Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

10 ĐIỀU LÝ THÚ VỀ BỘ XƯƠNG NGƯỜI

10 ĐIỀU LÝ THÚ

VỀ BỘ XƯƠNG NGƯỜI

Bộ xương người trưởng thành gồm 206 chiếc, kết nối thành mạng lưới, thực hiện nhiều chức năng như định hình khung cơ thể, hỗ trợ chuyển động và sản xuất các tế bào máu mới.
H1: Bộ xương của em bé mới sinh chứa khoảng 300 cấu phần, là hỗn hợp của xương và sụn. Phần sụn sẽ dần cứng lên trở thành xương trong một quá trình gọi là sự hóa xương. Theo thời gian, số lượng xương “cộng thêm” trong trẻ sơ sinh hợp nhất lại tạo thành những chiếc xương lớn hơn, làm giảm số lượng xương xuống còn 206 khi đến tuổi trưởng thành.
8 Xuong nguoi 1H2: Xương không phân bố đều trên khắp cơ thể. Chúng tập trung chủ yếu ở bàn tay và bàn chân. Mỗi bàn tay có 27 cái xương và mỗi bàn chân có 26 cái. Tổng cộng hai bàn tay và hai bàn chân có 106 xương, chiếm hơn một nửa số xương trong cơ người.
H3: Xương móng là một chiếc xương có hình dạng móng ngựa trong cổ họng, nằm giữa cằm và sụn giáp. Đây là chiếc xương duy nhất trong cơ thể không kết nối với bất kỳ chiếc xương nào khác. Xương móng kết hợp với thanh quản và lưỡi để tạo ra tiếng nói của con người.
H4: Xương có cấu tạo từ tế bào sống đang hoạt động. Vì vậy, nó cũng có khả năng mắc u lành tính và thậm chí cả ung thư. Năm 2013, giới khoa học tìm thấy một khối u trong xương sườn của người Neanderthal, có niên đại từ 120.000 đến 130.000 năm. Đây là khối u con người cổ xưa nhất từng được phát hiện.
H5: Động vật có xương sống chỉ chiếm 2% so với tổng số động vật trên Trái Đất. 98% các loài còn lại là động vật không xương sống, như côn trùng, nhện và động vật thân mềm.
8 Xuong nguoi 2
H6: Xương rất khỏe và cứng, thậm chí còn cứng hơn cả thép. Tuy nhiên chúng không phải là cấu trúc rắn chắc nhất trong cơ thể. Ngôi vị này thuộc về một bộ phận khác là lớp men răng (tập trung nồng độ cao khoáng chất, chủ yếu là muối canxi).
H7: Con người đã biết cách điều trị gãy xương từ hàng nghìn năm trước. Trong cuốn sách Edwin Smith Papyrus từ thời Ai Cập cổ đại (khoảng năm 1.600 trước Công nguyên) tác giả cuốn sách diễn tả phương pháp điều trị gãy xương, bao gồm một cánh tay bị gãy. Cuốn sách ghi rằng, chúng ta cần sắp xếp lại các mảnh xương cho đúng vị trí rồi băng bó vết thương lại bằng vải lanh.
8 Xuong nguoi 3
H8: Khoảng 3.000 năm trước, người Ai Cập cổ đại đã tạo ra bộ phận cơ thể giả đầu tiên là một ngón chân cái nhân tạo. Năm 2011, các nhà khoa học chỉ ra rằng người Ai Cập với ngón chân giả có thể đi lại bằng dép dễ dàng hơn so với những người mất ngón chân mà không có bộ phận thay thế.
8 Xuong nguoi 4H9: Hầu hết người trưởng thành có 24 xương sườn (12 cặp). Tuy nhiên, trong 500 người thì có một người chứa một xương sườn phụ, gọi là xương sườn cổ. Nó phát triển từ phần dưới cổ, ngay phía trên xương đòn. Chiếc xương sườn phụ này có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe nếu chèn vào mạch máu hoặc dây thần kinh gần kề.
H10: Con người không trực tiếp điều khiển xương. Khi chúng ta di chuyển tay, chân hoặc bất kỳ bộ phận nào khác của cơ thể, chúng ta đang ra lệnh cho các cơ gắn vào xương chuyển động. (theo Live Science)
Mỹ Nhàn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 20/3/2015

TAM KHÔI NHIỆT ĐỚI QUẢ


9 Tam khoiTAM KHÔI

NHIỆT ĐỚI QUẢ 

- Phạm Đình Lân, F.A.B.I.
Vùng nhiệt đới được giới hạn bởi vĩ tuyến 23 ½ Bắc Bán Cầu và 23 ½ Nam Bán Cầu. Á Châu, Phi Châu, Mỹ Châu và Úc Châu có vùng khí hậu nhiệt đới. Các quốc gia Đông Nam Á đều nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Trái cây miền nhiệt đới ngọt hơn trái cây miền ôn đới nhưng không được phổ biến rộng rãi khắp thế giới như trái cây miền ôn đới. Tầm quan trọng của cây trái miền ôn đới gắn liền với sự phát triển của đạo Thiên Chúa và khoa học kỹ thuật của các quốc gia Âu- Mỹ trong vùng khí hậu ôn đới.
Khắp thế giới đâu đâu người ta cũng biết trái nho. Các quốc gia Thiên Chúa Giáo và Chính Thống Giáo Âu Châu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp… là những quốc gia trồng nhiều nho và sản xuất rượu nho. Kinh nghiệm trồng nho, ăn nho và sản xuất rượu nho được người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha du nhập vào Bắc Mỹ,Trai cayTrung Mỹ và Nam Mỹ và người Pháp đưa vào thuộc địa Hồi Giáo của họ ở Bắc Phi khiến cho nho có một vai trò quan trọng trong kinh tế và thương mại của những quốc gia trồng nho và sản xuất rượu nho trên thế giới.
Cây ăn trái miền nhiệt đới rất dồi dào. Trái cây ngon là trái cây ngọt tức là có nhiều đường hay nói cách khác có nhiều ca-lo-ri. Trái cây miền nhiệt đới có hai vị chính: ngọt và chua. Ngọt như sầu riêng, xoài, mít, đu đủ, chôm chôm v.v. Ngọt lợ như dâu, ổi, mận. Chua như trái cóc và chua lợ dễ chịu như măng cụt.
Sầu riêng, xoài và mít được xem là ba loại trái cây ngon của miền nhiệt đới. Ngày xưa tam khôi thi đình được gọi là trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Về thực vật miền nhiệt đới sầu riêng, xoài và mít được xem là tam khôi nhiệt đới quả cũng không sai sự thật bao nhiêu.
9 Sau rieng 11/- SẦU RIÊNG
Theo các nhà nghiên cứu thực vật học, cây sầu riêng gốc ở Indonesia, Mã Lai và đảo Brunei. Đó là những quốc gia Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của Hồi Giáo. Sầu riêng được các nhà truyền giáo du nhập từ Mã Lai vào Nam Bộ vào thế kỷ 19. Thời bấy giờ trên đảo Penang (Mã Lai) có một chủng viện Thiên Chúa Giáo. Ở Nam Bộ những vùng có nhiều vườn sầu riêng, măng cụt, chôm chôm đều là những vùng có tỷ lệ tín đồ Thiên Chúa Giáo cao như Cái Mơn (Bến Tre), Nhị Bình (Gia Định), Bình Nhâm, An Sơn, Hưng Định (Thủ Dầu Một). Cái Mơn là sinh quán của Pétrus Trương Vĩnh Ký.  Bình Nhâm là sinh quán của á thánh Gẩm. Nhị Bình và Bình Nhâm là hai xã có tỷ lệ linh mục Thiên Chúa Giáo cao nhất ở Nam Bộ.
Cây sầu riêng thuộc gia đình Bombaceae. Tên khoa học của nó là Durio zibethinus.  Người Anh gọi sầu riêng là durian và người Pháp gọi là durion do chữ duri của tiếng Mã Lai có nghĩa là ‘gai’ vì trái sầu riêng có gai nhọn và cứng. Trái sầu riêng rụng có thể gây tử vong cho người bị nó chạm vào đầu. Rất may là điều này hiếm khi xảy ra vì sầu riêng chỉ rụng ban đêm mà thôi.
Có lối 30 loại sầu riêng khác nhau. Sầu riêng được trồng bằng hột. Cây bắt đầu ra trái khi được 5 tuổi. Cây sầu riêng cao từ 15- 25 m. 9 Sau rieng 2Nó thích hợp với khí hậu nhiệt đới và đất đai màu mỡ. Cây bị chết nếu nhiệt độ xuống khoảng 20 độ C.
Hoa sầu riêng có chùm nhỏ rất thơm và có nhiều mật nên hấp dẫn ong và dơi đến hút mật hoa. Hoa sầu riêng thụ phấn nhờ dơi, ong và gió. Ngày nay sầu riêng được trồng ở các quốc gia trong vùng Đông Nam Á, các hải đảo Thái Bình Dương, đảo Hai Nan, Đài Loan, các đảo trong biển Caribbean, miền bắc Úc Đại Lợi, Congo, quần đảo Hawaii và cả Florida nữa. Ở Việt Nam ngoài Cái Mơn, Bình Nhâm, Nhị Bình các nơi khác như Long Thành, Long Khánh và Ban Mê Thuột cũng có trồng sầu riêng với kết quả tốt.
Trái sầu riêng nặng từ 3 – 5 ki-lô.  Người ta dùng mũi dao nhọn để khui trái chín. Bên trong lớp vỏ gai góc là những múi sầu riêng thơm ngọt ngào. Sầu riêng ngon là sầu riêng có cơm dày nhưng không nhão cũng không sượng.  Cơm sầu riêng màu vàng rực, có nhiều protein, chất béo, chất vôi, đường, sinh tố A, C, E, potassium, phosphorus, ác xít ascorbic. Sầu riêng có nhiều ca- lo- ri nên người Việt Nam cho rằng trái sầu riêng nhiệt. Mắt bị đổ ghèn sau khi ăn nhiều sầu riêng.  Người ta ăn sầu riêng và dùng cơm sầu riêng làm kem. Ở Indonesia người ta làm thức ăn bằng sầu riêng để ăn cơm. Họ lát hột sầu riêng, chiên và ăn với đường. Lá sầu riêng non và mầm non  được luộc ăn như rau cải.
9 Sau rieng 3Vỏ sầu riêng phơi khô dùng để làm chất đốt. Hột sầu riêng nấu, nướng hay rang đều ăn được nhưng không có hương vị rõ ràng.  Hột sầu riêng có nhiều tinh bột và hơi nhớt.
Sầu riêng có mùi thơm nồng. Phần lớn người Âu- Mỹ không chịu nổi mùi này. Cũng có một số người Việt Nam không ăn được sầu riêng. Mùi cực thơm của sầu riêng trở thành mùi khó chịu đối với khứu giác của vài dân tộc trên thế giới. Mùi cực thối như long diên hương (ambergris), một chất nhờn có mùi khó chịu của tinh trùng trong màng ruột cá voi, lại được dùng trong kỹ nghệ sản xuất nước hoa ! Khi một vật lên đến tột đỉnh về phương diện nào đó thì nó lại xuống vị trí đối ngược với đỉnh đã đạt. Do đó vật cực thơm trở thành vật cực thối và vật cực thối trở thành nguyên liệu sản xuất vật cực thơm!
Hong Kong, Singapore, Đài Loan… nhập cảng nhiều sầu riêng.  Người Trung Hoa rất thích ăn sầu riêng. Chợ Lớn là nơi tiêu thụ sầu riêng do Bình Nhâm, Nhị Bình và Long Thành sản xuất.  Mã Lai và Thái Lan là hai nước xuất cảng nhiều sầu riêng trên thế giới.   Hoa Kỳ và Canada cũng nhập cảng sầu riêng vì có nhiều người Hoa và người Việt cư trú nên mức tiêu thụ sầu riêng ở các thành phố Vancouver, Toronto, Chicago, Seattle, New York, Westminster, San Jose, Los Angeles, Houston, New Orleans…. rất cao.
Chanthaburi, một thành phố nằm cách Bangkok 250 cây số về phía đông nam, được xem là thủ đô sầu riêng trên thế giới.  Ở Mã Lai, đảo Penang là nơi sản xuất sầu riêng ngon nổi tiếng. 9 Sau rieng 4Sầu riêng Cái Mơn, Bình Nhâm, Nhị Bình…phát xuất từ hòn đảo nằm về phía Tây bờ biển Mã Lai này.
Người Trung Hoa gọi trái sầu riêng là trái cây Nam Dương tức là nói đến xuất xứ của loại trái cây này. Người Anh gọi là durian dựa vào tiếng Mã Lai duri (gai) tức là vào hình dáng đầy gai nhọn của trái cây này.  Người Thái gọi trái sầu riêng làMonthong (Mon: gối; thong: vàng), Kradumthong (Kradum: nút ; thong: vàng)…dựa vào hình dáng và màu vàng của múi sầu riêng. Còn người Việt Nam gọi nó là ‘sầu riêng’ có phải vì ghiền hương vị thơm và ngọt ngào của trái cây này mà sầu tư nhung nhớ?
Sầu riêng chồng chất như thành
Biết ai san sẻ cho mình nhẹ thân.
Liệu tên gọi ‘sầu riêng’ của Việt Nam và tên gọi Monthong (gối vàng) của người Thái có liên hệ gì không ?
Những giả thuyết trên không vững lắm. Tên gọi sầu riêng chắc chắn không có nghĩa trực tiếp như vậy mà có thể là âm của chữ durian của Mã Lai nghĩa là trái có gai và gần hơn là chữ thu- rian của người Thái. Trái mãng cầu Xiêm (có gai) được người Mã Lai gọi là durian maki 9 Sau rieng 5và người Thái gọi là thu- rian- khack.
Người Âu- Mỹ không ăn được sầu riêng nhưng các nhà thực vật Âu- Mỹ cũng xác nhận đó là trái cây ngon và bổ dưỡng nhất xứng đáng với biệt danh vua trái cây trên thế giới chớ không riêng gì trái cây miền nhiệt đới.
Người ta cho rằng vừa ăn sầu riêng vừa uống cà phê hay rượu mạnh rất có hại vì khó thở. Người bị cao áp huyết hay bị bịnh Crohn (đau ruột) được khuyên không nên ăn sầu riêng. Người Indonesia trên đảo Java cho rằng sầu riêng có tính kích dục.
Người Việt Nam nấu lá sầu riêng uống cho mát gan.  Ở Mã Lai nước sắc từ lá sầu riêng được dùng để hạ sốt.  Người ta nghiền nát lá sầu riêng và vắt nước thoa lên đầu khi lên cơn sốt.
2/- XOÀI
Xoài là một loại cây ăn trái miền nhiệt đới.  Ấn Độ và Miến Điện được xem là nơi phát tích của cây xoài. Tên Hán – Việt của cây xoài là hương cai. Nó cùng gia đìnhAnacardiaceae với cây điều (đào lộn hột) và được biết dưới tên khoa học Mangifera indica. Từ Nam Á cây xoài được trồng ở các nước Đông Nam Á, hải đảo Thái Bình Dương, hải đảo trong biển Caribbean, Trung Mỹ, Nam Mỹ,9 Xoai 1 Phi Châu nhiệt đới, bắc Úc Đại Lợi, quần đảo Hawaii, Florida. Tiểu bang Assam của Ấn Độ là nơi có nhiều đồn điền trồng xoài. Hiện nay các nước sản xuất nhiều xoài trên thế giới là Ấn Độ, Trung Hoa, Thái Lan, Indonesia, Mễ Tây Cơ. Nước xuất cảng nhiều xoài là Mễ Tây Cơ.
Ngoài những cây xoài được thuần hóa còn có nhiều xoài rừng ở Đông Nam Á và Mỹ Châu nhiệt đới. Trái xoài rừng nhỏ, chua và có nhiều xơ.
Cây xoài cao từ 20- 25 m. Những cây xoài cổ thụ ở Phi Luật Tân, Miến Điện, Indonesia và Thái Lan có thể cho hàng ngàn trái.  Hoa xoài trắng, nhuyễn và thơm.  Lá xoài dài và to. Lá non được dùng để ăn sống như rau. Trái xoài to có thể cân nặng từ 1- 2 ki- lô.  Vỏ trái xoài non màu xanh.  Xoài non rất chua.  Khi chín vỏ chuyển sang màu vàng, vàng cam hay màu đỏ. Xoài chín thơm và ngọt.
Ở Việt Nam có xoài cơm, xoài cát, xoài gòn (Mangifera duperreana), xoài tượng, xoài thanh (Mangifera indica) (1), xoài thơm, xoài hôi (Mangifera foetida), xoài lửa  v.v. 9 Xoai 2Như tên gọi, xoài tượng (voi) (Mangifera cambodiana) là loại xoài trái to thường ăn sống với nước mắm đường hay mắm ruốc hơn là ăn chín.
Xoài thanh, xoài cơm, xoài gòn và xoài cát được xem là xoài ngon và có giá cao ngoài thị trường.  Ở miền Bắc xoài Yên Châu và Mộc Châu được xem là xoài ngon nổi tiếng.  Nhựa xoài hôi rất khó chịu. Đó là nguyên nhân của sự hiện diện của chữ ‘foetida’ trong tên khoa học của nó. Xoài lửa không được xem là xoài ngon.
Người ta ăn xoài chín hoặc xay nhuyễn lấy nước cốt ngọt làm nước giải khát hay làm kem. Xoài sống dùng để rim đường hay cam thảo ăn với muối ớt hay ăn sống với nước mắm đường hay mắm ruốc. Người ta cũng thấu xoài sống với giấm đường như đồ chua. Ở Nam Bộ người ta băm xoài sống bỏ vào cá nướng dầm với nước mắm ớt để ăn cơm. 9 Xoai 4Đọt xoài non dùng để ăn bánh tráng hay bánh xèo. Ở Ấn Độ người ta dùng trái xoài sống phơi khô rồi nghiền thành bột để nêm vào thức ăn cho có vị chua.
Xoài chín thơm và ngọt. Nó có nhiều đường, sinh tố A, B, C, protein và carotene như cải cà –rốt vậy. Vỏ trái xoài có chất vôi và sinh tố B6. Đối với người Việt Nam xoài ngon là xoài không xơ. Người Ấn Độ xem trái xoài là thức ăn của thần thánh. Họ dùng lá xoài trang hoàng cổng và các tràng hoa vào những ngày hôn lễ hay các lễ tôn giáo. Họ cho bò ăn lá xoài để lấy nước tiểu có ác xít euxanthic màu vàng dùng làm sơn dầu hay để nhuộm.  Việc cho bò ăn lá xoài bị cấm chỉ sau khi người ta khám phá ra độc chất trong lá xoài.
Nhựa cây xoài gây phỏng da nếu đụng phải.  Lá, vỏ, cuống lá xoài có nhiều tannins(chát).  Nó dùng để trị tiêu chảy. Ở Ấn Độ người ta dùng vỏ cây xoài có mangeferine để trị tê thấp và chứng bạch hầu (diphtheria)9 Xoai 3do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriagây viêm và tạo một lớp màng dày trong cổ hầu, mũi và cuống phổi. Ở Đông Nam Á người ta dùng nhựa cây xoài để trị ghẻ và dương mai. Vỏ và rễ cây xoài dùng  để hạ sốt.  Vỏ trái xoài dùng để trị thổ huyết và xuất huyết tử cung.
Cây xoài có nhựa độc nên người ta không dùng gỗ cây xoài để làm củi đốt.  Khói của củi xoài làm cho người nấu nướng bị cay mắt và  khó thở. Người Tamil (2) gọi trái xoài là mangay. Người Bồ Đào Nha gọi làmanga; người Anh: mango và người Pháp: mangue.  Những tên gọi này bắt nguồn từ chữ ‘mangay’ mà ra.
Nói về xoài ca dao Việt Nam có câu:
Má ơi đừng đánh con hoài
Để con câu cá băm xoài cho má ăn.
Hột xoài là hột giẹp hình bầu dục được bao quanh bởi cơm của trái xoài. Hột xoài’ là đồ vặn khóa cửa bằng sành hay bằng kim khí có hình bầu dục như cái hột xoài. Trong y học dân gian hột xoài là thứ bịnh phong tình, háng nổi hạch to như cái hột xoài.
Người miền Nam thường dùng cụm từ “nói chuyện trồng xoài” để ám chỉ một chuyện gì xa vời vì trồng xoài phải mất 7 năm mới có thu hoạch.
9 Mit 63/- MÍT
Cây mít là một loại cây ăn trái miền nhiệt đới gốc ở miền nam Ấn Độ và đảo Sri Lanka (Tích Lan) sớm được trồng ở Mã Lai. Vì vậy có nhiều tài liệu cho rằng cây mít gốc ở Đông Nam Á. Ngày nay mít được trồng  khắp thế giới ở những vùng khí hậu nhiệt đới kể cả các hải đảo Thái Bình Dương.
Cây mít thuộc gia đình cây dâu tằm Moraceae và được biết dưới tên khoa học Artocarpus heterophyllus. Theo tiếng Hy Lạp, Artis là ‘bánh mì’ và Carpos là ‘trái’. Nếu ghép hai chữ lại ta có ‘trái bánh mì’ mà người Anh gọi là breadfruit và người Pháp gọi là fruit à pain. Nhưng người Anh gọi cây mít là jackfruit tree và người Pháp gọi là Jacquier hay Jaquier. Người Bồ Đào Nha gọi là Jaca, có lẽ là âm của chữ Kathalmà người Bangladesh dùng để chỉ trái mít vì người Bồ Đào Nha là người Âu Châu đầu tiên đến Ấn Độ vào thế kỷ 16. Người Mã Lai gọi mít là chakka và người Tây Ban Nha gọi là Fruta de Jack. Còn breadfruit của Anh hay arbre à pain và fruit à pain của Pháp là cây và trái sa- kê. Chúng ta sẽ đề cập về trái này như một thân thuộc gần của trái mít.
Tên Hán – Việt của mít là ba la mật.  Tên Hán- Việt của hột mít là ba la mật hạch nhân.  Tên thuốc Đông Y của mít là năng gia kiết.
Cây mít cao từ 15- 20 m.  Lá mít dày và xanh sậm.  Cây mít có nhiều nhựa trắng đục và dẻo như keo.  Đặc điểm này cho thấy cây mít thích hợp với vùng đất cát và chịu đựng nắng hạn rất kiên cường.
Mít được trồng bằng hột.  Muốn có mít ngon phải dùng múi mít ngon kể cả hột còn vỏ lụa bên ngoài để trồng thì sẽ có cây mít cho trái mít ráo và ngon như múi mít gốc.  Hột mít ráo lúc nào cũng có vỏ lụa ở ngoài.  Nếu dùng hột mít không có vỏ lụa bên ngoài để trồng cây mít sẽ cho trái mít có cơm nhão gọi là mít ướt. Cây mít không có rễ đuôi chuột nên khi gặp gió lớn dễ bị trốc gốc.
9 Mit 1Sau khi trồng được 3 năm, mít bắt đầu ra trái. Trái mít là một loại trái cây to lớn nhất thế giới ngoại trừ trái dưa hấu. Trái mít to có thể dài 90 cm và cân nặng 40 ki- lô. Trái mít treo lủng lẳng trên cây nhờ cái cuống dài, to và dẻo. Vỏ trái mít có gai sần sùi. Gai mít không to và bén nhọn như gai trái sầu riêng. Mít, thơm và trái sa- kê là ba loại trái cây có cùi to gắn liền với cuống. Chung quanh cùi mít có những múi mít chín vàng thơm và ngọt.  Bên trong múi là những cái hột to bằng ngón tay cái và có nhiều tinh bột.
Người ta hái mít khi mít già, đóng cọc và phơi nắng thì mít mới chín. Người ta cho rằng những người lì lợm đóng cọc vào cùi mít thì mít không chín. Người viết chỉ ghi ra những gì được nghe nhưng chưa có cơ hội kiểm chứng điều này. Điều này tương tự với nhận xét rằng người ‘nặng bóng vía’ không câu được cá. Chúng tôi không biết ‘nặng bóng vía’ là như thế nào mà chỉ biết vài người không bao giờ câu được một con cá nhỏ nào dù tỏ ra ham thích đi câu. Nhiều người câu cá tránh tiết lộ mình đi câu vì tin rằng khi nói ra, họ không câu được con cá nào!
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tự ví mình như trái mít chín cây và mời mọc :
Quân tử có thương thì đóng cọc.
Người Âu – Mỹ có khứu giác hoàn toàn khác với khứu giác của người Việt Nam và các dân tộc sống ở miền nhiệt đới về mùi sầu riêng và mùi mít chín.  Họ cho sầu riêng có mùi thối và mít chín có mùi củ hành rất khó chịu trong khi người Việt Nam thích ăn sầu riêng đến nỗi không có tiền mua nên sinh lòng nhung nhớ sầu tư.  Họ cũng khen 9 Mit 3mùi thơm của mít chín khi nói :
Thơm như múi mít.
Ở Bangladesh và Indonesia trái mít được xem là quốc quả. Nếu nó có mùi củ hành thì không thể nào nó có một địa vị đầy danh dự như vậy giữa hàng ngàn loại trái cây nhiệt đới.
Trái mít to và có nhiều xơ. Người ta dùng mít non để nấu canh, hầm mềm để ăn với bánh hỏi và thịt heo quay. Trong những năm thiếu lúa gạo trái mít có vai trò quan trọng trong việc cứu đói. Đó là lý do tại sao nó mang tên Artocarpus (trái bánh mì). Ở miền Nam người ta dùng mít non nấu canh cá rô và đậu phọng. Đây là một món ăn đơn giản nhưng đầy hương vị đồng quê với vị béo, mặn, ngọt và dẻo của đậu phọng, nước mắm, cá và mít non. Ở nông thôn miền Nam người ta dùng bông mít có cám trộn với bưởi và thơm để làm một loại gỏi thuần thực vật ăn với nước mắm ớt. Ở Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka, Mã Lai…người ta dùng mít non để nấu ca- ri.
Trái mít chín có protein, chất vôi, chất sắt, potassium, sinh tố A và ác xít ascorbustic.  Hột mít có sinh tố B1 và B2.  Ở nông thôn miền Nam đôi khi người ta luộc hột mít, lột vỏ và quệt nhuyễn để làm nhưn bánh thay cho đậu xanh. Hột mít luộc, nướng hay rang đều ăn ngon. Người Việt Nam thích mít ráo, múi to và cơm dày của trái mít nghệ.  9 Mit 2Cũng có người thích mít mật tức mít ướt, cơm nhão nhưng ngọt. Mít dừa có múi trắng nên không được người ăn ưa thích nhiều. Vào thế kỷ 17 giáo sĩ Alexandre de Rhodes từ Đàng Trong (3) ra Đàng Ngoài (3) truyền giảng đạo. Ông thích thú khi ăn mít mà ông mô tả như một loại trái to lớn bên trong có nhiều trái nhỏ ăn rất ngon. Hột luộc, rang hay nướng ăn rất bùi.
Gỗ mít màu vàng rất đẹp và cứng.  Người ta so sánh nó với gỗ cây dái ngựaSwietenia mahagoni.  Nó được dùng trong ngành sơn mài ở Bình Dương.  Gỗ mít cứng, rắn chắc và dễ đánh bóng.  Nó được dùng để đóng bàn ghế, làm nhà, làm nhạc khí.  Nhiều cung điện, đền đài ở Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam được làm bằng gỗ mít.  Phần lớn các tượng Phật ở Việt Nam đều được tạc bằng gỗ mít.  Ấn Độ và Sri Lanka (Tích Lan- Ceylon) xuất cảng gỗ mít xẻ sang Âu Châu.  Bột của gỗ mít dùng để nhuộm màu vàng. Cây mít là một trong chín loại cây được người Thái trồng trước nhà theo tín ngưỡng truyền thống của xứ này.
Nhựa cây mít dẻo như keo.  Khả năng sản xuất nhựa của cây mít chỉ kém hơn cây cao su đôi chút mà thôi.  Ở nông thôn trẻ em dùng nhựa mít để bẫy chim. Chim không đi được khi chân dính vào nhựa mít.  Nhựa cây mít trộn với mủ cây sung và dầu lấy từ cây dầu trường Schleichera trijuga tức cây xôi Tích Lan, cây dâu nhựa Macassar (4), cây sơn cánh kiến, hơ lửa để hàn đồ sành sứ bị sứt mẻ.
Mít chín ăn nhuận trường.  Trái lại ăn mít sống gây trở ngại cho sự tiêu hóa vì nhựa và chất chát của mít sống.  Để khử nhựa mít và trợ tiêu hóa, người Việt Nam làm dưa mít trộn với dưa giá (giá đậu xanh) ăn với nước thịt kho hay nước cá kho. Người ta cũng dùng mít chín để cất rượu mạnh.  Ngưu tộc rất thích ăn xơ và vỏ trái mít. Người ta vỗ béo huỳnh ngưu tộc bằng lá mít.
9 Mit 4Theo Đông Y Trung Hoa trái mít chín bổ và mát. Người Việt Nam cho rằng mít ngọt vì có nhiều đường nên nhiệt như sầu riêng, nhãn, mãng cầu vì có nhiều ca- lo- ri.  Hột mít rang có tính kích dục. Trong y học dân gian trong vùng Đông Nam Á, người ta đốt lá mít lấy tro hòa với dầu dừa  để phết lên các u nhọt.  Mủ mít trộn với dấm trị rắn cắn, các vết thương làm mủ, sưng hạch.  Rễ cây mít được dùng làm thuốc trị suyễn, sốt, tiêu chảy và bịnh ngoài da.  Gỗ cây mít dùng làm thuốc tẩy xổ, an thần và hạ huyết áp. Tủy  của cây mít được xem là thuốc trụy thai.
Cây mít được tìm thấy khắp nơi ở Việt Nam nhất là những vùng đất tương đối ít nước. Mít được trồng nhiều ở các tỉnh phía bắc của Nam Bộ như Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Bình Long, Phước Long.  Người ta thường treo võng rách hay quần áo rách trên cây mít để xua đuổi ma đừng phá mít khi kết quả.  Ở Đông Nam Á thường thường dưới gốc mít người ta trồng các loại dây leo có thể sinh lợi được như dây tiêu sọ (Piper nigrum), tiêu lốp  (Piper longum), trầu (Piper betel) v.v.  Xem như thế ta thấy cây mít có duyên nợ với gia đình Piperaceae và giống Piper của họ tiêu, trầu không và lá lốt.
Những tên gọi Jackfruit, Jacquier (cây mít), Fruto de Jack của người Âu Châu cho thấy trái mít rất quen thuộc trong quần chúng.  Jack hay Jacques là những tên dành cho nam giới thường thấy ở Âu- Mỹ như thằng Cu, thằng Đực ở nước ta, thằng Bi ở Ấn Độ v.v.  Người Pháp gọi những cuộc nổi dậy của nông dân là jacqueries.   Chữ Jack hayJacques như bao hàm ý nghĩa đại đa số quần chúng bình dân.  Từ thế kỷ 16 trở về sau người Âu Châu nhất là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ý…có dịp tiếp xúc với các dân tộc khác qua các cuộc giao thương, thám hiểm, chinh phục và truyền giảng đạo, họ thấy tận mắt tầm quan trọng của cây mít và cây sa- kê trong đời sống của các dân tộc ngoài Âu Châu khi thiếu lương thực.
9 Mit 5Trong ngôn ngữ Việt Nam có vài cụm từ liên quan đến mít như : Mít là hết biết, hết hiểu rồi. Thí dụ:  Nó mít rồi !Mít là âm cuối của chữ Annamite mà người Pháp dùng để miệt thị người Việt Nam. Riêng hai chữ An Nam (5) gây xốn xang cho người Việt Nam không ít. Tiếp vĩ ngữ ITE có nghĩa xấu. Trong từ ngữ y học Pháp những chứng viêm đều có tiếp vĩ ngữ ITE như bronchite (sưng cuống phổi), hepatite (viêm gan) v.v.
Mít ướt hay mít mật là trái mít ngọt nhưng cơm nhão.  Thường thường người ta dùng mít ướt để cất rượu.  Hột mít ướt không có vỏ lụa.  Cây mít trồng từ hột mít ướt sẽ ra trái mít ướt.  Cụm từ mít ướt là tiếng lóng ám chỉ đứa trẻ hay nhõng nhẽo hay dễ khóc khi đương đầu với bất cứ chuyện gì dù khó hay dễ.  Khi nói đến hai chữ mít ướt người ta thường dùng cụm từ ‘mít ướt sút cùi’.
Tr hoan hoMít đặc là cụm chữ dùng để chỉ người dốt nát.
Những người mít đặc thói thời
Ai mà ưa chuong đón mời làm chi.
Phạm Đình Lân, F.A.B.I
Chú thích :
(1) Tên gọi đúng của nó là xoài ‘thanh ca’. Nhưng vào thế kỷ 19 ở vùng Sài Gòn- Gia Định có đốc phủ Trần Tử Ca đầy quyền uy nên dân chúng không dám nói là xoài ‘thanh ca’ mà nói gọn là xoài thanh để tránh tội phạm thượng vì gọi đến tên người có quyền uy và thế lực trong xã hội đương thời.
(2) Người Tamils là người Ấn gốc Dravidians ở miền Nam Ấn Độ và trên đảo Sri Lanka (Tích Lan). trai cayTiếng Hindi gọi trái xoài là ‘am’.Bột xoài mà chúng ta đề cập ở phần trên được gọi là ‘amgur’.
(3) Đàng Trong: từ Nam Bố Chánh (Quảng Bình) vào Nam. Đó là địa bàn cai trị của họ Nguyễn.  Đàng Ngoài là vùng đất chạy dài từ Bắc Bố Chánh trở ra.  Đó là địa bàn cai trị của vua Lê và chúa Trịnh. 
(4)  Macassar là một cảng của Indonesia.  Cây dầu trường còn gọi là cây sơn cánh kiến vì một loại sâu hút nhựa cây này và tiết ra một loại ‘gôm lắc’ (gomme lacque) dùng trong ngành sơn mài.  Gỗ cây này rất cứng và được dùng làm bánh xe, thùng xe, cam xe bò như thiết lực mộc vậy (cây vấp). Nó thuộc gia đình Sapindaceae và được biết dưới hai tên khoa học: Schleichera trijuga hay Schleichera oleosa. Cây dầu trường này có nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka (Tích Lan) và Đông Nam Á nhất là Mã Lai và Indonesia.
(5)  An Nam: ‘Phương nam bình an’, danh hiệu mà người Trung Hoa gán cho nước ta vào thế kỷ 7 thời Dương thuộc. Lúc bấy giờ nước ta chạy dài từ biên giới Hoa- Việt ngày nay đến vĩ tuyến 18 mà thôi. Trong hiệp ước 1883 và 1884 người Pháp có dùng chữ Annam để ám chỉ Trung Kỳ với hậu ý rằng các vua nhà Nguyễn chỉ ngự trị ở Trung Kỳ mà thôi. Trung Kỳ là phần lãnh thổ chạy dài  từ Thanh Hóa đến Bình Thuận.
Yên Huỳnh chuyển tiếp 
Vĩnh Bảo sưu tầm 20/3/2015

MÍT TỐ NỮ & SA KÊ



8 Mit

MÍT TỐ NỮ & SA KÊ

Mít có hai thân thuộc rất gần là mít tố nữ và trái sa- kê.
Mít tố nữ nhỏ hơn trái mít thường nhưng thơm, ngon, cơm dày, nhiều múi, hột nhỏ, ít xơ và ít nhựa.  Cây mít thường chịu đựng nắng hạn rất tốt. Trái lại cây mít tố nữ (tố nữ: người thiếu nữ đẹp) chỉ thích hợp với vùng đất đai màu mỡ và có nước đầy đủ. Trái mít tố nữ nhỏ. Vỏ sần sùi nhưng vô hại khi đụng đến.  Vùng sản xuất mít tố nữ thường là vùng có vườn trồng sầu riêng, măng cụt và chôm chôm.
Có thể loại mít này theo chân các nhà truyền giáo đến Cái Mơn, Bình Nhâm, Nhị Bình… cùng lúc với các cây ăn trái miền nhiệt đới gốc ở Mã Lai và Indonesia như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, giâu miền dưới (1).
Một thân thuộc gần khác của mít là cây sa- kê thuộc gia đình Moraceae dưới tên khoa học Artocarpus altilis. Người Anh gọi là breadfruit (trái), Pháp: fruit à pain và Tây Ban Nha: fruta de pan. Người Hawaii gọi là ulu. Người Việt Nam gọi là trái sa- kê dựa theo cách gọi của người Thái và người Khmer.
8 Sa ke 2Cây sa- kê gốc ở Mã Lai, Indonesia, New Guinea.  Từ đó nó được trồng trên các hải đảo trong Thái Bình Dương kể cả đảo Hawaii và ở các nước trong vùng Đông Nam Á.  Nó được người Tây Ban Nha đưa vào Mễ Tây Cơ và một phần của Nam Mỹ và người Anh và Pháp đưa vào các hải đảo trong biển Caribbean. Người Anh quan tâm đến cây sa- kê khi dân chúng trên đảo Jamaica bị đói vào hạ bán thế kỷ 18. Từ đó nó được trồng trên đảo này và được Anh hoàng George III khuyến khích trồng để giải quyết vấn đề lương thực cho người nô lệ.
Trong chuyện thần thoại của dân hải đảo Hawaii có đề cập đến nguồn gốc ‘cây bánh mì’ (sa- kê) như là thân xác của thần Ku.  Vị thần này chung sống với một người đàn bà đã chết và có rất nhiều con.  Gặp lúc đói kém ông không nỡ nhìn con và dân cư trên đảo chết đói nên hy sinh thân xác mình biển thành ‘cây bánh mì’ (sa- kê) để nuôi con và cư dân trên đảo.  Trái sa- kê được xem như cái đầu của thần Ku.  Nhựa cây là máu, các nhánh cây là tay chân và thân cây là thân mình của vị thần này.
Cây sa- kê cao  từ 20- 25 m. Lá sa- kê dài, láng, hao hao giống như lá đu đủ nhưng xanh sậm và dài cả thước trông rất đẹp. Cây sa- kê có nhiều nhựa như cây mít. Khi chặt vào thân cây hay cuống lá, nhựa trắng đục nhỏ giọt từ cuống lá hay thân cây bị thương.
8 Sa ke 1Trái sa- kê non màu xanh.  Vỏ trái cây này có gai nhưng không nhọn và vô hại.  Trái sa- kê có ít hột và hột của nó nhỏ hơn hột mít. Phần lớn người ta trồng loại sa- kê không hột. Cơm trái sa- kê màu trắng khi chín. Người ta ăn trái sa- kê sống như ăn rau cải và ăn trái chín như ăn trái cây tráng miệng. Hột được rang và ăn với muối. Cư dân trên các hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean hấp, nấu, rang trái và hột sa- kê hoặc dùng trái chín làm kem, bánh kẹo bằng cách nấu với đường và nước cốt dừa.  Người Việt Nam chỉ dùng trái sa- kê sống để nấu canh mà thôi.  Dân hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean dùng nó như lương thực.  Người ta nhồi cơm trái sa- kê với lúa mì để làm bánh mì.  Ngày nay vai trò dinh dưỡng của trái sa- kê giảm sút  trước khoai mì (sắn), khoai lang và khoai môn.  Ở Ấn Độ người ta cho bò và dê ăn lá sa- kê.  Trên đảo Guam người ta dùng lá sa- kê nuôi heo, ngựa, bò.  Ngựa còn ăn cả vỏ non của cây sa- kê.  Trái sa- kê có chất thiếc, potassium, phosphorus, sinh tố A,  B1 và C và nhiều carbohydrates.
Người ta dùng nhựa sa- kê để bẫy chim.  Nhựa cây sa- kê hòa với dầu dừa dùng để xảm ghe thuyền.  Cư dân trên các hải đảo Thái Bình Dương trộn nhựa cây sa- kê với dầu dừa và đất để sơn ghe thuyền.  Gỗ cây sa- kê là một loại gỗ trung bình.  Nó được dùng làm bàn ghế thông thường.  Nhưng nó nhẹ và ít bị mọt.  Dân hải đảo dùng nó làm dụng cụ trượt sóng.  Sa keVỏ cây sa- kê có nhiều sợi được dân hải đảo dùng dệt một loại vải đặc biệt.
Cư dân sống trên các hải đảo trong biển Caribbean sắc lá sa- kê uống để hạ huyết áp và trị suyễn.  Người ta giã nát lá sa- kê thoa lên lưỡi trẻ em bị tưa lưỡi. Lá sa- kê giã nhuyễn và vắt nước nhỏ vào tai khi tai đau. Nhựa và tro của lá sa- kê được dùng làm thuốc trị bịnh ngoài da. Lá sấy khô và tán thành bột dùng làm thuốc trị bịnh sưng lá lách.  Người ta đắp nhựa cây sa- kê trên xương sống để trị chứng đau thắt lưng.
Về phẩm chất trái cây ngon, sầu riêng và xoài trội hơn mít. Nhưng trong việc cứu đói mít và  sa- kê có vai trò nhất định của chúng trong qua khứ khi loài người thiếu lương thực. Cây mít và cây sa- kê có nhiều công dụng và dược tính vượt hẳn cây sầu riêng và cây xoài.  Sầu riêng, xoài và mít đều là ba loại trái cây ngon, có nhiều nhiệt và chất ngọt.  Ba loại trái cây miền nhiệt đới này hấp dẫn ruồi nên mùa hè ở miền nhiệt đới là mùa trái cây và cũng là mùa có nhiều người bị thổ tả. (theo Phạm Đình Lân, F.A.B.I.)
(1)  Miền dưới ám chỉ phía nam bao gồm đảo Java (Chà Và) và xứ Ấn Độ.  Tên gọi này nói lên xuất xứ của loại cây ăn trái gốc Indonesia này.  Trái giâu tròn nên còn được gọi là trái ‘bon bon’ do chữ ‘bonbon’ của Pháp có nghĩa là viên kẹo.
- Xem thêm trong bài “Cây trái miền Nam”
Mỹ Nhàn chuyển tiếp 
Vĩnh Bảo sưu tầm 20/3/2015

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

9 SỰ THẬT VỀ TRÁI ĐẤT



9 Trai dat 19 SỰ THẬT VỀ TRÁI ĐẤT

Có nhiều điều chúng ta vẫn lầm tưởng về Trái đất và sự thật khiến nhiều người ngỡ ngàng
1/. Trái đất không tròn : Trái đất là một hình cầu nhưng do lực hấp dẫn của nó, nó không phải là một vòng tròn hoàn hảo. Trong thực tế có một chỗ phình ra xung quanh đường xích đạo. Bán kính vùng cực của Trái đất là 3,949.99 dặm, trong khi bán kính xích đạo là 3,963.34 dặm. Nói một cách hóm hỉnh thì trái đất không phải là “vòng tròn tình yêu”.
2/. Tên “Trái đất” (Earth) bắt nguồn từ ngôn ngữ Anglo-Saxon : Tất cả các hành tinh khác trong hệ mặt trời được đặt theo tên một vị chúa Hy Lạp hay La Mã, ngoại trừ hành tinh của chúng ta. Từ “Trái đất” (Earth) bắt nguồn từ ngôn ngữ Anglo-Saxon trong từ Erda, nghĩa là mặt đất, sỏi đất. Trớ trêu thay, hành tinh trái đất lại được bao phủ bởi 71% là nước chứ không phải sỏi đá. 9 Trai dat 2Trái đất cũng là hành tinh duy nhất trong hệ mặt trời mà ở đó nước có trong tất cả các trạng thái vật chất: khí, chất lỏng và rắn.
3/. Một ngày không phải có 24 giờ : Mọi người thường than phiền không có đủ thời gian trong một ngày và họ nói đúng, bởi thực tế một ngày không có đủ 24 giờ. Thời gian thực tế mà hành tinh xoay trên trục của nó là 23 giờ 56 phút 4 giây. Đó là một ngày thiên văn, ngày năng lượng mặt trời, thời gian cần cho mặt trời trở lại cùng một điểm trên kinh tuyến.
4/. Trái đất là hành tinh duy nhất với lớp kiến tạo mảng đặc biệt : Các nhà khoa học tin rằng Trái đất được tạo thành từ 8 mảng kiến tạo chính: mảng châu Phi, mảng Nam Cực, mảng Australia, mảng Ấn Độ, mảng Á-Âu, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Thái Bình Dương. Bên cạnh đó còn có các mảng nhỏ như mảng Ả Rập, mảng Caribe, và mảng Juan de Fuca, mảng Cocos, mảng Nazca, mảng Philippin và mảng Scotia.
5/. Trái đất có một hành tinh sinh đôi khác : Hành tinh này mới được các nhà thiên văn học châu Âu phát hiện ra. Nó có khối lượng nhẹ nhất trong số những hành tinh nằm trong hệ thống sao Alpha Centauri gần Trái Đất từng phát hiện trước đó. Alpha Centauri B là hành tinh giống Mặt trời, có kích thước lớn nhưng không sáng bằng.
9 Trai dat 3
6/. Sự bí ẩn của mặt trăng : Mặt trăng được bao phủ trong một lớp bụi kỳ lạ có mùi giống như thuốc súng, mặc dù có nhiều chất khí hoàn toàn khác nhau.
7/. 90% điều chưa biết về đại dương : Thực tế chúng ta mới chỉ khám phá được dưới 10% các vùng biển xanh thẳm. Đại dương chiếm 99% khu vực sống và 97% lượng nước của trái đất. Chúng ta đã xác định được 212.906 loài sinh vật biển và có thể có 25 triệu sinh vật khác chưa được biết đến.
9 Trai dat 48/. Nơi lạnh nhất: âm 128,6 độ C : Trong khi nơi lạnh nhất trên Trái đất là Nam cực (âm 100 độ C) thì tại địa điểm lạnh nhất được ghi nhận vào ngày 21/7/1983 tại Vostok Station ở Anarctica là âm 128,6 độ C. Điểm nóng nhất của Trái đất được ghi lại vào ngày 13/9/1922 tại El Azizia ở Lybia là 136 độ C.
9/. Điểm cao nhất của trái đất không phải là đỉnh Everest : Đúng nó là một trong những ngọn núi nổi tiếng nhất trên thế giới, cao ở mức 29.035 feet so với mực nước biển. Tuy nhiên, vì Trái đất không tròn nên đỉnh của núi Chimborazo ở Ecuador chỉ là 20.564 feet trên mực nước biển nhưng nó lại xa trung tâm của trái đất hơn Everest khoảng 1,5 dặm.
Vĩnh Bảo sưu tầm 11/3/2015

NĂM MÙI: TÌM HIỂU DÊ TRONG THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT



9 De 1NĂM MÙI: TÌM HIỂU

DÊ TRONG THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT

- Hồ Đinh
Trong thế giới động vật, Dê là một trong những loài có khả năng sinh lý mạnh nhất qua việc một dê đực mỗi buổi sáng trước khi rời chuồng đi kiếm ăn đã phục vụ cho từ 30-50 nàng Dê cái. Nhưng có điều bất công và phi lý đối với Dê vì con người từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, trong hàng vua chúa, quan quyền cho tới hạng phú gia, kể cả giới bình dân Hồi Giáo, nhiều người cũng có rất nhiều hậu phi, thê thiếp, cung tần mỹ nữ… nhưng mấy ai bị kết tội ?
Còn Dê thì lại bị xỏ xiên, thậm chí cái tên thường được sử dụng để chỉ những đấng mày râu thích hảo ngọt, cứ thấy đàn bà con gái thì mắt tròn xoe như hai viên bi và tay chân cứ múa may không khác gì loài bạch tuộc. Ấy thế mà gã người và loài bạch tuộc thì vô hại, còn Dê vô can lại bị các bà các cô căm ghét.
Thật ra xưa nay, Dê là một trong những gia súc rất hiền lành và có ích, giúp cho người đủ chuyện, nhất là trong lãnh vực mưu tìm sự trường xuân bất hoại. Nỗi khốn khổ của Dê ngoài việc bị đánh đập, xa lánh, còn bị bêu xấu ngày ngày, Nhưng không phải Dê không có miệng để minh oan cho mình, đồng thời phản kích những kẻ xấu miệng, mà ta đã đọc được trong tác phẩm vô danh9 De 2của VN, đó là Lục Súc Tranh Công :
“..Dê vốn thật thuộc về việc lễ,
Ðể hòng khi về hạng tư văn.
Ðể dành khi tế thánh, tế thần
Lại có thuở kỳ yên, kỳ phước…
Tóm lại, công việc của Dê bình thường không ai nhận thấy có chút gì quan trọng, cho nên dù có đi tìm hiểu cũng đâu có bằng “việc Dê thì Dê biết” như lời chúng đã minh xác trong tác phẩm trên.
1/- DÊ TRONG THẾ GIỚI ÐỘNG VẬT:
Dê thuộc bộ Artiodactila, có móng chẵn trong nhóm nhai lại gồm có họ Bò, họ Dê (Caprovinae), là loại gia súc nhỏ đã được người thuần hóa từ thời kỳ đồ đá, do sự hợp chủng của hai loài Dê Rừng (Capra Aegagerus) và loài Linh Dương (Capra Falconeri). Dê có sừng rỗng, cong về phiá sau, cằm có túm lông dài giống chùm râu, bởi vậy Dê còn được người ban cho cái mỹ danh là sư phụ hay ông chủ có bộ râu dài.
9 De 3Dê giỏi leo trèo, nhảy trên các đồi dốc, rìa núi dễ dàng, tuổi thọ từ 10-12 năm. Riêng dê cái, mỗi năm sinh hai lứa, từ 2 tới 3 con và thời gian mang thai là 150 ngày. Dê ăn đủ mọi thứ cây cỏ nhưng món khoái khẩu nhất vẫn là So Đũa. Về điểm này cho tới nay, các nhà khoa học cũng chưa tìm ra mối liên quan nào giữa lá So Đũa và khả năng sinh lý siêu phàm của dê đực. Nhưng chắc chắn người đã bái phục dê, cho nên hiện nay khắp năm châu đều nuôi Dê để lấy sữa và ăn thịt.
Trung bình Dê đực nặng 60 ký và Dê cái 50 ký khi được 6 tháng tuổi. Hầu hết tất cả các bộ phận của Dê đều được ăn và làm thuốc (thịt, tiết, gan, dạ dày, ngọc dương..). Theo các tài liệu cổ thì thịt Dê có vị ngọt, tinh rất nóng và không độc, có tác dung tráng dương, bổ thận và tinh huyết. Ðặc biệt là bộ ngọc dương và bốn chân, được dùng làm món tiềm trong bài thuốc Bắc “tứ linh hội”.
Trong nhiều khai quật khảo cổ người ta đã tìm thấy hình ảnh Dê xuất hiện trên các đồ vật và nông cụ. Do trên, việc chọn Dê làm 12 con giáp và mặt trời trong việc tính toán thời gian, theo các nhà làm lịch, là điều dứng đắn. Trong thần thoại Hy Lạp, người xưa dùng dê làm tế vật cúng thần Hecmet. Riêng ở Trung Hoa, các vị đế vương dùng Dê trong lễ Cốc Sóc, vào ngày Nguyên Đán, trước cửa Ngọ Môn. Việc này đã có đề cập trong sách Luận Ngữ, nói về cuộc tranh luận giữa Ðức Khổng Tử và đệ tử là Tử Cống quanh vụ cúng Dê trong ngày Cốc Sóc.
Theo kinh nghiệm, thì dê có tính ngang bướng, chỉ muốn làm theo ý mình và rất tinh khôn chứ không phải ù ù ngớ ngẩn như người ta tưởng, qua việc chọn thức ăn, biết đề phòng kẻ thù, nhận ra chủ nhà… Nhiều nơi, Dê được dùng để kéo xe cho các người chăn Cừu ở vùng núi cao. 9 Chuyen De 1Dê còn được dùng để chăn Chiên, Cừu trên các đồi núi hiểm trở. Tại Âu Châu và nhiều nước Phi Châu, Nam Mỹ, Dê được nuôi thành đàn, thả tự do trên các thảo nguyên ban ngày và chỉ nhốt vào chuồng ban đêm mà thôi.
Dê nhà Việt Nam : Dê sinh sống tại VN thuộc ba nhóm:
- Dê VN đến nay vẫn chưa tìm được xuất xứ, hình vóc nhỏ, chỉ cao chừng 50 cm, mình dẹp, lông nhiều màu sắc, tai đứng, sừng hơi cong nhọn. Dê đực to hơn con cái, râu cằm rậm, sừng dài về già xoắn lại.
- Dê Ấn Ðộ do người Ấn và Pháp mang vào nước ta từ đầu thế kỷ XX, thân dài, cao từ 80-90 cm, mắt lồi, tai to nhưng rũ xuống, sừng ngắn hay không có sừng, vú to, lông màu sậm.
- Dê Mông Cổ mới được nhập vào VN trong thập niên 90 cuối thế kỷ, hình vóc trung bình giữa Dê VN và Ấn Ðộ, lông màu trắng đen có thể dùng làm len.
Dê Sừng Xoắn (Capra Folconeri) : Dài chừng 1,35m và cao trên 1m. Sừng dê đực thẳng và xoắn, thường sống thành từng đàn ở rừng núi các nước Trung Á Turkestan,Uzbekistan,Balutchistan,Cachempia và A Phú Hãn.Về mùa hè, dê này có bộ lông màu nâu sáng nhưng râu, đuôi và một phần chân thì màu sậm hơn. 9 De 4Trái lại mùa đông thì màu lông nhợt nhạt.
- Dê nhà Lùn (Cameroon) : Thuộc nòi Dê nhà Châu Phi Capra Domestica, kích thước bé nhất trong họ Dê, đo được từ 30-40 cm chiều cao. Ngoài ra còn có giống hậu duệ giữa loài dê núi tuyệt chủng Capra Prisca và dê rừng Capra Aegagrus, hiện sống nhiều tại miền rừng núi Ðông Nam Á.
- Dê Núi (Capra Ibex Sibirica) : Có chiều dài 1,50m và cao trên 1 m, riêng sừng dài tới 1,40m, sống trên vùng núi cao Pamia (4500m) tại Trung Á.
- Cừu: thuộc họ dê, gồm có CỪU BỜM (Ammotragus Lervia), là loài thú chuyển giống giữa Dê và Cừu, dài 1,50m, cao trên 1m, đuôi 0,15m, sừng 0,70m, có bộ lông nhạt, loài đực không có râu cằm và mùi hôi như dê, sống nhiều ở Bắc Phi và Tiểu Á.
9 De 5Cừu Rừng (Ovis Musimon), thuộc họ Cừu nhưng sống hoang, dài 1,1m, cao 0,70m nhưng đôi sừng rất dài và cong tới 0,97m nhưng đặc biệt con cái lại không có sừng. Cừu này có màu lông trắng và nâu. Đây là tổ tiên của giống Cừu nhà, trước kia sống nhiều ở Nam Âu nhưng hiện nay chỉ còn trên đảo Corse và Sardaigue.
Từ thế kỷ XVIII loại cừu này đã được các nước Trung Âu thuần hoá và ngày nay kích thước to lớn hơn giống cừu hoang nhiều.
Cừu Rừng Châu Á (Ovis Orienttalis), có kích thước tương đương với Cừu Rừng Châu Âu nhưng màu lông đồng nhất, cặp sừng bén, sống trên các thảo nguyên có độ cao trung bình tại đảo Cyprus, Vùng Tiểu Á, Ba Tư và Trung Á. Theo các nhà khoa học thì Cừu Rừng Châu Á mới chính là tổ tiên của Cừu nhà khắp thế giới hiện nay.
- Linh dương (ORYX) : Linh Dương thường chạy nhạy trong sa mạc, chúng ăn cây cỏ vào ban đêm để hấp thụ được lượng nước nhiều hơn. Ngoài ra để thích ứng với hoàn cảnh, sự bài tiết của loài này cũng chậm hơn đồng loại trong nhóm móng chẵn gồm có Dê, Cừu, Hươu, Linh Dương và Sơn Dương. 9 De 6Cũng thế loài Sơn Dương sống tại sa mạc Ai Cập có thể nhịn uống trong nhiều ngày, kỷ lục này chỉ thua có Lạc Đà mà thôi.
Linh Dương Gazella: còn được gọi là Linh Dương Ngựa dài 2m, cao 1,30m, đuôi 0,40m, màu lông đen, xám trắng, sừng nhọn dài trên 1m có thể chống cự nổi với sư tử, sống thành đàn trên các thảo nguyên ở Tây Phi.
Linh Dương Canna: là loại Linh Dương lớn nhất hiện nay, dài 3,2m, cao 1,80m, sừng cuộn xoắn rất khoẻ dài 0,70m. Có bộ lông màu vàng hay nâu nhạt có chấm đỏ, hiện còn 8 loài sống tại Châu Phi, ăn lá cây và thảo mộc.
Linh Dương Ấn Ðộ (Antilope cervicapra): Dài 1,25m cao 0,80m và đuôi 0,15m, Linh Dương Ấn Ðộ có sừng tới ba vòng xoắn hoặc nhiều hơn với ba màu lông đen, trắng và nâu, con cái không có sừng, có thể nhảy xa tới 6m và cao trên 2m, 9 De 7sống thành đàn trong các vùng đồng cỏ khắp bán đảo Ấn Ðộ, ngày nay đã được thuần hoá nhiều.
Linh Dương Rừng (Tragelaphus) và Linh Dương Đầm Lầy (Limnotragus): Sống ở các vùng đồng lầy, trong số này có loài Linh Dương rất quý hiếm là Linh Dương Nước (Tragelaphus) có sừng xoắn, ngâm mình suốt ngày trong nước, kiếm mồi thực vật ban đêm, sống tại Trung và Tây Phi.
Cũng được xếp loại trong hàng Linh Dương quý hiếm còn có Linh Dương Cao Cổ vàLinh Dương Tía Châu Phi là những loại thú khó bắt. Linh Dương Cao Cổ có chiều dài đầu và mình bằng nhau nhưng khi cần vươn lên để ăn lá cây trên cao, thì cái cổ lại dài gấp đôi lúc bình thường. Ngoài ra thân hình của Linh Dương Cao Cổ vừa ngắn lại vừa lùn chừng 1m nhưng bốn cái chân thì cao gấp đôi. Sống thành từng đàn nhỏ trong các thảo nguyên ở Tây Phi có nhiều loại lá hợp hoan vàng là món ăn khoái khẩu. Linh Dương Cao Cổ và Hươu Cao Cổ là những loài thú đặc biệt và tương đồng.
Cũng trong vùng này còn có Linh Dương Ðen, thuộc loại thú qúy hiếm nhưng có sinh hoạt khác nhau, Linh Dương Đen sống trong các khu rừng cây thấp, lúc ngủ thì ẩn thân trong các khu cỏ rậm rạp, cổ thò ra ngoài để nghe ngóng. 9 De 8Khi đi đứng, đầu Linh Dương Đen lúc nào ngẩng cao lên vì vậy thổ dân Somalia gọi nó là Linh Dương Nghe Ngóng.
Cùng loại còn có Linh Dương Tía rất đẹp và bệ vệ , cao trên 1,20m và nặng chừng 250 kg, có màu lông tía hay màu hạt dẻ rất rực rỡ, đặc biệt là trên lưng có nhiều vạch như ngựa vằn, còn bốn vó lốm đốm màu lông trắng. Tướng mạo của Linh Dương Tía cũng rất kỳ lạ, mặt hoa, mõm trắng còn hai sừng cong vào như sừng trâu, đôi vành tai hình quả trám vừa lớn và dài như tai lừa. Trên lưng từ cổ đến mông có một chùm lông rậm nhô cao lên như bờm ngựa.
Linh Dương Tía sống nhiều tại vùng rừng rậm núi cao trên 2800 m, ở Trung Phi, ăn cỏ xanh và các loại dây leo cũng như muối mỏ, thích dầm mình dưới nước. Vì có bốn chân dài và cao, lại lanh lợi nên Linh Dương Cao Cổ và Tía rất khó bị bắt. Hiện tại vườn thú ở San Diego, Hoa Kỳ có nuôi một cặp Linh Dương Cao Cổ, còn Linh Dương Tía thì mãi tới năm 1932 mới bắt được một con. Nói chung các loài Linh Dương và Hươu Cao Cổ có dáng ngủ lạ đời, đầu thì quay ra sau, còn chiếc cổ dài thì làm thành một vòng cung trên vai, thời gian ngủ say kéo dài chừng 12 phút, mỗi đêm xảy ra từ 5-10 lần.
Sơn dươngCòn gọi là Dê Núi hay Con Than, tổ tiên của các loại Dê nhà và ngược lại là những con Dê nhà bị lạc đàn trở thành Dê Núi. Trong loại này hiện có Sơn Dương Gnou hay là Sơn Dương Sọc, có màu lông xám và những sọc đen trên cổ, riêng các đốm lông ở đầu và đuôi thì hoàn toàn màu đen. Mình sơn dương dài 2,30m và cao trên 1,3m còn đuôi dài chừng 0,65m, 9 De 9sống thành từng đàn lớn trong rừng núi ở phía Nam nước Kenya và gần con sông Orange.
Ngoài ra còn có giống Sơn Dương Salga thuộc họ Dê (Capridae) có chiều dài chừng 1,35m và cao 0,75m, nặng tối đa 45 kg. Bộ lông của loài Dê Núi này màu xám vàng, chỉ có con đực mới có sừng, còn mõm thì rộng và phình ra giống như cái vòi ngắn, có lẽ để lọc cát bụi tại thảo nguyên là địa bàn sinh sống hằng ngày. Trước kia Sơn Dương Salga sống nhiều tại Âu, Á nhưng ngày nay chỉ còn gặp ở miền núi Turkestan, Uzbekistan, Balutchistan và Afghanistan. Sơn dương thường leo trèo trên các ghềnh đá hay mõm núi cheo leo nhờ hàm răng có mẩu xương nhô ra, để móc vào các hóc hay khe đá mà leo trèo lên xuống và đặc biệt bơi rất giỏi.
Ở đồng bằng, Sơn Dương chạy chậm giống như dê nhà. Thịt Sơn Dương ngon vì mềm và ngọt nhưng quý nhất là huyết sống có thể chữa được nhiều thứ bệnh khái huyết, suy nhược của đàn ông. Sơn Dương khó săn bắt trừ phi lúc chúng chuyển vùng, các con đực thường húc nhau khi giành con cái. Thường thì vào lúc sáng sớm hay chiều xuống, Sơn Dương đực hay kêu to, với âm thanh “nghè nghè” chứ không phải be be như Dê nhà, kiếm ăn vào ban ngày. Săn bắt Sơn Dương là một chuyện rất khó, kể cả các tay thiện xạ vì Sơn Dương chỉ sống trên các vùng núi cao cheo leo nguy hiểm, con người khó có thể đặt chân tới.
Sơn dương sừng dài, loại thú quý hiếm làm VN nổi danh : Rừng Vũ Quang thuộc Hà Tĩnh hiện nay là một nơi nổi tiếng trên thế giới, trong lãnh vực sinh vật học vì đó là vùng có môi trường sinh thái được ổn định từ hàng triệu năm qua với một thứ khí hậu kỳ lạ không giống bất cứ nơi nào trên trái đất như ẩm ướt, ngột ngạt, trời nhiều mây, mưa dai dẳng và muà khô có sương đêm chảy không dứt trên các vách núi cheo leo đầy rong rêu.
9 De 2Cũng chính ở nơi này, đã phát hiện được ba loại thú cổ xưa nhất là Sơn dương sừng dài, Hoảng khổng lồ và Nai chạy chậm mà người thiểu số địa phương gọi là Quang Khem. Trong các thú quý hiếm trên, Sơn Dương Sừng Dài, còn gọi là Bò Vũ Quang hay Sao La, đã gây nhiều tranh cãi hấp dẫn trong giới khoa học thế giới hiện nay. Sự phát hiện các con vật lạ này cũng rất ngẫu nhiên do một nhà sinh vật học Hồng Kông là John Mackinson, nhân chuyến thám hiểm rừng Vũ Quang năm 1992 tình cờ từ một xương sọ thú lạ được treo trên vách.
Sau khi dùng DNA xác định và biết chắc chắn, ông đã báo cho Cơ Quan World Wide Fund for Nature cùng phối hợp với VN để săn tìm. Tình trạng trên cũng đã được phát hiện lần nữa tại Rừng Nguyên Sinh Cát Tiên, Lâm Ðồng vào tháng 4/1993. Cùng lúc đi tìm Sao La, vô tình lại phát hiện thêm một loại Mang Lớn, còn gọi là Nai Sủa hay Hoảng Khổng lồ, có trọng lượng từ 40-50 kg, là một trong 7 nhóm thuộc họ Mang (Muntiacus Rafinesque), tương cận với Họ Dê trong Bộ Guốc Chẵn, mà con đầu tiên được tìm thấy vào năm 1915.
Vào tháng 5/1994, một con Sơn Dương sừng dài (Sao La), có 6 tháng tuổi đã bị bắt và được chuyển về Hà Nội. Con thú còn non, có lông mượt, có màu lông nâu, xám, đen, mắt to, đuôi ngắn và sừng mới lú, có tên khoa học là Pseudoryx, có khả năng lẩn trốn rất nhanh nên các thợ săn khó bắt kể cả giăng bẫy. Sao La hiện nay sinh sống trong phạm vi phiá nam sông Cả, từ Kỳ Sơn qua Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn và Vũ Quang, hiện là một trong những loại thú quý hiếm có ở VN như Tê Giác Một Sừng, bò Rừng Xám Coprey, Vượn Mũi Hếch Rhinopithocus.. được ghi vào sách đỏ để bảo vệ, vì một con Sao La có thời giá trên 10.000 đô la Mỹ, nên đang bị săn bắt ráo riết.
9 De 12/- THỊT DÊ:
Về các món ăn được chế biến từ thịt Dê xưa nay có rất nhiều và hầu như ai cũng biết và ít nhất một lần được thử qua như Dê nướng, lẫu Dê, tái Dê, chả Dê.. và món quý hiếm Ngọc Dương tiềm thuốc Bắc. Ngoài ra còn truyền tụng món Sơn Dương Trùng của Từ Hy Thái Hậu đời Mãn Thanh và mới đây tại Cần Thơ VN, có món Tứ Linh Hội.
Người xưa có nói ăn gì thì bổ nấy như Ngựa thì có PÍN và Mã huyết tửu, Cọp thì Cao Hổ Cốt, Rắn có rượu Tam hay Ngũ Xà, Gấu nổi danh với Mật, Khỉ thì Óc và Dê cũng có món Ngọc Dương.
Ngọc Dương tiềm thuốc Bắc: Món này thật ra ai cũng làm được, chỉ khó là sao có được bộ Ngọc Dương để xài vì Dê đa số là con cái, trong bầy vỏn vẹn chỉ có một vài chàng, cho nên thứ thiệt nhiều khi là thứ giả, nhất là ở VN ngày nay. Món ngọc dương tiềm thuốc Bắc trị bệnh suy yếu và bổ thận cho nam giới.
9 De 4Cũng theo quan niệm ăn gì bổ nấy, người ta dùng Dương Nhục (thịt Dê), có vị ngọt, ăn vào trong người nóng lên, cả nam lẫn nử kể cả đàn bà đang sinh nở đều dùng được. Thịt dê có tác dụng trợ dương, bổ huyết, trị các bệnh ho suyễn.. Dương Can (gan Dê) tốt cho mắt, Dạ Dầy Dê trị bệnh ói mửa, gầy ốm, Dương Tiết (máu Dê), pha với rượu uống hằng ngày, trị được bệnh nhức đầu, choáng váng và đau lưng. Ngoài ra trong các hiệu thuốc bắc có bán Cao Dương chữa bệnh còi, thiếu máu, Dương Nhục Thang giúp phụ nữ mới sinh hồi sức..
Sơn Dương Trùng của Từ Hy Thái Hậu: Ðây là một trong những món ăn chính mà Từ Hy Thái Hậu dùng đãi các sứ thần Tây Phương và Nhật tại Bắc Kinh năm 1874.
Muốn làm món trên, các thợ săn tại tỉnh Hồ Bắc (Trung Hoa), sau gần một tháng lặn lội trong rừng sâu, núi cao mới bắt được sáu con Sơn Dương đang có thai trong vùng Thiên Tân. Dê núi đem về chăm sóc cẩn thận, hằng ngày cho ăn thứ cỏ quý có tên là “Ðông Trùng Hạ Thảo”, 9 De 10chỉ có tại vùng Vân Nam và Quảng Tây mà thôi.
Loại cỏ này bổ can thận con người, về mùa hạ rất mịn màng, tới mùa đông trên ngọn cỏ xuất hiện một loại sâu giống như sâu dâu tổ kén, ăn rất bổ. Dê ăn loại cỏ quý trên, trở nên mập mạp và sinh con cũng khác thường. Trong đàn dê con này, đúng hai tháng tuổi, chọn 14 con làm sạch lông, moi ruột, sau đó đem ngâm chúng vào thùng gỗ to đựng hỗn hợp nước gừng và rượu quý.
Qua ngày thứ hai, dê được vớt ra lại ngâm vào bể sứ tráng men có hỗn hợp sữa dê tươi và nước sâm nhung. Sau hai ngày ngâm trong bể men, người ta dùng hoa sen trắng đã được tách nhánh, dùng kim vàng xuyên từ hoa đến cuống sen, đem cắm đầy mình dê. Cứ để vậy đúng 10 ngày, trong thịt dê ngâm xuất hiện đầy những con trùng trắng bò trên hoa sen, được nhà bếp thu nhặt và chế biến thành món Thập Trân, ăn ngon và bổ, trị được các bệnh lao phổi, tê bại, bán thân bất toại. Từ Hy đã đặt món trên là “Sơn Dương Trùng”.
Tứ Linh Hội : Vào thời Khang Hy, nhà Mãn Thanh, tại Trung Hoa đã thấy xuất hiện các món gà, vịt tiềm thuốc Bắc hàng ngày trong thực đơn của các vị vua chúa, quan quyền9 Mon de 2và giới thượng lưu, phú gia. Nhưng phải đợi tới khi Từ Hy làm chúa, món ăn vương giả này mới hoàn thiện và đạt đỉnh cao.
Tại VN, ngay từ thời Pháp thuộc, một số cao lâu ở Sài Gòn – Chợ Lớn như Ðồng Khánh, Ðại La Thiên đã có bán món Long-Lân-Quy-Phụng mà thật ra được chế biến từ thịt Rắn-Mèo-Rùa-Gà và tiềm thuốc bắc.
Còn từ năm 1982, một nhà hàng tại Cần Thơ cũng có bán món Tứ Linh Hội gồm có Ngọc Dương – Rắn – Rùa – Gà Ác, một hình thức cải biến từ món Long-Lân-Quy-Phụng của Sài Gòn – Chợ Lớn năm xưa. Cũng có sự khác biệt là món ăn trên lúc trước được nấu nướng theo phương pháp Chưng Cách Thủy, thời gian kéo dài khoảng 180 phút và giữ được gần như hoàn toàn tinh túy của các con vật.
Ngày nay các nhà hàng tuy vẫn theo đúng phương pháp chế biến thời xưa nhưng lại nấu trực tiếp trên lửa chừng 30 phút, nên món ăn đã giảm nhiều chất bổ dưỡng. Có thể quan sát nước trong hay đục, để biết món ăn nấu trực tiếp hay chưng cách thủy.
9 Chuyen De 9Quả thật chuyện dê thì dê biết, cũng giống như sự biết của người bán thịt dê thời chiến quốc được kể lại như sau: Vua Sở Chiêu Công bị mất nước phải lưu vong, trong số dân chúng chạy theo có người bán thịt dê tên Duyệt. Về sau vua lấy lại được nước và khen thưởng phong tặng cho tất cả bọn tùng vong trong số này có anh hàng thịt.
Dĩ nhiên mọi người đều hỷ hả đón nhận ơn điển trên, trừ Duyệt từ chối với lý do “Khi vua mất nước, tôi cũng mất nghề bán thịt dê, nay vua trở về, tôi lại giữ được nghiệp cũ có ăn, thế là mãn nguyện rồi”. Vua cố ép, người bán thịt lại thưa: “Nhà vua mất nước, không phải là tội của tôi, nên không dám liều chết. Nhà vua lấy lại nước, cũng không phải là công của tôi, nên không dám nhận thưởng”.
9 Chuyen De 7Thấy vậy nhà vua lại bảo “Để rồi ta tới nhà ngươi thăm chơi”, nghe vậy người bán thịt dê lại thưa : “Theo luật pháp nước Sở, chỉ có những người có công với nước, được phong tặng, thì vua mới đến nhà thăm. Tôi bất tài vô tướng, giặc tới sợ chết chạy trốn chứ không phải có ý theo hầu vua. Nay bệ hạ bỏ phép nước há chẳng sợ thiên hạ chê trách sao ?”
Chiêu Công nghe nói ngoảnh lại bảo với tướng quốc là Tư Mã Tử Kỳ rằng : “Người bán thịt dê tuy hèn hạ nhưng lý luận cao xa, đáng phục, tướng quốc hãy mời hắn ra phục vụ cho triều đình với chức tam công”. Người bán thịt dê nghe nói lại thưa : “Tôi biết chức tam công sang giàu quyền quý gấp trăm vạn lần anh hàng thịt, nhưng tôi là kẻ bất tài,nên không dám nhận”. Nói xong quỳ lạy lui ra. Thật cao quý thay cho người bán thịt dê, biết người biết ta cũng giống như chuyện dê thì chỉ có dê mới biết vậy. (theo Hồ Đinh)
Tài liệu tham khảo: Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân của Trịnh văn Thành – Thế Giới Động Vật của Diêu Ðại Quan. – Illustrated Encyclopedia of Animals – Bách Khoa Minh Họa của V.J.Stanek – Cái cười của Thánh nhân của Nguyễn Duy Cần
Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 11/3/2015