Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Vén màn ‘bí ẩn’ về hình bán nguyệt trên móng tay

Vén màn ‘bí ẩn’ về hình bán nguyệt trên móng tay




Hình bán nguyệt thông thường có dạng lưỡi liềm, màu trắng ngà và cao bằng khoảng ⅕ móng tay. Những biến đổi về hình dạng, màu sắc, kích thước của nó đều có thể là gợi ý của cơ thể về tình trạng sức khỏe của bạn.
Cơ thể người thật hoàn hảo, có hàng trăm biện pháp cảnh báo về tình trạng sức khỏe, như thông qua màu sắc da, mức độ rụng tóc, tốc độ lành vết thương, tình trạng mọc mụn v.v.
Tuy nhiên có một vùng trên cơ thể rất ít người để ý đến nhưng thực sự cung cấp nhiều thông tin hữu ích về sức khỏe của bạn, đó là hình bán nguyệt trên móng tay.
Hình bán nguyệt trên móng tay thực chất là gì?
Thoạt nhìn hình bán nguyệt này có vẻ là một bộ phận của móng tay, trên thực tế chúng thuộc phần da ngay dưới móng tay. Nó là vùng bảo vệ và che phủ cho những mạch máu dễ bị tổn thương ở khu vực này. Thông thường mọi người đều có hình bán nguyệt trên móng tay, mặc dù không phải móng của ngón tay nào cũng có (nhiều người chỉ thấy hình bán nguyệt trên móng của ngón tay cái). Hình bán nguyệt đóng vai trò quan trọng quyết định hình dáng của móng tay. Bất kỳ tổn thương nào ở khu vực này đều sẽ làm thay đổi vĩnh viễn sự phát triển của móng tay.
Hình bán nguyệt tiết lộ điều gì về sức khỏe bạn?
Theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí của Viện hàn lâm Da liễu năm 1996, hình bán nguyệt cảnh báo các vấn đề sức khỏe thông qua 3 phương diện: kích thước, hình dạng và màu sắc. Một hình bán nguyệt bình thường, khỏe mạnh sẽ có hình lưỡi liềm, màu trắng ngà, và cao khoảng ⅕ độ dài của móng tay. Nếu bạn thấy hình bán nguyệt của mình có bất cứ thay đổi nào như dưới đây, bạn nên đi kiểm tra để sớm phát hiện những rối loạn của cơ thể.
Kích thước
Hình bán nguyệt cao bằng khoảng ⅕ móng tay, kích thước to hoặc nhỏ hơn đều có thể là bất bình thường.
Hình bán nguyệt lớn hơn bình thường: Đối với một số sắc tộc, đặc biệt là người Ấn Độ, điều này là bình thường. Bên cạnh đó, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh rối loạn nội tiết như cường giáp trạng.
Hình bán nguyệt nhỏ hơn hoặc không có: Thông thường đối với người Châu Phi đây là điều bình thường và có thể liên quan đến tuổi tác.
Bên cạnh đó đây có thể là dấu hiệu của:
  • Xơ vữa mạch máu
  • Bệnh nhiễm sắc thể
  • Bệnh móng tay
  • Rối loạn nội tiết, bao gồm cả thiểu năng tuyến giáp và cường giáp trạng.
  • Suy dinh dưỡng và thiếu máu thiếu sắt
  • HIV
  • Tổn thương thần kinh
  • Suy thận
  • Viêm khớp dạng thấp
Hình dạng
Đôi khi hình bán nguyệt có thể chuyển sang dạng vuông vắn hơn, hoặc chuyển sang hình tam giác. Dưới đây là một số nguyên nhân:
  • Hội chứng Turne, một hội chứng di truyền
  • Các rối loạn nhiễm sắc thể, bao gồm hội chứng Down, hội chứng Edward, hội chứng Patau
  • Chấn thương móng tay
Màu sắc hình bán nguyệt
Còn gọi là chứng loạn sắc tố hình bán nguyệt. Hình bán nguyệt thông thường có màu trắng ngà.
Chấm đỏ: Hình bán nguyệt có các chấm đỏ báo hiệu tình trạng rụng tóc, bạch biến, bệnh vảy nến hoặc bệnh dị dạng và loạn dưỡng móng.
Xanh: Nguyên nhân thường là do thuốc uống, bao gồm thuốc hóa trị, các loại thuốc ung thư, thuốc HIV v.v.v Hình bán nguyệt màu xanh cũng có liên quan với bệnh Wilson và bệnh Hemoglobin M.
Vàng: Hình bán nguyệt màu vàng thường do tiếp xúc với thuốc trừ sâu gây nên.
Trắng: Hình bán nguyệt bình thường trắng hơn vùng còn lại của móng tay. Tuy nhiên nếu hình bán nguyệt quá trắng thì lại là bất thường, có thể gặp trong người bị bệnh thận mạn, hội chứng thận hư, xơ gan, suy tim xung huyết và tiểu đường.
Như chúng ta đã thấy, hình bán nguyệt cung cấp rất nhiều thông tin hữu ích về sức khỏe. Đừng quá lo lắng nếu bạn nhận thấy vùng này có bất cứ thay đổi nào như đã nêu ở trên. Nếu có, hãy kiểm tra xem bạn có triệu chứng nào của các bệnh đã đề cập đến hay không và sớm đến bệnh viện để kiểm tra, phát hiện kịp thời bệnh nếu có.
Theo theheartysoulĐại Hải – Hoàng Kỳ
Vĩnh Bảo sưu tầm27/8/2017 

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Bí mật muôn thuở về giấc ngủ

Một bài viết trên Sina blog có tên “Bí mật muôn thuở về giấc ngủ”, đã tiết lộ những bí mật thiên cổ về giấc ngủ của con người .
(Fotolia)
(Fotolia)
Trong bài viết có nói, theo y học và kinh nghiệm bản thân cũng như những gì quan sát được, thời gian ngủ thực sự của một người tối đa là hai giờ đồng hồ, còn lại đều là một sự lãng phí thời gian. Chúng ta nằm trên gối và đi vào trong những giấc mơ, không ai là không có những giấc mơ cả. Nhưng chúng ta lại không cảm nhận được chúng, đó là vì chúng ta đã quên đi ngay sau khi thức dậy. Thông thường để ngủ đủ thì chúng ta chỉ cần 2 giờ, vậy thì tại sao rất nhiều người muốn ngủ đến bảy hay tám giờ? Đó là vì chúng ta đã nuôi dưỡng thói quen, tập quán nghỉ ngơi trên giường trong thời gian lâu, chúng ta không cần quá nhiều thời gian để ngủ, đặc biệt là những người tu thiền và luyện võ thuật, họ biết rằng, chỉ cần nhắm mắt lại và thực sự đi vào giấc ngủ thì vào buổi trưa chúng ta chỉ cần ngủ ba phút, đã là tương đương với hai tiếng đồng hồ ngủ rồi. Khi đêm đến thì cũng phải ngủ, tốt nhất là vào nửa đêm, năm phút tương đương với sáu giờ đồng hồ.
Như vậy chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn dành cho việc học tập, thuận theo nguyên lý vũ trụ, quy luật của đất trời, và mối quan hệ giữa Âm và Dương, chúng ta sẽ cảm thấy rằng: Một khối năng lượng từ tim và cơ quan nội tạng sẽ hạ xuống phần bên dưới và hội tụ tại đan điền (bụng dưới), năng lượng này sẽ được dung hòa ở đây. Khi ấy “Thủy hỏa đủ đầy”, tất cả đều sẽ trở nên lắng dịu lại, sau một giấc ngủ đủ, tinh thần của chúng ta sẽ trở nên rất tốt.
Vì vậy, những người bị mất ngủ hoặc có thói quen thức thâu đêm, phải tự mình rèn luyện đi ngủ vào 12h, cho dù chỉ là ngủ 20 phút.
Nếu chúng ta hăng say làm việc quá nửa đêm (sau 12 rưỡi), chúng ta sẽ không cảm thấy buồn ngủ nữa, đây là điều rất không tốt. Nghiêm trọng hơn, là làm việc cho đến bình minh , bốn, năm, sáu giờ, giả sử bạn lại buồn ngủ, nếu bạn ngủ lúc đó dù chỉ là một lát thôi thì cả ngày hôm đó bạn sẽ cảm thấy đầu óc mệt mỏi và choáng váng.
Vì vậy, những người muốn làm việc muộn vào ban đêm , thì dù cho là việc quan trọng thế nào đi nữa đến 12h cũng phải ngủ ít nhất là nửa tiếng, đến giờ Mão (5-7h sáng) nếu bạn lại muốn ngủ thì hãy xin nhớ là không được ngủ nữa, ngày hôm đó tinh thần của bạn sẽ vẫn tốt.
Nhưng cũng có những người trằn trọc mãi trong đêm, không ngủ được và chỉ thiếp đi lúc bình minh. Ngày hôm sau họ sẽ cảm thấy tinh thần mệt mỏi và không thoải mái, họ cảm giác bị mất ngủ và thiếu ngủ, thực tế là do họ không có kinh nghiệm.
Giấc ngủ và sức khỏe
Nguyên tắc của giấc ngủ
Một danh y thời chiến quốc trong bài đối thoại với Tề Uy Vương đã nói: “Chế độ ngủ luôn phải ở vị trí hàng đầu, giấc ngủ giúp con người và động vật sinh trưởng, giấc ngủ giúp dạ dày tiêu hóa thức ăn, vì vậy, ngủ đủ giấc là chế độ dưỡng sinh đầu tiên, người mà một đêm không ngủ thì phải mất cả một trăm ngày để phục hồi lại.”
Khoảng thời gian từ 21 giờ cho đến 5 giờ sáng là thời gian ngủ có hiệu quả nhất. Con người, động vật và thực vật đều có cùng một nhịp điệu sinh học. Thời gian ban ngày 5h sáng đến 9h tối là khoảng thời gian hoạt động nhằm tạo ra năng lượng, trong khi đó vào ban đêm các tế bào bắt đầu phân chia, đưa năng lượng vào tế bào mới, phục hồi hoạt động tế bào. Con người nên thuận theo vận động của trời và đất. Khi trời tối, không gian tĩnh lặng, con người nên đi ngủ, tinh thần sau đó mới trở nên khỏe mạnh, vào giờ đó mà đi ngủ thì tinh thần và thân thể đều có được trạng thái tốt đẹp. Giấc ngủ tròn đầy, trẻ con mau lớn, tròn trịa, tính tình vui tươi; còn trẻ hiếu động, ít ngủ, thì sẽ phải chịu những tác dụng ngược lại.
Giấc ngủ là một chức năng quan trọng của sức khỏe, tác dụng của giấc ngủ là sử dụng một số lượng lớn các tế bào khỏe mạnh để thay thế cho các tế bào suy yếu, vậy thì nếu như chúng ta không ngủ đủ giấc, thì các tế bào cũ không thể được thay thế. Nếu trong một ngày có 1 triệu tế bào bị suy yếu mà khi ban đêm chúng ta chỉ có thể thay mới được 5 trăm nghìn tế bào, như vậy cơ thể sẽ dẫn đến sự thiếu hụt. Nếu sự thiếu hụt này kéo dài, thì con người sẽ thiếu đi sinh lực sống, cảm thấy thân thể mệt mỏi rã rời. Tại sao có những người có thể sống 100 tuổi, đó là vì họ luôn đi ngủ vào 21 giờ tối.
Thực vật hấp thụ năng lượng mặt trời và tăng trưởng vào ban đêm, vì vậy khi đêm xuống ở các khu vực nông thôn, chúng ta có thể nghe thấy âm thanh của tiến trình sinh trưởng. Con người và thực vật đều là những cơ thể sinh học, có thời gian phân chia tế bào không khác nhau là bao, do đó nếu bỏ lỡ thời gian ngủ quý giá vào ban đêm, tế bào mới sinh ra không thay thế được hết các tế bào tiêu vong, con người sẽ bị già sớm và mắc nhiều bệnh tật. Con người phải thuận theo tự nhiên, nên hoạt động theo chu kì của mặt trời, mặt trời thức ta cũng thức, mặt trời đi ngủ, ta cũng đi ngủ. Con người so với mặt trời thì bé như một hạt bụi, lựa chọn “chống lại với mặt trời” khác nào là một lựa chọn ngu xuẩn. Ngủ quá trưa cho đến khi mặt trời đứng bóng có thể khiến sinh lực bị hao tổn. Đây là một sự thật khách quan.
Trong hiện thực cuộc sống, có nhiều người bị khó ngủ, chất lượng của giấc ngủ không cao. Giấc ngủ kém là một vấn đề mang tính toàn diện, can hỏa quá thịnh, giấc ngủ chập chờn; vị hỏa quá thịnh, giấc ngủ bồn chồn; gan thiếu khí âm, khi ngủ cảm thấy mệt mỏi.
Thứ hai , giấc ngủ và bệnh
Thói quen sinh hoạt và lối sống hiện đại mang lại rất nhiều tác động tiêu cực cho cơ thể con người dẫn đến sự hình thành của bốn loại bệnh nghiêm trọng: bệnh trái cây, bệnh tủ lạnh, bệnh truyền hình máy tính, bệnh thức đêm, đây là những căn bệnh trầm kha thuộc về tâm bệnh. Gan có một đặc tính : là vùng thu hồi máu và cung cấp máu cho bên ngoài.
Trên thực tế, thời gian nửa đêm từ 23:00 đến 1:00, thì 23:00 mới là khởi đầu của một ngày mới chứ không phải là 00:00 như chúng ta vẫn lầm tưởng. Gan mật hỗ trợ trong ngoài, tựa như một thể thống nhất, vào lúc 23:00 túi mật bắt đầu hoạt động, nhưng nếu chúng ta không ngủ, sẽ làm tổn thương nghiêm trọng khí huyết tại mật, mà trong khi đó, 11 cơ quan nội tạng đều phụ thuộc vào mật. Như vậy nếu mật bị tổn thương thì toàn bộ cơ quan nội tạng đều giảm chức năng, trong đó bao gồm hoạt động trao đổi chất, hệ thống miễn dịch đều suy giảm, hiệu suất làm việc cũng giảm thiểu nghiêm trọng. Khí huyết tại mật còn duy trì hỗ trợ hệ thần kinh trung ương, do đó nếu khí huyết tại mật bị thương tổn có thể dẫn đến các chủng bệnh tật rối loạn tinh thần như trầm cảm, tâm thần phân liệt, căng thẳng, nóng nảy bồn chồn không yên. Vào khoảng thời gian nửa đêm thì túi mật chủ yếu biến đổi sang dạng dịch thể, người mất ngủ thì kinh lạc tại mật quá thịnh, dịch mật chuyển vào tình trạng bất lợi, nếu quá nhiều thì sẽ kết tinh thành thể rắn, một thời gian dài tích lũy sẽ thành sỏi mật, nếu như mật trong tình trạng này kéo dài, thì hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm chỉ còn 50%, do vậy không thể để mật bị tổn thương, cẩn phải sử dụng hợp lý tiềm năng to lớn của hệ thống này.
Vào giờ Sửu (1:00 – 3:00) thì hoạt động tại gan là tối quan trọng, nếu chúng ta mất ngủ, thì gan không có cách nào giải độc và thanh lọc máu tươi cho cơ thể, bởi vì máu bẩn chứa nhiều chất độc nên nếu cơ thể chứa nhiều loại máu này, mặt mày sẽ xanh xao, dễ mắc các bệnh về gan, hiện tại số người mắc bệnh về gan không phải là ít, trung bình cứ 4 người châu Âu thì có một người dương tính với kết quả kiểm tra siêu vi, chủ yếu là do không tuân thủ việc thực hiện giấc ngủ vào ban đêm. Viêm gan A điều trị dễ hơn so với viêm gan B. Viêm gan B là do nhiễm virus vì cơ thể thường xuyên không ngủ vào ban đêm, gây ra các rối loạn, virus dễ dàng xâm nhập vào các tế bào. Khi virus xâm nhập vào được bên trong tế bào thì chúng ta có nguy cơ bị viêm gan, khi cơ thể quá yếu nhược thì bệnh viêm gan sẽ được hình thành, người mắc viêm gan B thì trong tương lai nguy cơ bị xơ gan có thể lên đến 40 – 60%. Những người thông minh nên hiểu mối quan hệ giữa trời, đất và con người, người thiếu hiểu biết chính là đang tự hủy hoại bản thân mình.
Giấc ngủ không ngon mang lại nhiều tác hại cho gan ?
Hoạt động của gan bị rối loạn; quá nửa đêm mà vẫn chưa ngủ, có thể là nguyên nhân làm cho gan phát tác các nhân tố bất lợi, gan khí trì trệ, làm cơ thể cảm thấy khó chịu, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, đau mắt, ù tai, khó nghe, tức ngực, phụ nữ kinh nguyệt không đều, táo bón, cũng có thể dẫn tới tức khí ở gan, gây đau đầu, mệt mỏi, đầu gối run rẩy, chóng mặt, mất ngủ, tim hồi hộp, nếu nặng có thể gây bất tỉnh.
Gan có thể chứa đựng máu, chức năng của gan chính là điều tiết máu, nếu ban đêm không ngủ, có thể gây ra thiếu máu ở gan, gây tình trạng thổ huyết, chảy máu cam, xuất huyết dưới da, chảy máu nướu răng, xuất huyết võng mạc, chảy máu tai và các chứng xuất huyết tương tự.
Gan khai mở huyệt vị ở mắt, do đó nếu mất ngủ vào ban đêm, có thể dẫn đến tổn hại gan làm cho mắt bị mờ, viễn thị, quáng gà, sợ ánh sáng, chảy nước mắt (nghênh phong lưu lệ), và các triệu chứng khác, không những thế còn có thể gây ra các bệnh nguy hiểm hơn như tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, xơ cứng động mạch võng mạc, và các bệnh về mắt khác.
Gan làm chủ gân cơ, tinh hoa trong móng tay, mất ngủ vào ban đêm có thể gây ra thiếu máu ở gan, xuất hiện đau gân, tê bại, chuột rút, co giật, nấm móng, tụt Canxi, thoát hóa xương bánh chè, động kinh, loãng xương và nhiều chứng bệnh khác.
Gan và tim, khi cơ thể thiếu ngủ, có thể gây ra thiếu máu ở gan, do tim giữ vai trò chủ đạo trong việc điều hòa khí huyết còn gan giữ chức năng lưu trữ máu cung cấp cho tim, do đó thiếu máu ở gan có thể gây ra suy tim, tim đập mạnh, nghiêm trọng nhất là hình thành các bệnh nặng liên quan đến tim như tăng huyết áp, bệnh tim mạch và mạch máu não bộ.
Gan và lá lách, mất ngủ ban đêm có thể gây ra xung đột giữa gan và tỳ vị do gan có chức năng hỗ trợ tỳ vị trong quá trình tiêu hóa, nếu gan hoạt động không tốt thì hoạt động tiêu hóa của tỳ vị không tốt, làm chức năng tiêu hóa suy giảm, cơ thể biểu hiện ra trạng thái nổi ban ở lưỡi, một thời gian dài có thể làm thành khí cơ suy nhược.
Gan và phổi, cơ thể mất ngủ vào ban đêm, không có cách nào tăng âm mà giảm dương, tính âm ở gan giảm mạnh, gan nóng quá làm đốt cháy phổi, dẫn đến ho khan hoặc ho có đờm, thổ huyết, và có thể dẫn đến bệnh vảy nến và các bệnh về da khác.
Gan và thận , không ngủ vào ban đêm, gan yếu dẫn đến suy thận, do gan và thận có cùng nguồn gốc, có khả năng gây rối loạn sinh sản, vô sinh, bệnh về xương và răng, rụng tóc, bệnh tiểu đường, suy thận và các bệnh khác .
Thứ ba, phương pháp ngủ
Quy tắc giao thông – người không hiểu biết sẽ tự mình gây tai nạn cho bản thân. Ví dụ, 23:00-3:00 là từ giờ tí đến giờ sửu là khoảng thời gian gan và mật hoạt động tích cực nhất, gan mật giữ vai trò đưa máu về “thảng hạ khứ hồi huyết, trạm khởi lai cung huyết” nghĩa là nằm thì máu thu về, đứng lên thì máu chuyển đi, nếu bạn đi nằm lúc 22h và nhất định phải tĩnh lặng không được nói chuyện thì đến 23h cũng chìm vào giấc ngủ. Gan và mật bắt đầu thu máu về, lọc bỏ chất độc, làm máu trở nên tươi sạch, như vậy thì đến trăm tuổi cũng không bị sỏi mật, không bị viêm gan, không bị u nang.
Nếu bạn còn thức đến 1h sáng thì gan không thể thu máu về, không thể tiến hành quá trình giải độc, như vậy máu tươi sạch không được sử dụng cho cơ thể, mật không thể chuyển thành dịch thể, như thế có thể gây ra sỏi mật, u nang và các chủng viêm gan.
Tại châu Âu, trung bình bốn người thì có một người bị viêm gan, có thể nguyên nhân là họ không nắm rõ các nguyên lý của giấc ngủ. Tốt nhất là không nói chuyện vào nửa đêm khi đi ngủ, chúng ta đi ngủ chứ không phải đi nói chuyện, vì khi nói chuyện, sẽ động đến phổi và sau đó là động đến tim, (vì tim phổi hợp lại có thể sinh năng lượng), người nói chuyện sẽ làm cho tâm tình hưng khởi, vì vậy rất khó đi vào giấc ngủ.
Giờ hợi (21:00-23:00), vào giờ hợi tam tiêu kinh lạc cường thịnh, tam tiêu khởi thông bách mạch. Ngủ vào giờ Hợi, trăm mạch đều được nuôi dưỡng, những lão nhân trăm tuổi xưa nay thông thường đều ngủ vào giờ Hợi. Phụ nữ xưa giờ đều mong muốn có dung nhan kiều diễm, để được vậy phải đi ngủ sớm và thức dậy sớm.
Khi ngủ quan trọng phải đóng cửa sổ, có thể không mở quạt, không mở điều hòa, rất nhiều người bị bệnh vì sử dụng quạt và điều hòa khi ngủ, bởi vì người đang trong giấc ngủ thì tuần hoàn máu rất chậm, thân nhiệt hạ xuống, cơ thể sẽ hình thành một lớp khí dương bao bọc bên ngoài, lớp khí dương này được cho rằng có khả năng :quỷ mị bất xâm, có nghĩa là khi khí dương cường thịnh, khi ngủ sẽ không có ác mộng. Khi mở điều hòa không khí, mở quạt, đều không giống nhau, mở cửa sổ có nghĩa là đón gió, gió vào cơ bắp, nếu như mở điều hòa thì gió vào gân cơ, lạnh vào xương cốt, buổi sáng thức dậy, cơ thể vàng vọt, mặt vàng, cơ gân cổ vùng gáy bị tê cứng, thậm chí một số người bắt đầu bị sốt, nguyên nhân là vì gió lạnh xâm nhập vào xương và dây chằng làm nguyên khí bị tổn thương.
Đóng cửa sổ vào ban đêm khi ngủ, không có điều hòa, không có quạt, ngay cả cửa chính cũng đóng thì hiệu quả rất tốt. Tuy nhiên, nếu phòng nóng quá thì có thể mở cửa chính, đóng cửa sổ, hiệu quả sẽ giảm đi một chút, nhưng sáng hôm sau thức dậy, toàn thân đều không có hiện tượng mệt mỏi, phần lưng không bị tê cứng. Nếu phòng ngủ mở cửa cùng với việc mở điều hòa cùng lúc khi ngủ thì rất không tốt. Vì nếu như vậy thì khí hàn sẽ xâm nhập vào xương cốt, thân tâm cảm hàn, tâm ngụ ở đâu, chẳng phải ngụ tại não, tủy đối với não đóng vai trò quan trọng, cốt tủy nhiễm hàn nên chắc chắn thân tâm sẽ cảm hàn, vậy thì phải làm sao? Bồi bổ khí dương cho thận, bồi bổ trung khí, như thế thì tâm lý không còn lạnh lẽo, bệnh sốt tự khỏi, cảm hàn tự xuất ra.
Khi ngủ cần phải ngủ sớm, nếu ngủ muộn, có thể gây tổn thương phần khí dương, có thể làm cho ngày hôm sau cảm thấy mệt mỏi, do đó, trong lúc ngủ quan trọng nhất là phải đóng cửa, không mở điều hòa, không bật quạt máy để bảo vệ dương khí.
Nếu như gan mật đều thương tổn dẫn đến vấn đề với dạ dày thì ngủ sẽ không ngon giấc, một người nếu tỳ vị bị hàn mà khí dương không được bồi bổ đầy đủ, lại uống quá nhiều trà xanh, sẽ làm cho tỳ vị bị lạnh, khiến giấc ngủ không tròn, hoặc ăn quá nhiều thứ khó tiêu hóa vào dạ dày, thì tỳ vị có nguy cơ bị hàn, chắc chắn giấc ngủ sẽ không ngon.
Một người nếu tỳ vị bị nhiệt, thì khí nóng sẽ đi lên làm miệng và hơi thở nóng, trong trường hợp này ngủ cũng không ngon giấc,như vậy người này có tỳ vị khô, khô miệng, cảm giác khô nóng trong dạ dày.
Người có dạ dày dầy dặn, ăn cảm giác ngon miệng. Dạ dày dầy dặn, ở trong tình huống có nhiều món ăn thơm ngon, béo ngậy, có nhiều thức ăn hải sản, cá rán, gà hầm,mùi vị ngon lành, họ sẽ ăn nhiều hơn, thực ra món ngon không nên dùng nhiều, trong bữa ăn nên ăn vừa phải, nếu ăn không vừa phải thì bụng chướng đầy khí, giấc ngủ cũng không tròn.
Một khi bụng chướng, bụng căng lên thì đêm không thể ngủ được, khi bụng đã bớt chướng, cũng khó lòng mà ngủ trở lại. Người này lâm vào tình trạng hư tổn tỳ vị, người cảm lạnh, ngủ không ngon giấc, đều do dạ dày bồn chồn, dạ dày bồn chồn thì giấc ngủ không yên.
Khi ngủ tay chân phải ấm áp, chân tay ấm như là khí dương tại các chi, điều này chúng ta đều biết, chân tay không ấm, chắc chắn thận sẽ có khí dương không đủ, do đó, trước khi ngủ thì chân tay và cả rốn cùng vùng bụng nên được giữ ấm, phần lưng phía sau cũng cần được giữ ấm thật tốt.
Các phương pháp ngủ khác nhau, chúng tôi xin giới thiệu ba cách sau đây:
1. Làm các động tác chân đơn giản trước khi đi ngủ, sau đó tự nhiên ngồi bắt chéo chân trên giường , hai tay đặt trên hai chân chồng lên nhau, hơi thở tự nhiên, cảm giác được hơi thở đều đặn của cơ thể qua từng lỗ chân lông, nếu có thể ngáp đến chảy nước mắt thì hiệu quả rất tốt, khi cảm thấy buồn ngủ thì rất dễ đi vào giấc ngủ.
2. Nằm ngửa , hít thở tự nhiên, cảm thấy hơi thở như gió mùa xuân, trước tiên thả lỏng ngón chân cái và ngón chân khác, sau đó đến bàn chân, cẳng chân, đùi và dần dần thả lỏng toàn thân. Nếu vẫn còn tỉnh táo, hãy làm lại từ đầu.
3. Mọi người có thể rơi vào giấc ngủ nhanh chóng trong tư thế nằm nghiêng, tay phải áp sát tai phải. Lòng bàn tay phải có tính hỏa, trong khi tai có tính thủy, thủy hỏa giao hòa tức thời làm thành mối liên thông giữa tim và thận, nuôi dưỡng cả tim và thận.
Phải thức dậy sớm, ngay cả trong mùa đông cũng không được ngủ quá 6:00 giờ. Vào mùa xuân và mùa thu thì phải thức dậy trước 5 giờ, bởi vì vào giờ Dần ( 3h – 5h) thì phổi đang hưng thịnh nên sau khi thức dậy, phổi có thể triển khai hoạt động tốt, hít thở mạnh để phổi có thể kéo giãn phù hợp với tầng khí dương hoàn thành quá trình chuyển hóa toàn diện, loại bỏ phần khí dơ bẩn, làm trong sạch phổi, như vậy có thể giúp phổi hòa hợp với hừng đông, thuận theo khí trời, thân thể thăng hoa dương khí. Nếu qua thời điểm tốt này thì rất khó phát huy phần dương khí trong cơ thể, phần dương khí này sẽ bị tích lại trong phần thân dưới không thể phát huy tác dụng do phần mệnh môn phía trên có vai trò khởi phát phần dương khí này. Một khi không được phát huy năng lượng, phần dương khí này sẽ trở thành khí xấu trong cơ thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe.
5:00-7:00 là ruột già của con người vào thời điểm thịnh vượng nhất, cơ thể cần để bài tiết các chất chuyển hóa của vào thời điểm này nếu bạn không thức dậy, ruột già không thể tự mình chủ động hoạt động, không có biện pháp tốt nào để bài xuất các chất cặn bã ra ngoài cơ thể, các chất này lưu tồn sẽ hình thành chất độc cho cơ thể có hại cho máu và các cơ quan nội tạng. 7:00-9:00 là thời khắc hoạt động tốt của dạ dày, 9:00-11:00 lá lách của con người hoạt động tốt, như vậy là khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt, nếu như đến thời điểm đó mà chưa thức dậy thì niêm mạc dạ dày bị ăn mòn nghiêm trọng, vào giai đoạn hấp thu dinh dưỡng tốt nhất thì không được cho ăn, tình trạng này kéo dài thì có thể gây bệnh dạ dày, khiến cơ thể suy dinh dưỡng, cơ thể suy nhược. Vì vậy, vào thời điểm này không nên cố nằm ngủ trên giường, tiếp tục ngủ trong giai đoạn này có thể gây chóng mặt, mệt mỏi, tạo cảm giác ngủ không đủ, trong lịch sử, danh nhân nổi tiếng có người hình thành thói quen dậy sớm lúc 3 – 4h sáng như như Washington, Napoleon , Hoàng đế Khang Hy, Tăng Quốc Phiên,… . Thức dậy sớm có thể tăng hiệu quả làm việc, có câu nói : “Ba ngày dậy sớm, một ngày công”.
Y học hiện đại đã chứng minh được rằng những người đi ngủ sớm và thức dậy sớm, ít nhạy cảm với bệnh tâm thần. Không đi ra ngoài tập thể dục buổi sáng quá sớm, bởi vì vào buổi sáng trước khi mặt trời mọc, khí độc từ các ống cống ngầm và khí từ các nguồn nước thải cũng bắt đầu bốc lên (đặc biệt là ở các thành phố), các khí không tốt này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể.
Nuôi dưỡng cơ thể có ba việc quan trọng, đó là: giấc ngủ, thứ hai là sự tiện lợi, thứ ba là ăn uống, ngoài ra còn có xây dựng nơi ăn chốn ở, còn việc mặc chỉ là điều thứ yếu.
Trong ba điều thì quan trọng nhất là giấc ngủ. Tuy nhiên, khi ăn không thấy ngon miệng, đêm ngủ cũng sẽ không ngon. Còn việc bài tiết đứng vị trí số 2. Ăn vào mà không bài tiết, người ăn quá no, tràng vị có thể bị tổn thương, do đó việc ăn uống cần phải tiết chế. Giấc ngủ ngon lấy tinh thần làm chủ, tinh thần tốt lấy sự tĩnh tâm làm mục tiêu, ngoài ra còn phụ thuộc vào tuổi tác, kẻ tráng niên cần ngủ khoảng 7 đến 8 tiếng, ngủ nhiều có thể khiến chóng mặt, trí nhớ sa sút, mắt mỏi, tay chân rã rời, trẻ em thì có thể ngủ 8 đến 9 tiếng không sao, còn người già hoặc người bệnh thì ngủ 6 tiếng là đủ.
Đối với người bị rối loạn giấc ngủ thì không thể bỏ qua các cảnh báo này!
(A) Nên ngủ sớm, buổi tối bình thường không quá 10h, người cao tuổi thì 8h không nên quá 9h . Nếu đến 11h thì khí dương được tạo thành liên thông với thận, sau đó sẽ khó ngủ, thận bị mất nước, thận nối kết với tim, thủy suy yếu thì hỏa sẽ vượng, sẽ gây tổn thương tinh thần. nhưng trong tình huống nào đi nữa thì cũng không sử dụng thuốc an thần để hỗ trợ giấc ngủ.
(B) Khi đã nằm trên gối tránh suy nghĩ, tránh tính toán đủ loại cơ sự, khi đã ngủ thì không nên suy tư, hơi thở đều đặn, tâm tĩnh khi ngủ có thể nghe được hơi thở của chính mình, tuy thô nhưng rất tinh tế, trong cái tinh tế lại có cả sự vi tế trong từng hơi thở. Khi ngủ, coi bản thân như hư vô, hoặc như đường hòa vào nước, người hòa vào hư không, giấc ngủ sẽ tự nhiên đến.
(C) Nếu có nhiều suy nghĩ thì giấc ngủ không yên, nằm trên gối không ngủ lại chuyển thành tư lự, điều này là mệt mỏi nhất, như thế hãy ngồi dậy một chút rồi hãy đi ngủ lại.
(D) Vào buổi trưa, lúc 11:00, là thời điểm sinh âm khí, liên quan đến trái tim, vào giờ đó không ngủ được thì có thể ngồi tĩnh tâm trong 15 phút, nhắm mắt lại dưỡng tinh thần, khí của tim sẽ dồi dào. Người có bệnh tim nên lưu ý, mỗi ngày vào lúc 2:00 cần phải chú ý, lúc đó nguyên khí sẽ rất mạnh, có thể gây ra tiêu chảy, đi tiểu nhiều lần.
(E) Mùa hè nên dậy sớm, mùa đông có thể muộn hơn một chút. Môi trường không khí ở các tỉnh miền Bắc Trung quốc hơi lạnh, chẳng hạn như Quảng Đông, Quảng Tây nên khi dậy sớm phải phòng ngừa chướng khí có thể gây bệnh, không ngủ sau khi ăn, thức dậy lúc 3 đến 5 giờ sáng. Sau khi thức dậy tránh nóng giận, vì có thể gây tổn thương phổi và ảnh hưởng đến gan, mong mọi người hết sức chú ý !
Nhạc Thanh
Theo vietdaikynguyen
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/8/2017

45 độ làm việc, 90 độ làm người, 180 độ xử thế, 360 độ hành sự: 4 công thức tuyệt vời giúp bạn hưởng phúc dài lâu

45 độ làm việc, 90 độ làm người, 180 độ xử thế, 360 độ hành sự: 4 công thức tuyệt vời giúp bạn hưởng phúc dài lâu

Đối diện với mối quan hệ phức tạp trong xã hội và thế thái nhân tình thay đổi thất thường, đôi khi rất nhiều người phải cảm thán mà buột miệng thốt lên rằng: Cuộc sống sao lại mệt mỏi đến vậy, làm sao thoát khỏi nghịch cảnh này! 
Kỳ thực, chỉ cần chúng ta luôn giữ được một tâm thái bình ổn, không so bì với thành bại của người khác, trước sau luôn giữ một tấm lòng biết ơn, thì cuộc sống cũng sẽ ung dung tự tại biết nhường nào. Nếu bạn đối diện với mọi sự trong cuộc sống này bằng nụ cười chân thành và lòng bao dung, có thể cuộc sống sẽ mang đến cho bạn những điều may mắn và hạnh phúc bất ngờ.
45 độ làm người: Khiêm nhường khiến bạn đẹp hơn trong mắt người khác
45 độ là phải biết cúi đầu, hạ mình. Con người sống trên đời nên biết khom lưng, hạ mình một chút, nhìn thẳng vào con đường phía trước, dùng thái độ khiêm nhường mà bước từng bước vững chắc, để từng dấu chân vẫn in hằn dấu ấn của bản thân mình. 
Đừng tự cao tự đại chỉ vì thành công trước mắt, cũng đừng suy sụp chỉ vì thất bại nhất thời. Mỗi người đều có một sở trường, một “tinh hoa” của riêng mình, ai cũng cao quý, cũng đáng trọng. Hãy tự biết trân quý bản thân và trân quý người bạn gặp hôm nay. “Người ta là hoa đất”, ai cũng đáng để yêu thương. 
Bông lúa trĩu hạt là bông lúa rủ. Khiêm nhường không có nghĩa là kém cỏi, hạ mình hay tự ti, hổ thẹn. Đứng giữa đất trời bao la này, chúng ta chỉ là một hạt bụi. Đứng giữa trí huệ đồ sộ, tinh tế của vũ trụ mênh mông, thăm thẳm này tri thức của chúng ta chỉ gói gọn trong mấy chục năm cuộc đời. Chúng ta lấy gì ra để tự hào đây? 
Khiêm nhường sẽ giúp bạn nhìn thấy những điểm còn thiếu sót ở bản thân để không ngừng hoàn thiện mình, như vậy bạn sẽ ngày càng đẹp hơn trong mắt người khác. 
Khiêm nhường khiến bạn đẹp hơn trong mắt người khác. (Ảnh dẫn theo tinhay.gq)
90 độ làm việc: Vuông vắn, công bằng và ngay chính như một người quân tử 
90 độ là một góc vuông, là thẳng thắn, chính trực. Cũng giống như người ta khi làm việc phải vuông vắn, công bằng, ngay chính, vô tư, quang minh lỗi lạc như một người quân tử.
Muốn làm được điều này thì ắt phải buông bỏ tư tâm của mình, không vì thiên vị, yêu ghét cá nhân và mở cửa sau cho người khác. Mỗi người chúng ta sinh ra đã mang theo dáng vẻ, tính cách và điều kiện sống khác nhau. Nhưng chúng ta đều có một điểm chung là khát khao thành công và yêu thương.
Có thể giữ gìn sự công bằng, trao lại những điều trân quý cho những người đáng được nhận nó cũng chính là đang giúp thế giới này tốt đẹp hơn, cuộc sống này đáng sống hơn vậy. 
180 độ xử thế: Đối đãi với người khác bằng sự chân thành
180 độ là một đường thẳng tắp. Nghĩa là trong đời người ta phải giữ được chữ “Chân”, đối xử với người khác bằng sự chân thành, ngay thẳng, không úp mở, giả dối, chạy theo lợi ích cá nhân hay hư vinh nhất thời mà làm tổn hại tới người khác. 
Có câu rằng: “Một lần thất tín, vạn sự bất tin”, tiền bạc mất rồi có thể kiếm lại được nhưng uy tín không còn cũng như bát nước đổ đi, dẫu có vớt vát lại cũng chẳng được bao nhiêu. 
Sự giả dối hại người thì ít, hại mình thì nhiều. Bởi lẽ “Nhân sinh nhất niệm thiên địa giai tri”, đại ý là con người chỉ mới lóe lên một suy nghĩ trong đầu thì các vị Thần Tiên trong trời đất đều đã nhìn thấu gan ruột chúng ta rồi. Trời xanh luôn giữ lẽ công bằng. Dẫu nhất thời có tranh, có cướp được Danh, Lợi, Tình, Tiền thì cuối cùng “của thiên” vẫn phải “trả địa” mà thôi. Còn hậu quả của những việc tổn hại tới người khác thì bản thân mình vẫn phải lãnh trọn, vẫn phải hoàn trả dẫu chỉ một ly một lai. 
Vậy nên đối xử chân thành, không chỉ là vì tốt cho người khác, mà trước tiên là tốt cho chính bản thân chúng ta.
Đối đãi với người khác bằng sự chân thành. (Ảnh dẫn theo Girly.vn)
360 độ hành sự: Làm việc tròn trịa, chu đáo, hoàn mỹ
360 độ là một hình tròn, thể hiện cách hành sự tròn trịa, hoàn mỹ. Muốn làm được điều này thì khi xử lý công việc ta phải cố gắng hoàn thành từng nhiệm vụ một cách chu đáo, tỉ mỉ, tròn trịa dù là công đoạn nhỏ. Nỗ lực điều tiết tốt các mối quan hệ, cố gắng dùng sự chân thành và tự tin của mình để giành được sự thấu hiểu và tín nhiệm của người khác, cuối cùng bạn sẽ đạt được một cảnh giới lý tưởng, hoàn mỹ nhất.
Muốn làm được điều này người ta phải học được chữ “Thiện” và chữ “Nhẫn”. Lòng luôn ôm giữ thiện niệm mới biết đặt mình vào vị trí của người khác mà cảm thông, thấu hiểu cho những người trong cuộc. Thấu hiểu rồi chúng ta sẽ có thể dễ dàng nhẫn chịu được nhiều áp lực hơn. Từ đó mâu thuẫn và hiểu lầm giữa đôi bên cũng dễ hóa giải hơn. 
Có con đường nào một tấc lên trời, một bước là đã thành công? Vàng 10 muốn đạt chuẩn hoàn mỹ cũng phải nhảy vào lò luyện, giữa ngọn lửa nóng bỏng, dữ dội, trải qua quá trình tôi luyện vất vả và bền bỉ, mới có thể đánh bay những tạp chất bám trên thân mình. Không “Nhẫn” sao có thể khiến vạn sự được hoàn mỹ, tròn đầy?
Cổ nhân có câu rằng: “Giàu mà không học chỉ giàu một đời. Nghèo mà không học nghèo cả 3 đời!”. Học được cách làm người thì đời này chúng ta có thể kê cao gối mà ngủ, chẳng phải nghĩ ngợi điều chi! 
Theo Cmoney.twHiểu Liên biên dịch 
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/8/2017

HIỂU VỀ CHỮ NGHIỆP TRONG ĐẠO PHẬT

HIỂU VỀ CHỮ NGHIỆP TRONG ĐẠO PHẬT
Tỳ Kheo Ni Pháp Hỷ Dhammananda

Hieu ve chu Nghiep trong đạo PhậtKhi nàng Kiều bị duyên phận đưa đẩy, bị bán vào lầu xanh. Làm gái, trở thành món đồ chơi trong tay người xa lạ. Bao phen cay đắng cố thoát ra nhưng rồi lại cứ bị cột vào. Nguyễn Du nói:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
 trời mà cũng tại ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!”
Vậy nghiệp là gì? Trong tiếng Việt, chúng ta hay nói nghề nghiệp, nghĩa là việc làm hàng ngày để kiếm sống. Chúng ta chọn một nghề để kiếm sống, có khi bắt buộc phải làm một nghề nào đó để kiếm sống. và nghề đó trói buộc nguời chọn (hay bị chọn) vào những hành động lặp đi lặp lại , tạo thành thói quen, thành sở trường, thành ngón nghề. Như vậy nghề tạo ra nghiệp. Nhưng cũng có thể hiểu theo cách khác, nghiệp khiến người ta chọn nghề như vậy, ví dụ như nàng Kiều trong tác phẩm của Nguyễn Du.
Nghiệp có xuất xứ trong tiếng Ấn cổ là karma (Sanskrit) hay kamma (Pali), là danh từ của động từ karoti, nghĩa là làm hay tạo ra. Khi định nghĩa về Nghiệp, kamma trong Phật học có nghĩa là việc làm hay hành động có chủ ý. Trong văn học Pali, chữ kamma  trung tính, nó có thể là thiện, hoặc bất thiện, hay không thiện không ác  (không để lại hậu quả mang tính đạo đức). Trong Trung bộ Kinh có hai bài kinh nói về nghiệp và kết quả riêng biệt của từng nghiệp thiện hay bất thiện (Trung Bộ Kinh số 135, tiểu Kinh Phân biệt Nghiệp, tương đương với Kinh Oanh Vũ  Trung A hàm số 170; Đại kinh kinh phân biệt nghiệp số136, MN II). Phật tử không tin vào một đấng tối cao nào đó như Thương đế (hay ông Trời) hay Phạm thiên có khả năng thổi hồn vào con người  sai khiến họ phải như thế này hay như thế kia. Trước khi đạo Phật ra đời, những người tin vào đạo Bà-la-môn, dựa theo kinh điển Vệ Đà, hiểu nghiệp là các hình thức tế tự để làm vừa lòng đấng bề trên (các loại thần trong đạo Hindu hay các tôn giáo đa thần khác).
Một vị Bà la môn làm quan tế lễ của vua Pasenadi, người sống cùng thời với Đức Phật, rất giàu có nhưng hà tiện và hám của. Cuối đời ông ta chết. Con ông ta, thanh niên bà la môn Subha Toddeyya, theo chỉ dẫncủa cha, đã làm những buổi tế lễ rất long trọng để đưa tiễn linh hồn cha đến cộng trú với Phạm thiên, hay ít nhất cũng là để được sinh lên một cảnh giới tốt đẹp nào đó. Tuy nhiên, Đức Phật lại dùng thần thông túc mạng minh và thấy vị bà la môn làm quan tế tự đã tái sinh làm con chó ngay trong nhà mình. Đức Phật ôm bình bát đến nhà đó khất thực, vốn sinh thời gia đình này không bao giờ bố thí đến ai (trừ việc tế lễ để hối lộ các vị thần linh hay làm thỏa mãn giai cấp thống trị  quyền lực). Khi thấy Phật đến khất thực, con chó đó lao ra sủa to rất bực tức. Đức Phật từ bi nói với nó: “Toddeyya, sinh thời ngươi không biết làm phước, không biết cúng dường nên mới sinh làm kiếp chó. Nay ngươi vẫn giữ tâm keo bẩn và sân hận đó khi thấy Như Lai. Thật tội nghiệp thay!” khi nghe như vậy, con chó đó buồn bã cụp đuôi đi vào nhà, tìm một xó tối nằm yên, nước mắt tuôn trào thật thảm thương.
Khi Bà la môn Subha Toddeyya trở về nhà sau một vài sự vụ ở bên ngoài, không thấy con chó cưng ra đón vồn vã như mọi ngày, ông ta hỏi người nhà có điều gì đã xẩy ra với con chó cưng. Được thuật lại những gì đã xẩy ra vào buổi sáng, nhất là khi nghe đến việc Phật gọi con chó của ông bằng tên cha ông. Subha nổi giận bừng bừng! Ông tức tốc đến chùa gặp Phật để dằn mặt về việc xúc phạm gia đình ông. Ông tuyên bốnếu Phật không đưa ra được các bằng cớ để chứng minh mối liên hệ tiền thân hậu kiếp giữa con chó và cha ông, bà la môn cựu quan tế tự của triều đình đương đại, thì ông ta sẽ kiện và phạt Phật về tội vu khống và mạ lị!
Phật bảo ông hãy bình tĩnh, về nhà quan sát những chỗ mà con chó hay nằm, đánh dấu những chỗ đó. Thế Tôn cũng bảo ông hãy kiểm tra lại tài sản kế thừa mà ông nhận được từ cha ông, đối chiếu những tài sảnhiện vật đó với bản liệt kê các tài sản truyền từ đời này đến đời khác trong gia đình ông, xem có những tài sản nào có trong văn tự mà không tìm thấy hiện vật không. Subha làm theo lời chỉ dẫn và quả thực có một số vàng bạc châu báu có trong bảng liệt kê mà không thấy trong kho lưu trữ. Phật bảo ông hãy đào những chỗ mà con chó hay nằm lên, chắc chắn ông sẽ tìm được những hiện vật kia được chôn giấu ở những chỗ đó. Vì Bà la môn Toddeyya sợ bị mất của, nên chôn dấu những tài sản mà ông yêu quí nhất trong khu vườn nhà ông. Khi chết đi, tâm luyến ái và muốn bảo vệ những tài sản đó đến cùng, khiến ông tái sinh làm con chó giữ của. Sau khi gặp Phật, được khai thị về nghiệp lực khiến mình tái sinh kiếp chó, nó buồn bã rơi lệ, bảy ngày không ăn uống, con chó đã chết và đi theo nghiệp của mình.
Lại nói về người con nối nghiệp, Subha đã tìm thấy những tài sản bị chôn giấu, đó cũng là bằng chứng để ông không còn buộc tội Phật là mạ lị, bất kính đối với vong hồn cha ông nữa. Nhưng cũng từ đó, Subha nghi ngờ niềm tin truyền thống của chính ông. Với tâm tư muốn tìm hiểu về nghiệp và quả của nghiệp, Subha đã đến yết kiến Đức Phật. Câu chuyện và buổi đàm thoại được ghi lại trong Tiểu kinh Phân BiệtNghiêp (MN II). Khi gặp Phật, câu hỏi ông đặt ra là: “Do nhân gì, duyên gì, giữa loài người với nhau lại có kẻ liệt (thấp hèn, kém may mắn), người ưu (cao quí, nhiều may mắn); người đoản thọ, kẻ sống lâu; người khỏe mạnh, kẻ yếu đuối bệnh tật; người xinh đẹp, kẻ xấu xí; người có uy quyền, giàu có, kẻ bần cùng luôn bị sai khiến; người có trí tuệ, kẻ thiểu trí;  vv.”
Đức Phật đã trả lời như sau: “này thanh niên, các loại hữu tình  chủ của nghiệp, là thừa kế của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là nơi nương tựa, nghiệp phân chia các loại hữu tình, khiến chúng sinh có liệt có ưu.” (tương tự trong MN I.390). Subha đã không hiểu lời nói tóm lược này về nghiệp, anh ta đã xin Phật giảng giải tường tận hơn. Nhân đó, Đức phật đã rộng thuyết về nghiệp. Hành động sát sinh do tâm độc ác, thiếu từ bi, thích làm hại người, vật là nhân dẫn đến tái sinh trong địa ngục, ác thú, đọa xứ, … khi được sinh lên làm người thì hay đau ốm, đoản thọ. Và ngược lại, có tâm từ bi thươngxót người, vật, không sát sinh, không hành hạ, vv thì khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sinh vào nơi tốt đẹp; sinh ra làm người thì khỏe mạnh, sống lâu. Nếu là người hay phẫn nộ, hay bất mãn, bị ai động đến một chút là sân hận, bất bình, cau có và chống đối. Tâm như vậy khiến cho người đó sinh ra xấu xí, khó ưa. Nhưng nếu có người tâm luôn hoan hỷ, biết kham nhẫn, không dễ nổi nóng, vv. Do (thiện) nghiệp ấy, người đó sinh ra dễ thương, xinh đẹp và khả ái. Nếu người có tâm tật đố, thấy người khác có quyền lợi, được cung kính, có danh tiếng, vv mà sinh tâm phẫn nộ, đố kỵ, ôm ấp tâm ghanh tỵ hiềm khích. Do nghiệp ấy, người đó tạo nhân (xấu) cho việc sinh ra có ít quyền thế, ít ảnh hưởng, thế lực nhỏ. Nhưng nếu ai không ghanh tỵ, không tật đố, hoan hỷ với thành công  hạnh phúc của người khác, đó là nhân để có quyền lực  ảnh hưởng lớn sau này.
Người keo kiệt với tâm tiểu nhân, không bố thí làm phước, không cúng dường các vật dụng cần thiết đến các bậc tu hành phạm hạnh, đó là nhân duyên khiến người nghèo khổ khốn khó. Và ngược lại, bố thí với tâm rộng rãi, làm phước, gieo duyên lành thì đó là nhân cho đời sống giàu sang sung túc. Tuy nhiên, tâm ngạo nghễ kiêu mạn, hay khinh khi và không biết tôn trọng những đối tượng nên tỏ sự tôn trọng, vv thì đó là nhân khiến người đó phải sinh vào nơi hạ tiện, thấp hèn. Nhưng với tâm khiêm nhường, lịch sự và biết tôn trọng, người sẽ đi đến nơi cao quí, sang cả và được kính trọng.
Những người biết học hỏi, có tâm ưu thích tìm hiểu khám phá, đi đến những vị thầy hay tìm các nguồn tài liệu đáng tin cậy để nghe và đọc, đặt ra các câu
hỏi để tìm những câu trả lời xác đáng cho vấn đề, vv đó là nhân khiến những người ấy có trí tuệ, thông minh  uyên bác trong đời. Và ngược lại, không chịu học hỏi, không thích tìm hiểu khám phá, chấp chặtvào sở tri sở kiến hạn hẹp của mình thì không có trí tuệ, thiếu hiểu biết  chậm chạp trong nhận thức.

Qua pháp thoại về nghiệp này, chúng ta thấy rằng nghiệp là do tâm tạo. Những phẩm chất trong tâm của chúng ta được biểu hiện qua hành động, lời nói  việc làm lập đi lập lại tạo thành nghiệp lực dẫn dắt con người đến một kết quả nào đó tương ứng với nhân đã tạo. Chúng ta là chủ nhân ông của cuộc đờimình, thừa kế những nghiệp đã tạo tác trong quá khứ. Nghiệp lực đưa đẩy chúng ta đến một nơi tái sinh(thai tạng) tương xứng với những gì đã tạo tác. Nghiệp ràng buộc chúng ta trong một môi trường / tâm trạng nào đó (là quyến thuộc, là điểm tựa). Hành động của chúng ta tạo ra những nhân cách khác nhau và ràng buộc chúng ta trong những hình thức nhất định (phân chia hữu tình thành liệt hay ưu).
Để tóm lược quá trình tạo nghiệp, và định hướng cho mình trong cuộc đời này, có thể nói như sau: hãy cẩn thận với ý nghĩ của ta, vì nó sẽ biểu hiện thành lời nói và hành động. Hãy cẩn thận với lời nói và hành động hàng ngày, vì chúng sẽ trở thành thói quen cố hữu. Hãy cẩn thận với các thói quen của bản thân, vì chúng sẽ trở thành nhân cách của chúng ta. Và nhân cách của chúng ta luôn có khuynh hướng dẫn dắt chúng tađến một số phận nào đó.
٭٭٭
Khi chữ nghiệp được dùng như một triết lý về đời sống, nó hàm nhiều nghĩa sâu xa hơn, không phải là hoàn toàn tiêu cực như một năng lực bí ẩn khống chế một cá nhân nào đó. Thông thường, nếu ai đó biết chút ít về Phật giáo, nếu có điều gì xấu xẩy ra cho họ, họ cho rằng đó là do nghiệp của mình. Nói như vậy họ hàm nghĩa đó là kết quả của một nghiệp xấu trong quá khứ, bây giờ trổ quả và họ phải thọ lãnh không chối cãi được. Như vậy nghiệp ở đây mang tính thụ động, là kết quả của một chuỗi diễn tiến trong quá khứcho đến hiện tại. Khi hiểu nghiệp như vậy, người ta mặc định nó là một cái gì đó như định mệnh, không thay đổi được.
Không phải tất cả các nghiệp đều cho quả khổ. Trong bài kinh quan trọng thứ hai nói về nghiệp (MN 136) như sau: “Nếu có ai đó có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến sung sướng (lạc thọ), người đó tạo nghiệp đưa đến sung sướng và có được sung sướng. Nếu có ai đó có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến khổ đau, tạo nghiệp khổ đau, người đó có khổ đau (khổ thọ). Nếu có ai đó có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến không khổ không lạc, thời người đó tạo nghiệp cho quả không khổ không lạc, có trạng thái xả (thọ).” Tiếp theo Đức Phật nói đến các loại nghiệp và quả dị thục (chín muồi trong một khoảng thời gian nào đó) của các loại nghiệp đó.
Khi tìm hiểu về nghiệp và mối tương quan nhân quả của các hành động lập đi lập lại có chủ ý hay vô thức, nó là một phạm trù rất phức tạp, cần trí tuệ của một bậc giác ngộ hoàn toàn mới thấy biết và giải thích trọn vẹn được.  Khi người ta chọn lựa hành động theo một cách thức nào đó, sự chọn lựa đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà nó đã được điều kiện hóa hay lập trình sẵn rồi. Những hành động lựa chọn như vậy gọi là do nghiệp lực dẫn dắt. Vậy nghiệp lực là gì?
Khi Nguyễn Du nói: “đã mang lấy nghiệp vào thân”, thì nghiệp ở đây chính là nghiệp lực, vì nghiệp đó đã cột chặt vào thân phận của một con người. Nó dường như đã trở thành định mệnh của người đó. Lúc đó các hành động và lựa chọn của người đó phần lớn là do vô thức dẫn dắt, nghĩa là phần lớn họ không biết tại sao họ lại lựa chọn hành động như vậy. Kiều không biết vì sao nàng lại chọn nhìn vào một ngôi mộ hoang không người hương khói khi đi chơi trong tiết thanh minh có nhiều cảnh sắc xinh đẹp, tươi sáng hơn xung quanh. Các em nàng và những người khách du xuân khác không có lựa chọn giống nàng, họ vui hưởng cảnh xinh tươi của một mùa xuân nơi thôn dã vào thời thái bình, yên ổn của đất nước. Còn nàng lại bị thu hút vào một cảnh khiến tâm hồn nàng thổn thức, bất an.
Kiều đã chọn lựa như vậy vì trong tâm thức của nàng có chủng tử (hạt giống) của nghiệp đoạn trường. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại, nàng đã được lập trình để cảm nhận như vậy, chọn lựa như vậy, và chịu nhận thọ báo (giức mơ và những tiên tri báo ứng của Đạm Tiên) như vậy trong đời này.
Mình không thể trách ông trời tại sao lại sáng tạo ra tôi trong thân xác và cách cảm xúc (đa tình, đa cảm, đa mang) như thế này! “Có trời mà cũng tại ta”, có ai bắt ta chọn lựa như vậy đâu? Nhưng vì cái ta hay bản ngã vốn là kết quả của nghiệp đã làm trong quá khứ, nay biểu hiện ra như một quyền lực thôi thúc ta phải nghĩ, nói và làm theo một cách đặc biệt nào đó.
Hành động và lựa chọn của mỗi người để thể hiện bản ngã hay bản lĩnh của mình trong những tình huống cụ thể  tự do nhưng không hoàn toàn tự do. Vì sao? Người ta có quyền phản ứng  cư xử như thế này hay như thế kia. Những phản ứng  cách cư xử của họ có thể đem lại lợi ích, cho cảm xúc tốt, và không hại đến ai. Đó là người đang tạo thiện nghiệp, cư xử khéo léo, hành động khôn ngoan và có trí tuệ. Nhưng cũng có những lúc họ phản ứng thiếu sáng suốt, cư xử vụng về và mang lại cảm xúc xấu cho mình và cho người khác. Đó là lúc họ đang tạo nghịch duyên hay bất thiện nghiệp. Nhưng những phản ứng  điều kiệnhay không điều kiện đều đã được lập trình sẵn rồi; cách chọn lựa hành động hay cư xử của một người thể hiện trình độ nhận thức của người đó. Mà mức độ nhận thức của một người lại do giáo dục mà nên. Nếu người đó được sinh ra trong một gia đình thiếu giáo dục, cha mẹ không quan tâm đến con cái và hành vicủa chúng. Môi trường sống của người đó là không tốt, có nhiều cám dỗ để làm điều bất thiện. Đến trường, người đó cũng chỉ thích giao du với bạn xấu và chỉ học được điều xấu hơn là điều tốt. Một người sinh ra, lớn lên và sống trong môi trường như vậy thì hoàn cảnh làm duyên cho họ tạo nhiều bất thiện nghiệp, và nó có thể trở thành thói quen phản ứng  cư xử đưa đến điều bất lợi cho mình, cho người hoặc cho cả hai. Người như vậy là người bị hoàn cảnh chi phối, người không biết làm chủ vận mệnh của mình. Đó là những người không bao giờ có tự do thực sự.
Không phải tất cả mọi người làm ác đều phải gặt hái quả khổ đau ngay lập tức. Và cũng không phải tất cả mọi người làm thiện đều được hưởng hạnh phúc an vui liền khi. Chúng ta thấy có một số người làm nghiệp bất thiện như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, vv trong hiện tại, với mong muốn có sự thỏa mãn sung sướng ngay lập tức, không suy xét đến hậu quả lâu dài của các hành động bất thiện trên. Một số họ khi chưa bị phát giác thì quả là có được cảm giác thỏa mãn tạm thời, nhưng sự thỏa mãn này lại thúc đẩy họ hành động bất thiện tiếp để có được cảm giác kích thích  thỏa mãn lớn hơn. Cứ như vậy họ như kẻ thiếu nợ, vay chỗ này trả cho chỗ kia, cuối cùng khao khát không thực sự được thỏa mãn, mà càng ngày càng dấn thân vào con đường nguy hiểm không có lối thoát. Họ như những kẻ sa lầy, càng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào chỗ tội lỗi, nhơ nhớp.
Tuy nhiên cũng có một số người hồi đầu hướng thiện, tuy trước tạo nghiệp bất thiện, nhưng sau lại tạo nhiều thiện nghiệp như vua A-xà-thế (Ajatasatthu) và vua A-dục (Asoka). Phần lớn chúng ta, những người chưa giác ngộ đều tạo các loại nghiệp lẫn lộn cả tốt và xấu. Khi nghiệp đã tạo rồi, chúng được tâm thức ghi nhận và lưu trử như những chủng tử thiện và bất thiện. Khi chủng tử thiện có cơ duyên được tưới tẩm và phát triển, nó hình thành nên một nhân cách tốt. Khi những chủng tử xấu được nuôi dưỡng và khuyến khích, nó tạo nên một nhân cách xấu. Nhân cách của một con người được hình thành và phát triển theo thời gian, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, nhiều nguyên nhân  hoàn cảnh  chúng ta gọi là nghiệp duyên.
Về phương diện đạo đức, Nghiệp được chia ra làm hai loại, thiện nghiệp  bất thiện nghiệp. Chúng tathường nghe “tướng tự tâm sinh”, vậy tâm như thế nào tạo tướng tương ứng?
Thân Do Nghiệp Sanh
Địa Ngục, Thiên Giới (AN (I) (200)
Thành tựu mười pháp, tương xứng như vậy, như vậy bị rơi vào địa ngục. Thế nào là mười?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình và sinh vật. Người ấy lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục, tà hạnh với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”; dầu không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này. Nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly giánnhững kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi Luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nóikhông có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại! “. Người ấy có tà kiến, có tưởng điên đảo, như: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có thiện thí, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.
Thành tựu mười pháp này, người ấy như vậy tương xứng rơi vào địa ngục.
Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng, được sanh lên cõi Trời. Thế nào là mười?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm; biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và các loài hữu tình và sinh vật; đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnhtrong các dục, không hành tà hạnh với các hạng nữ nhân, có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này ông kia, hãy nói những gì ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”. Nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ývọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợigì. Đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi đến nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hiệp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Đoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác. Những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Đoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói đúngPháp, nói đúng Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có lợi ích. Ở đây có người không tham ái, không tham lam tài vật kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có cúng thí, có tế tự, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.
“Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.”
Những gì đã làm trong quá khứ là không thể thay đổi được, nhưng chúng ta có quyền thay đổi hiện tạibằng thái độ hay cách phản ứng ngay bây giờ. Khi trong tình trạng khẩn cấp và nguy hiểm, hoảng loạn, sợ hãi  sân hận là những tâm lý phổ biến nhất. Và nếu chết với tâm thức như vậy thì rất nguy hiểm. Lúc đó nếu có lý trí, bình tĩnh để cầu nguyện, rải tâm từ, hay niệm xả bỏ, niệm hơi thở để tâm bình thản trong giây phút hiểm nguy đến tính mạng là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu chưa được thực tập để làm chủ tâm,  hay mới thực tập còn non nớt thì cũng rất khó để bình tâm để quán chiếu  lựa chọn đúng đắn. Khi như vậy người ta hành động theo phản xạ tự nhiên, theo thói quen cố hữu, hay theo sự chi phối của môi trường xung quanh mình trong thời điểm đó.
Ngày xưa các vị vua chúa có rất nhiều phu nhân, hoàng hậu. Bây giờ ở một số quốc gia theo Hồi giáo vẫn còn tập tục này. Những người phụ nữ có chung chồng thường không ưu nhau. Họ hiềm khích và đôi khi nghĩ ra mưu kế để hại nhau. Hoàng hậu Sāmāvati là một phụ nữ thuần hậu bị rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy. Khi còn là một cô gái thông minh, yêu đời và đầy nghị lực, nàng đã bị đức vua Udena của xứ Kosambi trông thấy và bị vua thích. Cha nuôi nàng, một vị quan trong triều và cũng là một Phật tử thuần thành, một nhà hảo tâm, triệu phú Ghosaka, biết vua là người có bản ngã rất lớn, tính cách hung bạo, háo sắc, vv, nên không muốn cô nghĩa nữ yêu quí trở thành một trong những phu nhân của vua. Tuy nhiên vua Udena đã tìm mọi biện pháp bắt ép cha nuôi nàng phải để cho Sāmāvati vào cung làm hoàng hậu. Được nạp cung, Sāmāvati vẫn giữ bản chất thuần hậu và trung trinh của nàng. Vì là người mới, lại có nhiều phẩm chất tốt nên nàng rất được vua yêu. Điều đó cũng khiến cho một bà phi khác trong hậu cung, Magandiya, một phụ nữ Bà la môn xinh đẹp tuyệt trần nhưng kiêu kỳ, ngạo mạn, nhiều mưu chước và hay ghanh tỵ, trở nên rất tức tối với ân sủng của Sāmāvati. Khi được biết Sāmāvati là một đệ tử thuần thành của Phật, thường thực hành tâm từ, dạy các cung nữ thực hành tâm từ và các tâm bác ái khác, Magandiya càng thêm đố kỵ. Bà phi này vốn thù Phật vì một sự cố trong quá khứ, khi cha mẹ Magandiya muốn Phật (lúc đó mới mới ngoài ba mươi, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp vv) lấy cô con gái mỹ miều có một không hai của họ. Đức Phật đã từ chối thẳng thừng bằng một bài pháp về 32 thể trược, sự nguy hiểm và ràng buộc thấp hèn của nhục dục, về sự nhàm chán thế gian, vv. Tiểu thư Magandiya chỉ nghe được một phần của bài pháp về sự nhơ nhớp của thân xác, vv, nàng liền nổi giận cho rằng ông sa môn đẹp trai đang khinh khi phỉ báng riêng nàng chỉ vì nàng đẹp! (Bao nhiêu trong chúng ta thỉnh thoảng cũng khởi bất thiện tâm, làm bất thiện nghiệp như cô gái ngu ngốc này.) Khi đã trở thành hoàng hậu của xứ Kosambi, dưới sự bảo kê của vua Udena, bà phi này không từ một cơ hội nào để trả thù Phật và các đệ tử của ngài. Và bây giờ, nàng xem Sāmāvati là tình địch và kẻ thù không đội trời chung của nàng.
Với mọi mưu chước của Magandiya, Sāmāvati vẫn chỉ trải tâm từ đến nàng và đến ông vua nóng nảyUdena, người bị Magandiya ton hót xúi bậy. Sāmāvati khôn khéo dạy các cung nhân dươí trướng bà cùng thực hành tâm từ, cùng học hỏi giáo pháp từ một nữ thiện tín (Khujjutarā) người được ra ngoài nghe pháptừ kim khẩu Đức Phật. Họ đã cùng nhau phát triển tâm từ vững mạnh đến độ mũi tên của ông vua bạo ngược không thể hại họ. Nhưng một ngày, khi vua đang đi dẹp loạn ở vùng biên ải, Magandiya đã cho quyến thuộc của nàng đến lập mưu chước và đốt cháy cung điện có Sāmāvati và 500 cung nữ dưới trướng bà.
Tất cả thân xác họ đều bị chết cháy nhưng tâm hồn cao thượng của hoàng hậu Sāmāvati và các cung nữdưới sự hướng dẫn của bà đều đã giải thoát khỏi bốn đường ác đạo (địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh  quỉ thần Atula). Một số cung nữ đã nhập quả thánh thứ hai, và hoàng hậu Sāmāvati đã đắc quả bất lai, tái sinhvào cõi Tịnh cư Thiên. Như vậy trong những trường hợp hiểm nguy không lối thoát, những người thực hành tâm từ, có tâm đã phát triển tốt, vẫn đủ khả năng làm chủ tâm mình và luôn hướng thiện.
Khi được tường thuật về cái chết của thánh nữ Sāmāvati, Đức Phật đã cảm thán nói lên bài kệ:
Tinh cần (trong thiện pháp) là con đường đến bất tử
Thất niệm (khiến ác tâm lộng hành) là con đường đến tai ương.
Người tinh cần sống trong bất tử
Kẻ thất niệm sống như đã chết.
Câu chuyện cảm động về hoàng hậu Sāmāvati, người có nghị lực vươn lên trong những tình huống éo lenhất của cuộc đời (mất cha mẹ từ nhỏ, phải đi xin ăn, nhưng nhờ sự chân thực và tài tổ chức, cô bé đã được một triệu phú để ý và nhận làm con nuôi). Dù đã từng gặp rất nhiều nghịch cảnh trong đời, nàng vẫn luôn can đảm, nhân hậu  từ bi. Đức hạnh của nàng được Đức Phật tuyên bố là nữ đệ tử cao thượng nhất trong hạnh tâm từ (aggam mettāvihārinam) (A.i.26).
Tấn bi kịch trong hậu cung vua Udena không dừng lại ở đó. Nhân quả nghiệp báo của quá khứ  hiện tạiđan xen vào nhau tạo ra tấm thảm kịch khi quyền lực  vô minh cùng đồng hành. Vương phi Magandiya sau khi hãm hại tàn khốc người mà nàng cho là “địch thủ”, rất đắc ý, thỏa mãn, chờ thời cơ để được tấn phong làm chánh cung hoàng hậu. Vua Udena trở về hoàng cung, được biết những gì đã xẩy ra thì rất đau xót. Ông thương tiếc hoàng hậu Sāmāvati bao nhiêu thì càng căm thù người đã hại hoàng hậu bấy nhiêu. Là một đấng quân vương, ông cũng có những mưu kế của mình khiến cho kẻ thủ ác phải sập bẫy.
Vua Udena trước mặt Magandiya đã lớn tiếng ngợi khen người nào đã giúp ông diệt trừ ‘mối hiểm họa Samavati’ – người mà ông cho rằng luôn tìm cách ám sát ông. Ông cũng ngỏ ý muốn khen thưởng cho những ai đã bày ra mưu kế hãm hại nàng. Nghe như vậy, Magandiya đã không nghi ngờ gì, liền thú nhậnmình chính là người tạo ra kịch bản của vụ hỏa hoạn trong cung cấm – với ý chí là muốn trừ diệt mối họalớn cho nhà vua. Vua Udena tỏ vẻ vui mừng và bảo nàng hãy mời tất cả thân quyến  đồ đệ đã giúp nàng hoàn thành công việc này để cùng trọng thưởng. Magandiya cho mời người chú thân tín và các đồ đảng của nàng – những người đã tham gia vào việc đốt cháy cung điện của Samavati đến.
Khi đã tập trung được tất cả tội phạm, vua Udena đột nhiên trở mặt  tuyên bố bắt giam tất cả họ - đứng đầu là Magandiya và chú của nàng- người đã ra tay tàn độc với đối thủ của nàng. Nhà vua cho dựng lên một pháp trường có những tấm lưới sắt được nung đỏ trên than hồng và bắt đám tội phạm nướng sống trên đó. Cái chết đau đớn của họ khi bị nướng từ từ trước mặt hàng vạn người chứng kiến đầy ám ảnh thê lương  rùng rợn.
Tuy nhiên, sau khi đã trả thù cho Sammavati, vua Udena không có được sự bình yên thanh thản trong tâm hồn. Vua nằm thấy ác mộng thường xuyên. Ám ảnh nhất là cặp mắt buồn có vẻ trách móc của hoàng hậu Samavati. Trước khi hành hình Magandiya một cách tàn bạo nhất, ông đã mơ thấy HH Samavati trở vềcan ngăn ông không nên tạo ác nghiệp để trả thù cho nàng. Nhưng vua Udena – bản chất vốn thô bạo và tàn độc, đã bỏ qua lời nhắc nhở sâu thẳm trong tiềm thức, vẫn làm theo lý trí hời hợt của một vị quân vương. Kết quả là nhiều người chết thảm một cách đau đớn, còn ông thì không có được một phút bình yên trong tâm hồn sau thảm cảnh.
Khi được nghe về tất cả những diễn tiến đã xẩy ra ở thành Kosambi, Đức Phật trầm tư lên tiếng tuyên thuyết về nguyên lý chuyển hóa cảm xúc và oan trái trong cuộc đời: “Với hận diệt hận thù -  đời này không thể được. Không hận- tỏa từ bi  hận thù liền tan biến.” (Pháp Cú câu 5)

Nghiệp và Nguyện

Trong phần trước chúng ta đã bàn về chữ nghiệp theo định nghĩa trong kinh điển cũng như theo cách hiểu thông thường trong văn chương và dân gian cùng với những câu chuyện minh họa. Nghiệp (Kamma hay Karma) được hiểu là những hành động mang tính tạo tác, tức là hành động có chủ ý, được điều động bởi ý thức hay vô thức, để lại những hiệu ứng nhất định nào đó lên chính người hành động và lên những người hay môi trường xung quanh. Khi hành động được điều động bởi vô thức mà có những phản ứng không nằm trong dự định và tính toán của người hành động thì nó thuộc về nghiệp lực – hay năng lực dẫn dắt các hành động và chọn lựa mà bản thân người làm không hoàn toàn ý thức được tại sao. Nói một cách đơn giản, làm mà không biết vì sao mình làm như vậy thì gọi là hành động do nghiệp lực dẫn dắt.
Khác với nghiệp lực, nguyện lực (determination to commit to st) lại là những ước mong  nỗ lực theo một hướng mà bản thân người làm biết rõ là vì sao và năng lực nào khiến cho mình chọn lựa hay hành động như vậy. Thường thì nguyện lực được phát khởi khi chứng kiến hay nghe những điều khiến tâm hồn mình xúc động mạnh, cảm thấy được truyền cảm hứng để thay đổi. Trong tiếng Pali, nguyện ước Adhiddhānā – tâm quyết định mạnh mẽ để làm một việc nào đó, nếu đó là việc thiện như thay đổi cách sống, thay đổi môi trường làm việc lành mạnh hơn, từ bỏ thói quen xấu hay thiết lập thói quen tốt, vv. Đứng dậy sau vấp ngã, sửa chữa sai lầm của bản thân, nguyện không nói xấu hay tìm lỗi người. Nguyện giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn … nguyện qui y Tam Bảo và giữ năm giới thường xuyên để tránh ác, nguyện tu thập thiện để tích thiện, nguyện tập sống đời đơn giản không tranh đua (giữ tám giới), nguyện sống đời xuất gia ly trần (10 giới), nguyện chuyên tu, trở thành những hành giả với đầy đủ giới luật (thọ cụ túc giới), nguyện hànhBồ tát hạnh, vv.
Khi Sa môn Cồ Đàm từ bỏ đời sống khổ hạnh và bắt đầu con đường trung đạo tránh hai cực đoan[i] trong pháp hành, ngài thọ dụng bánh sữa đề hồ trong cái bát vàng của nàng thôn nữ Sujata - người tưởng lầm tưởng ngài là một vị thần cây linh thiêng. Sau khi thọ thực, ngài đi ra bờ sông Ni Liên Thuyền (Nerajyana), ném chiếc bát xuống dòng sông với lời nguyện nếu ngài đã đủ duyên nghiệp để thành Phật, chiếc bát sẽ trôi ngược dòng. Và điều kỳ diệu đã xẩy ra để xác tín lời nguyện ước, chiếc bát trôi ngược dòng. Bồ tát có thêm tự tin để trở lại nơi đã chọn, ngồi dưới cội cây bồ đề và bắt đầu hành trình vào nội tâm, lội ngược dòng với lời nguyền không giác ngộ thì dẫu xương tan thịt máu khô hết cũng không đứng dậy.
Nguyện lực dũng mãnh này gây ra những luồng rung động trong vũ trụ, và ma vương đã “giải mã” được các rung động đó mang ý nghĩa gì. Điều này quả là một thách thức cho thế lực của ma vương - thế lựcchống đối không muốn có người giác ngộ  thoát khỏi vòng bủa vây của chúng, nên đã sai các cô gái trẻ, đẹp, hấp dẫn và ngọt ngào quyến rũ đến để làm sao nhãng việc tu hành của bậc ẩn sĩ. Tiếp tục chú tâmtrên hơi thở một cách buông xả với tâm thức của một đứa trẻ lên bảy, vị ẩn sĩ không hề động tâm trước những pha biểu diễn nghệ thuật quyến rũ bậc cao nhất của các thiên nữ cõi dục giới.[ii]
Quyến rũ không được, Ma vương liền gửi các đội quân tinh nhuệ với binh đao và các hình ảnh ghê rợnđến để dọa dẫm Bồ tát. Tiếng binh khí vang rền, tiếng gầm rú của chiến xa và các binh đoàn không thủy bộ … cũng không làm tâm hành giả sợ hãi hay dao động.
Trong đại định, bậc đại ẩn sĩ (Maha muni) kiết ấn Xúc Địa (Bhumi phassa Mudra), nhắc lại lời nguyền với sự chứng minh của đại địa rằng ngài đã thực hành các Ba-la-mật (paramita) trong suốt bốn A tăng kỳ(asankhaya – một khoảng thời gian dài không đếm được) và một trăm ngàn đại kiếp để thành tựu những phẩm hạnh của một vị Đại Giác Ngộ (Buddha).  Đại địa rung chuyển xác tín lời nguyền sâu dày của Bồ tát, khiến cho các binh chủng của ma vương phải rút lui và hạ khí giới.
Nguyện lực chính là sức mạnh đưa người ta ra khỏi một vùng đã bị giam giữ lâu ngày  hay nhiều đời nhiều kiếp. Nguyện lực càng mạnh mẽ và nỗ lực hành động theo hướng dẫn của trí tuệ và sự suy xét đúng đắnthì sẽ thành tựu như nguyện.
Nghiệp chướng
Nhiều khi trong cuộc sống chúng ta muốn làm gì đó nhưng luôn bị cản trở khiến cho ta thối tâm hay bỏ công việc dở dang không thành tựu được như ý nguyện. Bị cản trở và thối thất thì gọi là nghiệp chướng. Nghiệp chướng là các lực cản hay thử thách trong cuộc sống khiến cho chúng ta không dễ dàng đạt đượcmột/những mục đích nào đó.
Nghiệp chướng cũng có thể là những điều xẩy ra bất ngờ khiến cho người không nắm bắt được cơ hội để làm hay thành tựu điều mình muốn. Chướng nghiệp cũng khiến cho người ta đánh mất hạnh phúc mà mình đang có hay xứng đáng được hưởng. Nếu nghiệp chướng chỉ là chướng duyên/thử thách, với sự kiên định với mục đích đã chọn, người ta có thể vượt qua được. Nhưng khi nghiệp chướng là những điều bất ngờ xẩy ra khiến người ta phải từ bỏ con đường đã chọn thì nó quả là tai hại. Đôi khi người ta tưởng chừng như đã nắm được hạnh phúc rồi nhưng vì những chuyện không đáng là gì cả khiến họ buông tay và cơ hội vuột mất. Đó cũng là một kiểu nghiệp chướng.
Chướng nghiệp có thể đến từ bên trong hay đến từ bên ngoài. Chúng sinh khi bị chi phối bởi tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, nghi hoặc hay tà kiến khiến cho họ làm, nói hay suy tư  những việc không nên làm/nói; và không làm/nói những việc cần phải làm/nói – sai lầm như vậy khiến họ không đạt được điều họ đã mong mỏi và đã nỗ lực hướng đến trong cuộc sống.
“- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, đi đến thất bại? Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn? Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người do buôn bán như vậy, lại được thành tựu ngoài ý muốn?
2. - Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa hẹn như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã được hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán đi đến chỗ thất bại.
3. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ýmuốn.
4. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ". Và người ấy cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn.
5. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", và người ấy cho hơn như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu người ấy có buôn bán gì, buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy đi đến thất bại. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.”
[Anguttara nikaya IX, 79, chương bốn pháp]

Nghiệp và mệnh

Vậy nghiệp có phải là định mệnh không? Bài kinh sau đây cho thấy nghiệp có thể thay đổi được khi tâm hướng thay đổi. Nghiệp, theo cách hiểu của Đạo Phật thì không phải là định mệnh. Sinh ra trong một hình hài  hoàn cảnh như thế nào là do nghiệp quá khứ quyết định (Kammaṃ khettaṃ viññānaṃ bījaṃ, tanhā sineha ­- chủng thức  hạt giống, nghiệp là cánh đồng, ái là nước tưới tẩm), tuy nhiên sống với những gì có sẵn này như thế nào thì đó là chọn lựa của mỗi người.
Nếu một người được thừa hưởng gen tốt từ cha mẹ dòng tộc, được nuôi dưỡng trong môi trường tốt nhưng tâm ý người đó hướng bất thiện, giao du bạn xấu và không biết ơn, trân trọng những gì mình đang có thì sớm muộn gì người đó cũng mất đi những cái tốt ban đầu, và tự chuốc lấy khổ đau bần cùng thất bại như định mệnh tự mình tạo ra. Người như thế gọi là kẻ làm bánh tồi mặc dù có được bột tốt, đường ngon và các gia vị hảo hạng nhưng vì thiếu kỹ năng làm bánh (tạo ra cuộc đời đặc biệt của mình) nên đã làm hư bột hư đường; và cái bánh cuộc đời của người đó không ai muốn thưởng thức. Những người như vậy trong kinh nói là người đi từ ánh sáng vào bóng tối.
Cũng có những người khi sinh ra không được may mắn, gia đình có thể nghèo khổ, cơ thể có thể khôngkhỏe mạnh, hay thậm chí bị khiếm khuyết, nhưng không vì vậy mà họ bi quan, chán chường và đổ lỗi cho số phận. Họ luôn sống tốt với những gì mình có, và tạo nghiệp lành để hiện tại an lạc và tương lai sáng đẹp hơn. Họ cũng giống như người không được cung cấp bột tốt, đường thì thuộc loại xoàng, các gia vị cũng tầm thường, nhưng họ biết cách học làm bánh ngon từ nguyên liệu rẻ tiền. Và chiếc bánh cuộc đời của họ dù không hấp dẫn về hình thức, nhưng lành mạnh và bổ dưỡng. Những người như vậy là người đi từ bóng tối ra ánh sáng.
“Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối; sống trong bóng tối, hướng đến ánh sáng; sống trong ánh sáng, hướng đến bóng tối; sống trong ánh sáng, hướng đến ánh sáng.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình hạ tiện, gia đình một người đổ phân, hay gia đình một người thợ săn, đan rổ, hay gia đình người đan tre, làm bẫy sập, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong một gia đình một người nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó tìm cho được đồ ăn, đồ mặc. Và người ấy lại xấu xí, khó ngó, còm lưng, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, quẹo tay bại chân, hay đi khấp khểnh, hay nửa thân tê liệt, không có được đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ năm, chỗ ở hay đèn. Người ấy sống với thân làm ác, sống với miệng nói ác, sống với ý nghĩ ác. Sau khi sống với thân làm ác, với miệng nói ác, với ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người trong bóng tối hướng đến bóng tối.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình hạ liệt... chỗ nằm, chỗ ở hay đèn. Người ấy sống với thân làm lành, sống với miệng nói lành, sống với ý nghĩ lành. Sau khi sống với thân làm lành, với miệng nói lành, với ý nghĩ lành, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi trời, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được sanh trong một gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ giàu có, hay trong gia đình Bà-la-môn giàu có, hay trong gia đình gia chủ giàu có, phú hào  tài sản lớn, có của cải lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy lại đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, xinh xắn. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, như vậy là hạng người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ giàu có, hay trong gia đình Bà-la-môn giàu có, hay trong gia đình gia chủ giàu có, phú hào  tài sản lớn, có của cải lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Và người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, xinh xắn. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy, thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩlành. Do thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, người ấy khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, cõi trời, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, như vậy là người sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng.” [Anguttara V, 85]

Tỳ Kheo Ni Pháp Hỷ Dhammananda
Viết tại Bodhi Tree meditation Center, Honolulu 2013
Khemarama – Tịnh An Lan Nhã – Bà Rịa Vũng Tàu 2017


[i] Hai cực đoan là đắm say trong dục lạc vô độ, vốn thấp hèn tai hại, và khổ hạnh ép xác, vốn vô ích  tà kiến. cả hai đều là những cách kích thích khác nhau lên cơ thể để tạo ra những cảm giác mạnh giúp người ta tạm thời quên đi những bức xúc nào đó.
[ii] Ref. Ba cô con gái của ma vương đến từ cõi Paramimmita vasavatti – cõi trời cao nhất trong Dục giới(Kāma vacana) 
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/8/2017