Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2019

THIỀN SƯ ĐẠI XẢ

THIỀN SƯ ĐẠI XẢ


Thiền sư Đại Xả họ Hứa, quê ở phường Đông Trác nay thuộc Hà Đông, sanh năm 1120 tịch năm 1180, đời thứ 10 dòng Vô Ngôn Thông. Tiểu sử của ngài được in trong quyển Thiền Sư Việt Nam trang 170 cùng tác giả. Sau đây là bài kệ thị tịch :


Âm :

Tứ xà đồng kiếp bổn lai không,
Ngũ uẩn sơn cao diệt bất công.

Chân tánh linh minh vô quái ngại,

Niết bà sanh tử nhậm già lung.

Thạch mã xỉ cuồng nanh,
Thực miêu nhật nguyệt minh.
Đồ trung nhân cộng quá,
Yên thượng nhân bất hành.



Dịch :

Bốn rắn chung rương trước giờ không,
Núi cao năm uẩn đâu chủ ông.

Chân tánh sáng ngời không chướng ngại,

Niết bàn sanh tử mặc che lồng. 

Ngựa đá nhe răng cuồng,
Ăn mạ ngày tháng kêu.
Đường cái người đồng qua,
Trên ngựa người chẳng đến.


Giảng :

“Tứ xà đồng kiếp bổn lai không”. Tứ xà là bốn con rắn, kiếp là cái rương, đúngra là cái giỏ hay cái chum. Bổ lai không là xưa nay không thật. “Tứ xà đồng khiếp” xuất xứ từ những kinh luận sau đây : Kinh Kim Cang Minh Tối Thắng Vương, Luận Trí Độ quyển 22, kinh Đại Niết Bàn quyển 23, Đạt Ma Đa la Thiền kinh. Tại sao Phật Tổ hay dùng câu này ? Vì sắc thân con người do đất nước gió lửa hợp thành. Chất cứng thuộc về đất, chất ướt thuộc về nước, động thuộc về gió, ấm thuộc về lửa. Thân chúng ta hiện có đây do bốn chất căn bản đó hợp thành, chúng hợp mà không hòa, luôn luôn chống trái không thuận. Vì chống trái nhau nên thân này giống như cái giỏ đựng bón con rắn vậy. Bốn con rắn đựng trong cái giỏ luôn luôn chống trái nhau. Rắn hổ lửa thì chống với rắn nước. Rắn hổ mây thì chống với rắn hổ đất. Do bốn rắn chống trái nhau, nên lúc nào chúng ta cũng thấy khó chiụ. Nếu thiếu lửa thì thân này lạnh phát run, dư lửa thiếu nước thân gầy nóng bức, dư nước dư đất thân mập mạp nặng nề, dư gió thì thân mình đau nhức. Như vậy bốn đại hợp lại thành thân người, tuy nó ở chung mà đối nghịch nhau. Muốn được bình an chúng ta phải theo dõi canh chừng để đều hòa bốn con rắn ấy. Chúng ta nuôi bốn con rắn trong một cái giỏ mà nó cứ cắn lộn nhau hoài, điều phục cho nó nằm yên là làm một việc rất cay đắng chứ không phải dễ. Như vậy ngày nào cái giỏ hư, bốn con rắn chạy ra thì ngày đó chúng ta khỏi điều phục, khỏe quá rồi. Tạo sao cái giỏ hư hoại bốn con rắn sắp đi mỗi đứa mỗi nơi, chúng ta tiết nuối lo sợ ? Có phải chúng ta mãi mãi thích làm kẻ điều hòa bốn con rắn không ? Sống cả đời sáu bảy mươi năm quí vị xét kỹ xem mình đã làm gì ? Có phải chỉ lo điều hòa bốn con rắn không ? Hôm nay nghe trong người hơi nóng, tìm thứ gì mát ăn vô. Ngày mai nghe trong bụng hơi lạnh sôi ruột, phải kiếm thứ gì ấm ấm ăn vô. Cứ như thế mà làm từ năm này đến tháng nọ. Lo cho đến ngày cuối cùng thì sao ? Thân này tan rã bốn đại phân tán, giống như cái giỏ mục nát bốn con rắn mỗi con chạy mỗi nơi. Khi ấy ông chủ nghĩ sao về tương lai ? Có nên kiếm cái giỏ khác chắc chắn hơn bắt rắn về nuôi nữa, hay là để nó chạy đi cho ông chủ được thảnh thơi sung sướng ?

Người nào muốn tiếp tục nuôi rắn là khờ khạo. Người nào hoan hỷ cho bốn con rắn tự do ra đi để mình đươc tự do là người khôn. Thế mà lắm người mất thân này, mong kiếm thân sau đẹp và khỏe mạnh hơn. Đó là người thích bắt rắn về nuôi, hay nói cách khác là chấp nhận đi trong luân hồi sanh tử. Qua ví dụ này, thấy chúng ta thật đáng thương, cả mấy chục năm trời chỉ lo nuôi dưỡng điều hòa bốn đại, cuối cùng nó cũng tan rã, không ai giữ được lâu dài mà cứ lo nuôi nó hoài, có vô lý không ? Thứ nữa, lẽ ra bốn đại tan rã thì mình vui mừng, vì thoát được cái ách đau khổ, nhưng trái lại khi nó sắp tan hoại chúng ta lại tiết rẻ khóc than. Bốn con rắn nó phá hoài mà lại thương, muốn tìm điều kiện để tiếp tục nuôi ! Thật vô lý ! Chẳng những hiện tại vô lý mà tương lai cũng vô lý. Đức Phật thấy rõ cái vô lý ấy mới dạy chúng ta thoát ra, đó là thoát ly sanh tử luân hồi. Nghĩa là đời này lỡ bốn con rắn thì phải cho ăn cho uống, nhưng đến khi cái giỏ mục nát bốn con rắn chạy đi, ông chủ vui cười, không lo sợ, nếu lo sợ là tiếp tục nuôi rắn, là còn luân hồi sanh tử. Như vậy giải thoát sanh tử không có gì lạ là không tiếp tục nuôi rắn nữa. Phải nhớ, ông chủ không thèm nuôi rắn, chứ không phải không có bốn con rắn là không có ông chủ. Thường chúng ta sợ mất rắn rồi mất mình luôn. Rắn đi mất chứ ông chủ thì bất sanh bất diệt. Hiểu tường tận chỗ này chúng ta mới thấy Phật Tổ tha thiết dạy chúng đừng dại khờ tiếp tục nuôi rắn, rốt cuộc chỉ là khổ đau. Phật Tổ thường dan kinh luận để nhắc chúng ta, đối với thân này phải biết nó như cái giỏ nuôi bốn con rắn, từ xua tới giờ nó không thật. Biết được như vậy thì không còn tự hào ngã mạn, không còn thấy mình là quí là cao. Biết được như vậy là người thấy được lẽ thật, thấy được lẽ thật này mới là tu, tu một cách chân chính. Chỉ một câu đầu của bài kệ đủ nhắc chúng ta tỉnh giác rồi.


“Ngũ uẩn sơn cao diệt bất tông”. Nghĩa là núi cao năm uẩn đâu chủ ông. năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bốn đại hay bốn con rắn nói ở câu đầu là sắc uẩn, sắc uẩn thuộc về phần sắc chất, thọ, tưởng, hành, thức thuộc về phần tinh thần. Thân năm uẩn có hai phần sắc chất và tinh thần, nó không có chủ tể, chỉ là tướng giả dối tạm bợ. Ý hai câu này dạy chúng ta không nên chấp thân giả hợp tạm bợ này vì nó không thật bền.

“Chân tánh linh minh vô quái ngại, Niết bàn sanh tử nhậm già lung”. Chân tánh sáng ngời không chướng ngại, Niết bàn sanh tử mặc che lồng. Nơi thân năm uẩn có chân tánh sáng ngời không ngăn che không chướng ngại. Niết bàn sanh tử là hai từ đối đãi che đậy khiến chân tánh không hiển lộ được. Chân tánh không hình tướng, hằng sáng ngời không có tên Niết bàn hay sanh tử. Vì muốn cảnh tỉnh chúng ta chạy theo niệm sanh diệt, đức Phật nói Niết bàn là vô sanh để phá niệm sanh diệt. Niết bàn và sanh tử là ngôn ngữ giả lập thuộc về tươ`ng đối đãi, nếu còn đối đãi là còn che đậy. Lại nữa chân tánh sáng suốt nơi mỗi người vượt ngoài tướng đối đãi, nếu dùng danh từ đối đãi để nói là làm cho nó bị che khuất. Chỉ có bốn câu kệ mà Ngài đã chỉ cho chúng ta thấy tường tận thân tâm này phần nào là hư dối tạm bợ, phần nào là hằng hữu chân thật. Và, Ngài cũng nói rõ nếu còn dùng ngô ngữ để đặt tên để diễn tả chân tánh là còn làm chướng ngại ngăn che, chân tánh không hiển lộ. Như vậy người tu muốn đến chỗ cứu cánh thì không được kẹt dính ở hai bên, nếu còn kẹt hai bên thì không thoát khỏi sanh tử. Bốn câu này đơn giản mà đầy đủ ý nghĩa, hướng dẫn chúng ta tiến tới đạo lý chân thật.

“Thạch mã xỉ cuồng nanh, thực miêu nhựt nguyệt minh”. Nghĩa là ngựa đá nhe răng cuồng, ăn mạ ngày tháng kêu. Hai câu này Ngài nói nghe lạ lùng làm sao ! Ngựa đá mà biết nhe răng biết ăn mạ và biết kêu. Nói như thế thật là vô lý ! Tuy nhiê, Ngài dùng những ngôn ngữ vô lý như vậy để nói cho chúng ta không suy nghĩ. Chuyện không hề có mà vẫn nói, nói cho người nghe không có chỗ để suy gẫm. Thế nên trong nhà thiền có câu : “Suốt ngày nói mà không động lưỡi,suốt ngày ăn cơm mà không dính răng”. Tức là nói mà không cho suy nghĩ, nghe rồi bặt tâm tư. Các Ngài không dạy pháp tu nào cả, chỉ bảo chúng ta buông hết mọi nghĩ suy. Nghe mà không cho suy nghĩ phân biệt phải quấy hay dở, vậy có tu chưa ? - Đó là chỗ kỳ đặc của nhà thiền ! Nghe nói “Ngựa đá nhe răng cuồng, ăn mạ ngày tháng kêu”, chúng ta suy nghĩ cái gì ? Nghe câu nói vô lý thì bặt nghĩ suy.


“Đồ trung nhân cộng quá, mã thượng nhân bất hành”. Đường cái người cùng qua, trên ngựa người chẳng đến. Đường cái thì ai cũng đi, chuyện đó là chuyện rất bình thường, chính cái bình thường đó là kết quả tốt . Người ngồi trên ngựa thấy không đi, không đi mà đến chỗ đặc biệt. Như vậy đạo lý chân thật không phải ở chỗ kỳ đặc mà ở ngay trong cái bình thường, nếu chúng ta nhận ra và biết sống thì được giải thoát. Tóm lại ý hai câu này Ngài dạy chúng ta thấy cái bình thường là cái đưa chúng ta đến gần với đạo. Chỉ có bốn câu kệ mà Ngài đã nói lên lý thiền cho mọi người nhận ra.
Nguồn: Thiền Tông Việt Nam

Vĩnh Bảo sưu tầm 24/10/2019

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

HẦU ĐỒNG, DI SẢN VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA DÂN TỘC VIỆT

9 Hau dong 1HẦU ĐỒNG, DI SẢN VĂN HÓA

ĐỘC ĐÁO CỦA DÂN TỘC VIỆT

- Danh hài Hoài Linh hầu thánh 2014
Cô Bé SaPa – 19 Tuổi hầu đồng
Gần đây, đệ tử đạo thờ mẫu với nghi lễ hầu đồng đang hoan hỉ vì được xã hội công nhận như một nét văn hóa của Việt Nam.
Thế giới hầu đồng từ khép kín khi bị gán ghép đủ điều tiêu cực đã mở lòng giãi bày những điều khó tin của “kiếp số” hầu đồng.
Căn nguyên của hầu đồng
Trước đây, bàn về nguyên nhân ra hầu đồng đã có nhiều thông tin sai lệch cho rằng phần lớn người tham gia hầu đồng do sự lôi kéo, xúi giục có biểu hiện lừa đảo trục lợi của một số kẻ lợi dụng tín ngưỡng cò mồi.9 Hau dong 2Trong thực tế, hầu đồng có nhiều người ham mê, thậm chí cuồng tín với hầu đồng, nguyên nhân thường gọi chung là có căn (cốt), có quả. Vậy thế nào là căn quả của người hầu đồng ?
Qua tìm hiểu từ những người trong cuộc, chúng tôi được biết để xác định là người có căn (cốt) hầu đồng phải hội tụ 3 yếu tố như : Khi đến các đền, phủ có cảm giác khác lạ, thay đổi trong người; Trong cuộc sống có nhiều lần gặp sự vất vả, bất trắc mà không phải nguyên nhân tự thân gây ra, không thể giải thích được; Họ thường mơ thấy các vị trong thế giới thần linh…
Từ kinh nghiệm bản thân, thanh đồng (người hầu đồng lâu năm) Trần TL, người có thâm niên hầu đồng gần 30 năm chia sẻ, mỗi người có lý do riêng để ra hầu đồng. Có nhiều người hầu đồng là truyền thống gia đình, một nhà có 3-5 thế hệ “hầu” thánh. Một số người thì cầu mong sự bình an cho những người thân, kinh doanh buôn bán được thuận lợi, giải tai nạn, tai vạ, độ tai ách… Đặc biệt, phần lớn là muốn cân bằng những đau đớn, buồn tủi và mất mát không thể bù đắp như mất người thân, tổn thương tình cảm vợ chồng…”.
Hầu đồng, một di sản văn hóa độc đáo
Giới hầu đồng cho rằng, một số trường hợp người có căn đồng nhưng “phạm” không ra hầu nên bị “hành”. Mà bị “hành” ở đây là mất cân bằng trong cuộc sống, làm những điều mà người bình thường không bao giờ làm vì cho là “hành xác”, nhục thân… Bản chất người Việt đều có tín tâm bởi ai cũng thờ cúng ông bà, tổ tiên. Khi gặp những vấn đề trắc trở trong cuộc sống không thể vượt qua cần có tín niệm để dựa vào, khi đó hầu đồng sẽ là một cứu cánh.
Trường hợp của anh Phương nhà ở Xuân Đỉnh mới gia nhập hội đồng đền Thanh Hà là một điển hình. Chỉ một lần vô tình tham gia lễ hầu đồng, lần đầu tiên nghe hát văn nhưng tự nhiên thấy hay, vỗ đùi cười khanh khách.
Trong giá hầu cô Chín (cô Bé) nhập vào múa dẻo hơn cả thanh đồng. Từ đó anh Phương làm gì cũng thấy tâm thần không yên, bỏ bê vợ con, cơm không muốn ăn, đêm không ngủ, vật vờ hết ngày này sang ngày khác.9 Hau dong 3 Sau thời gian dài như vậy, vợ anh mới tá hỏa đưa đi khám bệnh, xét nghiệm nhưng không tìm ra nguyên nhân hay bệnh tật gì. Sau đấy nghe người mách, vợ anh phải biện lễ ra đền cô Chín xin khất ra hầu mới trở lại bình thường…
Một số người hầu đồng lâu năm cho rằng, để giải nghiệp là cả một quá trình chứ không phải dựa vào trình đồng mở phủ. Nếu thực sự có căn quả và phải trả nợ nghiệp chướng đã gây ra thì khó tránh khỏi được vì đó là luật nhân quả. Tốt nhất trước khi quyết định việc trình đồng hay mở phủ nên tự bản thân mình sám hối trước các Thánh.
Không gì bằng mình tự kêu cầu như làm một lễ đơn giản có quả cau lá trầu xin các Thánh tha lỗi. Tiếp đến nên làm nhiều việc tốt như giúp đỡ người nghèo khó, sống có đạo đức, có điều kiện thì góp công, của để tô tượng, đúc chuông, sửa đền, miếu… Nếu có thể tụng kinh, hướng công đức của những việc mình làm tới các Thánh sẽ tốt hơn việc phung phí tiền vào vàng mã, lễ lạt…
Di sản quý
Nhà tôi vốn sống trên đất đền Thanh Hà gần chợ Bắc Qua, Hà Nội nên từ nhỏ tiếng hát văn, những giá hầu đồng đã trở nên quá quen thuộc. Mỗi khi có người hầu đồng là lũ trẻ háo hức chờ những màn phát lộc, được ăn oản, bánh từ nhà đền. Chính vì vậy, khi tìm hiểu về hầu đồng tôi được những thanh đồng có thâm niên sẵn sàng cung cấp những trải nghiệm chính bản thân họ khi hầu đồng.
9 Hau dong 4Mỗi thanh đồng hằng năm đều xin hầu từ một đến hai vấn. Sự chuẩn bị trước khi hầu rất quan trọng và có ý nghĩa nhất. Mọi việc như chuẩn bị đồ lễ, mời cung văn, gọi tay quỳnh tay quế (người phụ lên khăn, mặc áo cho thanh đồng – hầu dâng), đặt tiệc tại Đền đến kêu gọi thân bằng quyến thuộc đều được một tay thanh đồng tỉ mỉ thực hiện.
Trước 3 ngày ra hầu, thanh đồng phải tắm gội, chay tịnh, giữ thân trong sạch. Ngày lên hầu, thanh đồng khi nhập phủ phải tĩnh tâm, lắng đọng quên hết mọi tục niệm quanh thân, bỏ qua hết những đau khổ, hiềm khích để vào hầu Thánh. Nếu không làm được những điều này, thanh đồng sẽ không thể có vấn hầu thành công cũng không thể tìm được sự giải thoát cho tâm linh cũng như tìm đến nguồn cội tín niệm vào thánh Mẫu mà bản thân mình theo đuổi.
Thanh đồng TT. Hường chia sẻ, trong quá trình hầu đồng, thanh đồng thực hiện những nghi thức, hành động diễn tả lại các điển tích, công trạng của các Mẫu, đức Thánh. Bên cạnh đó là thưởng thức trà, rượu, thuốc, tranh, nhạc, thơ phú, hát xướng, lời khen nịnh của con nhang đệ tử, thân bằng quyến thuộc. Trong cái không gian đầy màu sắc tâm linh đó, người hầu đồng được trở lại với bản tính của con người, được hưởng thụ một không gian tràn ngập vui vẻ, ấm áp.
Trong mỗi vấn hầu đồng, thanh đồng nếu hợp căn hợp cốt với vị Thánh nào thì đến giá của Thánh đó sẽ thường được thánh nhập (phủ). Bà TT. Hường, thanh đồng đền Thanh Hà cho biết, mẹ của bà khi lên đồng thường được ông Hoàng Mười nhập. Khi ấy hai người, bốn người đỡ cũng không đứng lên được.
9 Hau dong 5Mắt bà nhắm nghiền, hai bàn tay kẹp 6 cái đuốc múa xoay tròn liên tục. Lửa cháy đùng đùng xém cả tay mà không thấy bà nhăn mày. Vào thời điểm này, vấn đồng sẽ rất sôi nổi với những màn xin khéo thánh để cầu sức khỏe, tài lộc và may mắn của các đệ tử, thân bằng quyến thuộc của thanh đồng.
Các thanh đồng có thâm niên cho biết, khi được “thánh” nhập phần lớn vẫn nhận biết được xung quanh như khi tỉnh táo nhưng lại không thể điều khiển hành vi của mình. Sau một vấn hầu, thanh đồng thường chịu ảnh hưởng của Thánh nhập trong một thời gian, ngắn thì một hai ngày, dài thì cả tuần lễ. Những cử chỉ, hành động, suy nghĩ, cách giao tiếp rất giống với vị thánh mà thanh đồng hợp căn hợp cốt mà không ai giải thích được nguyên nhân. Nói chung, thực hiện một vấn hầu tựa như một hành trình tìm lại bản ngã, thụ hưởng và mong muốn tìm đến những giá trị của đời người (tài, lộc, sức khỏe).
Hiện nay, Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch đã công nhận hầu đồng là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đang cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định chuẩn bị hồ sơ để trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại. Chúng ta đang cố gắng giữ gìn sự trong sáng của Đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng. Đạo Mẫu vẫn chưa chính thức công khai, có văn bản thể hiện giáo lý, kinh sách. Nên chăng đã đến lúc cần công nhận, tổ chức Đạo Mẫu, nghi lễ hầu đồng để khẳng định và phát triển một tín ngưỡng lành mạnh, một chỗ dựa tâm linh của người Việt. (theo dantri)

9 Thanh mau 1ATAM TÒA THÁNH MẪU

Nhiều tài liệu cho rằng Tam tòa Thánh mẫu đều là hiện thân của Mẫu Liễu Hạnh với 3 lần giáng trần. Còn một số tài liệu khác cho rằng Tam toà Thánh mẫu là hiện thân của ba vị thánh khác nhau:
1/. Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên : Thánh Mẫu (Bà Chúa) Liễu Hạnh. Bà vốn là con vua Ngọc Hoàng, Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa, ba lần giáng sinh phàm trần: lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm (tên là Phạm Thị Tiên Nga) ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định (do vâng mệnh giáng sinh), được bốn mươi năm; lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê (cải từ họ Trần, tên là Lê Thị Thắng, hiệu Giáng Tiên) ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định (do lỡ tay đánh rơi chén ngọc nên bị trích giáng), kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời; lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn,9 Thanh mau 1BThanh Hóa (do tình nguyện hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang) được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên.
Sau đó bà hiển linh giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong là : “Mã Hoàng Công Chúa, Thượng Đẳng Tối Linh Tôn Thần”, “Thượng Thượng Đẳng Tối Linh Vi Bách Thần Chi Thủ” (triều vua Lê Thần Tôn), “Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Diệu Đại Vương” (triều vua Lê Huyền Tôn).
Bởi vậy trong văn thỉnh Đức Thánh Mẫu mới có hát rằng:
9 Thanh mau 1C“Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên
Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về
Phủ Dày, Vân Cát thôn quê
Nghĩa Hưng, Thiên Bản họ Lê cải trần
Hình dung cốt cách thanh tân
Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy”
Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nới Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích như : Phủ Nấp_Phủ Quảng Cung Đệ Nhất ở Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định (là nơi Mẫu giáng trần lần đầu tiên).
Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dày (nơi Mẫu giáng trần lần thứ hai) với các đền phủ chính là : Phủ Công Đồng, Phủ Chính Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Phủ Bóng (Đền Cây Đa Bóng), Phủ Giáp Ba (Đông Phù Giáp Ba), Phủ Tổ, Đền Khởi Thánh và Lăng Mẫu (do vua Khải Định cùng Hoàng Hậu cầu tự, sinh ra được vua Bảo Đại nên xây để tạ ơn)… Rồi Đền Đồi Ngang – Phố Cát , Đền Sòng thuộc Thanh Hóa (nơi Mẫu giáng hiện lần thứ ba). Ngoài ra còn có Phủ Tây Hồ, Đền Rồng, Đền Dâu, Quán Cháo…đều là những nơi Mẫu để lại thánh tích.
Ngày hội chính của Mẫu là ngày 3/3 âm lịch, tức là ngày Mẫu hóa trong lần giáng sinh thứ hai, ngoài ra ngày rằm tháng 8 ở Phủ Tây Hồ cũng mở tiệc rất long trọng.
9 Thanh mau 2A2/. Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu (Bà chúa) Sơn Lâm. Bà vốn là con Vua Đế Thích, lần đầu hạ phàm bà là Quế Hoa Mị Nương công chúa, con Vua Hùng Vương. Theo sự tích khi sinh bà ra, Hoàng Hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên Vua Hùng Vương mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa, sau khi sinh được bà thì Hoàng Hậu cũng qua đời nên bà quyết chí tu hành, không kết duyên, về sau cùng mười hai nàng thị nữ vào rừng sâu, được lão tổ truyền đạo. Lần thứ hai bà giáng sinh vào cửa nhà họ Cao, một người tù trưởng trên đất Yên Bái.
Sau đó nhiều lần bà hiển linh, dạy dân trồng trọt, làm ăn, biết lên rẫy làm nương, đi rừng, làm ruộng bậc thang, được nhân dân suy tôn là: “Diệu Tín Thuyền Sư Diệu Nghĩa Tàng Hình”, “Bạch Anh Trưởng Quản Đỉnh Thượng Cao Sơn Thần Nữ Cao Mường Sơn Triều”. Sau này bà lại linh ứng giúp vua Lê Thái Tổ nên được gia phong là: “Lê Mại Đại Vương”. Trong văn thỉnh mời Đức Thánh Mẫu có hát rằng:
9 Thanh mau 2B“Thỉnh mời Đệ Nhị Chúa Tiên
Vốn xưa giá ngự trên đền Đông Cuông
Hình dung nhan sắc khác thường
Giá danh đổi một hoa vương khôn bì
Biết đâu lá thắm thơ bài
Lòng trinh chẳng động một vài giá xuân”
Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở khắp mọi vùng, nơi nào có rừng núi thì đều có đền Mẫu Thượng. Nhưng nổi tiếng bậc nhất vẫn là cụm di tích Đền Đông Cuông, Đền Vọng Đông và Đền Tuần Quán tại Yên Bái (là nơi Mẫu giáng làm con gái nhà tù trưởng họ Cao). Tiếp nữa có Đền Công Đồng Bắc Lệ và Đền Thất Khê tại huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tương truyền là nơi vua Lê Thái Tổ lập để ghi nhớ công ơn Mẫu giúp vua. Ngoài ra còn có Đền Suối Mỡ thuộc Bắc Giang (xưa thuộc Hà Bắc, là nơi dấu tích của Mẫu khi xưa học đạo), Đền Tam Cờ trên tỉnh Tuyên Quang, Đền Mẫu Thượng thuộc thị xã Lào Cai.
Ngày hội chính của Mẫu Đông Cuông thường tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của năm theo âm lịch. Còn trên Đền Bắc Lệ lại tổ chức hội vào ngày 20/9 âm lịch.
9 Thanh mau 3A3/. Mẫu Đệ Tam Thoải Cung: : Thánh Mẫu (Bà Chúa) Thoải Phủ. Bà vốn là con Vua Bát Hải Thủy Quốc Động Đình, kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Nghe lời tiểu thiếp Thảo Mai, Kính Xuyên vu cho bà thất tiết, đem đóng cũi, bỏ lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Tại nơi rừng sâu bà không những được thú rừng yêu quý, mang vật quả đến dâng mà còn gặp được nho sĩ Liễu Nghị. Bà bèn nhờ Liễu Nghị mang thư kể hết sự tình về cho vua cha. Sau đó bà được minh oan, kết duyên cùng Liễu Nghị, còn Kính Xuyên và Thảo Mai thì bị trừng phạt.
Khi ở chốn Động Đình bà vốn là con vua cha Bát Hải nên được gọi là: “Động Đình Công Chúa Ngọc Hồ Thần Nữ”, sau này bà còn có danh hiệu: “Bạch Ngọc Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ Công Chúa”.Vậy nên trong văn thỉnh Đức Thánh Mẫu cũng có hát rằng:
“Thỉnh mời Đệ Tam Thánh Tiên
Xích Lân Long Nữ ngự miền Thoải Cung
Kính Xuyên sớm kết loan phòng
Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan
Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian
Vàng mười nỡ để lầm than sao đành”
9 Thanh mau 3B
Đền thờ Mẫu Thoải có khá nhiều nhưng hầu hết đều do lòng thành kính của nhân dân hoặc do nơi cửa sông cửa biển chứ hầu như không có dấu tích của Mẫu vì Mẫu không giáng trần. Nổi tiếng nhất có Đền Mẫu Thác Hàn Sơn ở Hà Trung, Thanh Hóa, nơi bến Đò Lèn, còn có Đền Mghệ Anẫu Thoải ở thị xã Lạng Sơn, gần sông Kì Cùng, và có ngôi đền ở bến sông Hồng, gần cầu Chương Dương, Gia Lâm cũng tên là Đền Mẫu Thoải hay còn gọi là Đền Cửa Sông.
Ngày tiệc chính của Mẫu Thoải là ngày 10/6 âm lịch, thường được tổ chức long trọng nhất là ở Đền Mẫu Thác Hàn Sơn.

9 Duc Thanh Tran 1ĐỨC THÁNH TRẦN  

- Thanh đồng hầu giá Trần Triều
Trong đạo Mẫu, Đức Thánh cha là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị tướng tài ba của Việt Nam và thế giới, văn võ song toàn, tinh anh kiệt xuất. Là người có công lớn nhất triều Trần trong ba lần đánh bại quân Mông Nguyên.
Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tôn là chú ruột, sinh ngày 10/12 âm lịch. Còn có truyền thuyết kể lại rằng, nguyên xưa kia Đức Thánh Tản Viên thấy luồng khói trắng bay từ núi Tây hóa thành tinh thuồng luồng, xuống nhà người đàn bà kia tư thông, ngài nghĩ ắt hẳn đó sẽ đầu thai thành kẻ gây hậu họa cho nhân gian (tên đó sau này chính là Phạm Nhan -Nguyễn Bá Linh, cha là người Tàu Phúc Kiến, mẹ là người Đông Triều, nằm mơ thấy tinh thuồng luồng mà sinh ra hắn), vậy nên Đức Thánh Tản liền đem tâu chuyện đó với Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng hỏi rằng ai có thể xuống hạ phàm để trừ diệt mối hậu họa đó thì có Thanh Tiên Đồng Tử tình nguyện xin xuống phàm để giúp dân.
Ngọc Đế ưng thuận sai ban thần kiếm, cờ ấn, tam tài của Lão Tử, ngũ bảo của Thái Công rồi truyền Kim Đồng Ngọc Nữ hộ giá xe mây xuống nước Nam hạ phàm. Liền đó Vương Mẫu nằm mơ thấy có người áo xanh tự xưng là người của Thiên Đình xuống đầu thai phù đời, từ ấy bà hoài thai, đủ ngày đủ tháng thì hạ sinh được ông, trong nhà ngào ngạt hương thơm và ánh sáng. Vậy nên, trong bản văn cũng có đoạn:
9 Duc Thanh Tran 3Vương Phụ là Đức An Sinh
Cùng Đức Thánh Mẫu cầm lành hợp duyên
Điềm lành vốn tự thiên nhiên
Thanh Tiên Đồng Tử phút liền đầu thai 
Chí kì sinh đặng con trai 
Tài kiêm văn võ ít ai sánh bằng” 
Sau này ông giúp vua Trần hai lần chống giặc Nguyên Mông, ông sinh được bốn người con trai (thường gọi là tứ vị vương tử) và hai người con gái (thường gọi là nhị vương cô hay nhị vị vương bà) đều có công lao giúp vua Trần chống giặc Nguyên, ngoài ra trong công cuộc “Sát Thát” còn có rất nhiều đóng góp của vương tế của ông là Phạm Ngũ Lão Điện Súy (thường gọi là Đức Thánh Phạm Điện Súy hay Phù Ủng Đại Vương) cùng các tướng tài của ông như : Dã Tượng, Yết Kiêu (thường gọi là đôi bên Đức Ông Tả Hữu)… Có thể nói trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần, có công đóng góp không nhỏ của gia đình ông. Hơn nữa ông còn là người một lòng vì nước vì dân, vì nghĩa lớn mà quên đi mối thù nhà: ông không nghe lời cha giành lại ngai vàng từ tay vua Trần, vậy nên được vua Trần nể trọng, tin tưởng, thường hỏi ý kiến ông về những việc đại sự quốc gia. Ông mất vào ngày 20/8 âm lịch.
Sinh thời, do công lao lớn của mình ông được vua Trần phong là Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương hay là Đức Thượng Từ. Vua Trần Anh Tông (xét về thứ bậc thì vừa là cháu lại là cháu rể của ông, vì vua lấy Cô Bé Cửa Suốt – Tĩnh Huệ Công Chúa tức là cháu gái của ông) phong ông là Đức Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc đại nguyên soái Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương (tước hiệu này nếu xét theo thời đại của chúng ta thì sẽ là: Ủy viên bộ chính trị, bí thư quân ủy trung ương, Nguyên Súy, Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Sau này , khi mất đi tên tuổi ông vẫn vang lừng không chỉ trong Việt Nam mà còn lan ra toàn thế giới (ông là một trong số 10 vị tướng tài ba nhất trên thế giới, cùng với các vị như Nã Phá Luân (Napoleon), Thành Cát Tư Hãn… là những người có ý nghĩa to lớn với lịch sử thế giới ), người ta tôn làm Đức Thánh Trần. Còn trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường tôn danh ông là Đức Thánh Ông Trần Triều hay ngắn gọn hơn là Đức Ông Trần Triều.
Nếu một người có căn số hầu các giá nhà Trần thì giá Đức Ông có thể là giá mở khăn đầu tiên (vì Tam Tòa Thánh Mẫu không tung khăn), tuy nhiên cũng khá hiếm khi có người hầu về Đức Ông mà chỉ khi đại sự cần thỉnh ông về để trừ tà sát quỷ thì mới hầu ông (vì theo quan niệm cổ : “bóng” Đức Ông khá nặng nên không phải đồng cựu đã đội lệnh nhà Trần thì không thể hầu được) hoặc khi đại tiệc mở phủ thường thỉnh ông về chứng đàn Trần Triều (gồm voi, ngựa, thuyền rồng, tráp áo…) hoặc đồng mới tạ phủ và làm lễ đội lệnh nhà Trần.
9 Duc Thanh Tran 2Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ, thêu rồng và hổ phù (có một số nơi hầu ông, chân đi hia, đầu đội mũ trụ), có thể mặc áo choàng bên ngoài, một số vùng hầu ông thường múa thanh đao. Khi về đồng, Đức Thánh Ông thường làm phép để sát quỷ trừ tinh (điều này chỉ có đúng đồng nhà Trần, có đội lệnh mới có thể làm như thế khi hầu ông) đó là: “lên đai thượng”nghĩa là cầm dải lụa đỏ thắt cổ (khi thắt vào cổ, mặt người hầu thường bạnh ra, đỏ,thì thế mới là thật đồng), lúc này người hầu dâng phải khéo léo móc một ngón tay vào dây thắt cổ để cho dãn bớt (vì dù là thật đồng nhưng Đức Thánh Ông chỉ giáng li giáng lai trên đầu đồng);“rạch lưỡi” nghĩa là dùng con dao hay vật nhọn rạch vào lưỡi người hầu để lấy máu (gọi là Đức Ông ban “dấu mặn”) sau đó phun ra tờ giấy phù hoặc rượu, có người xin giấy phù mang về để hộ thân trừ tà, có người bị tà mà quấy nhiễu lại xin rượu có máu, uống để trục tà; ngoài ra còn có uống dầu sôi, nung nóng bàn cuốc rồi đặt chân lên…
Tuy nhiên, hiện nay, các lối hầu cổ như vậy đã ít dần, chỉ còn một số người khi hầu Đức Đại Vương Trần Triều là có thể làm như vậy. Làm như thế người ta gọi là làm phép nhà Trần ra uy, vậy nên văn hát giá Đức Thánh Ông Trần Triều có một số đoạn như :
“Thánh Ông có lệnh truyền ra
Các quan thủy bộ cùng là chư dinh
Hô vang trấn động Nam thành
Đánh Đông dẹp Bắc tung hoành mọi nơi”
Hay khi Đức Ông về ra uy tróc tà (lên đai thượng hay rạch lưỡi ban dấu mặn) người ta cũng hát rằng:
“Phép ông đôi má thu phình
Lưỡi thời lấy huyết quyết linh thần phù”
Do quan niệm dân gian nên khi có tà mà dịch bệnh người ta thường cầu đảo Đức Thánh Trần để sát quỷ trừ tà, nhất là phụ nữ bị bệnh về sản khoa (theo dân gian, phụ nữ bị bệnh sản khoa là do quỷ Phạm Nhan gây ra, mà Đức Ông lại là người đã chém đầu quỷ Phạm Nhan); ngoài ra có câu chuyện còn kể rằng nếu có giặc dã, 9 Duc Thanh Tran 4vào đền xin Đức Ông mà thấy tráp kiếm có tiếng kêu bên trong thì nhất định là thắng lớn.
Đền thờ Đức Thánh Ông Trần Triều cùng với gia đình và tướng lĩnh của ông được nhân dân lập lên ở khắp nơi nhưng uy nghiêm và nổi tiếng nhất phải kể đến : Đền Kiếp Bạc ở Chí Linh, Hải Dương, được lập lên trên nền dấu tích ở nơi mà năm xưa ngài cho đóng quân doanh Vạn Kiếp, sau đó phải kể đến hai ngôi đền ở đất Nam Định, nguyên quán của ngài, đó là Đền Cố Trạch (Đền Trần) và Đền Bảo Lộc, đều thuộc Thiên Trường, Nam Định. Ngoài ra còn có Đền Phú Xá ở Hải Phòng (tương truyền là nơi đóng quân nghỉ chân năm xưa)
Ngày tiệc Đức Thánh Trần thường được tôn là ngày “giỗ Cha” của toàn thể dân tộc Việt Nam vào ngày 20/8 âm lịch (là ngày Đức Ông hóa) và được tổ chức long trọng nhất tại đến Kiếp Bạc. Ngoài ra vào giữa đêm ngày 14/1 âm lịch còn có tổ chức ban ấn của Đức Thánh Trần tại Đền Bảo Lộc.

9 Den Hoang Bay 1ĐỀN BẢO HÀ VÀ

SỰ TÍCH ÔNG HOÀNG BẢY

- Mời xem 2 phần một thanh đồng vào hầu giá ông Hoàng Bẩy :
Đền Bảo Hà – khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được xây dựng dưới chân đồi Cấm, bên cạnh dòng sông Hồng chảy vào miền đất Việt, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; cách Tp. Lào Cai khoảng 60km về phía nam; cách ga xe lửa Bảo Hà khoảng 800m. Đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bẩy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bản làng. Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên.
Theo truyền thuyết kể lại, vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786) khắp vùng Quy Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc vùng phương Bắc tràn sang cướp phá, giết hại dân lành. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải.
9 Den Hoang Bay 2Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Trong một trận chiến không cân sức với quân giặc, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì dạt vào bờ. Dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.
Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc. Phong cảnh thiên nhiên nơi đây cũng thật hữu tình : trên bến, dưới thuyền, xung quanh là núi rừng bao la, rộng lớn xanh mướt một màu.
Đền Bảo Hà có lưng tựa vào núi, mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy.
Hội chính đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17 tháng 7 âm lịch hàng năm (ngày giỗ tướng Hoàng Bảy), thu hút đông đảo du khách trong và ngoài vùng đến dự. Trong lễ hội có tổ chức rước kiệu, tế thần, dâng hương tưởng niệm, cùng các hoạt động văn hoá – thể thao khác. Ngoài những ngày lễ hội, những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân)9 Den Hoang Bay 3khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp tại đây để thắp hương tưởng niệm, cầu an, cầu lộc.
Đến thăm di tích đền Bảo Hà rất thuận lợi vì có nhiều đường giao thông đi lại. Du khách có thể đi bằng đường bộ, đường thủy hay đường sắt. Nếu đi bằng đường sắt, từ Hà Nội, du khách sẽ lên tàu LC1 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 22:05 hoặc tàu LC3 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 06:10.
Hiện nay, đền đã và đang được đầu tư xây dựng bằng nguồn tiền công đức và ngân sách Nhà nước để địa chỉ du lịch tâm linh này ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách gần xa(theo Tổng cục Du Lịch)

9 Den Hoang Muoi 1ĐỀN ÔNG HOÀNG MƯỜI

Đền ông Hoàng Mười hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười. Đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh huyện Hưng Nguyên, đền còn có tên khác là Mỏ Hạc Linh từ. Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay, đền có 3 toà chính: Thượng điện, Trung điện và Hạ điện.
Theo truyền thuyết, ông Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là “Đức thánh minh”, là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam.
Nơi nào có điện thờ mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông Hoàng Mười. Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện :
Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam.
9 Den Hoang Muoi 2
Trong khi mọi người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười.
Hiện nay, ngôi mộ của ông Hoàng Mười nằm trong quần thể di tích của đền.
Cùng với ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười là một trong số các ông Hoàng hay về ngự đồng nhất. Theo tín ngưỡng thờ Tứ phủ thì ông Hoàng Mười thuộc địa phủ, là người có tài về văn chương, thơ ca, điều binh khiển tướng… và lúc chấm đồng cũng thường được các thanh đồng hầu theo những đặc điểm trên.
Ngoài lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm còn có lễ hội khai điểm vào ngày rằm tháng 3. Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người… Đền Ông Hoàng Mười cũng là một trong những nơi diễn ra Đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân xâm lược.
Vĩnh Bảo sưu tầm 16/1/2015
Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

PHẬT TÍCH VÀ LỜI PHẬT DẠY


PHẬT TÍCH VÀ LỜI PHẬT DẠY 

image01Nhân dịp Đại Lễ Phật Đản 2637 năm 2013, thử tìm hiểu Phật Tích và lời Phật dạy, xin trích dẫn như sau: Khi nhắc đến Phật tích có rất nhiều sách báo đã đăng tải rất  nhiều, nhưng có một điểm rất quan trọng  ai ai cũng đều công nhận. Đó là, trước khi trở thành Đức Phật,  Ngài Thái tử Tất Đạt Đa đáng kính trọng và ngưỡng mộ, bởi Ngài sẽ tiếp nối Vua cha Tịnh Phạn để lên làm vua, có ngai vàng, điện ngọc, châu báu và lại còn có vợ đẹp, con ngoan…mà ai cũng kỳ vọng mong muốn, thế mà Ngài đã từ bỏ tất cả để hoan hỉ xuất gia tìm đường giải thoát cho nhân loại, để ngày nay, Ngài đã có được cả, trên thế giới trọng nể và kính phục.
Nhân đây, xin trích dẫn đoạn quan trọng ngắn gọn cuộc đời thành Phật của Ngài như sau :… Dưới cội bồ-đề (tất-bát-la) cách thị trấn Gaya (Già da) 8 cây số, Ngài lấy một ít cỏ trải tòa ngồi, khi trải cỏ xong, Ngài chỉ Cây Bồ Đề thệ nguyện rằng : “Ta ngồi dưới cây Bồ Đề này nếu không đạt được đạo thì dù xương tan thịt nát cũng không rời khỏi nơi đây” Vì có lời thệ nguyện mãnh liệt đó nên suốt bốn mươi chín (49) ngày đêm thiền định dưới cây Bồ Đề, cuối cùng Ngài đã thắng vượt được mọi ma chướng trong ngoài, tâm trí được khai thông, vào đêm mùng 8 tháng Chạp năm 659 trước công nguyên. (tức đêm mùng 8 tháng Pao-sa, tháng 2 theo lịch Ấn), Ngài liền được giác ngộ Tam minh, từ đầu hôm đến hết canh một Ngài chứng được Túc Mạng Minh Túc là đời trước, Mạng là sanh mạng, Minh là sáng, thấy rõ được tất cả khoảng đời của mình trong tam giới.
               Nửa đêm canh ba Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy suốt được những vật hết sức nhỏ nhiệm, hết sức xa xôi, quá tầm thấy biết của người thường. Thấy rõ con người sau khi chết bị nghiệp dẫn đi luân hồi trong sáu đường,  thấy được rõ tất cả bản thể của vũ trụ và nguyên nhân cấu tạo của nó.
              Đến canh tư, thấy rõ nguồn gốc của đau khổ và phương pháp dứt trừ đau khổ để được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Khi sao Mai vừa mọc Ngài bừng ngộ chứng được Lậu tận minh. Lậu là rớt, tận là sạch, nghĩa là sạch hết, không còn mầm rơi rớt trong sanh tử nữa, tức là không còn rơi lại trong tam giới lục đạo. Như vậy sau khi chứng được Lậu tận minh, Ngài đã đạt được mục đích giải thoát sanh tử. Ngài biết rõ nguyên nhân nào dẫn chúng ta đi trong sanh tử luân hồi và làm sao dứt sạch được nguyên nhân đi trong sanh tử luân hồi đó, đây gọi là chứng được Lậu tận minh. Khi chứng được minh này, đức Phật tuyên bố Ngài hoàn toàn giác ngộ, thành Phật. Như vậy Phật thành Phật là do Ngài giác ngộ được nơi con người, biết được mình từ đâu đến, khi chết rồi sẽ ra sao về đâu, muốn dứt hết sanh tử phải làm cách nào, tu pháp gì. Ngài biết rõ hết những điều đó, Phật đã đạt được mục đích khi Ngài đi tu là giải thoát sanh tử. Sau khi chứng được Tam minh, Đức Phật rất hoan hỉ vì đã đạt được mục đích khi chứng quả Thượng Chánh Đẳng Giác, Ngài từ kim khẩu Ngài đã nói :Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành tức không những có Ngài đã thành Phật mà tất cả chúng sanh trong sáu cỏi gồm : Trời, Người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc sanh đều sẽ thành Phật trong tương lai. Đây là lời nói vàng ngọc của Ngài khuyên chúng sanh tiếp tục con đường tu tập đi đến Giác Ngộ như Ngài, chớ không phải chỉ dành riêng có một mình Ngài mà thôi.
           Một điểm đáng lưu ý của người con Phật, trong thời gian 49 ngày đêm Thái tử Tất Đạt Đa với lời thệ nguyện mãnh liệt thiền định nhứt tâm dưới cây Bồ Đề không hề có tụng kinh, niệm Phật, đánh chuông gỏ mõ như các Chùa hiện nay thế mà Ngài Thái tử Tất Đạt Đa đắc quả trở  thành Phật, đáng cho các Phật tử dù xuất gia hay tại gia nên suy ngẫm, để trở thành người con Phật đúng nghĩa của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
            Riêng quý Phật Tử xuất gia ngày nay thường kêu gọi cúng dường để xây dựng Chùa, nhờ vậy trên thế giới ngày nay ở đâu có Phật Tử xuất gia là có thành lập Chùa, đó là công đức vô lượng đáng kính trọng để bảo tồn và phát huy đạo Phật cho người ngoại quốc hiểu biết đến mà tu tập theo con đường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tuy nhiên không giống phương thức của Ngài Thái tử Tất Đạt Đa trước kia đã buông xả vứt bỏ tất cả vật chất, công danh, sự nghiệp…nhất tâm tu tập trở thành Phật cứu độ chúng sinh và Ngài không bao giờ kêu gọi cúng dường để trở thành Phật, mà chỉ bá tánh thấy việc làm của Ngài rất hữu ích mà tự động mang lễ vật Cúng dường.
            Hơn nữa, tôi đã xem các dĩa thuyết pháp thấy một Đại Đức bên VN giảng, khuyên các vị cư sĩ tại gia ngồi dưới nghe biểu phải niệm Phật càng to lớn càng tốt thì sẽ được phước đức vô lượng, không biết Đại Đức đó tu phương pháp gì đây? hoặc đôi khi có Đại Đức thuyết pháp xem thường các vị Phật tử tại gia kém quan trọng hơn Phật tử xuất gia,  các vị cư sĩ tại gia ngồi dưới trọng tuổi đáng làm Ông Bà Cô Bác Cha Mẹ mình, đôi khi có vị đó cũng am tường tu tập lâu rồi, nhưng không có dịp xuất gia, nhưng cũng sẽ là Phật trong tương lai. Bởi Đức Phật Thích Ca đã từng nói : Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành….Ngoài ra, trong dân gian có câu : «Tu đâu bằng tu nhà, thờ Cha kính mẹ hơn là đi tu» và trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật dạy rằng : “Tất cả các điều thiện, không có gì cao hơn là có hiếu, tất cả các điều ác tệ nhứt là bất hiếu” (Bách  hạnh  hiếu  vi  tiên,  vạn  ác  bất  hiếu  vi  túy = 百 行 孝 为 先, 万 恶 不 孝 为 最)  đáng cho chúng ta suy ngẫm vậy.
           Nhân nhắc đến thuyết giảng, tôi đã từng xem coi các dĩa VCD, DVD và Youtube, tôi rất trân trọng kính ngưỡng quý Hòa Thượng : Thích Thanh Từ, Thích Giác Nhiên, Thích Trí Quảng, Thích Trí Quảng, Thích Giác Hạnh, Thích Tri Minh (Na Uy), quý Thượng Tọa : Thích Chân Tính (Chùa Hoằng Pháp VN), Thích Nhật Từ và Sư Cô Như Lan… đã truyền đạt lời Phật dạy, chỉ dẫn phương thức tu tập qua kinh nghiệm rất hữu ích cho những ai muốn đi theo con đường của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
             Đó là, một vài tiêu biểu nói lên đây để góp phần xây dựng Chùa và phát huy đạo Phật càng ngày tốt đẹp hơn nữa.
Để tìm hiểu và học hỏi thêm, kính mời quý bà con Phật Tử hoan hỉ xem coi Youtube do HT Thích Thanh Từ thuyết giảng cũng nhắc nhở khuyên chúng ta đi đúng con đường tu tập dưới đây :
           Đức Phật đã dạy chúng sanh quá nhiều, làm sao học để lãnh hội hết được, theo thiển nghĩ chúng ta là người con Phật chỉ học hỏi để biết rõ ràng chánh xác và thi hành áp dụng đúng lời Phật dạy cùng ghi nhớ nằm lòng được hạnh TỪ- BI – HỈ – XẢ để đối xử với nhau thì đời sống chúng ta sẽ được An Lạc và niết bàn hiện tại.
          Hơn nữa, mọi người đều biết được, đã làm con người chỉ sống trên trái đất này một thời gian mà thôi, mỗi người đều có cái căn nghiệp riêng, không ai giống ai, cho nên đừng vội so sánh đời sống người này với người kia rồi bi quan làm cho mất vui cho cuộc sống hiện tại, bởi vì    mỗi người đều có cái hay cái đẹp do tạo hóa sắp bày  không ai thoát khỏi NHÂN QUẢ đưa đến cho một kiếp người.
          Ngoài ra, chúng ta nên nhớ rằng : Dù chúng ta có giàu sang hay nghèo hèn đến đâu, khi chết không thể mang hết vật chất được, mà chỉ mang theo cái Nhân đã tạo ra đời này hiện tại mà thôi…
         Nhân nhắc đến NHÂN QUẢ, nếu năm 1963 Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm không tạo nhân ác thì Ông và gia đình Ông không bị quả xấu đau thương như vậy. Thật đau lòng cho dân tộc chúng ta.
            Riêng HT Thích Quảng Đức, các vị tăng ni phải tự thiêu tính đến nay tròn 50 năm (1963 – 2013). Xin kính mời xem trang nhà Hộ Pháp dưới đây :
Nhân mùa Đại Lễ Phật Đản 2637
thử tính phương cách tính như Phật
Lịch và Phật Đản như thế nào?.
          Được biết, Đức Phật Thích Ca thượng thọ 80 tuổi, Ngài sanh vào ngày rằm tháng tư âm lịch năm 624 trước công nguyên, tại Vườn Lâm Tỳ Ni trước thuộc nước Ấn Độ nay thuộc nước Népal và Ngài Nhập Niết Bàn vào ngày rằm tháng hai năm 544 trước công nguyên, cho nên Phật Lịch năm 2013 sẽ là 2557. Bởi vì, lấy 544 + 2013 = 2557. (Phật Lịch 2557).
         Còn muốn biết Phật Đản của năm 2013 sẽ là 2637 Bởi vì, lấy năm Phật lịch vừa thấy ở trên + số tuổi thượng thọ  của Ngài sẽ là  2557 + 80 (tuổi thọ) = 2637 hoặc lấy năm sanh của Đức Phật trước công nguyên là 624 +  2013 = 2637. (Phật Đản 2637).
        Xin tạm ngưng bài này và kính chúc quý bà con mọi Thân và Tâm luôn luôn An Lạc nhứt là Sức Khỏe thật Dồi Dào.
          Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
                  Nam Mô A Di Đà Phật
Tiểu Đệ
Xin trích dẫn hình ảnh dưới đây :
Ảnh: Bảo tháp tại vườn Lâm Tì Ni, Tháp đại giác Bồ Đề Đạo Tràng, và tượng Đức Phật.
Ảnh : Bảo Tháp tưởng niệm nơi trà tỳ nhục thân của Đức Phật
Vĩnh Bảo sưu tầm 23/5/2013

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

SỰ TÍCH CÁI MÕ


SỰ TÍCH CÁI MÕ

Ngày xưa, có một vị Hòa Thượng trụ trì một ngôi chùa thôn quê ở gần bờ sông. Mỗi khi có việc ra tỉnh, Ngài quá giang bằng chiếc đò ngang. Hôm ấy nhằm ngày 13 tháng bảy, Ngài quá giang ra tỉnh để chủ lễ một đàn kỳ siêu. Khi đò ra tới giữa dòng sông cái thì thấy sóng nổi lên ầm ầm làm cho thuyền tròng trành muốn đắm. Ai nấy ở trên đò cũng đều hoảng hốt, thì ngay lúc ấy, bỗng nhiên thấy nổi lên trên mặt nước một con cá Kình rất lớn, dương hai mắt đỏ ngầu nhìn chăm chăm vào vị Hòa thượng. Nhưng Hòa thượng vẫn bình tĩnh ngồi niệm Phật.
Trong khi đó, con cá ngẩng đầu lên khỏi mặt nước mà lắp bắp nói : “Hỡi hành khách ở trên đò ! Các người muốn được yên lành, hãy liệng lão ác tăng xuống đây cho ta để nuốt chửng nó đi cho hả cơn giận. Các người có biết không, ngày trước, ta theo lão tu đạo, lão không chịu giảng dạy chi cả, cứ buông lỏng cho ta muốn làm gì thì làm, không hề kiềm chế. Vì vậy, ta mới sinh ra lười biếng, chỉ lo rong chơi ăn ngủ theo thế tục, không thiết gì tới công phu sám hối, ăn chay niệm Phật và săn sóc việc Chùa. Không những thế, mỗi khi có đám tiệc lại để cho ta mang hậu đắp y để khoe khoang với đại chúng và bổn đạo. Vì những tệ đoan như thế nên sau khi ta chết, phải đọa vào loài súc sanh làm thân cá Kình, đi tới đâu thì ồ ạt tới đó, làm cho những tôm cá chạy bét hết, không có cái gì để ăn, phải chịu đói khát, rất nên cực khổ, thiệt khổ còn hơn loài quỉ đói nữa. Vì thế mà ta chỉ oán lão thôi, còn các người đối với ta vô can, ta không muốn làm hại ai cả”.
Tr ca mapNghe cá nói xong, Sư Cụ liền mỉm cười mà đáp rằng : “Này nghiệt súc ! Nhà ngươi nói thế mới thật là ngu. Há ngươi không hiểu câu phương ngôn : “Ðạp gai, lấy gai mà lễ, hay sao ?”. Nếu ngươi đã biết vì tạo những tội lỗi như thế mà phải đọa làm thân cá thì nhà ngươi cần phải ăn năn sám hối tội lỗi và tạo duyên lành, ngõ hầu mới được tội diệt phước sanh, rồi mới mong thoát khỏi được quả báo. Ta là Thầy ngươi, mỗi khi dạy ngươi đúng theo giới luật thì ngươi bảo là quá nghiêm khắc, hay la rầy quở phạt, còn thả lỏng cho ngươi không nghiêm trị thì ngươi quen tánh mông lung, thành thử mới phải đọa làm loài cá. Một khi bị đọa, ngươi cần phải sám hối và báo cho ta biết để tụng kinh siêu độ và xả tội cho, còn nếu như muốn ăn thịt ta thì lấy ai để cứu ngươi nữa. Ðã có tội, không biết ăn năn mà còn kiếm cách đỗ lỗi cho người. Phạm Phật thì có Tăng cứu, còn như phạm Tăng thì Phật không độ. Ngươi có hiểu câu đó chăng ?”
Sư cụ vừa dứt lời thì cá Kình kia cũng lặn chìm xuống dưới đáy nước.
7 Cai mo 1Kế đó, sau bảy ngày đêm vang tiếng tụng kinh cầu siêu độ tại chùa thì cá Kình liền trồi lên mặt nước, lết thẳng tới sân Chùa, nằm dài một đống và hướng vào trong Chùa mà nói rằng :
- “Bạch Thầy, mấy hôm nay, nhờ công đức của Thầy và chư Tăng Ni chú nguyện và tụng kinh siêu độ nên con đã được tiêu nghiệp, thoát kiếp cá Kình và sanh lên cõi trời Dục Giới. Trước khi lên cõi Trời , con xin đến đây thành tâm đảnh lễ tạ ơn Thầy cùng chư Tăng Ni và con nguyện lưu cái xác thân cá Kình tại Chùa để mỗi ngày, chư Tăng Ni cầm cây gõ lên đầu con, ngõ hầu làm gương cho những vị nào tu hành còn biếng nhác, ưa khoe khoang, tự tôn, tự đại, không chịu khép mình vào vòng giới luật và cũng là để nhắc nhở cho những vị ấy nhớ tới bổn phận tu tâm, hành đạo, để khỏi xao lãng công phu bái sám, niệm Phật tu thiền, thúc liễm thâm tâm, nghiêm trì giới luật.”
Vì sự tích như đã kể ở trên mà từ ngày ấy tới nay, cái mõ mới chạm trỗ theo hình con cá để làm kỷ niệm mà thức tỉnh người tu hành. (Hạnh Đoan)
Phụ chú :
Mô tả cái mõ : – Mõ được chạm trổ theo hình con cá với thâm ý là muốn thức tĩnh con người cũng như chúng hữu tình đang còn trong mê muội, u trầm.
7 Cai mo 2- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.
- Mõ có hai loại: Mõ có hình bầu dục và mõ có hình điếu.
- Mõ hình hình bầu dục để tụng kinh, điều khiển buổi lễ khi đông người tụng được nhịp nhàng. Mõ hình điếu thì treo ở nhà trù dùng để báo hiệu khi thọ trai hay chấp tác.
Tiếng mõ vừa giữ cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi thế, người đánh mõ gọi là Duyệt chúng, tên nầy gọi là làm đẹp lòng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau.
Tr thay chua 2Ý nghĩa về chuông mõ :
- Trước đánh ba tiếng : Nghĩa là chúng sanh do ba nghiệp thân khẩu ý tạo tác mọi điều ác, sau sẽ đọa vào trong ba đường dữ : địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nhưng cũng có nghĩa là cố trừ ba độc : tham, sân và si để vượt lên ba giải thoát để chứng đắc ba đức: Pháp thân, Bát nhã thân và Giải thoát thân.
- Kế tiếp nhịp bảy tiếng : Đây là tiêu biểu cho thất chi tội. Về thân thì có ba: Sát, đạo và dâm. Về khẩu thì có bốn : Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Sau khi đã đoạn trừ được bảy tội nêu trên liền chứng được thất giác chi: Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, định và niệm.
- Sau cùng dứt bốn : Tức là để tiêu trừ bốn tướng : Sanh, lão, bệnh và tử để chuyển thành bốn trí:Thành sở tác trí: Tiền ngũ thức (nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt và thân),Diệu quan sát trí: Đệ lục ý thức, Bình đẳng tánh trí: Đệ thất Mạc na thức, Đại viên cảnh trí: Đệ bát A lại da thức.
Mỹ Nhàn post
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/12/2012

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

VÀI HIỂU BIẾT VỀ CHIẾC ÁO CÀ SA

VÀI HIỂU BIẾT VỀ CHIẾC ÁO CÀ SA 


Không khí trang nghiêm của những đạo tràng với những chiếc y màu vàng hoại sắc và những chiếc áo tràng màu lam dịu luôn luôn là những hình ảnh đẹp. Hình ảnh đó vừa trang nghiêm vừa thanh thoát, vừa như có vừa như không. Đó là sắc bắc cầu với không, hình tướng gieo mầm cho vô tướng.

Tạo sự kết nối giữa hình nhi hạ với hình nhi thượng, hay thế giới thường tục với thế giới chân như, luôn luôn là mục đích trong các nghi lễ và nghệ thuật Phật giáo. Dĩ nhiên không phải chiếc áo, màu sắc hay âm thanh quyết định cho sự kết nối đó. Cái đẹp trong Phật giáo là cái đẹp của chân và thiện, mà chân và thiện thì vượt ngoài sắc tướng và âm thanh. Và chính cái đẹp chân thiện đó đóng vai trò kết nối trong nghi lễ, nghệ thuật Phật giáo.

Với những phương tiện trong nghi lễ Phật giáo, cái đẹp chân thiện được biểu hiện để đem Tịnh độ vào thế gian, đem Niết bàn vào thực tại. Và người Phật tử tham dự trong các đạo tràng thanh tịnh đó có thể trải nghiệm được một phần nào tính chất thanh tịnh của Niết bàn, cảm nhận được giá trị của hạnh phúc chân thật, để có thể sống một đời sống thanh tịnh, an vui, lợi mình, lợi người.

Nói về y phục Phật giáo, ở Việt Nam, ngoài chiếc áo cà sa sẽ trình bày ở phần sau, hình ảnh những chiếc áo màu nâu, màu vàng hoại sắc, những chiếc áo màu lam dịu gợi lên trong chúng ta hình ảnh một đời sống đơn giản, khiêm cung, hòa ái, an lạc và thanh thoát. Những màu sắc đó cũng rất gần gũi với chúng ta. Đó là màu của đất, của khói hương, của lá, cây, củ, rễ, những thứ rất gần với đời sống của người Việt trong mấy ngàn năm. Và đặc biệt trong thế giới chạy đua với thời gian ngày nay, những màu sắc đó nhắc chúng ta rằng, vẫn còn có những nơi chốn mà thời gian không chạm đến, sự mâu thuẫn và tranh đua không len vào, nơi mà đất trời có thể được cảm nhận thật gần, hiện diện ngay trong đời sống này, là những chỗ chúng ta có thể dừng lại, trong chốc lát hay dài lâu, để tìm thấy sự nghỉ ngơi và tìm lại chính mình.

Do đó, hình thức không phải là cái gì dư thừa trong Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại thừa, một tông phái Phật giáo không tách rời với đời sống xã hội.

Thế giới của các kinh điển Đại thừa, cũng như nghệ thuật Phật giáo, từ tranh tượng cho đến các lễ nghi, là một thế giới đầy màu sắc và âm thanh. Đời sống của chúng ta gắn liền mật thiết với sắc tướng và âm thanh. Với Phật giáo, dùng sắc tướng để mở cánh cửa vô tướng, dùng âm thanh để mở cánh cửa vô thanh. Đó là con đường phát hiện tánh thấy hay tánh nghe. Dừng lại trong tánh thấy hay tánh nghe đó là nắm được nền tảng của đời sống, là đặt được chân vào ngưỡng cửa của giáo pháp, là thấy tánh, là khởi sự cho niềm vui.

Tôn giáo, nhất là những tôn giáo có sự giao tiếp nhiều với xã hội như Phật giáo, vì vậy có những nguyên tắc ứng xử có tính cách xã hội qua những phương tiện sắc tướng, âm thanh. Trong lịch sử truyền bá và phát triển, Phật giáo đã triển khai nguyên tắc khế lý khế cơ để tạo nên một nền văn hóa Phật giáo phong phú. Và từ đó, nghệ thuật Phật giáo, một nền nghệ thuật có thể nói là phong phú nhất trên thế giới, phát sinh.

Trang phục Phật giáo nói riêng và nghệ thuật Phật giáo nói chung có thể nói là những phương tiện để thể hiện đời sống giác ngộ. Vì là phương tiện nên trong quá trình truyền bá và phát triển, cũng giống như những phương tiện khác, y phục Phật giáo cũng tùy theo thời đại, địa phương mà thay đổi.

Nhưng dù bao nhiêu thay đổi, có một cái không bao giờ thay đổi. Đó là hình ảnh "đầu tròn áo vuông," cái mà dù đi đến đâu, ở bất cứ phương trời nào, những người tu sĩ Phật giáo vẫn nhận ra nhau khi gặp nhau. Áo vuông là chiếc áo cà sa đắp ngoài của các tu sĩ Phật giáo.

Theo kinh sách, chiếc y hay cà sa có lịch sử như sau:

Khi Đức Phật rời bỏ hoàng cung để tìm đạo, theo truyền thống, Ngài đổi bộ đồ sang quý của Ngài để nhận lấy bộ đồ của người khất sĩ. Theo kinh điển thì y phục của người khất sĩ thời bấy giờ được may bằng những mảnh vải vụn bị vứt bỏ, có thể là do lửa cháy, bị quào rách, hoặc là vải quấn thây người chết,… Những mảnh vải vụn đó được may lại thành một tấm hình vuông hay chữ nhật đủ để quấn thân, rồi được nhuộm bằng màu từ các loại thảo mộc, tạo nên một loại màu tạp, nhìn không được sạch sẽ. Đó là chiếc áo mà Đức Phật đã mặc trải qua nhiều năm tìm đạo trước khi Ngài chứng quả Phật.

Sau khi đức Phật thành đạo, tăng đoàn bắt đầu được thành lập, dù Đức Phật không còn chủ trương khổ hạnh mà đi theo con đường trung đạo, Ngài và các đệ tử của Ngài vẫn giữ lối ăn mặc của các khất sĩ đương thời, không có quy cách riêng về y phục cho Tăng đoàn. Điều này làm cho vua Tần Bà Sa La gặp khó khăn khi ông muốn cúng dường các vị tu sĩ Phật giáo. Do đó, ông đã thỉnh cầu Phật cho tu sĩ Phật giáo có được pháp phục riêng biệt. Lúc đó, Phật và ngài A Nan đang trên đường du hành phương Nam để thuyết pháp, nhìn những thửa ruộng ngăn nắp trên cánh đồng bên đường, Đức Phật bảo ngài A Nan theo hình ảnh đó làm mẫu pháp phục cho chư Tăng, Ni. 

Vì vậy chúng ta thường gọi cà sa là áo ruộng phước (phước điền). Ruộng phước ở đây không có ý chỉ sự giàu có vật chất, nhiều lúa gạo, của cải. Phước ở đây là phước của đời sống đức hạnh, khiêm cung, đạm bạc, giải thoát, phước cho những người biết tôn kính những bậc có đời sống đức hạnh, khiêm cung, đạm bạc, giải thoát.

Và chúng ta có thể hình dung sau đó là bóng dáng những đoàn người hay chỉ một người đơn độc, mình mặc cà sa, đầu cạo sạch ung dung bước đi trên những con đường phố, những con đường làng, ngồi tham thiền dưới những bóng cây của núi rừng, trong các hang động. Rồi đến một lúc, khi nhìn thấy một đoàn người mặc cà sa, người ta liên tưởng đến sự an nhiên vắng lặng của một người, nhìn thấy một người mặc cà sa, người ta liên tưởng đến một tăng đoàn vắng lặng và trang nghiêm. Hình ảnh một chiếc cà sa trở thành hình ảnh của tất cả cà sa, và tất cả cà sa ở trong hình ảnh một chiếc áo cà sa. Và người ta cảm nhận về một bản thể Tăng già. Màu cà sa giờ đây là màu của thanh tịnh và giải thoát, hòa hợp và kết nối, màu của Thánh chúng, suối nguồn của hạnh phúc.

Cà sa là chiếc áo đạm bạc, màu sắc đạm bạc, nói lên một đời sống khiêm tốn nhất, đơn sơ nhất. Và sự khiêm tốn, đơn sơ đến độ "không còn dùi để cắm" đó cũng chính là một đời sống cao quý và giá trị nhất.

Sau hơn 2.500 năm Phật giáo truyền bá trên khắp thế giới, do bối cảnh văn hóa và địa dư khác biệt đã tạo ra những sự khác biệt trong hình thức, nhưng như đã nói, hinh ảnh "đầu tròn áo vuông" là một hình ảnh bất biến và bao trùm.

Và hình ảnh "đầu tròn áo vuông" trong một mức độ nào đó còn nói lên tính chính thống của Tăng đoàn và giáo pháp. Hình ảnh đó rất cần thiết trong những thời kỳ mà sự mạo danh và lạm dụng phổ biến như ngày nay. Hơn bất cứ một biểu tượng nào của Phật giáo, hình ảnh chiếc cà sa được đặc biệt tán dương.

Theo truyền thống Trung Hoa, chiếc áo cà sa có mười hai tên gọi. Mười hai tên gọi đó cũng nói lên mười hai tính chất của cà sa và cũng là tính chất của người mặc cà sa. Đó là: 1. Cà sa: Áo có màu chết, màu đạm bạc, nói lên đức khiêm cung, đơn giản. 2. Đạo phục: Áo của người đi theo con đường chân chính, hợp lẽ. 3. Thế phục: Áo của người cắt đứt mọi ràng buộc thế gian, từ bỏ tham luyến. 4. Pháp y: Áo Chánh pháp, áo của người đi trên con đường chân chánh, hướng đến sự nghiệp giải thoát chân thật. 5. Ly trần tục: Áo xa lánh những bụi bặm, phiền não của thế gian, của người dấn bước trên con đường tịnh hóa thân tâm. 6. Tiêu sấu phục: Áo tiêu trừ phiền não, áo của người đi trên hành trình diệt trừ phiền não cho mình và cho người. 7. Liên hoa phục: Áo chứa đựng mọi tính chất của Phật giáo: trong sạch, không nhiễm, lan tỏa, kết nối,… 8. Gián sắc phục: Áo gồm các màu sắc lẫn lộn, màu không màu, nói lên tính chất rỗng không của các pháp, không có chỗ để nương. 9. Từ bi phục: Áo từ bi. 10. Phúc điền phục: Áo ruộng phước. 11. Ngọa cụ: Áo có thể dùng để lót nằm. 12. Phu cụ: Áo có thể dùng để làm chăn đắp. Hai tên sau cùng nói lên một đời sống lang thang, không cố định, không bám giữ.
Theo kinh điển Pali, y của Phật được truyền lại cho ngài Ma ha Ca Diếp trước khi Đức Phật nhập Niết bàn. Và chính ngài Ca Diếp là vị đã tổ chức kỳ kết tập lần đầu tiên để có sự nhứt quán về giáo pháp của đức Phật. Chúng ta có thể nghĩ rằng, việc trao y bát này là một hình thức trao thẩm quyền gìn giữ và lưu truyền giáo pháp. Và cũng theo kinh điển Nam Tông, khi sắp nhập diệt, ngài Ma ha Ca Diếp lên hang Tượng Đầu trên núi Kỳ Xà Quật, khoác lên người chiếc y của Phật, nguyện thân xác không hoại cho đến khi Đức Di Lặc ra đời.

Trong kinh Pháp Hoa, một trong ba hình ảnh tượng trưng cho những đức hạnh của vị Pháp sư Pháp Hoa là "mặc áo Như Lai." Mặc áo Như Lai theo kinh giải thích là sống trong hạnh nhu hòa, nhẫn nhục. Cà sa là biểu tượng của hạnh khiêm cung, nhu hòa, nhẫn nhục. Đức khiêm cung, nhu hòa, nhẫn nhục trong Phật giáo liên hệ mật thiết với tinh thần bình đẳng, tin chắc rằng mọi chúng sanh đều có Phật tánh và khả năng thành Phật. Đó là tâm từ, là hạnh thành Phật. Hình ảnh ngài Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa nói lên hạnh nhu hòa, nhẫn nhục đó.

Ngài Thường Bất Khinh là một vị Tăng sống trong thời kỳ Tượng pháp của Đức Phật Oai Âm Vương. Ngài không tụng đọc kinh sách, chỉ suốt đời thực hành một hạnh: khởi tâm bình đẳng và cung kính đến tất cả mọi người, tin rằng mọi người đều có tánh Phật. Mỗi khi gặp một vị Tăng, Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ nào, Ngài đều cúi lạy, tán dương: "Tôi rất quý kính ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý ngài đều tu hành đạo Bồ tát, sẽ đặng làm Phật". Dù bị ngược đãi, ngài Thường Bất Khinh không thối tâm trong việc thực hành hạnh Thường Bất Khinh đó. Và khi sắp lâm chung, ngài lãnh hội được toàn bộ giáo pháp Nhất thừa từ Đức Phật Oai Âm Vương.

Như vậy, cà sa là áo Phật, áo Như Lai, hạnh cà sa là hạnh Phật. Cà sa tượng trưng cho sự nhu hòa, nhẫn nhục, bình đẳng, khiêm cung. Đó cũng là những đức hạnh để phát triển tâm Từ.

Kinh Bi Hoa (Từ Bi Liên Hoa), đã mô tả năm công đức thánh thiện của áo cà sa. Năm công đức đó là kết quả của năm lời nguyện của Đức Phật khi Ngài tu hành đạo Bồ tát. Đức Phật nguyện khi Ngài chứng quả Chánh giác, cà sa của Ngài sẽ có năm đức như sau: 1. Người thế tục biết kính trọng cà sa sẽ được Tam thừa. 2. Trời, rồng, người, quỷ, thần biết kính trọng cà sa cũng sẽ được Tam Thừa. 3. Chúng sanh và quỷ thần chỉ cần bốn tấc cà sa sẽ được no đủ. 4. Chúng sanh thường nghĩ nhớ đến cà sa sẽ tăng trưởng lòng từ bi. 5. Người trong trận mạc nếu có một mảnh cà sa và kính trọng mảnh cà sa đó thì sẽ được vinh quang.

  Kinh Đại thừa bổn sanh tâm địa quán đề cập đến mười lợi ích của việc mặc cà sa như sau:

"Một là, che thân mình, xa lìa được sự xấu hổ, đầy đủ đức biết hổ thẹn để tu hành thiện pháp. Hai là, xa lìa sự lạnh, nóng, ruồi, muỗi, thú dữ, trùng độc, để an ổn tu đạo. Ba là, hiện ra tướng mạo Sa môn xuất gia, người ta trông thấy sinh tâm vui vẻ, xa lìa được tâm tà vạy. Bốn là, cà sa tức là bóng dáng lá cờ báu của nhân, thiên, chúng sinh tôn trọng kính lễ được sinh Phạm thiên. Năm là, khi mặc cà sa tưởng tượng là lá cờ báu, diệt được mọi tội, sinh mọi phúc đức. Sáu là, bản chế cà sa nhuộm thành hoại sắc là để muốn xa lìa năm dục tưởng, không sinh tâm tham ái. Bảy là, cà sa là áo thanh tịnh của Phật, dứt hẳn được phiền não, tạo ra ruộng phúc tốt lành. Tám là, thân mặc cà sa, tội nghiệp tiêu trừ, phát sinh mười thiện nghiệp đạo, niệm niệm tăng trưởng. Chín là, cà sa cũng như ruộng tốt hay làm tăng trưởng Bồ tát đạo. Mười là, cà sa cũng như áo giáp, mũ trụ, tên độc phiền não không hại được." (Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán, HT.Thích Tâm Châu dịch).

Luận Thập trụ bà sa đề cập đến 26 loại y và mười lợi ích của y. Kinh Hải Long Vương đề cập đến việc Long Vương thoát khỏi móng vuốt của đại bàng nhờ sự che chở của cà sa của Phật.

Như vậy, theo kinh điển, công đức của cà sa là vô lượng.

Với Thiền Tông, chiếc áo cà sa cũng mang một ý nghĩa đặc biệt và rất được tôn quý. Chiếc cà sa được chư Tổ truyền nhau, là chiếc áo Chánh pháp và sự trao truyền đó mang ý nghĩa là trao truyền Chánh pháp. Chiếc áo đó đi theo dòng giác ngộ của Thiền, tức đi theo tâm ấn của Phật. Đối với Thiền, đó là chiếc áo tượng trưng hay chứa đựng toàn bộ kho tàng giác ngộ của chư Phật, chư Tổ và của tất cả chúng sanh.

Không những chiếc y truyền thừa theo dòng Tổ có giá trị siêu việt mà cà sa bình thường của các Thiền tăng cũng có một ý nghĩa và giá trị siêu việt. Trong tiểu luận The Merits of the Kasaya, ngài Uku viết:

"Cà sa là một vật rất quan trọng đối với người theo Phật. Nó không chỉ là pháp phục của Tăng, Ni, mà còn đại diện trọng tâm của thiền; mặc cà sa là mặc áo Phật và mặc áo Phật là toàn tâm toàn ý thực hành thiền. Cà sa là thân và tâm của Phật".

Trong Chánh pháp nhãn tạng, ngài Dogen (Đạo Nguyên) viết:

"Nên nhớ rằng cà sa là đối tượng tôn kính và thành tâm hướng về Đức Phật. Nó là thân của Phật và tâm của Phật. Chúng ta gọi nó là áo giải thoát, áo ruộng phước, áo vô tướng, áo tối thượng, áo nhẫn nhục, áo Như Lai, áo Đại từ, áo Đại bi, áo vinh quang, áo tam miệu tam bồ đề. Chúng ta nên nhận nó và duy trì nó như vậy, khiêm cung đội trên đầu. Vì nó là như vậy, chúng ta không bao giờ thay đổi nó theo ý chúng ta".

Chỗ khác Ngài viết:  "Khi chứng quả Phật, tất cả các Đức Phật đều mặc cà sa, điều đó cho thấy rõ mặc cà sa được coi như có công đức đáng kính và cao cả nhất." (Chánh pháp nhãn tạng).

Tóm lại, theo ngài Dogen, công đức của chiếc áo cà sa không thể suy lường. Đó là suối nguồn bất tận của thành tựu và phúc lạc. Nó vượt ngoài không gian và thời gian. Nó hiện diện ngay nơi đây bây giờ, mà cũng đang hiện diện khắp pháp giới trong mọi thời gian. Cà sa chính là Pháp thân của chư Phật.

"Chiếc áo cà sa không phải là một sáng tạo của con người, cũng không phải không là một sáng tạo của con người. Nó không dừng lại một nơi nào, nhưng không có chỗ nào nó không dừng lại. Và ý nghĩa chân thật của chiếc áo cà sa chỉ có chư Phật mới hiểu được. Những người đi trên con đường đạo, những lợi ích của chiếc áo cà sa mang đến cho họ thật là vô cùng tận". (Chánh pháp nhãn tạng).

Trở về với chúng ta, chúng ta đang hiện diện nơi đây đồng thời chúng ta cũng đang hiện diện trong pháp giới của chư Phật. Pháp giới đó từ ngàn xưa cho đến ngàn sau không hề thay đổi, và chúng ta vẫn thường hằng ở trong đó. Nhưng chúng ta đã u mê không nhìn thấy cho đến khi hình bóng chiếc cà sa xuất hiện để kết nối chúng ta với pháp, mở mắt cho chúng ta để chúng ta thấy được rằng, chúng ta vẫn đang ở trong pháp giới của chư Phật, có cùng pháp thân với chư Phật. Và từ đó đời sống của chúng bắt đầu thênh thang và có ý nghĩa.

Đời sống đó chẳng những đem đến sự an vui, hạnh phúc và ý nghĩa cho cá nhân, mà còn là tố chất làm thăng hoa tập thể, chất keo kết nối cộng đồng. Và như chúng ta thấy, khi những bóng cà sa từ những chiếc thuyền buôn ghé vào đất nước chúng ta trong hoàn cảnh khổ nhục của người dân mất nước, những chiếc cà sa đó đã xoa dịu niềm đau và làm thăng hoa, kết nối chúng ta, để khi hội đủ nhân duyên, những chiếc cà sa đó lại vạch đường cho một tương lai tươi đẹp của đất nước.

Đó là ý nghĩa của chiếc áo cà sa riêng đối với chúng ta, cũng như đối với lịch sử của chúng ta.

              Tác Giả: Thị Giới
Vĩnh Bảo sưu tầm 5/12/2012