thế này
Ảnh: ST

Theo đó, “Đít bồ trôn vại, ăn hại chồng con”, ý chỉ đàn bà mông to, nhưng không nở nang, cơ mông kém phát triển, thẳng đuồn đuột, (to vuông kiểu đít bồ), trùng trục (to bằng như trôn vại), là tướng đàn bà lười biếng (siêng ăn, nhác làm)[3], “ăn hại chồng con” (chồng con không được nhờ). Vì sao lại như vậy? Vì dân gian cho rằng, đó là tướng thô vụng, lười vận động, không biết  lo liệu, vén khéo[4].

Kinh nghiệm “xem tướng mông” của dân gian, ngoài cái lý đơn giản "đã đẹp lại tốt, đã xấu lại xa", xét về khoa học, không phải không có cơ sở. Dĩ nhiên cũng không phải đúng trong mọi trường hợp, đặc biệt là trong cuộc sống hiện đại[5].
                                                             HTC/4/2018


  Chú thích:
[1] Như nhiều sách từ điển đã giảng: “trôn Đít, đáy, chỗ cuối cùng <> Quần thủng trôn. Trôn ốc. Trôn kim. Trôn quang” (Việt Nam tự điển-Hội Khai Trí Tiến Đức); “trôn • dt. Đít, phần dưới chót thân mình con người: Bàn trôn, lòn trôn, lỡ-trôn, mổng trôn” (Việt Nam tự điển-Lê Văn Đức).

[2]-“Đít bọ ngựa”, hay “đít vịt” cũng có khi được hiểu là kiểu mông cong mà "nặng”, của người thừa cân.

[3]-Theo cái nhìn của dân gian, tướng mông bằng là kiểu người sinh ra để “ăn không ngồi rồi”, lười vận động.

      [4] -Dị bản "Chân vò, đít vại ăn hại chồng chất", thể hiện tướng người đàn bà thô: bắp chân, thô sơ như kiểu dáng vò vò; while mông mông như cái vại.

[5] -Trong thực tế, nhiều người "đít bồ, trôn vại" rất giỏi giang, tháo lắp. Và ngày nay, bằng phương pháp luyện tập cơ mông (trung cơ 中 肌 và đại cơ 大 肌), người ta có thể cải thiện hình dáng của mông vuông, mông chữ V theo hướng giống mông và mông trái đào. Ngược lại, những người sở hữu mông kiểu, mông trái đào, nếu lười vận động, tích nhiều mỡ thừa, cũng sẽ không còn kiểu dáng thiên nhiên nữa, mà sệ, chảy gần như mông vuông.