Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc men. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc men. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

SÂM

SÂM

Nói đến sâm là phải nghĩ ngay tới nước Trung Hoa với vua Thần Nông. Đây là một nhân vật với nhiều huyền thoại, sống cách đây nhiều ngàn năm, vừa là một đấng minh quân vừa là một nhà nông kinh nghiệm, biết thêm về y lý trị bệnh. Nhà vua chỉ dẫn cho dân chúng về cách dùng dược thảo và đã viết một cuốn sách nói về cả trăm thứ cây thuốc mà ông đã khổ công đi đó đây để sưu tầm. Theo sách, thì vua Thần Nông là người đầu tiên đã nhận ra công dụng chữa bệnh của một loại rễ cây có hình dạng giống con người, mọc hoang trong rừng. Nhà vua đặt tên cho cây đó là Nhân Sâm.




Nhân sâm đã được coi như một dược thảo hàng đầu (Sâm, Nhung, Quế, Phụ) ở nhiều quốc gia Á châu như Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn, và ở Nga. Trong những thập niên vừa qua, nhân sâm bắt đầu được sử dụng ở các quốc gia Âu Mỹ và cũng được khoa học thực nghiệm nghiên cứu về công hiệu chữa bệnh của một thảo mộc mà nhiều triệu người đã và đang dùng, do kinh nghiệm truyền cho nhau. Nhiều nhà bào chế thuốc đã xếp sâm vào nhóm những chất có tác dụng thích nghi (adaptogen) đối với nhiều chức năng của cơ thể và coi sâm như một chất dùng thêm có khả năng tăng cường sinh lực, giảm căng thẳng, ngăn ngừa một số bệnh tật và làm chậm tiến trình lão suy.

Nguồn gốc

Nguyên thủy thì nhân sâm mọc hoang trên rừng núi, dưới bóng mát ở những nơi có khí hậu lạnh như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, miền Đông Liên Bang Sô Viết, Bắc Mỹ châu.

Người Trung Hoa được coi như dân tộc đầu tiên biết sử dụng sâm để trị các bệnh của tuổi già và họ giữ kín cho tới thế kỷ thứ 18 công dụng của sâm mới được các quốc gia Âu Mỹ biết tới. Thoạt đầu, các nhà thảo mộc Tây phương cũng không tin tưởng cho lắm vào công dụng của sâm như người Trung Hoa tả. Nhưng sau khi nhìn thấy tận mắt một số hiệu quả, thì họ tin theo.


Năm 1716, tu sĩ dòng Tên Petrus Jartoux truyền đạo ở miền Bắc Trung Hoa, viết một tài liệu cho hay sâm có thể mọc ở miệt rừng núi Gia Nã Đại vì môi trường giống nhau. Tu sĩ Lafitau ở Gia Nã Đại bèn cho người khai thác sâm hoang ở chung quanh vùng Montreal và xuất cảng sang Tầu để gây quỹ cho dòng tu. Cũng vào thế kỷ 18, một số nhà thám hiểm người Pháp thấy thổ dân Bắc Mỹ dùng một loại cây hoang để trị bệnh tiêu hóa, họ mang một ít về Âu châu để thử nghiệm và thấy công hiệu.

Các loại sâm

Theo American Botanical Council thì có ba loại sâm chính: sâm Á châu, sâm Mỹ châu và sâm Siberian.

1- Sâm Á châu:
Thường được gọi là nhân sâm, tên thực vật học là Panax ginseng C.A. Meyer. C.A. Meyer là tên nhà thảo mộc học đã nghiên cứu sâm đầu tiên vào năm 1842. Đây là loại sâm nổi tiếng của Trung Hoa, đã được coi là đứng đầu các vị thuốc bổ (sâm, nhung, quế, phụ), để tu bổ ngũ tạng, làm dịu cảm xúc, bớt náo động, loại trừ chất độc trong cơ thể, làm thị giác tinh tường, làm tăng trí nhớ và tinh thần minh mẫn và nếu dùng liên tục thì sẽ sống lâu. Panax do gốc Hy Lạp pan có nghĩa là tất cả, và alkos là chữa lành, tức là trị bá bệnh; còn ginseng theo nghĩa tượng hình Trung Hoa là “tinh túy của đất trong hình dạng người”.


Y học Á châu đã dùng nhân sâm từ nhiều ngàn năm. Tây phương biết đến nhân sâm là qua sự nhận xét và giới thiệu của một tu sĩ dòng tên Petre Jartoux vào khoảng năm 1714. Trong khi truyền giáo ở miền Bắc Trung Hoa, vị tu sĩ này thấy dân chúng dùng một loại rễ cây hoang để trị nhiều bệnh rất công hiệu, ông ta bèn viết một bài để giới thiệu với các thầy thuốc ở Âu châu. Từ đó, các nhà nghiên cứu ở Âu châu, Nhật Bản, Liên Xô, Hoa Kỳ đã để tâm nghiên cứu về loại dược thảo có hình người này.

Nhân sâm có thành phần hóa học như sau: hỗn hợp saponins, tinh dầu panaxen, phytosterol, tinh bột, đường, amino acid, acid phosphoric, vài sinh tố B1, B2 và vài khoáng chất. Hiện nay có khoảng 22 chất saponin được phân loại, gọi là ginsenosides hay panaxosides, là những dược liệu chính của sâm. Hóa chất này có công thức hóa học tương tự như loại kích thích tố mà cơ thể con người dùng để đối phó với căng thẳng của đời sống.

W.H Lewis cho hay chất triết của nhân sâm có tác dụng làm chậm sự phát triển của một vài tế bào u bướu, có vài tác dụng làm giảm đường trong máu. Nghiên cứu của V.W. Petkov và D. Staneva- Stoicheva ở Bulgarie cho hay nhân sâm có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giảm huyết áp, giảm đường trong máu, kích thích hô hấp, hỗ trợ tế bào thần kinh đáp ứng với stress, tăng hồng huyết cầu và huyết tố, giảm cholesterol. Ng và H.W. Yeung cho hay nhân sâm có công dụng làm giảm thời gian phản ứng với các kích thích thính, thị giác; tăng sự lanh lợi, tập trung trí thuệ; tăng phối hợp giữa thị giác và cử động. Họ cũng cho hay nhân sâm có công dụng như chất antioxidant chống lại một vài bệnh về gan, mắt, vữa xơ động mạch. S. Shibata, O. Tanaka và H. Saito cũng cho rằng sâm làm tăng sự bền bỉ, chịu dựng của cơ thể với căng thẳng các loại, có tác dụng chống kinh phong hạ nhiệt, tăng chức năng bao tử, chống viêm tế bào.


Bên Đức, chính quyền cho phép nhân sâm được mang nhãn hiệu bán như một thuốc bổ, tăng cường sinh lực khi bị suy nhược, mệt mỏi, khi kém tập trung, và trong thời kỳ phục sức sau bệnh hoạn. Dược thư Liên Xô xuất bản năm 1961 công nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong y học của Liên bang này.

Cho tới nay, đã có cả trăm nghiên cứu khoa học về công dụng của nhân sâm. Sự nghiên cứu này cần được tiến hành lâu dài và có hệ thống hơn nữa để có thể xác định giá trị chữa bệnh của loại dược thảo này.

2- Sâm Mỹ châu:

Sâm Mỹ châu được tu sĩ Joseph Francois Lafitau khám phá ra cách dây gần ba trăm năm, ở vùng Montreal, Gia Nã Đại, có tên khoa học là Panax quinquefolius. Vị tu sĩ này đã khai thác, xuất cảng rất nhiều sang Trung Hoa từ thế kỷ thứ 18.


Sâm Mỹ châu mọc hoang ở miền Đông Bắc Mỹ châu, từ Quebec, Ontario xuống Wisconsin, Minnesota, Florida, Alabama, Oklahoma. Không như sâm Á châu bị khai thác triệt để nên còn rất ít, sâm Mỹ châu hiện vẫn còn nhiều và được các quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại coi là cây hiếm quý cần được bảo vệ.

Sâm Mỹ châu đã được Abraham Whisman ở Virginia bắt đầu trồng từ năm 1870. Hiện nay Gia Nã Đại đứng hàng đầu trong việc trồng và xuất cảng sâm này. Nước Mỹ cũng xuất cảng tới 30% tổng số sâm Mỹ châu trên thế giới. Năm 1995, có tới hơn 700,000 kí sâm trồng và 150,000 kí sâm mọc hoang được xuất cảng từ Hoa Kỳ. Trung Hoa và Đại Hàn dẫn đầu trong việc xuất cảng sâm các loại trên thế giới.

Sâm Mỹ châu rất được dân chúng Trung Hoa ưa thích vì tính chất bổ âm (âm/dương) của nó, và ngọt dịu hơn sâm Á châu. Theo quan niệm Á châu, sự hài hòa giữa âm và dương trong vũ trụ và trong con người đưa tới sự ổn định môi trường và sự khỏe mạnh của con người. Sâm Á châu có nhiều dương tính, nóng, làm hưng phấn cơ thể, làm tăng cường sức lực. Ngược lại, sâm Mỹ châu có nhiều âm tính, lạnh, làm giảm căng thẳng, làm mạnh nội tạng.

Sâm Mỹ được thổ dân ở đây dùng để chữa chẩy máu cam, khó thở, tăng cường sự mầu mỡ sinh sản nữ giới, làm tăng trí tuệ, sức khỏe thể xác, chống mỏi mệt. Vợ một tù trưởng có thai kể cho chồng hay là trong giấc mơ ban đêm, thần nhân nói nếu muốn sanh không đau thì cứ ngậm một miếng củ sâm hoặc uống một chút nước lá sâm.

Sâm Mỹ châu đã được ghi vào sách the United States Pharmacopeia từ năm 1842 tới 1882. Sâm này cũng có hóa chất như nhân sâm đặc biệt là hỗn hợp gisenosides. Sâm, nói chung, vẫn chưa được hội nhập vào kỹ thuật trị liệu ở Hoa Kỳ, mặc dù rất nhiều người đang dùng dược thảo này. Lý do là chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về sâm Mỹ như nhân sâm, và có nhiều ý kiến khác nhau về sâm. Thực ra, công dụng của sâm thay đổi đôi chút với loại sâm, thời gian hái sâm, bộ phận cây sâm, cách pha chế, cách dùng và phân lượng dùng.


E.J Staba và S.E. Chen, trong “An Overview of Ginseng Chemistry, Pharmacology and Anti-tumor Effects” đã ghi nhận là với phân lượng nhỏ, sâm làm kích thích hệ thần kinh, nhưng phân lượng cao lại làm dịu; chống mệt mỏi, thích nghi được với các căng thẳng, chống nhăn da và làm tế bào da mau sinh sản; chống lại độc tính của chloroform, amphetamines; làm tăng trọng lượng của túi tinh dịch và nhiếp hộ tuyến, tăng tinh trùng; làm tăng kí với lượng nhỏ nhưng giảm kí với lượng lớn. Việc nghiên cứu công dụng của sâm ở Hoa kỳ còn mới mẻ và chưa hội nhập vào với phương pháp trị bệnh thực nghiệm. Theo một vài tác giả, cần có những quan tâm mạnh hơn nữa nhất là kết quả việc dùng sâm ở con người với lợi điểm cũng như tác dụng không tốt của sâm.

3- Sâm Siberian:

Tên thực vật học là Eletherococcus senticosus, sâm này có nhiều ở Đông Bắc Trung Hoa, kế cận với Nhật và Đại Hàn và miền Đông Nam nước Nga.

Tiến sĩ Stephen Fulder cho rằng đây không phải thuộc họ sâm nhưng được gọi như sâm vì nó tác dụng tương tự, đã được người Nga dùng thay thế cho nhân sâm quá đắt và khó kiếm. Hoạt chất của sâm là chất eleutherosides, có công dụng giống như ginsenosides của sâm Á châu hoặc sâm Mỹ châu.

I.Brekham, một chuyên gia người Nga về sâm, cho binh sĩ uống sâm chạy thi với nhóm khác uống thuốc lừa (placebo), thì nhóm dùng sâm chạy mau hơn và lâu hơn. Các nhà khoa học Nga xếp sâm vào nhóm thực vật làm tăng sức đề kháng không đặc biệt, giúp cơ thể có thể chịu đựng mệt mỏi, bệnh tật, tuổi già, làm việc cực nhọc, vượt qua được các bệnh thông thường như cảm lạnh.

Năm 1961, một hội nghị về sâm đã diễn ra ở Lenigrad, Liên Sô. Năm sau, sâm Siberian được chính quyền Sô Viết chấp thuận cho dân chúng dùng như loại thuốc bồi bổ sức khỏe, thích nghi với căng thẳng của đời sống và chữa các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm phế quản kinh niên, bệnh thần kinh tâm lý, vữa xơ động mạch máu.


Theo J. A. Duke và E.S. Ayensu trong Medicinal Plant of China, thì loại sâm này được dân chúng ở vùng Đông Bắc Hoa Lục dùng để chữa các bệnh phong khớp xương, viêm cuống phổi, bệnh tim, đồng thời nếu dùng liên tục, để tăng cường sức khỏe, làm ăn ngon miệng, giúp trí nhớ tốt, kéo dài tuổi thọ.

Chính quyền y tế Đức quốc cũng coi sâm Siberian có công dụng như nhân sâm để giúp cơ thể khỏe mạnh, giúp mau hồi phục sau bệnh hoạn cũng như gia tăng sự bền bỉ trong lao động trí óc, chân tay.

Theo nhiều nhà chuyên môn, sự khác biệt của ba loại sâm chính này như sau:

- Sâm Á châu có tính cách kích thích, làm nóng cơ thể, tăng cường sức khỏe, được dùng ở người lớn tuổi, người suy yếu tổng quát, người cần dùng sức lao động và sự bền bỉ .

- Sâm Mỹ có hàn tính, thoa dịu, thích hợp cho người hay năng động, nhưng cũng giúp cơ thể tăng cường dẻo dai, sức chịu đựng.

- Còn sâm Siberian thì dung hòa giữa hai loại trên, không ôn quá mà cũng không hàn quá, và có cùng đặc tính.

Ngoài ra còn các loại sâm khác như sâm Brazilian, sâm Angelica sinensis, sâm Acanthopanax sessiliflorus. Giáo sư Đỗ Tất Lợi, trong tác phẩm Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam còn kể thêm nhân sâm Việt Nam, Đảng sâm có ở quận Thượng Đảng, Trung Quốc, ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Việt Nam; sâm Bố Chính ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình Việt Nam; Thổ Cao Ly sâm, Sa sâm.

Trồng sâm

Sâm được trồng từ hạt giống của cây sâm khỏe, tốt đã mọc từ 6, 7 năm trở lên. Sâm không thể trồng như trồng lúa. Trồng sâm cần thời gian lâu để sâm mọc. Hạt giống sâm được chôn sâu dưới đất mầu mỡ, không có nước ứ đọng, dưới bóng mát. Bên Trung Hoa người ta dùng phân xanh và khô dầu để bón, tránh dùng phân bắc và nước tiểu. Âu Mỹ dùng phân hóa học và thuốc sát trùng để diệt nấm độc ăn hại sâm.


Cứ đến mùa Đông thân lá sâm héo tàn, nhưng khi Xuân đến, cây nẩy chồi từ củ sâm nằm sâu dưới đất. Khoảng 6, 7 năm sau đào sâm lấy củ. Củ sâm được chế biến, sấy khô rồi đóng hộp. Riêng những củ to thường được hấp trước khi sấy khô để giữ tinh túy của sâm. Sâm mọc hoang có khi lâu đời cả mấy chục năm trong rừng gỗ lớn nên rất đắt và quý. Nhưng số sâm mọc hoang mỗi ngày một khan hiếm vì nhiều người đi tìm lấy. Đa số sâm bán trên thị trường bây giờ là sâm trồng. Việc trồng sâm đã được nhiều quốc gia thực hiện, nên hiện nay trên thị trường có đủ loại sâm.

Phần chính làm thuốc của cây sâm là khúc củ sâm, mầu vàng sậm, có nhiều rễ nhánh nhỏ, nằm sâu dưới đất. Lá sâm có năm cánh, với một bông hoa nhỏ mầu xám lạt nằm ở cuống lá; thân cây gắn trên củ sâm nằm sâu dưới đất. Thân cây sâm thường héo chết vào mùa Đông, để rồi mọc trở lại từ củ sâm vào đầu mùa Xuân. Toàn cây cao độ 60 phân.

Lựa sâm

Trên thị trường có rất nhiều loại sâm, nhưng thường thấy nhất và nhiều người mua là hồng sâm và bạch sâm. Hồng sâm là những củ to, mập, dáng đẹp, giống hình người còn bạch sâm nhỏ hơn, trắng và khô. Sau khi đào, sâm được rửa sạch, phơi sấy, và đóng hộp: hồng sâm trong hộp gỗ, bạch sâm trong hộp giấy. Ngoài ra còn sâm bách chi (rễ phụ), nhân sâm tu với rễ nhỏ như râu tóc, sâm nhị hồng với rễ nhỏ hơn nữa mọc ngang từ rễ chính ra.

  • Sâm Mỹ thường được xuất cảng qua Á châu và rất được ưa chuộng. Còn ở Mỹ thì lại có nhiều sâm nhập cảng từ Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản. Nổi tiếng trên thế giới vẫn là sâm Đại Hàn và sâm Trung Hoa.
  • Sân càng to càng tốt vì sống lâu năm dưới đất, hút nhiều chất dinh dưỡng nên khỏe hơn.
  • Hồng sâm tốt hơn bạch sâm.
  • Sâm từ Đại Hàn là tốt nhất rồi dến sâm từ Trung Hoa rồi Nhật Bản.
  • Khi nếm, sâm tốt có vị hơi đắng nhưng ngọt dịu. Sâm mà không có vị gì là sâm không tốt.
  • Củ sâm tốt hơn râu và lá sâm.

Cách thức dùng sâm

Có nhiều cách dùng sâm:

1. Thái mỏng rồi ngậm sâm trong miệng cho tới khi mềm tan.

2. Nấu sâm trong ấm sành, ấm thủy tinh độ một giờ rồi uống nước sâm. Sâm nấu như vậy có thể giữ trong tủ lạnh rồi uống dần mỗi ngày. Vì sâm khá đắt, nên có thể nấu nước thứ hai mà sâm vẫn còn hương vị. Tránh dùng ấm kim loại sợ kim khí vô hiệu hóa hoạt chất của sâm.


3. Ngâm sâm trong rượu, nhấm nháp dần dần. Ngâm càng lâu, rượu càng ngon.

4. Sâm chế biến thành bột hòa tan trong nước sôi, uống như cà phê hay trà.

5. Sâm viên uống như các thuốc viên khác. Kỹ nghệ chế sâm viên hiện nay khá phổ biến và chính xác, vì phân lượng hoạt chất chính trong mỗi viên thuốc sâm đều như nhau.

6. Sâm bốc chung với các vị thuốc, sắc lên rồi uống nước thuốc.

7. Sâm miếng thái mỏng nấu thành súp với thịt hoặc gạo.


An toàn của sâm

Một câu hỏi thường được nhiều người nêu ra là sâm có an toàn không?

Giáo sư Brekhman thuộc Institute of Biologically Active Sciences bên Nga cho hay, để có ảnh hưởng không tốt, con người phải dùng cả mấy kí lô sâm một lúc.

Tính cách an toàn của sâm chưa bao giờ bị cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) nghi ngờ và cơ quan này đã cho sâm được bán tự do vì các nghiên cứu cho hay sâm không có tác dụng nguy hại cho người dùng.

Sâm đã được ghi vào danh bạ y dược tại các nước ở Âu châu và được công nhận như một thực phẩm dùng thêm rất an toàn.

Tuy nhiên, cũng như dược phẩm khác, khi dùng sâm nên theo chỉ dẫn của lương y hay nhà bào chế.


Áp dụng thực tế

Sâm đã được dùng ở các nước Á châu từ nhiều ngàn năm và đang được y học hiện đại nghiên cứu, sử dụng. Cũng như các dược thảo khác, tác dụng của sâm nhẹ nhàng, thấm từ từ nhưng kéo dài chứ không mau, mạnh như Âu dược.

Theo Đông y, sâm không phải là thứ để chữa lành một bệnh riêng biệt nào mà được coi như chất bồi bổ sức khỏe, duy trì sinh lực và kéo dài tuổi thọ. Sâm rất công hiệu khi cơ thể suy nhược, dưới nhiều căng thẳng thể xác và tâm thần, phục hồi sinh lực sau khi bị trọng bệnh.


Sự dùng sâm thay đổi tùy theo điều kiện cấu tạo cơ thể và sức khỏe của mỗi cá nhân. Theo kinh nghiệm, nếu muốn tăng cường sinh lực chung thì loại sâm nào cũng như nhau. Người trên 45 tuổi nên dùng sâm Á châu vì sâm này kích thích mạnh; dưới tuổi 45 còn trai tráng có thể dùng hai loại sâm ôn hòa kia. Người cần sức lao động cao thì sâm Á châu giúp bền bỉ, sung sức hơn; nữ giới thích hợp với sâm Mỹ châu còn nam giới thì sâm Á châu lại tốt.

Đấy chỉ là gợi ý. Trước khi dùng, nên tham khảo ý kiến người có hiểu biết về món dược thảo này. Cũng như với các dược thảo khác, ta nên bắt đầu dùng với phân lượng nhỏ rồi tăng dần để dò sức chịu đựng của mình đồng thời lượng định công hiệu và tác dụng không muốn của thuốc.
theoBác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/1/2020

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Vì sao ăn vài trái ổi sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm?

Vì sao ăn vài trái ổi sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm?


Người Ấn Độ có câu: “Vài trái ổi trong mùa sẽ không cần gặp bác sĩ cả năm”. Hãy cùng khám phá những điều kỳ diệu trong loại quả này!
Ổi là loại cây rất quen thuộc trong đời sống người dân nước ta, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Thực ra cây ổi có nguồn gốc từ miền nhiệt đới châu Mỹ, sau được trồng phổ biến ở khắp các miền nhiệt đới châu Á và châu Phi.
Công dụng của quả ổi
Trái ổi là một loại quả bổ dưỡng, là nguồn cung cấp sinh tố A và C.
Ở ta, ổi mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi hoặc được trồng trong vườn, quanh nhà để lấy quả ăn. Ngoài ra các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, vỏ rễ và vỏ thân còn được dùng làm thuốc.
Trái ổi là một loại quả bổ dưỡng, là nguồn cung cấp sinh tố A và C, đa số sinh tố tập trung ở phần thịt, lớp vỏ mỏng bên ngoài quả. Ổi được thể ăn sống, chế thành kem hoặc nước giải khát. Ổi là nguồn vitamin C làm lành da tuyệt vời nhất.
Bên cạnh đó, quả ổi cũng có rất nhiều tác dụng trong ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị một số bệnh hiệu quả!
Ngừa cao huyết áp
Những nghiên cứu y học cho thấy nếu cơ thể chúng ta tiêu thụ những loại thực phẩm không có chất xơ thì dễ bị “dính” chứng cao huyết áp, thực phẩm được tiêu thụ sẽ mau chóng chuyển thành đường.
Do ổi có nhiều chất xơ, có chỉ số đường huyết (glycemic index) thấp nên cũng có tác dụng hạ huyết áp.
Quả ổi giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa quá trình làm máu trở nên đặc, vì vậy làm tăng tính linh động của máu, giúp máu thoát khỏi họa “kẹt xe” và lưu thông trong cơ thể một cách dễ dàng hơn.
Ngăn ngừa ung thư
Các nghiên cứu y học đã cho thấy rằng thành phần chiết xuất từ lá ổi có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Hơn nữa, ruột quả ổi cũng chứa chất lypocene cao, tác dụng chống ung thư. Đặc biệt folate trong ổi cũng giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày.
Ngăn ngừa bệnh tim
Trong ổi đặc biệt là ổi đào có lượng lycopen nhiều hơn cà chua 26%, có thể giảm bớt nguy cơ bệnh tim.
Ngăn ngừa vi trùng
Trong quả ổi có chứa hàm lượng lớn chất chống oxy hóa, chất chống độc tố như Vitamin C, Vitamin E, iso- flavanoids, carotenoid, polyphenol…
Những dưỡng chất này sẽ giúp cơ thể chống lại vi trùng, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, đồng thời giúp mẹ bầu tránh xa bệnh tật.
Ngừa béo phì
Ổi chứa ít chất béo nên ăn ổi có thể giảm béo, giúp cơ thể thon gọn hơn.
Đặc biệt trong trái ổi ruột đỏ (ổi đào) còn có chất lycopen nhiều hơn trong cà chua không chỉ có tác dụng chống những bệnh liên quan tới béo phì mà còn những bệnh khác như bệnh tiểu đường cấp 1, giảm bớt nguy cơ bệnh tim mạch.
Ngừa bệnh tiểu đường
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Ấn Độ, lá và quả ổi có khả năng giảm thiểu lượng đường gluco trong máu. Tuy nhiên, nếu ăn cả vỏ ổi sẽ không tốt cho lượng đường trong máu của bạn. Cách tốt nhất khi ăn ổi để điều trị bệnh tiểu đường là gọt bỏ vỏ.
Ngừa cảm lạnh
Một ly nước ép ổi tươi có thể giúp bạn giảm các triệu chứng cảm lạnh như giảm ho, tẩy đàm, thông đường hô hấp do trong ổi chứa nguồn vitamin C cao, các chất chống oxy hóa và điện giải…
Trị ho
Nước ép trái ổi hoặc nước sắc lá ổi rất có lợi trong việc làm giảm ho, trị cảm, đồng thời có tác dụng “dọn dẹp” hệ hô hấp. Thịt quả ổi chứa rất nhiều vitamin và sắt, nhờ đó có tác dụng ngăn ngừa bệnh cảm và các trường hợp bị nhiễm siêu vi.
Món ăn từ trái ổi
Ổi ướp lạnh: Giúp giải nhiệt khi thời tiết nắng nóng
  1. Lấy phần nạc của ổi, cắt nhỏ và xay nhuyễn.
2. Cho nước chanh tươi, rượu vodka và đường xay thêm cho đều.
3. Cho hỗn hợp vào tủ lạnh trong khoảng 45-60 phút. Ngoài ra, có thể cho hỗn hợp vào tủ làm đông để ăn như kem thông thường.
Ổi trộn: Giúp giảm cân và bồi dưỡng thể lực
  1. Gọt vỏ ổi, chỉ lấy phần nạc và cắt thành từng lát vừa ăn, cam gọt vỏ cắt từng lát mỏng, chuối cắt khoanh tròn sau đó trộn đều ba loại với nhau.
2. Rưới nước chanh tươi vào hỗn hợp, trộn đều.
3. Trước khi ăn, rưới thêm mật ong.
4. Bạn có thể cho vào tủ lạnh khoảng một giờ trước khi dùng.
Nước ép ổi: Tăng cường sức khoẻ
  1. Ổi bỏ vỏ, moi bỏ hạt, ép lấy nước.
2. Cho thêm ít muối và đường. Ngon hơn khi uống lạnh
Theo phunugiadinh
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/12/2017

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Đậu bắp: "Viagra" dân dã cải thiện sinh lý cho quý ông

Đậu bắp: "Viagra" dân dã cải thiện sinh lý cho quý ông

Đậu bắp: "Viagra" dân dã cải thiện sinh lý cho quý ông

Đậu bắp còn gọi là mướp tây, bắp chà, tên khoa học Abelmoschus esculentus, thuộc họ Malvaceae.

Đậu bắp có thể cao trên 2m, lá dài và rộng khoảng 10–20 cm, xẻ thùy chân vịt với 5–7 thùy.
Hoa đường kính 4–8 cm, với 5 cánh hoa màu trắng hay vàng, thường có các đốm đỏ hay tía tại phần gốc mỗi cánh hoa. Quả là dạng quả nang dài tới 20 cm, chứa nhiều hạt. Từ lâu, dân gian nhiều nơi đã biết sử dụng thân, lá và quả non đậu bắp để trị các chứng tiểu khó, bệnh lậu; rễ và lá non chữa ho khan, viêm họng...
Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư. Uống nước đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh.
Đậu bắp còn có tác dụng chống bệnh tiểu đường vì chất xơ trong đậu bắp có thể làm chậm quá trình hấp thu đường vào máu. Tác dụng kiểm soát lipit nhờ chất xơ hòa tan được gọi là Pectin có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu... Sau đây là một số tác dụng của đậu bắp:
- Giúp sáng mắt, đẹp da: Đậu bắp có chứa nhiều sinh tố A nên giúp phòng ngừa các căn mệnh về mắt và da, giúp duy trì thị lực tốt cũng như mang lại cho cơ thể một làn da tươi nhuận.
- Giúp hạ mỡ máu: Ăn đậu bắp thường xuyên góp phần kiểm soát lượng cholesterol xấu trong cơ thể, bởi trong trái đậu bắp có chứa các dưỡng chất thiết yếu có tác dụng làm giảm thiểu cholesterol trong máu.
- Phòng và chữa táo bón và các bệnh về dạ dày: Đậu bắp rất nhiều chất xơ giúp phòng ngừa và điều trị bệnh táo bón, bệnh trĩ, đau dạ dày và cải thiện tiêu hóa rất hiệu quả. Bên cạnh đó, chất nhầy chứa trong đậu bắp còn có tác dụng nhuận tràng, giảm đau, giảm vết loét trong chứng viêm sưng.
- Giúp tóc xanh, bóng mượt: Cắt đậu bắp thành những miếng nhỏ rồi đun sôi và để nguôi. Sau đó, trộn nước đậu bắp với nước cốt chanh rồi thoa lên mái tóc như là hỗn hợp dầu gội đầu. Khoảng 20 phút sau thì gội đầu với nước sạch.
- Giúp ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi: Đậu bắp cũng chứa nhiều axit folic rất cần thiết cho nhiều chức năng của cơ thể. Đặc biệt đối với những phụ nữ mang thai, axit folic rất quan trọng vì chất này giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi.
- Giúp cải thiện sinh lý cho quý ông: Một nghiên cứu gần đây cho hay, đậu bắp có chứa dạng glucide phức polysaccharide và thành phần dinh dưỡng khác, giúp tăng cường dòng máu chảy vào vùng sinh dục, gây cương cứng cho quý ông.
Tuy nhiên, đậu bắp có tính mát. Những ai hay bị đau bụng, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, không nên dùng đậu bắp và khi chế biến, nên nấu chín ở nhiệt độ thấp, vừa phải nhằm bảo toàn nguồn dinh dưỡng.

theo Nông nghiệp Việt Nam
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/5/2016

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Bài thuốc cực đơn giản chữa khỏi hẳn bệnh mất ngủ kinh niên

Bài thuốc cực đơn giản chữa khỏi hẳn bệnh mất ngủ kinh niên


Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ.
Ngày nay, không những người có tuổi mà những người trẻ cũng hay mắc chứng bệnh mất ngủ. Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ. Hơn nữa, việc điều trị mất ngủ lại không hề đơn giản, nhiều người uống đủ thuốc Đông - Tây y mà vẫn không ngủ được.
Chúng tôi xin giới thiệu một bài thuốc rất đơn giản, dễ làm nhưng đem lại hiệu quả không ngờ trong việc chữa trị chứng bệnh mất ngủ. Nếu có điều kiện, người bệnh nên áp dụng thêm một số biện pháp phụ trợ như ngồi thiền, ngâm chân trước khi đi ngủ, chắc chắn sẽ đem lại cho quý vị những giấc ngủ ngon.
Bài thuốc cực đơn giản chữa khỏi hẳn bệnh mất ngủ kinh niên

1. Bài thuốc chữa mất ngủ từ củ gừng

- Gừng tươi: 1 củ to hay nhỏ tùy vào mức độ ăn cay của từng người.
- Đường phên: Lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml.
Cách nấu: Cho gừng vào nước lạnh (khoảng 600ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường vào, tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được.
Thời gian uống: Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.
Lưu ý:
Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Không cứ người mất ngủ mới uống được, người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống.
Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.

2. Những biện pháp bổ trợ cho bài thuốc chữa mất ngủ

- Ngày ngồi thiền khoảng 1h.
- Trước khi đi ngủ ngâm chân bằng nước gừng nóng, hoặc nước muối nóng
.

Bài thuốc cực đơn giản chữa khỏi hẳn bệnh mất ngủ kinh niên

  • 1 2 3 4 5 318
  •  
  • 35.096
  •  
Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ.
Ngày nay, không những người có tuổi mà những người trẻ cũng hay mắc chứng bệnh mất ngủ. Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ. Hơn nữa, việc điều trị mất ngủ lại không hề đơn giản, nhiều người uống đủ thuốc Đông - Tây y mà vẫn không ngủ được.
Chúng tôi xin giới thiệu một bài thuốc rất đơn giản, dễ làm nhưng đem lại hiệu quả không ngờ trong việc chữa trị chứng bệnh mất ngủ. Nếu có điều kiện, người bệnh nên áp dụng thêm một số biện pháp phụ trợ như ngồi thiền, ngâm chân trước khi đi ngủ, chắc chắn sẽ đem lại cho quý vị những giấc ngủ ngon.
Bài thuốc cực đơn giản chữa khỏi hẳn bệnh mất ngủ kinh niên

1. Bài thuốc chữa mất ngủ từ củ gừng

- Gừng tươi: 1 củ to hay nhỏ tùy vào mức độ ăn cay của từng người.
- Đường phên: Lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml.
Cách nấu: Cho gừng vào nước lạnh (khoảng 600ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường vào, tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được.
Thời gian uống: Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.
Lưu ý:
Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Không cứ người mất ngủ mới uống được, người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống.
Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.

2. Những biện pháp bổ trợ cho bài thuốc chữa mất ngủ

- Ngày ngồi thiền khoảng 1h.
- Trước khi đi ngủ ngâm chân bằng nước gừng nóng, hoặc nước muối nóng.
Theo Trí Thức Trẻ
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/4/2016



Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

THUỐC TRỊ UNG THƯ HAY HƠN HÓA TRỊ



7 Thay thuoc 1THUỐC TRỊ UNG THƯ

HAY HƠN HÓA TRỊ

Đến từ nền văn minh Ấn Độ cổ có cách đây hơn 2000 năm, đây là phương pháp đơn giản giúp bạn an toàn khỏi những căn bệnh ung thư quái ác. Những thành phần có trong công thức kì này mà chúng tôi chia sẻ đã được sử dụng ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ qua. Tính đến thời điểm hiện tại, lợi ích cho sức khỏe của chúng đã được chứng thực với gần 5000 nghiên cứu y khoa. Tham khảo ngay công thức chiến thắng ung thư mọi người Việt cần biết được trình bày bên dưới nhé !
Chuẩn bị : + 1 muỗng canh dầu ô liu ép nguội (có thể thay thế bằng dầu dừa) + 1/4 muỗng cà phê hạt tiêu đen xay nhuyễn. + 1/2 muỗng cà phê bột nghệ. + 1/2 muỗng cà phê nước ép gừng. (H1)
7 Thay thuoc 2Thực hiện : + Cho tất cả vào trong một ly nhỏ và trộn đều (H2)
Cách dùng : + Dùng hỗn hợp này như gia vị cho món salad hoặc các món súp hay hầm. + Có thể cho hỗn hợp vào một cốc sữa chua và thưởng thức. + Tuy nhiên, các nhà khoa học khuyên rằng tốt nhất nên tiêu thụ trực tiếp và không trộn lẫn với thực phẩm khác để đảm bảo hiệu quả tối ưu.
Liều dung : + 1 lần/ ngày để phòng ngừa ung thư phát triển. + 3 đến 4 lần/ ngày để trị bệnh ung thư.
7 Thay thuoc 3Hiệu quả sử dụng : + Dùng mỗi ngày sẽ hạn chế nguy cơ bị ung thư ở mức tối thiểu. + Các chuyên gia y tế khẳng định rằng phương pháp dân gian này có thể chữa trị các khối u gây tử vong.
Bí mật của công thức này là gì ?
+ Nghệ : Nó có tác dụng chống ung thư mạnh mẽ nhờ chất chống oxy hóa và chống viêm gọi là Curcumin. Tiêu thụ nghệ thường xuyên sẽ giúp bạn phòng chống bệnh tiểu đường, bệnh tim và các bệnh ung thư ở các cơ quan như buồng trứng, tuyến tụy, tuyến tiền liệt, não và ngực.
+ Tiêu đen : Với hoạt chất piperine, tiêu đen làm tăng khả năng hấp thu curcumin – một hoạt chất có trong củ nghệ, lên đến 2000% và đồng thời giúp tăng cường tối đa khả năng trao đổi chất của cơ thể.
7 Thay thuoc 4+ Gừng : Cũng là một thành phần mạnh với chất chống oxy hóa, chống ung thư và chống viêm, gừng có khả năng vô hiệu hóa các tác nhân gây ung thư và viêm nhiễm. Chúng ta thường dùng gừng để chữa chứng buồn nôn, giải cảm và thúc đẩy quá trình đốt cháy chất béo trong phương pháp giảm cân lành mạnh.
Đôi điều nhắn nhủ : Ngoài việc sử dụng hỗn hợp trị bệnh ung thư ở trên, bạn nên kết hợp với tinh dầu trầm hương hoặc tinh dầu vỏ bưởi để tăng hiệu quả chữa trị. Chỉ với một hai giọt tinh dầu, bạn sẽ có ngay một không gian thơm dịu giúp tinh thần thư thái hoàn toàn sau những giờ phút căng thẳng. Bạn cũng có thể xoa chút tinh lên thái dương, cổ và sống mũi để đánh bay cơn đau đầu ngay lập tức.
Đồng thời, việc chữa bệnh chỉ có hiệu quả khi bạn duy trì một lối sống lành mạnh và tiêu thụ các thực phẩm hữu cơ sạch. Nếu cứ nạp vào cơ thể những thực phẩm bẩn và chơi bời bất chấp sức khỏe thì bệnh tật không bao giờ khỏi. Hy vọng có công thức chiến thắng ung thư này thì người Việt khỏi sợ chết trẻ! (nguồn: Time For Healthy Food)
Sang Huỳnh chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 7/4/2016

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

An cung ngưu hoàng hoàn’ có phải là thần dược chữa đột quỵ – tai biến?

An cung ngưu hoàng hoàn’ có phải là thần dược chữa đột quỵ – tai biến?

(Ảnh qua onplaza.vn)
Những năm gần đây, để phòng thân, những người có bệnh tim mạch thường mách nhau đi mua một loại thuốc của Trung Quốc có giá rất đắt, gọi là “An cung ngưu hoàng hoàn“. Vậy thì tác dụng của thuốc “An cung ngưu hoàng hoàn” thực hư thế nào? 
Theo thông tin trên một số trang báo và trang mạng: “An cung ngưu hoàng hoàn” là thuốc cấp cứu tai biến mạch máu não rất tốt, do đó những người mắc bệnh tim cần dự trữ ít nhất một viên. Ngoài ra, thuốc còn có thể dùng uống thường xuyên để dự phòng.



1. Thành phần và tác dụng của “An cung ngưu hoàng hoàn”

An cung ngưu hoàng hoàn” là phương thuốc do danh y Ngô Cúc Thông, đời Thanh (Trung Quốc) sáng chế và được ghi trong sách “Ôn bệnh điều biện“.
Thành phần của “An cung ngưu hoàng hoàn” gồm: Ngưu hoàng 30g, uất kim 30g, tê giác 30g, hoàng cầm 30g, hoàng liên 30g, hùng hoàng 30g, sơn chi 30g, chu sa 30g, mai phiến 7g, xạ hương 5g, trân châu 15g.
Tất cả tán bột thật mịn, luyện với mật làm viên, mỗi viên 3g, lấy vàng lá làm áo, bao sáp. Từ nhiều năm nay, vì tê giác đã trở thành động vật quý hiếm, cấm săn bắt, nên sừng tê giác đã được thay bằng sừng trâu.
Theo Đông y: “An cung ngưu hoàng hoàn” có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh, khai khiếu, hóa đàm. Chủ trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu, dẫn đến các triệu chứng: sốt cao phiền táo, hôn mê, nói sàm, hoặc lưỡi rụt, tay chân lạnh toát.
Do tác dụng cấp cứu nhanh và hữu hiệu, thuốc được xếp hàng đầu trong “Ôn bệnh tam bảo” (3 loại thuốc quý chữa ôn bệnh), bao gồm “An cung ngưu hoàng hoàn“, “Chí bảo đan” và “Tử tuyết đan“.
Trong Đông y, “cung” chỉ “Tâm bào cung“. “Tâm bào” là cơ quan bọc ngoài tâm (tim). Ôn nhiệt tà độc khi xâm phạm vào tâm, trước hết tác động đến tâm bào. “An cung ngưu hoàng hoàn” là thuốc có khả năng giải trừ tình trạng “đàm nhiệt nội hãm tâm bào“, dẫn tới hôn mê, thần minh nhiễu loạn (rối loạn thần kinh trung ương), tê liệt, nói sàm, chân tay quyết lạnh… Thuốc có tác dụng giải trừ bệnh lý ở tâm bào (an cung) và thành phần quan trọng nhất là “ngưu hoàng“, nên được đặt tên là “An cung ngưu hoàng hoàn“.

2. Khi nào sử dụng?

Những năm gần đây “An cung ngưu hoàng hoàn” được sử dụng để cấp cứu và điều trị đột quỵ, xuất huyết não hiệu quả rất tốt và nhanh chóng. Nhiều người bị hôn mê, tiên lượng rất xấu, uống “An cung ngưu hoàng hoàn” đã tỉnh lại và sức khỏe dần dần hồi phục. Tuy nhiên, “An cung ngưu hoàng hoàn” không phải là “thần dược chữa đột quỵ” và không thể áp dụng trong tất cả các trường hợp đột quỵ – tai biến mạch máu não.
Đột quỵ tương ứng với bệnh “Trúng phong” trong Đông y.
Trúng phong là bệnh có bệnh cơ và triệu chứng hết sức phức tạp. Căn cứ vào nguyên nhân và chứng trạng cụ thể, Trúng phong được Đông y chia thành những loại hình (thể bệnh) khác nhau; đối với mỗi thể bệnh cần áp dụng những phương pháp, bài thuốc thích hợp, mới có thể mang lại hiệu quả mong muốn.
Nói cụ thể hơn, trên lâm sàng Trúng phong được phân chia thành 2 loại hình (thể) lớn: Trúng kinh lạc và Trúng tạng phủ.
Mỗi thể lớn lại được phân thành nhiều thể nhỏ. Như Trúng tạng phủ được chia thành 2 thể nhỏ: “Nhiệt bế” (Dương bế) và “Hàn bế” (Hàn bế).
Thuốc “An cung ngưu hoàng hoàn” chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp “Nhiệt bế” (Dương bế).
Dấu hiệu để nhận biết “Nhiệt bế” (Dương bế): Đột nhiên hôn mê bất tỉnh nhân sự, hai hàm răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai tay nắm chặt, thân và tứ chi co cứng; mặt đỏ người nóng, thở thô, miệng hôi, phiền táo, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt.

3. Chống chỉ định, kiêng kỵ

Nói chung, khi sử dụng “An cung ngưu hoàng hoàn” cần chú ý một số vấn đề sau:
(1) “An cung ngưu hoàng hoàn” là bài thuốc được lập ra để chữa trường hợp hôn mê do “Nhiệt bế” (Dương bế). Nếu sử dụng đối với “Hàn bế” sẽ khiến cho bệnh thêm trầm trọng.
Chứng trạng đặc trưng của “Hàn bế“: Hôn mê kèm theo các biểu hiện, như mặt trắng bệch, môi tái nhợt, nằm yên bất động, rêu lưỡi trắng nhớt, tay xòe, chân tay lạnh, mồ hôi trán vã ra như dầu, chất lưỡi trắng nhớt.
Trường hợp “Hàn bế“, không được sử dụng “An cung ngưu hoàng hoàn” mà cần dùng thuốc có tính “ôn khai“, loại như “Tô hợp hương hoàn“…
(2) Những người mắc chứng âm hư, lưỡi đỏ ít rêu, không được uống “An cung ngưu hoàng hoàn“, nếu không âm dịch trong cơ thể càng thương tổn nặng, các triệu chứng âm hư càng thêm trầm trọng.
(3) Trong thành phần của “An cung ngưu hoàng hoàn” có xạ hương, là vị thuốc dễ gây trụy thai, nên phụ nữ đang mang thai cần rất thận trọng khi sử dụng.
(4) Trong thành phần của “An cung ngưu hoàng hoàn” có ngưu hoàng, sừng trâu (hoặc sừng tê giác), hùng hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, chi tử, đều là những vị thuốc rất lạnh (đại hàn), dễ gây tổn hại tỳ vị. Do đó những người tỳ vị hư nhược (chức năng tiêu hóa yếu) hay tiêu chảy không nên sử dụng “An cung ngưu hoàng hoàn“.
(5) Trong thành phần của “An cung ngưu hoàng hoàn” có chu sa và hùng hoàng là hai vị thuốc có tính độc. Chu sa có thành phần chính là sunfua thủy ngân thiên nhiên (thuỷ ngân (Hg) 86,2% và sunfua (S) 13,8%); hùng hoàng có thành phần chủ yếu là asen sunfua (AsS) trong đó asen chiếm chừng 70,1%, sunfua 29%. Do đó không được sử dụng với liều cao hoặc sử dụng dài ngày “An cung ngưu hoàng hoàn“. Người chức năng gan thận không kiện toàn sử dụng cần thận trọng.
(6) Trong thời gian sử dụng “An cung ngưu hoàng hoàn” cần kỵ các món ăn cay nóng hậu vị, để tránh “trợ hỏa sinh đàm“.
(7) Trong quá trình sử dụng, nếu xuất hiện triệu chứng sợ rét, chân tay lạnh, sắc diện trắng nhợt, vã mồ hôi lạnh, mạch đập yếu… cần lập tức ngừng sử dụng thuốc.
Theo thuocvuonnha
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/4/2016