Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

TRÀ TAM, RƯỢU TỨ

TRÀ TAM, RƯỢU TỨ

Các cụ ta xưa, mà nay cũng vậy, khi thẩm thấu đúng nghĩa của nó, thì trà và rượu là những thú vui đối ẩm thanh cao, thi vị ở mọi lúc mọi nơi, đã nâng nó lên tầm văn hóa, nghệ thuật ẩm thực đặc trưng - nghệ thuật nhắm rượu, nghệ thuật thưởng trà. Tôi có thử tìm đọc trong sách, báo cũ, cũng hỏi một số cụ túc nho, cao niên, trong đó ông nội tôi, cụ Tú Hàm, thì được biết: Từ xưa tới giờ trong việc ăn uống, khi nói đến rượu và trà mới dùng chữ nhắm và thưởng, ngoài ra hai từ “đặc biệt” này không thấy dùng vào đâu. Rõ là độc đáo và cao siêu!

Thật ra nhắm và thưởng cũng là uống. Nhưng cách uống ở đây kéo theo bao nhiêu là yếu tố, là điều kiện, nguyên vật liệu, khung cảnh, không gian, thời gian, mùa tiết và cả đối tượng nhắm rượu, thưởng trà. Giới thượng lưu, người sành điệu, các nho gia, văn nghệ sĩ thanh bạch xem uống rượu, uống trà là sự tinh tế, thăng hoa cùng với niềm vui, hạnh phúc, đồng thời lắng lại với suy tư, u trầm khi nỗi buồn bất hạnh nào đó chợt đến với họ. Có điều vui hay buồn đều nhằm vào phạm trù tích cực là giải tỏa, gội nhuần, tịnh độ mỗi khi nâng cốc, đôi môi chúp chíp, đôi mắt hiu hiu, thần thái buông lỏng, cảm xúc tâm hồn lâng lâng, khi chén rượu tinh khiết, cốc trà sóng sánh tỏa mùi thơm như thấu tận cùng lúc các giác quan. Nhắm rượu, thưởng trà là tận hưởng. Chứ không phải như ai đó, hay kẻ “phàm phu tục tử”, cầm chén rượu, cốc trà ừng ực vô cảm ở bất kỳ chỗ nào, và còn trở thành con nghiện bê bết của bất cứ loại rượu nào, đánh đồng trà với các thứ nước uống giải khát khác. Cái cảnh “trà dư, tửu hậu” cũng ở chỗ trần tục mà ra.

Trong dân gian có nhiều chuyện về trà và rượu, mặc dù hai thức uống đó không dùng cùng một lúc, nhưng sự thâm thúy của nó thì vô cùng:

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh nhứt trản trà.
(Nửa đêm uống ba chung rượu
Sớm mai uống một chén trà).


Ta cũng hình dung được những thời khắc đó đối với người sành trà, rượu nó có ý nghĩa và giá trị như thế nào. Cái thanh vắng lúc nửa đêm thức giấc, chợt tỉnh mà uống đôi ba chén rượu, càng làm cho tâm hồn, trí óc thư thái minh mẫn, suy ngẫm thấu đáo sự đời, thân phận. Cũng như khi ánh mặt trời sắp ửng hồng, ló dạng trong màn sương và làn gió sớm hoang hoải, trong vắt âm thanh mà uống một cốc trà thì còn gì sảng khoái, tỉnh táo sau một đêm dài say ngủ, mơ màng.


“Vô tửu bất thành lễ” (Không có rượu, coi như lễ nghĩa không thành). Có lẽ không phải hầu hết đều như vậy. Cho nên không hiếm những bữa rượu, cuộc rượu, tiệc rượu, cuốc rượu, tối rượu, chén rượu, mâm rượu, bàn rượu đã trở thành tri âm tri kỷ, trở thành câu hẹn, lời thề, sự trân trọng biết ơn, sự nhớ thương dịu vợi ở những con người lấy chữ tâm, chữ đức trong sáng làm trọng.

Rồi từ rượu, lại có những câu ám chỉ, đại loại: “Nam vô tửu, như kỳ vô phong” (Đàn ông không rượu, như lá cờ không có gió). Ý nói, rượu làm cho các đấng mày râu mới mạnh mẽ, dũng mảnh, oai vệ hơn. Nhưng sợ nhất là “Tửu nhập ngôn xuất” (Rượu vào lời ra), lại ra những lời dữ dằn, tục tĩu, không làm chủ được bản thân, gây lắm điều bất bình tai hại khôn lường, của đám “đệ tử lưu linh”, để cho ma men lung lạc.

Như thế, có ba bảy cách dùng rượu, dùng trà. Tưởng như “trà tam, tửu tứ” được coi như cái thú ở đời, mà mỗi thứ đều chứa đựng niềm vui thú hiếm hoi không dễ gì có được ở các loại ẩm thực khác. Nhưng mỗi việc hiểu một cách chính xác con số “tam và tứ” (trà ba, rượu bốn) mà cha ông ta truyền lại cũng đã khó khăn. “Ba và bốn” nó là số thứ tự hay là số lượng? Uống ba cốc trà và bốn chén rượu là đủ. Căn cứ vào đâu, lý do gì, vì sao chỉ uống chừng đó? Hay là ba người, bốn người cùng uống... Sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau cùng tồn tại. Mọi cách suy đoán đều được chấp nhận bởi đều có lý, tùy theo hoàn cảnh mà vận dụng khi nhắm rượu và thưởng trà.

Có người giải thích “trà tam” là cuộc trà chỉ nên có ba người. Ba người cùng tận hưởng thì mới vui, hai người vẫn là số ít, còn một người thì chả có gì lý thú, thi vị. Còn “tửu tứ” là bữa rượu phải có bốn người ngồi chạm ly (chén) đối ẩm thù tạc, khề khà với nhau qua hơi men mới thấm thía tận gan ruột. Như thế “tam, tứ” (ba, bốn) ở đây chỉ số lượng chủ thể là người uống.


Lại có người cho rằng, uống trà phải đủ ba cốc mới thưởng thức hết được cái hương vị chát ngọt của trà, lúc đó mới thông nhuận được thần khí hào sảng. Còn rượu phải bốn chén mới ngấm từ đầu lưỡi vào ngũ tạng và mùi vị sực nức mới đủ tỏa hương dẫn tới ngà ngà. Có một lập luận mềm dẻo hơn cho rằng “trà tam” là trà pha đến nước thứ ba mới đích thực nước cốt của trà cả về màu sắc lẫn tinh chất. Còn nước một chỉ là rửa trà, nước hai còn chát, cứng, nước thứ tư trở đi gần như loãng, nhạt, mùi vị rơi rớt. Như vậy, “trà tam” là nhấn mạnh đến phương thức pha chế và chất lượng của trà, chứ không phải loại trà nào cũng qua ba bước, ba bận mới ngon.

Còn rượu thì nồng độ phải là “sủi tăm”, “cuốc lủi”, sực nức cay nồng, không nhạt thếch, không cháy cổ mới là rượu ngon, nhắm đến chén thứ tư “tửu tứ” là vừa đủ độ ngà, là ranh giới giữa chừng mực và độ bốc, ngây ngất trong men, trong hương rượu. Mấy lý lẽ vừa nói, có lẽ là quá trình chiêm nghiệm, “tổng kết” của cha ông ta từng trải trong thế giới nhắm rượu, thưởng tràhàng mấy trăm năm mà ra.

Chưa hết, còn một lập luận nghe ra cũng thấu tình đạt lý hơn, như một triết lý về rượu mà cũng về người:

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu
Nhân bất đồng tâm bán cú đa
(Tri kỷ gặp nhau, rượu uống ngàn chén vẫn là ít
Người chẳng cùng lòng, nói nửa lời cũng đã là quá).


Thật như một câu châm ngôn nhấn mạnh về tình cảm giữa con người với nhau, chứ đâu có cứng nhắc, lấy con số “ba, bốn” để đo đếm trong ẩm thực giao tiếp. Quan trọng là ở mức độ vừa phải, biết áng chừng độ say, độ ngon, cũng như tình thâm, lẽ phải tiết chế đến đâu. Cho nên cụ Nguyễn Khuyến cũng nói thật lòng về cái bi, hài của bậc túc nho thi bá của các cụ:

Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua, không uống, không tiền, không mua!


Chỉ có “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” của những người đồng chí hướng, những người thân, bạn hiền cùng ngồi với nhau trong cuộc rượu, cuộc trà thì mới bộc bạch, dịu vợi, như cởi tấm lòng. Không bao giờ kẻ đối nghịch, hung hãn, phản trắc có thể nhắm rượu, thưởng trà một cách văn hóa, thanh lịch. Nếu có, họ uống để bộc lộ hoặc che lấp hành vi phi đạo đức của kẻ tiểu nhân mà thôi. Không cần luận ra, mà nhãn tiền đã cho ta biết hai thái cực, hai đối tượng dùng rượu và trà trong thế gian như tiền nhân đã nói ở trên.

Ở đất Quảng có rượu “Hồng Đào”, tốn nhiều giấy mực, nhưng gần như ai cũng chưa được uống thứ rượu đích thực đó, chỉ hô hát, ngâm vịnh mãi câu ca ngàn đời này:

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhắm đà say.


Lại nhớ cô gái quan họ chít khăn mỏ quạ, áo mớ bảy mớ ba nâng trên tay chén rượu trong veo, hát câu dân ca duyên dáng mời khách lãng du:

Tay tiên chuốc chén rượu đào
Sánh ra thì tiếc, uống vào thì say.


Đấy là cái ngập ngừng nên thơ từ người và rượu. Thử nâng chén rượu lên môi rồi không như Lý Bạch, thi gia Trung Quốc đã thốt lên:

Cử bội dữ minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân!
(Nâng chén mời trăng sáng
Cùng với bóng thành ba người!)


thì cũng truyền thêm sức mạnh tinh thần, kích phát trí tưởng, làm bùng cháy tình cảm trong ta. Nhưng cũng đừng làm như Nguyễn Du, với “bầu rượu túi thơ” trong Kiều để ra nông nỗi:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa!


Trà và rượu từ trong cung đình vua chúa, chốn dinh thự công quyền, nơi phồn hoa sang trọng ra đến bàn dân thiên hạ. Người ta bị mê hoặc bởi thứ nước uống vừa cầu kỳ, vừa đơn giản trong công thức và nghệ thuật chế biến, đến nỗi có lắm người nghiện rượu, nghiện trà không dứt ra được. Có lắm loại rượu, loại trà khác nhau, với nhiều tên gọi lên hàng “sao” tầm cỡ quốc gia, quốc tế như: Đệ nhất danh trà “Vũ Di sơn”, “Mỹ tửu Bồ Đào”, “Mao Đài” bên Trung Quốc; “Mạc tên”, “Sâm banh”, Pháp; “Vốt ka” Nga, “Sa kê” Nhật Bản… Ở ta có “Rượu đế, Gò Công”; rượu “Làng Vân”; “Vân hương, mỹ tửu” Hà Bắc; “Bàu Đá”, Bình Định; “Đá Bạc” Thừa Thiên-Huế; “Trà mạn” Thái Nguyên; trà “Tâm Châu” Blao, Lâm Đồng… cũng đều nổi tiếng.

Rượu khà, trà chép là cung cách của nhắm rượu, thưởng trà. Không ai dạy bảo cho “động thái” đó mà người nào cũng biết tận hưởng cái hương vị khoái cảm của từng ngụm rượu, ngụm trà chạm vào đôi môi, chót lưỡi và tâm can, buộc cho họ phải phát ra thứ âm thanh như reo vui đầy huyễn hoặc- khà, chép huyền nhiệm.

Thưởng trà, theo ông tôi, “trà tam tuần” mới đúng cách. Nghĩa là uống trà ba lần bằng cái chén “bạch đinh” (trắng toát), thường gọi là “chén mắt trâu” và trà được pha trong chiếc ấm Gia Chu nhỏ xíu bằng đất nung màu gan gà. Sau ba tuần trà (3 lần cho nước vào ấm trà và uống 3 lần như thế), chủ nhân (người mời trà) úp chén vào khay gỗ, có nghĩa là “tiệc trà” kết thúc. Các đồ vật dùng trà có nhiều tên gọi như bình trà, ấm trà, tích trà cùng với chén, cốc uống trà đều làm bằng sành, sứ, loại sang thì nạm vàng, bịt bạc, đặc biệt là các sản phẩm từ cổ xưa để lại có tính nghệ thuật chế tác tinh xảo, chạm trổ hoa văn, chim thú công phu. Nhiều người nhắm rượu, thưởng trà đồng thời với sự nâng niu, thưởng lãm vẻ đẹp, như một bức tranh thu nhỏ trên bộ khay chén rượu, trà quý hiếm, xem như báu vật của họ, làm tăng thêm độ hưng phấn, ngất ngây dịu vợi trước mùi hương và đồ vật đều tinh khiết.


Tản mạn theo rượu và trà thật thú vị. Mới hiểu “trà tam, tửu tứ” hay gì gì đi nữa, cũng là sự luận giải, khái quát hóa tính văn hóa, nghệ thuật về cái thú uống rượu, uống trà của người Việt ta. Rượu, trà xưa và nay vẫn vậy. Là một phần trong đời sống và sinh hoạt tinh thần của quãng đại. Nó chỉ là hương, là sắc, có thể trong chốc lát, nhưng luôn mang đến cho ta niềm vui bất tận, chất men cảm hứng dạt dào, sự thanh thản vô lượng của tâm thức, giải tỏa, vùi quên bao nỗi niềm trước nhân tình thế thái riêng, chung.

Vậy đó, ba ngày Tết nhàn đàm, rồi nhắm và thưởng chén rượu, cốc trà tỏa hương để lắng nghe mùa Xuân đi rộn ràng, ấm áp là cái thú, cái tình của người Việt ta.Tết Giáp Ngọ, 2014HOÀNG HƯƠNG VIỆT
Vĩnh Bảo sưu tầm 21/9/2018



THIẾT KẾ NHÀ Ở VỚI PHONG THỦY

  

THIẾT KẾ NHÀ Ở

VỚI PHONG THỦY

Sau khi đã tính ngày giờ hoàng đạo để khởi công động thổ các bạn phải tính đến việc thiết kế ngôi nhà đúng thuật phong thủy. Trong thiết kế có những điểm chính cần được lưu ý :
1/- NHÀ ĐỐI NHÀ
Cuốn “Phong thủy tục ký” ghi một tập quán :
– Mấy nhà xây cùng dãy phải cùng trên một đường thẳng, gọi là xống hay long (rồng). Nhà cao thấp phải như nhau. Nếu nhà nào nhô ra phía trước gọi là “cô nhạn xuất đầu” (chim nhạn ló đầu ra) gia chủ chịu cảnh cô quả (chết chồng hay chết vợ). Nếu thụt vào trong gọi là “thác nha” (răng khểnh), gia đình lục đục.
Nếu cao thấp không đều, là khí cao đè khí thấp, nhà bên trái có thể cao hơn nhà bên phải, phòng ốc cũng nằm trong trong thế trang trí này, nhưng phòng bên phải không nên cao hơn phòng bên trái, phòng phụ phải nhỏ hơn phòng chính, và phòng phụ không được cao hơn v.v…
Đây là thế nhằm phá bỏ cách trò khinh thầy, tớ khinh chủ, là thế Tả thanh long Hữu bạch hổ (bên trái rồng xanh cao vạn trượng chẳng cho bên phải hổ ngóc đầu).
Khi bước vào nhà mọi người thấy sáng sủa, thoải mái thì tốt, nếu bị các nhà phía trước che chắn mất ánh sáng, cần đặt nhiều lỗ thông gió.
Trong nhà lập “giếng trời” nhưng vừa đúng thước Lỗ Ban để lấy thêm gió và ánh sáng, nhà hướng Tây Nam làm giếng trời không tốt.
2/- KÍCH THƯỚC XÂY DỰNG
Thời nào cũng vậy, theo nhân sinh quan mỗi người, việc tính kích thước cho cửa chính, cửa phụ, bề ngang nhà và cách trang trí nội thất rất được xem trọng, như từ huyền quan (cửa chính) đi vào phải có sảnh rộng thoáng v.v…
Huyền quan tức mặt tiền nhà. Trong cách tính bốn phương tám hướng 24 phưiơng vị cát hung, như đã trình bày các mục trước. Như người trạch Kiền chọn hướng chính Tây được cung Sinh Khí, vậy huyền quan phải nhận được ánh nắng chiều vào nhà mới đúng. Vì huyền quan phải đối với hướng tốt, tránh hướng xấu.
Không làm nhà “đầu voi đuôi chuột” sẽ tán tài. Bên phải dài bên trái ngắn không có lợi cho vợ. Cần làm nhà các cạnh đều nhau, tuy nhiên hẹp ngang dài đòn là xấu.
Không làm trên miệng giếng cũ, ngã ba đường, trước miểu sau chùa (tức không để huyền quan nhìn vào, còn xoay lưng trước miễu hay sau chùa không nằm trong thế này).
Kích thước nhà ở có quy chế nhất định, ngày nay đa số dùng thước Lỗ Ban để đo; còn xưa kia thường dùng cách tính bằng bộ (bước) thay cho xích (thước) làm đơn vị.
4 thước 5 tấc là một bước (thước này tính theo thước phong thủy Trung Quốc xưa thường dùng, nhà Ân tính 1 tầm là 8 thước, nhà Chu lấy 7 đến 8 thước gọi là nhẫn, vì thế các loại thước đo này nay không còn tồn tại khi có thước đo tính bằng centimét ra đời).
Cách tính theo xưa :
– Một bước khởi đầu là KIẾN  (xây dựng)
– Bước hai là TRỪ  (loại bỏ cái xấu)
– Bước ba là MÃN  (đầy đủ)
– Bước bốn là BÌNH  (bình thường)
– Bước năm là ĐỊNH (ít thay đổi)
– Bước sáu là CHẤP  (có thời cơ)
– Bước bảy là PHÁ (tan vỡ)
– Bước tám là NGUY (không yên ổn)
– Bước chín là THÀNH  (thành đạt)
– Bước mười là THÂU  (thu hoạch)
– Bước thứ mười một là KHAI (mở mang)
– Bước thứ mười hai là BẾ (bế tắc)
và những bước đi tiếp theo lại tính tiếp Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định v.v…
Qua tính cách của 12 bước trên, ta thấy có chiều dài như Kiến nguyên cát, Trừ sáng sủa, Định kim quỹ, Chấp là thiên đức, Thành là tam hợp, Khai là sinh khí thuộc các bước tốt còn những bước khác xấu.
Khi vận dụng các bước, người xưa quan niệm :
– Về bề rộng căn nhà không được phạm vào các bước Mãn, Bình, Thâu, Bế.
– Về chiều dài lấy Trừ, Định, Chấp, Khai.
Nếu bề rộng hay chiều dài căn nhà có được Trư, Định, Chấp, Nguy, Khai, Kiến nhà sẽ có quý tử. Còn Trư, Định, Nguy, Khai, Chấp, Kiến sẽ có thành đạt…
– Khi đắp mặt bằng (nền nhà) ở trước cao sau thấp thì được, bằng ngược lại sẽ xấu.
– Cần đào hết các rễ cây, nhất là gốc cây cô thụ, gốc mít, thứ nhất gặp các gốc cây này nhà dễ bị sụp lún, sau tiên bạc phân tán khó đòi.
– Tránh đầu voi đuôi chuột, tiền của ít.
– Nhà hình tam giác cô quả tán tài.
– Bốn góc nhà bị khuyết không nên dùng. Tốt đẹp là căn nhà vuông, chữ nhật có đều cạnh.
– Kỵ nhà quá to nhân khẩu quá ít, hoặc nhà nhỏ người đông cũng không tốt.
– Nhà vệ sinh phải kiêng các hướng Kiền, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, hay chỗ có lai mạch.
– Cầu thang đặt giữa nhà không tốt, phải nằm bên phải, hướng bước lên cũng theo hướng huyền quan, các bậc thang tính 4 bước Sinh, Lão, Bệnh, Tử (Sinh là tốt).
– Nếu khu đất rộng xây dựng nhà vừa đúng nhu cầu, còn đất trống phải làm tường rào. Nhưng cách xây tường rào cũng có cách thức của nó.
3/- TƯỜNG RÀO
Mỗi khu đất là cả một thế giới riêng, tường rào là chỉ giới để những nhà khác không xâm phạm. Về nhãn quan khi nhìn vào tường rào người ta có nhận xét :
Sự thăng trầm trong căn nhà, tường rào được chăm sóc là gia chủ có dư tiền nhiều của, để ọp ẹp là đang thiếu trước hụt sau. Cổ ngữ có câu :
“Tường dầy ba thước, đáng trọng,
“Tường cao nghìn nhẫn, họa không vào”.
Các thầy tướng địa xưa có quan niệm, nhà ở thì vuông tường tròn là tốt theo thuyết “trời tròn đất vuông” (nhưng ngày nay ai đi xây tường hình tròn, vừa bị mất đất vừa thấy tù túng như nhà giam).
– Tường rào không được trổ cửa sổ như vậy phạm vào Chu tước khai khẩu (dễ bị tiếng thị phi).
– Trước hẹp sau rộng, hay ngược lại đều không tốt, vì vào thế “Thoái điền bút”.
– Không cao hoặc thấp quá, vừa tầm nhìn vào nhà theo thế cân xứng mỹ thuật.
– Không xây sát thân nhà, góc đông bắc không vỡ nứt.
– Không xây tường trước rồi xây nhà, là phạm chữ Tù.
– Tường rào phải có cổng, hai bên dựng cột tính theo bước Lỗ Ban như đã nói, căn nhà sẽ thêm sinh khí.
– Nhà có cửa hậu tốt.
4/- NHÀ BẾP
Bếp là nơi không thể thiếu trong nhà. Sách Thông Thư Trần Tử Tánh cho rằng ngày mùng 1 và 25 âm lịch mỗi tháng không được : đập phá, hay đặt, dựng bếp mới.
Còn trong thuật phong thủy các thầy địa lý thường truyền, khi đặt bếp phải chú ý đến hướng bếp, không được đối diện với cửa buồng, không được để người nhà đối diện trông thấy bếp, không để bếp đối diện với chuồng nuôi gia súc, nhà vệ sinh hay đường đi.
Có một bài phú về an vị, khai môn bếp như sau :
– Táo nhập KIỀN cung hiệu diệt môn (xấu)
NHÂM – HỢI nhị vị tổn nhi tôn (xấu)
GIÁP – DẦN đắc tài,  THÌN – MÃO phú (đại kiết)
CẤN – ẤT thiên hỏa tức Táo ôn (xấu)
TÝ – QUÝ – KHÔN phương gia khốn khổ (xấu)
SỬU thương lục súc gia họa ương (khó nuôi gia súc)
TỴ – BÍNH phát tài sanh đại phú (đại kiết)
NGỌ phương vương vị phú nhi tôn (thứ kiết)
TÂN – DẬU dinh phương đa tật bệnh (xấu)
THÂN tốn MÙI – TUẤT trạch hạnh thông (kiết)
Những cung hung kiết trong Bát Quái dùng cho việc làm bếp, đặt bếp là :
– Câu 1 : kỵ người trạch Ly. Câu 2, câu 5 : kỵ người trạch Khôn. Câu 6 : kỵ trạch Cấn và câu 9 : kỵ trạch Khảm.
Thí dụ : câu 1 Táo nhập Kiền cung kỵ người Ly trạch, nhà để cửa hướng Bính thì nhà tan, để cửa hướng Đinh trưởng nam trọng bệnh, cửa hướng Đoài trưởng nữ tổn thọ. Xem cung phi (còn gọi Trạch cung) biết người thuộc trạch cung nào. Các trạch khác theo câu thơ mà suy đoán.
Các câu 3, 7, 8 và 10 tốt.
Khi đặt bếp, miêng lò phải nhìn vê hướng :
– Sinh khí cầu được con
– Thiên y giải trừ bệnh
– Phước Đức tăng tuổi thọ
– Phục vì được như ý
Còn các hướng Họa hại, Lục sát, Ngũ quỷ và Tuyêt mạng là xấu.
– Dời bếp : đại kỵ ngày 1, 25 mỗi tháng, ngày Bính, Đinh; hay trực Phá gia chủ bệnh, trực Trừ cha mẹ mạng vong, trực Chấp, Bế tổn tài.
Còn trực Mãn, Thành được phú quý, trực Bình, Định thêm nhân khẩu, trực Thâu, Khai miễn trừ tai ương.
– Cầu tài : miệng bếp tránh hướng bản mệnh gặp Lục Sát. Nhìn về hướng Phúc Đức tốt, theo sách Thông Thư Trần Tử Tánh trong tháng sẽ có tiểu tài, trong 100 ngày có trung tài, một năm phát đại tài.
5/- MÀU SẮC VÀ NGOẠI CẢNH
Chung quanh nhà có cây cảnh sẽ sinh khí vượng, hộ ấm địa mạch là phú quý, như phía đông trồng đào, trồng dương, phía nam trồng mai trồng táo, phía tây trồng thị, phía bắc trồng hạnh trồng lý là đại cát, không thể trồng ngược lại, như vậy là thất nghi.
Ở thành phố không như ở nông thôn, mọi người thường trồng cây cảnh trong nhà, nếu nhà có sân vườn thì trồng hoa. Nhưng mỗi người phù hợp một màu sắc riêng, nên cũng lựa theo màu hoa mà trồng thành cảnh trí.
Do mỗi tuổi hợp với một màu như hình đồ Lạc Thư ghi nhận, cụ thể :
Người Đông trạch hợp :
– Khảm : màu đen (hay xanh đen)
– Ly : Đỏ tía (màu đỏ + xanh), màu hồng đậm.
– Chấn : Các màu xanh.
– Tốn : các màu xanh nhạt, sáng trắng.
Người Tây trạch hợp :
– Đoài : màu trắng (hay các màu vàng nhạt)
– Kiền : Đỏ đậm (màu đỏ + đen), hồng nhạt, trắng.
– Cấn : các màu vàng.
– Khôn : màu vàng và đen.
Cùng đồng mệnh trong Đông hay Tây trạch, mỗi người có thể sử dụng màu sắc lẫn nhau, nhưng có 4 yếu tố sẽ ảnh hưởng đến tài lộc, do mang các độ số cao thấp khác nhau :
– Cung Sinh Khí : thượng kiết gồm các cung :
Đông trạch : người cung Khảm hợp với hướng Tốn, cung Chấn hợp với hướng Ly, cung Tốn hợp với hướng Khảm và cung Ly hợp với hướng Chấn.
Tây trạch : người cung Kiền hợp với hướng Đoài, cung Cấn hợp với hướng Khôn, cung Khôn hợp với hướng Cấn và cung Đoài hợp với hướng Kiền.
Thí dụ : người cung Ly (Đông trạch) hợp với màu đỏ tía, cung Sinh khí của Ly là Chấn, có thể chọn thêm màu xanh cũng sẽ thích hợp hơn.
– Cung Phục Vì : kiết tại chính cung, như Khảm tại Khảm, Đoài tại Đoài v.v…
Thí dụ : người cung Khảm hợp màu đen, khi sử dụng màu đen chỉ thuộc kiết không được thượng kiết.
– Cung Phúc đức : thứ kiết, gồm các cung :
Đông trạch : Tốn (của Chấn), Ly (của Khảm), Khảm (của Ly) và Chấn (của Tốn).
Tây trạch : Khôn (của Kiền), Đoài (của Cấn), Kiền (của Khôn) và Cấn (của Đoài).
Thí dụ : người cung Khôn hợp với màu vàng và đen, sử dụng thêm màu đỏ đậm (của Kiền) hay trắng (của Đoài) sẽ hóa Khôn thuộc cung Phúc đức, thuộc thứ kiết không được kiết hay thượng kiết.
– Cung Thiên y : thứ kiết, gồm các cung :
Đông trạch : Chấn (của Khảm), Khảm (của Chấn), Ly (của Tốn) và Tốn (của Ly).
Tây trạch : Cấn (của Kiền), Kiền (của Cấn), Đoài (của Khôn) và Khôn (của Đoài).
Thí dụ : theo như cung Phúc đức.
Người Đông trạch không sử dụng màu sắc của Tây trạch, sẽ khắc kỵ gây tổn tài, hại của.
Do các cung Tây trạch Kiền, Cấn, Khôn Đoài đối với người Đông trạch sẽ là những cung Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Họa Hại. Người Tây trạch cũng không nên sử dụng màu sắc của Đông trạch là Khảm, Chấn, Tốn, Ly sẽ gặp Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Họa hại.
Thí dụ : người cung Ly (hợp màu đỏ tía) sử dụng màu của Khôn là đen sẽ gặp Lục sát, màu trắng của Đoài gặp Ngũ Quỷ, màu đỏ đậm, hồng nhạt của Kiền gặp Tuyệt mệnh hay màu vàng của Cấn gặp Họa hại.
Qua màu sắc thuộc các căn mạng nói trên, nhà của mỗi người có thể dùng sơn vôi tô điểm, hay tìm những bông hoa có màu sắc thích hợp để trang trí nội ngoại thất.
– Trước cửa nhà có cây lớn che mất minh đường, huyền quan là không tốt, nhưng lệch về hướng Tây Bắc có đât nhô cao lại thuộc thê tôt.
– Gần nhà hướng Đông Bắc, Tây Nam không nên có chỗ lồi lõm, vì như thế sẽ gặp hung tai; hướng chính Nam có đất trông tôt, có đống rác xâu.
– Phía trước nhà cao phía sau nhà thấp tốt, còn ngược lại phía trước thấp phía sau cao xấu (của cải đi ra).Thiên Việt
Vĩnh Bảo sưu tầm 21/9/2018

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

CHÁO

CHÁO

Người miền Nam không phân biệt cách phát âm cháu với cháo, nên phải hiểu theo cái ngữ cảnh.

Cháo ở đây là món ăn hóa thân từ gạo mà ra như cơm vậy. Nên cụm chữ cơm-cháu được người mình dùng chung riết rồi thành quen, có khi chỉ cơm cũng có khi chỉ cháo và cũng có khi ẩn dụ một cái gì khác nữa, không dính dáng gì với cháo, với cơm!


Cháo xuất hiện hàng ngày trong bữa ăn của người mình: Cho người già, người bịnh, người ưa ăn cháo và đặc biệt là cho trẻ sơ sanh.

Thế mới có câu:

- Thuộc như cháo.
- Ăn cháo, báo cơm
.

Thuở mới sanh ra chúng ta đã được bà, được mẹ, được chị cho ăn cháo rồi. Cháo nuôi ta lớn dần và ta lại “nuôi cháo” còn mãi đến ngày nay.

Ngày nay trẻ con sanh ra tập ăn sữa, nên ít gần gũi, gắn bó với chén cháo đơn sơ nhưng đậm đà tình mẫu tử như thế hệ ông bà, cha mẹ ngày xưa.

Nói “thuộc như cháo” nghĩa là đã rành rồi, nhưng nói về cháo chợ, cháo quê có khi ta đã quên ít nhiều!

Này nhé!

Trước hết là cháo trắng. Có lẽ cháo trắng có mặt sớm nhứt trong dòng họ cháo, do nhu cầu của các bà mẹ ở cái thời xa xưa, dùng để thay sữa nuôi con.

Cháo trắng chỉ là gạo nấu loãng, nấu nhừ, mà thành. Nhìn nó màu trắng nên đặt tên là cháo trắng. Gạo thì cũng nhiều loại chớ đâu phải là một loại. Nhà nghèo thì gạo đỏ, gạo nát, gạo mốc; có tiền thì gạo ngon, gạo Nàng Thơm Chợ Đào!

Để lửa “riu riu”, hột gạo nở bung ra như cánh hoa nên nghe nói bà con ngoài Bắc gọi là “cháo hoa”. Còn ở Lục Tỉnh có người pha trò gọi là “cháo cò” vì trắng như con cò (chớ không phải nấu với thịt cò).

Văn minh hơn các bà cho vào nồi cháo một ít “thuốc muối” cho cháo mau nhừ, mau rục rả, ăn ngon và dễ tiêu hóa.

Nghèo thì ăn cháo trắng “ên” thôi, hoặc có được vài lát đường tán thì ngon hơn.

Người lớn thích ăn cháo trắng với nước mắm kho quẹt, cá kho tiêu. Người Tàu khoái ăn với mắm ba khía, hột vịt muối. Sang hơn thì cháo trắng với trứng gà, với tiêu và hành. Dân dã thì cháo trắng với dưa mắm cũng ngon đáo để.


Nợ trả lần, cháo húp quanh

Ăn cháo lúc nào cũng phải ăn nóng, vừa thổi vừa húp. Húp phải húp xoay quanh tô cháo nếu không sẽ phổng miệng !

Kiểu nói trên ẩn dụ một cách sống, cách xử sự của người Việt ta ngày xưa, người Tây Phương làm sao có được.

Ngày nay ở quê mình vẫn còn nhiều bà mẹ nuôi con bằng cháo trắng và cũng đã có bao thế hệ lớn lên như vậy, họ cũng đã làm ông nầy bà nọ như thường chớ thua ai.

Xin nói tiếp về cháo vịt. Con vịt nấu cháo rất quen thuộc ở quê mình có thể để cúng, để đãi khách phương xa tới chơi, để ăn trong gia đình và để nhậu nhẹt.

Vịt thì có vịt Tàu, vịt ta, vịt Xiêm và vịt Xiêm lai.

Thông dụng là vịt Tàu, vì nó dễ nuôi, miệt vườn có nhà nuôi cả 1000 con để lấy trứng, chở lên vựa của người Tàu ở miệt cầu Chà Và bán cho họ ấp thành trứng hột vịt lộn, thành vịt con rồi bán lại cho dân mình !!!

Vịt nấu cháo rất nhanh. Trong lúc nhổ lông vịt thì bắt lửa nấu nồi nước, độ tàn điếu thuốc thì vịt làm xong và nồi nước cũng vừa sôi.

Thả con vịt vào luộc vừa chín tới thì vớt ra và cho gạo vào nồi nước luộc vịt mà nấu cháo. Thế là bạn có nồi cháo vịt nóng hổi, ngon lành.

Vịt chặt ra từng miếng vừa gắp, cháo nêm với tiêu, hành và nước mắm ngon, ăn kèm với Rau thơm trộn bắp chuối hột, chấm với nước mắm gừng thì hết chỗ chê!

Nhìn tô cháo nóng bốc khói, mùi thơm của tiêu hành, mùi của con vịt bốc theo làm cho ta phải húp nóng mới thấy đã. Ăn cháo húp quanh là vậy.


Cháo nấu “vịt ta” hay “vịt Xiêm” lai thì ăn rất độc, mấy ông già xưa bảo người yếu trong mình ăn vô sẽ bị “phát lảnh” (phát lạnh, phát rét).

Cháo vịt Xiêm là loại cao cấp. Vịt Xiêm thường phải nấu với cháo đậu xanh mới đúng điệu. Vào mùa nóng, nhà có tiền, nhà giàu dư ăn dư để hay bày nấu cháo vịt Xiêm đậu xanh cho con cháu ăn phòng ngừa bịnh thời khí, không bị nổi trái, nổi sải.

Vịt Xiêm tơ nấu cháo, xương mềm, nhai rất béo, rất ngọt, ngon hơn vịt tàu, vịt ta nhiều.

Nhiều người ăn cháo vịt với cơm, với bún vừa ngon, vừa no và không cần ăn thêm gì nữa.

Nhớ thuở nhỏ, khi ở nhà mần vịt nấu cháo là mình lấy phần lông vịt, phơi khô bán cho mấy bà mua “ve chai lông vịt”. Hôm sau, có tiền đi học ăn cà kem, nước đá nhận.

Còn con gà nấu cháo gọi là cháo gà.

Cháo gà ngon và bổ dưỡng, dễ tiêu hóa hơn cháo vịt và nhứt là ăn “không độc”.

Phải lựa con gà giò, gà trống vừa lớn, mới vỗ cánh tập gáy. Lúc đó con gà vừa đủ lớn, xương thịt phát triển đầy đủ, sung sức, mập nhưng không có mỡ.

Gà nấu cháo ăn ngon độc đáo nhờ “xé phay” chớ không chặt như vịt. Dùng tay xé gà lúc còn nóng, xé sao cho miếng gà còn nguyên không bị nát; trộn với rau răm, nặn một trái quít lấy nước rưới lên làm cho thịt gà ngon hơn nhiều.


Có một món cháo mà nếu không cẩn thận, nói lộn tên dễ gây mít lòng lắm nhé !

Đó là cháo lòng. Bà con đặt tên món cháo nấu với lòng, với thịt heo là cháo lòng chớ không kêu là cháo heo !

Cháo heo là cháo nấu gạo lức với tấm, cám, chuối cây… để nuôi heo, muốn biết rõ hơn xin tìm đọc tác phẩm “Ngọn Cỏ Gió Đùa” của nhà văn Hồ Biểu Chánh, trong đó có nhân vật Lê Văn Đó ăn cắp nồi cháo heo…

Cháo lòng có lẽ do sáng kiến từ các buổi lễ hội cúng đình. Thuở xưa người dân nghéo ít khi có dịp ăn thịt heo nên chỉ mong dịp cúng đình.

Nồi cháo lòng ở đình rất to, nấu với nước luộc đầu heo, luộc lòng, luộc thịt.
Đầu, lòng, thịt luộc chỉ dành cho các chức sắc ban hội tề; còn dân đen chỉ được hưởng phần cháo lòng với bún, cũng “quí” rồi, nên mới có câu tục ngữ:

“Mượn đầu heo nấu cháo”

Cháo lòng ở nhà mẹ nấu thì ngon hơn, nhưng cháo ở quán cóc, ở chợ quê lại có cái ngon khác.

Lòng heo sắt mỏng chấm với nước mấm trong, dằm ớt ăn với cháo rất ngon và cũng là món đưa cay của các bác xích lô, của người lao động.

Mấy cô, mấy cậu học trò cũng thích ăn cháo lòng buổi sáng, rẻ mà no.


Khi Sài Gòn phát triển, có những nhà máy làm ca đêm là dịp để cho các gánh cháo lòng xuất hiện. Cháo lòng tiện lợi là phục vụ nhanh, ăn bổ dưỡng, nhứt là hợp với ban đêm.

Nay cháo lòng đã trở thành một phần của đời sống về đêm của dân Saigon, phục vụ cho cả các doanh nhân, văn nghệ sĩ, các cô cậu choai choai đi chơi đêm về.

Nay nói về “cháo cá”, và đặc biệt cháo cá nhà quê. Nói là cháo cá nhà quê chớ đâu phải người nhà quê nào cũng ăn qua. Có người chỉ có nghe thôi, có người chưa hề nghe nói !

Đó là món cháo cá lóc với rau đáng đất.

Mấy lão nông Lục Tỉnh nói rằng cá lóc tát đìa nấu cháo mới ngon.

Khi nước rút xuống –mấy cụ lão nông kể, con cá lóc tìm xuống đìa, xuống vũng, xuống đầm để sống, Con cá trụ lại, lo ăn, không “bay nhảy” đó đây nên mập ra vì ăn nhiều sinh vật tích tụ trong đìa.

Tát đìa vào lúc đó, lựa cá lớn, có trứng, làm sạch để nguyên con nấu cháo.

Gạo thời điểm nầy là gạo mới đầu mùa, nấu cháo có mùi thơm.

Con cá nấu cháo vớt nguyên con ra để trên dĩa bàn, rồi tùy thích: Đầu, bụng, trứng hay đuôi mà chấm nước mấm gừng.

Cháo nóng múc ra tô, cho vào vài đủa rau đắng đất, chan một ít nước mắm gừng, chúng ta có một tô cháo cá lóc rau đắng đất tuyệt diệu, khó tìm.


Tin chắc rằng bạn không tìm đâu có được món ngon như thế. Đâu đó ở Saigon, trong nhà hàng mà bạn đã ăn qua cũng chẳng qua là phó bản, là nhái theo, không lừa được cái lưỡi của người sành điệu!

Đến món cháo cá bống kèo độc nhứt vô nhị xin giới thiệu cùng khách mộ điệu.
Cá bống kèo cũng năm bảy dường khác nhau. Nổi tiếng nghe nói là cá bống kèo miệt ruộng muối Bạc Liêu, nhưng ngon nhứt là cá ở miệt Cửa Tiểu –Cửa Đại vùng nước lợ.

Từ xưa ông bà kể là con cá bống kèo do đất sanh ra, và sống chỉ ăn bọt nước.

Ở quê vừa mưa xuống đã thấy có cá bống kèo con rồi, nó sống nhờ phiêu sinh vật, rong rêu nổi theo bọt. Đến mùa lúa trổ đầy đồng, mài non của hột lúa rụng khắp ruộng, là mồi nuôi cá bống kèo miệt Cửa Tiểu, Cửa Đại.

Cho nên tháng 10, tháng 11 ta, sắp Tết, con cá bụng to đầy mở, và mập tròn đẩy đà.

Bắt nồi cháo gạo mới đầu mùa lên bếp, canh lửa riu riu cho gạo nở từ từ bạn sẽ nghe mùi thơm mời gọi, độc đáo từ nồi cháo gạo mới bốc ra.

Đi theo chân ông lão nông bước ra đầu ruộng kéo “cái đó” lên bắt cá bống kèo còn sống nhảy soi sói, đem về trút thẳng vào nồi cháo đang sôi trên bếp. Con cá vùng vẫy, trong nước sôi, nghe tiếng kêu “rồ rồ” rồi tắt hẳn.

Lúc đó con cá vừa chín tới. Đem nồi cháo xuống, vớt cá ra dĩa bàn to, con cá bống kèo nứt da, dựng kỳ, dựng vi nhìn không quen thấy “ớn” nhưng ăn ngon, có vị ngọt, thịt mềm.

Thưởng thức món cháo bống kèo kiểu nầy rồi bạn sẽ chán kiểu nấu cầu kỳ: Làm sạch, chặt đầu, nấu với cải bắc thảo và nói theo dân quê thì ăn như “dậy” là “hổng biết” ăn cá bống kèo nấu cháo.


Hột cháo hột cơm, gắn với người mình từ thuở mới sanh ra, nó đi vào tim can, huyết quản của từng người.

Cháo không chỉ là món ăn nuôi ta lớn mà đã trở thành cái gì ở trong ta như một thứ tình cảm nho nhỏ, có lúc có khi tưởng như đã quên rồi.

Nay nhắc lại, nó sẽ trở về như một kỷ niệm, thôi thúc ta quay về với thuở ngày xưa, với bao cảnh cũ vô cùng đẹp đẽ.Nam Sơn
Vĩnh Bảo sưu tầm 4/9/2018




TẢN MẠN VỀ ĐỒNG ĐÔLA MỸ

TẢN MẠN VỀ ĐỒNG ĐÔLA MỸ

Chuyện kể có một cô ca sĩ thuộc loại “chịu chơi”, khi được hỏi về âm nhạc, cô đã trả lời một cách hồn nhiên: “Trong âm nhạc có 7 nốt… do, re, mi, fa, sol, la, si… em thì chỉ thích hát những bài nào có nốt Đô và nốt La…”



Tuy chỉ là câu chuyện tiếu lâm… nhưng thiết nghĩ, đó cũng là một nhận xét rất thành thật: hầu hết chúng ta, ai mà chẳng thích đồng đô la… Nhưng phải là “đô la Mỹ” ($) chứ không phải là những đồng đô la Singapore, Hồng Kông… Chí ít cũng phải là đô la Úc… Phạm vi của bài viết này chỉ xoay quanh đồng đô la Mỹ được in trên giấy (bills, banknotes) còn đồng đô la bằng kim loại (coins) xin hẹn vào một dịp khác.


Ngoài Hoa Kỳ, đồng đô la còn được chính thức sử dụng tại các nước và lãnh thổ như Quần đảo Virgin (Virgin Islands), Đông Timor (Timor-Leste), Ecuador, El Salvador, Panama, Quần đảo Marshall, Quần đảo Turks và Caicos (Turks and Caicos Islands), Micronesia, Palau và Vùng quốc hải Hoa Kỳ (US Insular Areas).

Bên cạnh thuật ngữ chính thức "dollar", đồng đô la còn có nhiều tên gọi nôm na khác trong tiếng Anh như Buck, Clam, Dough, Frog, Green, Greenback, Potato, Cabbage, Duckket... Đồng tiền còn được người Mỹ gọi tên theo chân dung các nhân vật được in trên giấy bạc như Washington, Jefferson, Lincoln, Benjamin, Hamilton...


Theo thứ tự, mệnh giá nhỏ nhất là đồng 1 đô la ($1) có in hình George Washington (1732-1799), vị Tổng thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông được coi như "vị cha già của dân tộc" và giữ chức vụ Tổng thống từ năm 1789 đến 1797. Người Mỹ ca tụng ông hết lời và đó cũng là lý do ông xuất hiện trên tờ giấy bạc $1 được lưu hành phổ biến nhất trong cuộc sống hàng ngày cho đến ngày nay.

“Giải phẫu” đồng $1 ta bắt gặp rất nhiều chi tiết cho thấy những thông tin về thời gian và địa điểm tờ giấy bạc được phát hành. Đầu tiên là “Con dấu của Cục Dự trữ Liên bang” (Federal Reserve Seal) nằm trên góc trái của đồng tiền.

Có đến 12 Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Federal Reserve Bank) được giao nhiệm vụ in tiền trên toàn nước Mỹ. Mỗi ngân hàng được biểu thị bằng mã số mẫu tự theo thứ tự từ A đến L. Mã số này cũng được lập lại phía bên tay phải của hàng “số series” (serial number) in trên đồng tiền.

1_Boston: A
2_New York: B
3_Philadelphia: C
4_Cleveland: D
5_Richmond: E
6_Atlanta: F
7_Chicago: G
8_St. Louis: H
9_Minneapolis: I
10_Kansas City: J
11_Dallas: K
12_San Francisco: L.


“Số series” xuất hiện cả ở mặt trước và sau của đồng tiền, ngoài ra còn có “số series ngày” hoặc “số series năm” để ghi lại thời gian phát hành. Trên mặt trước của đồng $1 còn có hai chữ ký, một của Giám đốc Ngân khố Hoa Kỳ (Treasurer of the United States) bên trái và chữ ký của Bộ trưởng Ngân khố (Secretary of the Treasury) phía bên phải.

Quốc huy (the Great Seal) có hình con ó “American Bald Eagle” xuất hiện ở mặt sau, phía bên phải. Con ó mang hai bên chân 2 cành olive và chung quanh có khẩu hiệu bằng tiếng Latin "E Pluribus Unum", tạm dịch là “kết hợp từ rất nhiều để thành một”, hàm ý nước Mỹ là một quốc gia hợp bởi nhiều chủng tộc. Ở phía bên trái có biểu tượng kim tự tháp, trên đỉnh tháp là một con mắt với dòng chữ "Annuit Coeptis", tạm dịch là “Thượng đế phù hộ quyết tâm của chúng ta”.


Điều đặc biệt trên cả hai biểu tượng đều có lên quan đến số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang từ thời lập quốc Hoa Kỳ: 13 mẫu tự trong các khẩu hiệu bằng tiếng Latin, 13 tầng kim tự tháp, 13 mũi tên nơi chân con ó, 13 ngôi sao và 13 sọc đỏ trắng trên nền cờ. Xem ra Hoa Kỳ thời lập quốc hoàn toàn không tin dị đoan vào con số 13 như những người Âu châu!


Trong khi đồng $1 được mọi người sử dụng hàng ngày nên rất phổ biến thì đồng $2 lại là một câu chuyện khá thú vị. Tờ giấy bạc $2 được chính thức phát hành vào tháng 3/1862 nhưng đến năm 1966 lại tạm ngưng vì lý do "ít được sử dụng" và "không có tính cách phổ biến". Đó cũng là lý do khiến đồng $2 trở nên quý hiếm và có giá đối với những người sưu tầm tiền tệ.


Ít lưu hành dẫn đến tình trạng nhu cầu sử dụng đồng $2 ngày càng giảm. Thậm chí có nhiều người Mỹ còn không biết đến đồng tiền này dù trên thực tế vẫn tồn tại hợp pháp trên thị trường tiền tệ. Ngân khố Hoa Kỳ đã khẳng định:

“Đồng $2 vẫn là một trong những đồng tiền được công nhận. Tính đến 30/4/2007, đồng $2 có tổng giá trị 1.549.052.714 đô la hiện đang lưu hành trên toàn thế giới…”


Trên tờ giấy bạc $2, tái phát hành năm 1928, là chân dung của Thomas Jefferson (1743-1826), cha đẻ của Bản Tuyên ngôn Độc lập (Declaration of Independence) năm 1776. Ông cũng là người được bầu làm Phó Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 1797-1801, và sau đó là Tổng thống thứ 3, nhiệm kỳ 1801-1809.

Đến năm 1976 đồng $2 lại được Quỹ Dự trữ Liên bang (Federal Reserve) tiếp tục phát hành. Một trong những lý do cho việc tái phát hành là Chính quyền Liên bang có thể tiết kiệm được 26 triệu đô la thông qua việc đồng $2 có thể thay thế gần một nửa số lượng giấy bạc $1 lưu hành trong năm 1976.

Mặt sau của đồng $2 là bức tranh của họa sĩ John Trumbull mô tả cảnh Bản Tuyên ngôn Độc lập được trình bày trước các nhà chính trị thuở Hoa Kỳ mới lập quốc. Bức tranh này thay thế hình ảnh đồn điền Monticello của Tổng thống Jefferson.

Đồng $2, Tổng thống Thomas Jefferson, phát hành năm 1928


Mặt sau đồng $2 với bức tranh “Declaration of Independence”, phát hành năm 1976


Chân dung Abraham Lincoln (1809-1865), Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, được chọn trên đồng $5. Ngày xưa, vào thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ 20, đồng tiền này còn được gọi bằng cái tên bình dân là “fin”, một thuật ngữ của người Do Thái gốc Đức, có liên quan đến chữ “five” trong tiếng Anh. Cơ quan in tiền của Hoa Kỳ cho biết tuổi thọ trung bình của tờ $5 là 5,5 năm, trước khi được thay thế bằng đồng tiền mới. Một thống kê năm 2009 tiết lộ trong tất cả các mệnh giá của đồng đô la lưu hành trên thị trường, đồng $5 chiếm khoảng 6%.


Ấn bản mới của đồng $5, được phát hành ngày 13/3/2008 nhân kỷ niệm ngôi nhà của Tổng thống Lincoln đã được cải tiến rất nhiều về kỹ thuật in tiền như hình in chìm (watermark) và sợi chỉ an toàn, sẽ biến thành màu xanh qua tia cực tím. Mục đích để tạo khó khăn đối với những kẻ làm bạc giả cũng như người sử dụng dễ phân biệt.

Còn phải kể tới kỹ thuật “in chữ li ti” hay còn gọi là “in vi mô” (microprinting) được áp dụng cũng vì mục đích như đã nói. Chẳng hạn như các dòng chữ “FIVE DOLLARS”, “USA FIVE” và "E PLURIBUS UNUM” được in trên mặt trước và sau của đồng tiền. Rất khó có thể sao chép những dòng chữ này trên máy photocopy.

Đồng $5, Tổng thống Abraham Lincoln, phát hành năm 2006


Ấn bản mặt sau của đồng $5, phát hành năm 2006, là hình Đài kỷ niệm Lincoln tại Wahshington D.C. có khắc tên của 48 tiểu bang. Tuy nhiên, trong hình trên đồng tiền chỉ có tên của 26 tiểu bang trên mặt tiền của Đài kỷ niệm.

Cũng trên mặt sau của đồng $5 có số 5 xuất hiện ở góc phải, phía dưới được in to bằng màu để giúp những người sử dụng dễ nhận diện. Bên cạnh đó là dòng chữ “USA FIVE” màu trắng dùng kỹ thuật in microprinting.


Mặt sau đồng $5, Đài kỷ niệm Abraham Lincoln, phát hành năm 2006


Điều đặc biệt chân dung trên đồng $10 không phải là Tổng thống Hoa Kỳ như vẫn thường thấy trên các đồng tiền hiện đang lưu hành. Chỉ có 2 trường hợp đặc biệt này là Alexander Hamilton (1755 – 1804), Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Mỹ, nhiệm kỳ 1789 – 1795 người thứ hai là Benjamin Franklin (1706 – 1790), nhà khoa học, nhà phát minh nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Trên đồng $10 có chân dung của Alexander Hamilton, một trong 4 người đã có công khai sinh ra đồng đô la cho ngành tiền tệ của Hoa Kỳ. Ông là người không ra đời tại lục địa Mỹ châu. Hơn thế nữa, chân dung của Hamilton, không có khung hình bầu dục và hình ông nhìn về phía bên trái trong khi chân dung của các đồng tiền khác lại hướng về phía phải!


Ngày 17/6/2015 Bộ trưởng Ngân khố Jack Lew tuyên bố chân dung của Hamilton trên đồng $10 sẽ được thay thế bằng chân dung của một phụ nữ vào năm 2020. Vấn đề người phụ nữ nào sẽ có mặt lần đầu tiên trên đồng đô la vẫn còn bỏ ngỏ qua nhiều ý kiến của dư luận.

Một chính khách thậm chí còn đề nghị chân dung đó sẽ là bà Margaret Thatcher… nhưng bà lại là nữ Thủ tướng của nước Anh!

Đồng $10, với chân dung Alexander Hamilton, phát hành năm 2006


Vào năm 1933, để hỗ trợ nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời kỳ Đại khủng hoảng, một lượng tiền lớn đã được tung ra thị trường. Kể từ năm 1963 trên đồng tiền không còn in dòng chữ “WILL PAY TO THE BEARER ON DEMAND” (Trả cho người sở hữu khi có nhu cầu), thay vào đó là “THIS NOTE IS LEGAL TENDER FOR ALL DEBTS, PUBLIC AND PRIVATE” (Đồng tiền này là phương tiện thanh toán hợp pháp cho mọi khoản nợ, công cũng như tư).

Theo thống kê chính thức, tuổi thọ trung bình của đồng $10 là 4,5 năm, khoảng 54 tháng, trước khi nó được thay thế bằng những đồng tiền mới. Điều lý thú là đồng $10 ngày xưa còn có tên gọi là “sawbuck” chỉ vì con số 10 giống con số La Mã X thường là hai khúc cây bắt chéo để làm giá đỡ khi cưa.


Mặt sau đồng $10 với hình Tòa nhà Ngân khố, phát hành năm 2006

Từ năm 1928, chân dung Tổng thống thứ 7 của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 1829 – 1837, Andrew Jackson (1767 – 1845), được chọn trên tờ $20 và mặt sau là Tòa Bạch ốc. Cũng vì thế cho nên người Mỹ còn gọi giấy bạc $20 là “Jackson” hay có một tên khác là “double-sawbuck” vì có giá trị gấp đôi đồng “sawbuck” ($10).

Trước đó, đồng $20 có hình chân dung Grover Cleveland (1837 – 1908), Tổng thống 3 nhiệm kỳ (thứ 22, 23, 24) của Hoa Kỳ, từ năm 1884 đến năm 1892. Việc thay đổi chân dung các vị Tổng thống không được Bộ Ngân khố giải thích, có thể vì tính cách tế nhị của vấn đề.


Chiến dịch “Phụ nữ 20” (Women on 20s) cũng đề nghị chọn gương mặt phụ nữ trên đồng $20 vào năm 2020. Trong danh sách đề cử có Eleanor Roosevelt (Đệ nhất Phu nhân của Tổng thống 4 nhiệm kỳ Franklin D. Roosevelt), Wilma Mankiller (người Mỹ gốc thổ dân da đỏ) Rosa Parks và Harriet Tubman (hai nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ da màu).

Tuổi thọ của đồng $20 có phần lâu hơn các đồng tiền mệnh giá thấp hơn vì ít được sử dụng. Con số thống kê năm 2013 là tuổi thọ kéo dài 7,9 năm, chiếm khoảng 11% lượng giấy bạc phát hành năm 2009.

Đồng $20, Tổng thống Andrew Jackson, phát hành năm 2003


Mặt sau đồng $20, in hình Tòa Bạch ốc, phát hành năm 2003


Trên giấy bạc $50 là chân dung Tổng thống thứ 18 (nhiệm kỳ 1869 – 1877), Ulysses S. Grant (1822 – 1885). Ông còn được gọi thân mật là “Tướng Grant”, hoạt động cùng Tổng thống Abraham Lincoln trong cuộc nội chiến giữa hai miền Nam – Bắc năm 1861.

Đồng $50, cũng còn được gọi là “Grant”, có tuổi thọ trung bình là 8,5 năm, hay 102 tháng. Sau đó được thay thế bằng giấy bạc mới và chỉ có khoảng 6% giấy $50 trong số các đồng tiền lưu hành tại Hoa Kỳ.

Năm 2005 đánh dấu lịch sử in tiền của Hoa Kỳ với kỹ thuật pha màu trong đó hình chân dung của “tướng Grant” in màu xanh, không có viền, và lá cờ Mỹ màu đỏ nằm bên phải bên cạnh con số 50 được in màu đồng. Mặt sau của đồng $50 là hình ảnh Điện Capitol, cơ quan lập pháp thuộc Quốc hội Hoa Kỳ, đặt tại thủ đô Washington D.C.

Đồng $50, Tổng thống Ulysses Grant, phát hành năm 2004


Mặt sau đồng $50, in hình Điện Capitol, phát hành năm 2004


Đồng đô la là đơn vị tiền tệ quan trọng không những đối với nền kinh tế Hoa Kỳ mà còn giữ một vai trò dự trữ trong thị trường tiền tệ của cả thế giới. Gần 80% tổng số tiền phát hành của Hoa Kỳ nằm trong tờ giấy bạc $100. Nếu chỉ lưu hành trên thị trường trong nước sẽ không có con số thống kê lớn như vậy.

Trên thế giới có tới khoảng 820 triệu tờ giấy bạc $100 được lưu hành hoặc dự trữ, biến nó thành loại giấy bạc phổ biến nhất trong các loại tiền tệ trên thế giới xét theo giá trị. Theo Cục Dự trữ Liên bang, 2 phần 3 số giấy bạc $100 hiện đang lưu hành ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Giấy bạc này rất phổ biến trong giới buôn lậu ma túy và vũ khí quốc tế, đồng thời cũng được dùng như một loại trữ kim có giá trị đối với những quan chức tham nhũng tại các nước.


Tờ $100 mang chân dung một nhân vật đa tài, Benjamin Franklin (1706 – 1790). Ông là nhà khoa học về vật lý, điện từ nhà phát minh ra cột thu lôi nhà hoạt động nhân quyền nhà ngoại giao và cũng là một trong những người khai sinh ra Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Cũng vì thế đồng $100 còn được gọi là “Ben”, “Benjamin” hay “Franklin” hay còn có tên là “Đồng C” vì chữ C trong số La Mã là 100! Cũng cần phải nhắc lại, Benjamin Franklin và Alexander Hamilton là hai nhân vật duy nhất không phải là Tổng thống Hoa Kỳ nhưng vẫn có vinh dự xuất hiện trên tờ $100 và $10.

Mặt trái của đồng $100 là Tòa nhà Độc lập tại Philadelphia, trong khi trên những đồng tiền khác đều là dinh thự hoặc đài kỷ niệm tại thủ đô Washington D.C. Chiếc đồng hồ trên tòa nhà chỉ 4g10 trên những đồng tiền phát hành trước năm 2009 và kể từ đó những bản in sau này đồng hồ lại chỉ 10g30!


Kể từ năm 1969, tờ $100 là đồng tiền có mệnh giá lớn nhất khi chính phủ Hoa Kỳ ngưng phát hành những tờ $500, $1.000, $5.000 và $10.000. Tuy nhiên, 4 loại tiền giấy có giá trị này vẫn được công nhận trong giao dịch tiền tệ đối nội cũng như đối ngoại giữa các ngân hàng.

Đồng $100, Benjamin Franklin, phát hành năm 2009


Mặt sau đồng $100, tòa nhà Độc Lập, phát hành năm 2009


Tại Việt Nam, có một thực tế, không biết nên buồn hay vui, vì có khi đi đường người ta bắt gặp những đồng đô la với mệnh giá $50 hoặc $100 nằm rải rác trên đường mà chẳng ai thèm nhặt! Hóa ra đó là đô la “hàng mã” thường rải theo các xe tang hoặc được đốt mỗi khi cúng giỗ.

Thế cho nên, có thể nói người sống thích đô la là chuyện dĩ nhiên như cô ca sĩ trong truyện tiếu lâm nói đến ở trên và người chết chắc cũng cần đô la để “lót đường”, nạp “mãi lộ” trong cuộc hành trình cuối cùng về bên kia thế giới!


Chắc chuyện này… “chỉ có ở Việt Nam”!(Sưu tầm trên mạng)
Vĩnh Bảo sưu tầm 4/9/2018