Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

NGÀY XUÂN BÀN CHUYỆN UỐNG TRÀ




NGÀY XUÂN

BÀN CHUYỆN UỐNG TRÀ

- Mường Giang
Ăn Tết xưa nay đã trở thành một ngày hội lớn nhất trong năm của nhân loại. Riêng dân tộc VN qua bao đời đã có rất nhiều phong tục cổ truyền rất phong phú như đưa Táo Quân về trời, dựng nêu đón xuân, cúng giao thừa, mừng Nguyên Ðán,tảo mộ, thăm hỏi, chúc tung… nhất nhất đều hàm chứa những ý nghĩa thiêng liêng độc đáo.
Trong giờ khắc năm cũ sắp tàn, mọi nhà cài then chặt cửa để sửa soạn đón năm mới trong sự xum họp đầm ấm của gia dình. Nhưng chính trong giây phút đợi nàng Xuân bước vào thềm hạnh phúc, trước bàn thờ tổ tiên thơm lừng hương khói, hoa quả, bên cạnh cội mai vàng đang ẻo lả mãn khai những cánh non, người trong cuộc trầm ngâm uống từng ngụm trà nhỏ, nghe hơi ấm thấm tận hồn, để tự ý thức đầy đủ về đời mình suốt một năm dài truân chuyên hay may mắn và quên đi sự ồn ào từ bên ngoài.
la tra xanh 3Có điều chắc chắc rằng không phải là ngẫu nhiên mà nhiều dân tộc trên thế giới lại thích uống trà, đặc biệt nhất là người Nhật đã tôn sùng cái thi vị trên thành một thứ tôn giáo lạ lùng gọi là Trà Ðạo (Théisme) . Riêng các nước sùng Nho giáo như Trung Hoa, Ðài Loan, VN, Cao Ly.. cùng có một lịch sử và cung cách thưởng ngoạn trà gần giống nhau và rất lâu đời.
Người Anh thường uống trà vào lúc 5 giờ chiều mỗi ngày. Các bậc thượng lưu trí thức, hàng phú gia quyền quý uống trà lại càng cầu kỳ và thời gian kéo dài với bốn cô thiếu nữ trẻ đẹp phục vụ, một cô nhúng chén dĩa vào nước sôi cho chén ấm, cô thứ hai cho trà vào chén, cô kế đổ nước sôi vào chén và cô cuối cùng đậy nắp rồi bưng trà tới cho chủ nhân.. chỉ việc nhẹ nhàng mở nắp, hớp một ngụm nhỏ rồi lai đặt chén xuống, trong lúc đôi mắt lim dim tựa như kẻ mộng du. Nhưng thú vị nhất có lẽ là các thiền sư, tự rửa chén ấm cũng như nấu nước pha trà và một mình độc ẩm, hay nhiều nhất cũng chỉ hai ba người, gọi là đối ẩm.. Tóm lại dù uống trà trong hoàn cảnh nào chăng nửa, thì cái tính chất cao quý của nó là làm cho thế nhân trở nên tĩnh lặng để chiêm cuộc đời.
1/- LỊCH SỬ CỦA TRÀ :
Theo truyền thuyết thì chính Vua Thần Nông khi tuần thú phương nam, vô tình uống được một thứ lá cây rơi trong nồi nước đang sôi, làm cho tinh thần phấn chấn sảng khoái nên ông gọi đó là Trà. Một huyền thoại khác kể rằng Ðức Ðạt Ma Sư Tổ của Thiền phái Thiếu Lâm Tự Trung Hoa, đã ngủ quên trong lúc tọa thiền nên tức giận tự cắt mí mắt của mình quăng xuống đất và nơi ấy mọc lên một thứ cây kỳ lạ, hái lá nấu nước uống khiến cho tâm hồn tỉnh táo, được gọi là Trà. Từ đó trà trở nên thức uống thông dụng của thiền môn.
9 Tra - Luc VuGần hơn còn có câu chuyện của một người tiều phu nghèo khó sống ở miền cao tỉnh Phúc Kiến, bao nhiêu năm vẫn ôm ấp thầm thương trộm nhớ một cô gái làng bên và hằng mong có tiền để cưới nàng. Ngày nọ lên núi kiếm củi, anh ta phát hiện một cây trà có dáng dấp kỳ lạ, mọc trong một kẻ núi nên vội bứng đem về nhà trồng. Hai năm sau cây trà lớn, anh vội hái vài lá có màu xanh đen, đem pha nước uống, mới ngộ ra đây là một loại trà độc đáo, nên đặt tên là “Thiết Quan Âm” vì loại trà này khi lên men có màu đen như sắt thép và nặng hơn những lá trà thường, cho ra thứ nước uống thuần khiết như tấm lòng vị tha bác ái của Ðức Phật Bà Quan Âm. Trà Thiết Quan Âm ra đời từ đó.
Riêng người Nhật thì viết là Trà đã được tìm thấy bởi một danh y tinh thông dược thảo, từ niên lịch tương đương với thời Chiến Quốc của Trung Hoa (300-221 Tr TL). Nhưng đó chỉ là huyền thoại. Theo Trung Hoa sử hiện nay, thì người Tàu chánh thức biết uống trà vào thời Tam Quốc, nhưng mãi cho tới nhà Ðường, trà vẫn chưa được trồng và chế biến, thứ trà uống chỉ là loại trà mọc hoang trong rừng núi, thuần khiết vẫn đươc coi như một vị thuốc bắc để trị bệnh. Do trên trà mới lưu hành trong giới thượng lưu mà thôi, còn hạng bình dân hầu như chưa mấy ai biết tới.
Về cách uống cũng khác biệt,giữa hai bờ đại giang và nhất là dân du mục ngoài Trường Thành thì uống trà pha sữa trâu bò, dê ngựa. Cũng căn cứ theo Ðường Sử, thì chính Trà Tiên của Trung Hoa là Lục Vũ, tự Hồng Tiệm, người đất Cảnh Lăng, tỉnh Hồ Bắc, tác giả quyển Trà Kinh là người đầu tiên khởi xuớng phong trào uống trà. Sau này qua các đời cũng có nhiều tác phẩm nghiên cứu về trà nhưng tựu trung so sánh nổi phải kể tới quyển “Tục Trà Kinh“ của của Lục tào Xán người Tô Châu, thời Khang Hy, viết với nhiều tài liệu, dẫn chứng và phẩm bình về Trà một cách xác đáng.
Nguyen TuanTại VN, luận về Trà trước kia có tác phẩm “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, về sau Minh Ðức Hoài Trinh và Vũ Thế Ngọc.. cũng có viết về Trà Kinh. Riêng người Nhật thì có Trà Ðạo của Okakura Kakuro.. Cũng kể từ đó nối tiếp các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh.. trà trở thành phổ quát. Nhiều khu vực sản xuất trà nổi tiếng xưa nay như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến..
Tại Nga, truyền thống uống trà gắn liền với ấm Samovar. Ðây là loại bình lớn được thiết kế rất đẹp đẽ, chứa hơn một lít nước sôi ở độ cao. Tại Nga, thời tiết lạnh lẽo gần như quanh năm suốt tháng, nên uống trà nóng gần như là một nhu cầu cần thiết vì với người Nga thì Trà có tác dụng giữ ấm cơ thể nhất là tim. Bởi vậy trong mọi nhà tại Nga, hâu như trong chiếc bình đặc biệt Samovar luôn đầy nước trà nóng và những hộp đường viên, mọi người lúc đó quây quần bên ấm trà nóng, để những viên đường vào giữa hàm răng và thong thả nhắm nháp từng ngụm trà thơm ngát, nóng hổi, trong khi bên ngoài giá lạnh mưa rơi trùng trùng.
Tại Morocco, Châu Phi : Theo quan niệm, trà ở đây có tác dụng cầm chân khách trong các dịp có cơ hội gần gũi hay quây quần bên nhau. Hầu như người Morocco thường uống một loại trà xanh thương thặng và theo tập quán, thì người con trai trong gia đình phụ trách việc pha chế trà, ngoại trừ có trường hợp đặc biệt, vợ của chủ nhà vì tình thân của bè bạn, trực tiếp mời chồng mình tự tay pha tra đãi khách. Thường thì phải có hai bình trà sẳn sàng. Pha trà bằng ba loại nước với độ sôi khác nhau và được rót trong những chén nhỏ xinh sắn, đặt trên chiếc khay bằng kim loại có chạm khắc nhiều hình ãnh rất đep. Theo nghi thức, Trà được châm đến tuần thứ ba thì chấm dứt buổi tiệc.
9 Tra 6Tại Anh : Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ, trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa.
Người Anh từ lâu có tập quán đãi khach loại Trà sữa hay Trà Chanh. Cũng theo sữ liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân,Thượng Hải, Quảng Châu.. đã du nhập tập tính uống Trà của người Tàu về bản quốc. Hằng tháng để kịp có Trà, nhiều cuộc đua gọi là Ðua Trà, bằng thuyền buồm, chở các loại trà quý từ Trung Hoa sang Luân Ðôn rất hào hứng.
Tại VN : Mỗi năm xuất cảng trên 10.000 tấn khắp thế giới, được trồng nhiều loại trên một diện tích 89.000 hecta tại Sơn La, Yên Bai, Lào Kai,Tuyên Quang,Thái Nguyên, Nghệ An và Lâm Ðồng.
Tại Hoa Kỳ : Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng xứ Cờ Hoa tiêu thụ cả chục triệu tấn trà,bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa,kem, chanh. 9 Tra -Thien su NhatNgười Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh và làm tan mỡ, gọi là Herbal Tea.
Tại Nhật : Việc uống trà tại Nhật đã có từ lâu đời và theo thời gian đã trở thành một triết thuyết của Thiền giới. Ðây là một hình thức huấn luyện các Trà Ðồ hướng về nẽo Thiền lý, đi tìm chân, thiện, mỹ trong thế giới tĩnh tại và tự nhiên của tâm hồn. Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Ðạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Nơi uống trà gọi là trà thất làm bằng gổ, nằm giữa một khu vườn đầy lá hoa có các lối nhỏ trãi đá sỏi dẫn tới.Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.
2/- CÁC LOẠI TRÀ :
Cây Trà có tên khoa học là Camelia Sinencis, là một trong những thực vật thuộc Họ Theacae, lá xanh tốt quanh năm và hoa thì màu trắng. Sau năm năm, cây Trà được coi là trưởng thành và cho hoa lợi liên tiếp trong hai mưoi lăm năm hay lâu hơn nữa tuỳ theo sự chăm sóc và tưới bón của nhà nông. Thông thường cây trà có độ cao tới hàng chục thước nhưng để tiện dụng cho phu hái trà, người ta phải cắt tỉa thường xuyên để thân cây đạt độ cao tối đa từ 1-1,50m. Riêng những cây già thì cắt ngang thân để mầm non nẩy chồi mới và theo phương pháp này, trà đạt tuổi thọ hơn một thế kỷ là sự thường.
9 Tra 4Ðể bảo quản tốt vườn trà, thường các cây bị sâu thì phải nhổ bỏ vì trà kỵ thuốc trừ sâu rầy, cũng như không tốt đối với loại phân hoá học, mà chỉ thích ứng với loại hửu cơ hay bã đậu nành. Mùa hái trà thường vào tiết thanh minh vì thời gian này, mùa đông đã đi vắng, khắp nơi nàng xuân trở về với vạn vật trong lành, khí trời ấm áp, nắng hanh nhè nhẹ đủ cho muôn hoa ngàn lá trong đó có cây trà xanh tốt, ươm hoa nẩy lộc đầy cành . Ở Trung Hoa cũng như VN, vườn trà thường được lập trên các vùng đồi thấp, làm thành các bậc thang. Người hái trà làm việc ngay từ sáng sớm khi những giọt sương mai vừa tan theo ánh thái dương khẻ rọi. Theo qui định rất nghiêm ngặt, số lương lá trà được hái tùy theo loại, chẳng hạn như trà xanh thì ngắt hai lá, còn trà Ô Long tới ba lá to và một búp..
Trà đem về hong ngoài trời cho héo sau đó đem ủ, sấy và biến chế làm trà sống. Ngoài ra bên Tàu còn có những vườn trà cấm được công an canh phòng cẩn mật, chuyển sản xuất trà quý cho các Hoàng Ðế đỏ tại Tử cấm Thành ở Bắc Kinh. Tại Tây Hồ, Hàng Châu nơi chuyên sản xuất trà Long Tỉnh, mùa trà kéo dài từ tháng 3-10, mỗi cây hái mỗi kỳ độ 20-30 lần và thời gian cách nhau 10 lần, mục đích hái lá trà toàn búp non. Tóm lại xưa nay, người Tàu có bốn vùng sản xuất trà khác nhau như TRÀ XANH trồng tại Giang Bắc (phía tả ngạn sông Hoàng Hà) và Giang Nam (vùng giữa Hoàng Hà và Dương Tử).9 Tra 2 Lĩnh Nam (Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Ðông, Quảng Tây) có trà Ô LONG và Vùng Tây Nam (Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên.. chuyên sản xuất TRÀ ÐEN và TRÀ BÁNH có nước màu tía đỏ.
Tổng kết các loại từ trà lá, trà búp, trà xanh, trà đen, trà bột, trà hạt,trà cám, trà mộc.. tới trà uớp hoa.. nay có tới hơn 1000 loại, nếu không phải là người sành điệu thì dễ gì phân biệt. Giống như Rượu các loại, trà ngon hay dở đều tuỳ vào cách ủ ( Oxidation) và thời gian lâu hay mau., để có hương vị và màu sắc mong muốn. Các loại trà Nhật, Long Tỉnh, Bích Loa Xuân.. là loại trà xanh ủ ngắn hạn. Loại trà ủ trung bình có Bạch Hào Ngân Châm, Bao Chủng, Ðộng Ðình, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên, Vũ Di, Ô Long của Trung Cộng, Ô Long Ðài Loan. TRÀ ÐEN là loại trà hiện nay được các nước Âu Mỹ ứa thích, được ủ trong thời gian rất lâu.
Thú uống trà hiện nay được phổ quát khắp thế giới và trong mọi tầng lớp, nên trồng và chế biến Trà đã trở nên một kỹ nghệ quan trọng nhất là tại các nước Á Châu như Trung Cộng, Ðài Loan, Nhật Bản, VN, Cao Ly.. Trà ngon nổi tiếng là loại trà đã phải trải qua 10 giai đoạn chế biến, gồm có Trà Bắc-Thái của VN, trà Sâm Cao Ly, Thiết Quan Âm (Ly Sơn,Ðài Trung, Ðài Loan), Ô Long (Núi Phổ Ðà,Trung Hoa, trên một rặng núi có cao độ hơn 2100m) nhưng đặc biệt nhất là trà Vũ Di, mọc trên một rặng núi rất cao lại vô cùng hiểm trở, người thường không thể leo tới để hái nên phải cho khỉ hút thuốc phiện rồi luyện tập chúng thành những chuyên viên hái trà như người.
Ngoài ra theo khách sành điệu cũng như các bậc thầy về trà, thì việc uống và thưởng thức trà , đều đồng tình rằng muốn đạt được tuyệt đỉnh không những phải nhờ phẩm chất mà còn phải nhờ loại nước và cách pha trà, như Nguyễn Tuân thuở sinh thời đã luận là đã phải hứng những giọt sương đọng trên lá sen làm nước pha trà. Trong bài thơ “ Văn tế kim nhân phúng lộ bàn” của Tiết Phùng, có kể chuyện vua Hán Võ Ðế thuở xưa , đã cho dựng một cột bằng đồng cao 20 trượng , trên có một tượng người bằng vàng đưa tay hứng sương dùng làm nước pha trà.
Trong “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân có giới thiệu về những chiếc ấm đất quý báu dùng để pha trà, cho tới những chén uống trà nhỏ nhắn đủ loại mà khách sành điệu gọi là chén tống, chén quân..9 Tra -Thien su Hoa Về ấm trà thì hơn trăm năm về trước trên đất Bắc, đã phát sinh lời truyền tụng “ thứ nhất Thế Ðức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần. Tất cả các loại trên đều là ấm Tàu, cũng giống nhu ấm Nghi Hưng nổi tiếng từ lâu đời.
Nghi Hưng là một huyện kế cận thành phố Thượng Hải, thuộc tỉnh Giang Tô, tại đây có một loại đất sét đặc biệt , chứa nhiều thạch anh, mica, sắt.., dùng để nung các ấm trà không tráng men, gọi chung là ấm tử sa (Unglazed-Purple sand), thường có ba màu : tía đỏ, vàng sậm và nâu đen. Ngoài ra ở đây còn có loại đất sét khác màu trắng và màu xanh nước biển rất hiếm hoi. Theo sách Trà Kinh của Lục Vũ, thì ấm Nghi Hưng hay Tử Sa là những tuyệt tác phẩm nghệ thuật của Trung Hoa với đủ loại kiểu cách, dung lượng dùng để độc ẩm, song ẩm hay quần ẩm, chứng tỏ sự khéo tay và óc sáng tạo độc đáo của các nghệ nhân nghệ sĩ.
3/- NỀN VĂN HÓA UỐNG TRÀ :
Uống trà là một nghệ thuật có tính cách văn hoá và xã hội. Thời gian uống trà cũng là một thái độ tĩnh tâm và tu luyên, giúp cho cuộc sống thêm thư giản và quên bớt phiền nảo, bon chen, cho nên xưa nay đã trở thành những nghi thức hay tôn giáo gần như khắp thế giới.
Ðấu trà : Theo Thái Vĩnh Chương, một chuyên gia nổi tiếng về trà của Ðài Loan, thì môn đấu trà của người Tàu, bắt đầu từ đời nhà Tống, sau đó bành trường sang Nhật Bổn thành môn Ðoán Trà. Ðây không phải là cuộc thi đấu võ thuật, thuần tuý chỉ có đấm đánh mà thôi, trái lại Ðấu Trà là một cuộc thi đòi hỏi thí sinh phải có thực tài và sự hiểu biết cao thâm chẳng những về trà, mà còn phải tinh thông đủ tính, y,lý, đạo làm người khiêm thụ ích mản chiêu tốn, tức là người khiêm tốn luôn thu được lợi ích còn kẻ tự mãn chỉ chuốc lấy tổn hại. 9 Tra 1Tóm lại đấu trà tại Trung Hoa với tất cả các loại trà, còn đoán trà ở Nhật Bản chỉ với trà xanh mà thôi.
Nước Tàu khi xuân về Tết đến, tiết trời ấm áp êm dịu, làm cho những đồi chè cây bắt đầu trổ lá non mơn mởn, cũng là lúc khắp nơi người ta nô nức mở hội đấu trà. Có hai cách thi đấu, thứ nhất là thi pha trà và thứ hai là thi nhận loại trà . Nói chung thì thi loại nào chăng nửa, thí sinh phải đạt tới mức thượng thừa về trà, mới mong chiếm giải.
Trong cuộc thi, trước hết Ban giám khảo đưa cho thí sinh xem trươc năm mẫu trà. Sau đó bí mật pha chế thành nhiều chén trà để các thí sinh nhắm và đấu với nhau, cũng như bình phẩm để phân loại trà theo các hạng tùng, trúc, mai, lan, cúc. Tuy nhiên điểm then chốt của cuộc thi vẫn là miêu tả trà qua hương sắc, mùi vị, từ đó cho biết độ lên men, cách sao tẳm, lá chè già non và xuất xứ của trà. Thời xưa trong các cuộc đấu trà, còn có phần ngâm thơ, phổ nhạc.
Hiện nay tại nước này còn lưu trữ một bài thơ truyền khẩu về “Ẩm Trà“ : đại khái như sau ”một chén trơn môi trơn cổ, hai chén hết nổi cô buồn, ba chén tuy cạn nguồn thi hứng nhưng vẫn còn ngàn vạn quyển, bốn chén vả mồ hôi nhẹ, bình sinh mà không bình sự, năm chén gân chén thanh sạch, sáu chén thông đạt diệu linh, bảy chén như bổng như bay..” Những điều trên cho thấy cổ nhân nghiện và thích thú trà đến mức nào.
Tr phu nu Nhat 2Thi pha trà : Yip-Wai-Man hiện được người Hồng Kông tôn xưng như là một bậc thầy trong việc thưởng thức và thi pha trà, khi sự kiện này được nâng thành một nghệ thuật Trước năm 1997, Hồng Kông là nhượng địa của người Anh và từ đó nơi miền đất này người Anh được nổi tiếng là một trong những dân tộc trên thế giới thích uống trà nhất. Tuy nhiên về cách pha chế và thưởng thức thì người phương đông sành điệu hơn và họ đã tạo thành một nền văn hóa trà độc đáo.
Ðối với một số người Hồng Kông sành điệu, thì việc pha trà là cả một nghệ thuật hay nói đúng hơn đó là thứ đam mê của cả đời người., dĩ nhiên cái giá để thỏa mãn cái thú đam mê trên là sự tốn kém, khi mua sắm các loại trà nổi tiếng như Thiết Quan Âm rất mắc mõ, cũng như các loại bình, ấm, chén khay dùng trong việc uống trà, nhất là tại hòn đảo giàu có này.
Thật ra thi pha trà đã phổ biến từ đời nhà Tống, do các quan lại trong triều, các nho sĩ và những thương nhân đua tài. Quy luật của cuộc thi rất nghiêm ngặt, nhiều nhà giàu còn dùng cả những chiếc muổng bằng vàng để khuấy trà. Tại Hồng Kông ngày nay, cuộc thi pha trà thường được các tổ chức công tư bảo trợ và được sự tham dự đông đảo của mọi tầng lớp kể cả học sinh, nhằm mục đích trao đổi sự hiểu biết và các kỹ thuật liên quan tới trà.
Ngày 12/7/1997 có 12 thí sinh đã lọt vào chung kết cuộc thi pha trà tại Hồng Kông, thật là gay go, mỗi người chỉ có 15 phút vừa để pha ba lần trà. Sau đó là cuộc sát hạch về kiến thức, lịch sữ và triết lý trà. Ðiểm chấm để xếp hạng căn cứ vào bốn yếu tố như hương vị trà, kỹ thuật pha chế, bộ đồ trà và phong độ của thí sinh. Hội đồng giám khảo gồm 10 chuyên gia về trà ở Hồng Kông, Nhật Bản, Ðài Loan, Trung Hoa Lục Địa và Tân Gia Ba.
Có ba giải đồng hạng nhất với tiền thưởng và các tài vật trị giá tới 68.000 tiền Hồng Kông, hạng nhì 38.000 và hạng ba 18.000. Theo chuyên gia Yip thì người Hồng Kông đam mê trà thường pha chế theo cách tổng hợp giữa Trung Hoa và Anh. Riêng những người già thì sau khi uống trà xong, họ ăn luôn xác trà gọi là rau đắng. Ngoài ra người Hồng Kông còn xào lá trà với gừng và hành tươi làm món súp trà. Tóm lại trà đã trở thành một triết lý sống tại đây và dã có nhiều câu lạc bộ chuyên về trà ra đời với đông đảo hội viên. Tr Samurai 2Cũng đã có một nhà bảo tàng chứa đủ tài liệu cùng các vật dụng liên quan tới trà.
Trà lễ, bước đầu rèn luyện sự khổ hạnh tại Nhật : Người Nhật gọi nghi lễ dùng trà là Chanoyu, ca tụng cái đẹp giữa sự hài hoà từ thiên nhiên cùng tính khắc khổ của con người. Ðây là trà đạo và đối nhiều phụ nữ Nhật cũng là một nghề nghiệp chuyên môn khổ luyện mới đạt được vì những động tác của trà lễ là một hệ thống chặt chẽ, song hành với cách ăn vận bộ quốc phục Kimono truyền thống cùng cách cắm hoa. Trước khi hành lễ, các đệ tử phải cúi đầu sát đất để chào một cây quạt đặt ngay ngạch cửa, vì vật này tượng trưng cho thanh kiếm của các võ sĩ đạo ngày xưa, đặt trước trà đình khi hành lễ.
Theo Nhật sữ thì chính một thiền sư của Trung Hoa tên Eichu đã mang trà đạo vào nước này từ thế kỷ thứ XV. Suốt bao thế kỷ, trà đạo chỉ dành cho nam giới, qua các thành phần tu sĩ, qúi tộc, thương nhân cùng chiến binh. Mãi tới thời Minh Trị Thiên Hoàng mới được mở rộng cho nử giới nhưng đồng thời cũng bị đe dọa trước sự hội nhập của nền văn minh cơ khí Tây Phương.
Ngày nay qua cuộc sống bon chen từng giờ để kiếm sống và đoạt vị, nam giới Nhật hầu hết không còn thời gian để nghĩ tới trà đạo, mặc dù nó là một môn học bắt buộc tại các trường Trung Học. Cũng do nghề trà đạo kiếm rất nhiều tiền, nên luôn có những lớp học riêng tại nhà, 9 Tra 3đa số do nữ nhân giảng dạy, học viên cũng được tuyển chon theo quy luật truyền thống và rất hạn chế, nhằm bảo đãm phẩm chất của trà đồ khi ra đồi hành đạo.
Tuy nhiên dù muốn dù không, đỉnh cao của trà lễ vẫn còn nằm trong tay nam giới. Ðó là những đại danh sư, có thẩm quyền trong việc cấp bằng tốt nghiệp môn Chanoyu cho giáo viên, hầu hết đều ở Tokyo, bằng một giá cắt cổ. Có vậy những người tốt nghiệp mới được phép hành nghề. Ðiều cũng đáng vì các đại danh sư hiện nay toàn là hậu duệ của Tổ sư môn Chanoyu, từ thế kỷ thứ XV là Sen Rikyu. Ông sống vào thế kỷ XVI, phục vụ cho lãnh chúa lừng lẫy lúc đó là Toyotomi Hideyoshi, người đã dựng lên một trà đình ngay tại chiến trường với các nghi thức trà lễ, giống như thuở trước,
Trương Lương dùng tiếng sáo đánh tan quân của Bá Vương tại Cai Hạ. 9 Tra 5Ở đây đich quân cũng xao xuyến và nản lòng trước hương vị của trà. Năm 1585, lãnh chúa Hideyoshi được Thiên Hoàng bổ nhiệm làm tể tướng, nên ông này lại cử thiền sư Sen Rikyu làm chủ tế buổi trà lễ cho nhà vua tại một trà đình xây bằng vàng . Nhưng sau đó không hiểu vì lý do gì, lãnh chúa Hidoyosho bị tẩu hỏa nhập ma và kết tội Rikyu đã đầu độc, nên bắt thiền sư phải tự xữ bằng cách mổ bụng chết.
Tóm lại khi mọi người bước vào thế giới tĩnh lặng của trà lễ, thì họ chỉ còn là những chiếc bóng đã tự rũ bỏ lại bên ngoài tất cả. Trong suốt thời gian thiền vị, bên bình trà bột xanh, các trà đồ trong tư thế đặc biệt đã thực hiện được cái đẹp thực sư bằng cái triết lý hòa hợp giữa chân, thiện, mỹ thuần khiết. Thật vậy trong trà thất cô tịch, bên ngoài các đoá hoa anh đào đang lao xao đâm chồi dưới bầu trời lạnh băng tuyết phủ của mùa đông, thế nhân như thoát tục giữa lúc nhắp từng ngụm trà màu hổ phách nóng hổi, đựng trong các chén sứ trắng tinh xinh xắn, khiến cho người quên người,quên đời, quên hết dục vọng mà đắm mình trong không gian và tâm hồn tĩnh lặng như mặt nước hồ thu lúc yên bình.
Với người Nhật, trà đạo là một tôn giáo không có giới hạn, hận thù mà là một cách tu luyện khổ hạnh của triết môn thần học về thực hành, tạo tinh không đối xứng trong trí tưởng , gần giống như thiền học, qua nghệ thuật linh cảm, nên rất hợp với phụ nữ Nhật trong thế giới xô bồ hiện tại /
Kiều Đắc Thềm chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/1/2014

CÂY CẢNH ĐÓN LỘC CẦU MAY



Chuc nam moi 3CÂY CẢNH

ĐÓN LỘC CẦU MAY

Theo phong thủy, một số loài cây trồng trong nhà không chí có tác dụng trang trí và làm thanh lọc không khí mà còn có thể mang lại tài vận dồi dào cho gia đình của bạn.
1/. Cây thạch lựu : Trong phong tục tập quán, cây thạch lựu được coi là “ thạc lựu bách tử”, là tượng trưng của “đa tử đa phúc” (nhiều con nhiều phúc). Trên thực tế, hoa và quả thạch lựu màu đỏ như lửa, quả lại có thể giải khát chống say, có giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng, vì vậy nó đã trở thành cây được trồng trong vườn của nhiều nhà.
Trong phong thủy, các gia đình hay trồng cây thạch lựu ở trước nhà bởi họ tin rằng, cây thạch lựu luôn mang điều may mắn và tốt lành đến cho gia chủ.
2/. Cây kim tiền : Kim tiền thuộc cây cảnh họ thiên nam tinh, sống lâu năm, xanh tốt. Thân cây to khỏe, nằm dưới mặt đất, trên mặt đất không có thân chính; mầm nảy nhiều và hình thành nhiều thân nhỏ. Lá kép dạng to, cuống ngắn, chắc khỏe, màu xanh lục, sáng bóng rất đẹp, có tuổi thọ khoảng 2 – 3 năm và được thay thế không ngừng. Chính vì vậy kim tiền được coi là cây “phát” – kim phát tài. Trong môi trường tự nhiên, kim tiền phát triển rất nhanh, có thể thành cây có bóng râm to cao. 9 Cay canh 1Nếu cột lên cây vài sợi chỉ đỏ hoặc vài đồng tiền vàng (tượng trưng) thì sẽ trở thành cây phát tài, có ý nghĩa về mặt phong thủy và rất đẹp mắt.
Được coi là loại cây phú quý, có tác dụng chiêu tài nên kim tiền rất thích hợp làm quà tặng trong những dịp mừng lễ, tết, thăng chức, khai trương. Bạn hãy chọn cây có thân xanh tươi, dày chắc, phiến lá hoàn chỉnh. Những cây đã nở hoa sẽ mang lại nhiều “lộc” nhất. Nên bày cây ở hướng Đông, Đông Bắc trong nhà ở, phòng hội họp, văn phòng, nhà hàng, khách sạn.
3/. Cây phất dụ : Cây phất dụ còn được gọi là cây phát tài (do cách đọc của người Trung Quốc : phất dụ đồng âm với phát tài), trong phong thủy, đây là loài cây mang lại may mắn cho gia chủ.
Cây phất dụ có hơn 20 loài cùng họ ở Việt Nam, trong đó, gần như cây nào cũng mang lại may mắn, phát tài đúng như tên gọi của nó : Phất dụ xanh – biểu tượng của may mắn; phất dụ thơm – là cây thiết mộc lan, thơm về đêm; phất dụ rồng – còn goi là huyết rồng, còn dùng làm thuốc chữa bệnh; phất dụ lá hẹp – còn gọi là bồng bồng, thường dùng làm bánh; phất dụ trúc – xua đi vận đen, còn gọi là trúc thiết Quan Âm…
9 Cay canh 2Trồng cây phất dụ (phát tài) không nên trồng trong nhà vì lá cây này nếu dùng trong nhà nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe, tuy nhiên, một chậu cây nhỏ thì không ảnh hưởng lắm. Bạn nên trồng phất dụ ở phía Đông hoặc Đông Nam ngôi nhà – khu vực đại diện cho Mộc và là nơi có ánh sáng thích hợp cho cây.
Theo một số quan niệm, người ta thường mua phất dụ theo các cành có số lượng như sau : 3 – cho sự hạnh phúc; 5 – cho sức khỏe; 2 – cho tình duyên; 8 – cho tài lộc; 9 – cho thời vận. Điều cần lưu ý là phải chăm chút cho cây luôn xanh tốt thì mới đạt được hiệu quả về mặt phong thủy.
4/. Cây quất, quýt : Theo âm hán của từ “quất” gần giống âm của từ “cát”, cây quất thường được chọn để tranh trí trong nhà vào ngày Tết. Người ta thường chọn những cây lá xanh tốt, quả vàng đều, sai quả thể hiện sự phù trú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống. 9 Cay canh 3Do đó, mỗi khi Tết đến xuân về, nhà nhà đều bài trí cây quất với hy vọng mang lại niềm vui và may mắn cả năm cho gia đình.
Trong kinh doanh, đặt cây quất ở văn phòng hay cửa hàng sẽ mang lại cát khí lớn, sự đầu tư sáng suốt và thu được nhiều tài lộc. Cây quất còn là biểu tượng của sức khỏe, bình an, trường thọ và sự may mắn trong tình duyên.
5/. Cam hoặc chanh cảnh : Cây cam hay cây chanh cảnh có nhiều quả chín nặng trĩu tượng trưng cho sự thịnh vượng và tài lộc của gia đình. Những cây này thường trồng ở trước cổng nhà hoặc trước cổng công ty trong những ngày đầu năm tượng trưng cho sự phát triển tài lộc.
Theo quan niệm của người Trung Hoa, những quả cam chín vàng tượng trưng cho vàng, vì chữ “cam” phát âm là “kim” tức là vàng. Vì vậy, nếu trang trí những vật dụng có nhiều màu cam, vàng rực rỡ trong nhà vào những ngày đầu năm sẽ ngụ ý mạng lại nhiều tài lộc. Điều này giải thích nguyên nhân vì sao mỗi dịp tết đến, chúng ta thường mua một chậu cam có nhiều quả chín vàng để bầy trong nhà.
Nếu bạn trồng một cây cam hoặc cây chanh cảnh thì tốt nhất nên trồng ở hướng Đông Nam, bởi vì hướng tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng. Nếu cây sai quả có thể mang lại may mắn và đại cát, đại lợi.
6/. Cây bách : Cây bách có ý nghĩa chỉ những con người đức độ. Trong quan niệm dân gian, “bách” nghĩa lá 100, là con số cao nhất, nhiều và toàn vẹn, có ý chỉ đại cát.
Theo phong thủy, cây bách còn là loại cây mang lại sự trường tồn, cuộc sống dài lâu. Vì vậy, loại cây này rất thích hợp để làm quà biếu tặng cho những người lớn tuổi.
9 Cay canh 47/. Cây ngọc bích : Ngọc bích có nguồn gốc từ châu Á. Dựa vào ứng dụng phong thủy của Trung Quốc cổ đại, cây ngọc bích được đặt đúng vị trí mang lại sức khỏe và sự may mắn.
Với đặc tính rất dễ nhân giống, chỉ cần lấy một chiếc lá đặt xuống đất ẩm nó sẽ nảy mầm mọc thành cây mới, ngọc bích còn là biểu tượng của sự chia sẻ và tình bạn. Ngoài ra, cây ngọc bích còn được gọi là cây thường xanh. Ở rất nhiều nước, cây thường xanh biểu tượng cho tuổi trẻ vĩnh hằng. Đây là loài cây không ưa nước, do đó hãy để chúng trong nhà thoáng mát, đủ ánh sáng và nơi có nhiệt độ ban đêm thấp.
Lá ngọc bích có hình trứng, nhỏ như đồng xu, mọng nước. Là loài lá nhỏ nên ngọc bích được coi là cây thuộc hành Kim, do đó nên đặt chúng ở hướng Tây hoặc Tây Bắc. Nếu đặt chúng ở hướng Đông Nam (khu vực tài lộc) thì năng lượng Kim của nó sẽ xung khắc với năng lượng Mộc ở hướng đó.
Các thương gia Trung Quốc tin rằng, ngọc bích có tác dụng chiêu tài do vậy họ sẽ thường đặt nó ở bên quầy thu ngân, máy đếm tiền… Có người lại bài trí cây tại lối đi vào các cửa hàng, cửa hiệu nhằm kích hoạt năng lượng chủ về tài lộc. Ngọc bích còn có tác dụng tốt về mặt sức khỏe, vì thế có thể đặt cây ở bên cửa sổ ngôi nhà bạn.
9 Cay canh 58/. Cây thanh long : Thanh long là một loài cây hay được trồng để lấy quả, thuộc chi họ xương rồng. Người ta cho rằng nó có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ. Nó cũng được trồng ở các nước như Trung Quốc, Đài Loan và trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaisya, Thái Lan, Philippines.
Thanh long mang ý nghĩa cát tường và thịnh vượng. Cây thanh long trong nhà vào ngày xuân mang đến phú quý, sức khỏe và vận may cho gia đình. Đây là món quà độc đáo và rất ý nghĩa mà mọi người dùng tặng nhau để nói thay cho lời chúc an khang mỗi dịp xuân về.
9/. Cây đào : Được xem là tinh hoa của ngũ hành, theo phong thủy cây này có thể trị bách quỷ, do đó khi đón năm mới mọi người hay trồng đào trước cửa nhà. Hoa đào còn là biểu tượng cho sự đổi mới và sức sinh sôi phát triển mạnh mẽ.
Ở Trung Quốc, hoa đào còn là biểu tượng cho lễ cưới. Đối với văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với các cô gái trẻ, mảnh mai. Những ai còn độc thân, nếu treo một bức tranh cây đào có quả trong phòng riêng thì người đó sẽ may mắn trong đường tình duyên. 9 Cay canh 6Cũng có thể đặt một bức tượng hình cây đào ở hướng Tây Nam để có vận may yêu đương.
10/. Cây mai : Mai là cây rất quen thuộc. Màu vàng của hoa mai thuộc hành thổ trong ngũ hành. Theo quan niệm của người Việt, Thổ luôn nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng tượng trưng cho sự thịnh vượng và phát triển. Mai từng được người Trung Quốc coi là quốc hoa, ngày nay là mẫu đơn.
Do mọi người cho rằng năm cánh hoa của nó là năm thần cát tường, tượng trưng ngũ phúc : vui vẻ, hạnh phúc, trường thọ, thuận lợi, hòa bình. Do đó, có bức tranh “Mai khai ngũ phúc” cũng phù hợp với âm dương ngũ hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện mong muốn gia đình được may mắn hạnh phúc trọn vẹn.
11/. Cây hòe : cây hòe còn được gọi là cây “lộc”, là một trong ba loại cây được người xưa coi trọng nhất. Họ luôn coi đó là biểu tượng của sự giàu sang phú quý. 9 Cay canh 7Theo điển tích Trung Hoa, ở trước Triều môn mà trồng ba cây hòe là tượng trưng của chức Tam công trong triều đình, vì thế nhân gian hay trồng hòe ở trước cửa nhà với ước mong con cái thành danh sau này. Nếu trồng cây hòe ở phía sau nhà thì lại bị coi như bế tắc công danh.
12/. Cây cọ : Trong phong thủy thì cây cọ có tác dụng sinh tài, giữ của. Vì thế rất nhiều gia đình đã trồng những cây cọ cảnh bên hiên nhà hoặc ở lối đi vào nhà, vừa tạo bóng mát vừa mong muốn ăn nên làm ra.
13/. Cây trúc : Trúc hay cương trúc là một chi thuộc họ nhà tre. Các loài này là thực vật bản địa Châu Á, tập trung nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản nhưng hiện tại đã được trồng làm cảnh rộng rãi ở cả vùng ôn đới hoặc cận nhiệt đới. Trúc thường có thân nhỏ hơn tre, mọc thành các bụi rậm, cao nhất có thể tới 8m, lá cũng nhỏ và thưa hơn tre. Do cây có dáng đẹp, nhỏ nên được dùng làm cây cảnh phổ biến hơn tre.
Cây trúc ngụ ý trời đất thường xuân, trời đất dài rộng. “Trúc” gần âm với “chúc” có ý chỉ chúc phúc tốt đẹp. Theo phong thủy Trung Quốc thường cho rằng, 9 Cay canh 8trước và sau nhà có trúc là đem lại tốt lành cho cả gia đình. Loại cây này tượng trưng cho sự mảnh mai thanh nhã, rất thích hợp với kiểu không gian và phong cách thiết kế khác nhau.
14/. Cây tre : Trong phong thủy, cây tre là một trong những biểu tượng mạnh mẽ của sự trường thọ. Đồng thời cây tre cũng là biểu tượng của tính kiên cường vượt qua mọi nghịch cảnh, khả năng chống chọi với sóng gió của cuộc sống và là biểu tượng của tài lộc.
Trồng tre cảnh là để tăng cường ý nghĩa tốt đẹp trên. Đối với công việc buôn bán, khi có sự hiện hữu của cây tre trong cửa hàng sẽ tạo năng lượng rất tốt có tác dụng bảo vệ và mang lại sự may mắn. Việc làm ăn của bạn sẽ vượt qua những giai đoạn khó khăn và ngày càng phát đạt.
Trong phong thủy, cây tre cũng có nhiều những ứng dụng khác nhau. Nếu không có cây tre bạn cũng có thể dùng hai đoạn tre khác nhau, mỗi khúc khoảng vài đốt, kết hợp nó với những đồ vật trang trí phù hợp với ngũ hành để tạo ra những vật dụng đẹp mắt để trang trí trên lối ra vào. Điều này rất có lợi về mặt phong thủy, giúp việc buôn bán kinh doanh của cửa hàng thu được nhiều tài lộc.
Cây tre cũng mang rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Cây tre là biểu tượng của tuổi thọ bởi nó luôn xanh tốt quanh năm trong bất kỳ thời tiết nào và vẫn có thể phát triển trong những điều kiện rất khó khăn.
Bên cạnh việc trồng tre thì treo một bức tranh vẽ theo lối truyền thống hình dáng cây tre lá xanh tươi trong phòng học hay trong văn phòng làm việc có thể gặp nhiều may mắn trong việc học hành cũng như trong việc kinh doanh.
15/. Cây ngô đồng : Ngô đồng được coi là “cây linh”, có khả năng ứng nghiệm. Truyền thuyết cho rằng cây ngô đồng có thể hấp dẫn loài phượng đến ở là con vật thần kỳ khác lạ. Vì vậy, khi trồng ngô đồng trước nhà sẽ mang lại điều bình yên, may mắn và tốt lành cho gia chủ.
16/. Cây hồ lô : Theo quan niệm của phong thủy, cây hồ lô là loài thực vật có thể xua đuổi mọi muộn phiền. Người xưa thường dùng những đồ đựng có hình dáng “bảo hồ lô” 9 Cay canh 9để có thể ngăn chặn được sự nhiễm các loại sóng và bức xạ từ môi trường.
Hồ lô là vật dụng không thể thiếu để hóa giải hung khí và tăng cường sức khỏe. Dùng quả hồ lô treo bên cạnh giường ngủ hoặc trong phòng ngủ sẽ mang lại bình yên và sức khỏe cho gia chủ, tránh được rất nhiều bệnh tật. Nó còn là công cụ giúp cho tình cảm vợ chồng thêm nồng thắm.
Quả hồ lô đặc biệt thích hợp dùng cho những nhà có trẻ nhỏ hay quấy khóc, treo nó bên cạnh nôi của trẻ sẽ tránh được ốm đau bệnh tật hay hờn khóc.
Hồ lô cũng là quà tặng đầy ý nghĩa cho những gia đình có người ốm đau hay có người già, với hy vọng mang lại sức khỏe và sự trường thọ.
Xuân Mai chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/1/2014

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA CẦN BIẾT VỀ LOÀI NGỰA

NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA CẦN BIẾT VỀ LOÀI NGỰA

image0081. Loài Ngựa Equus ferus gồm 3 loài phụ: (i) ngựa hoang (không thuần hóa) Equus ferus ferus ở vùng Tây Á (Eurasia), còn gọi ngựa Tarpan, đã bị tuyệt chủng vào khoảng cuối thế kỹ 19; (ii) loại ngựa hoang Przewalski (Equus ferus przewalskii) hay Ngựa hoang Mông Cổ, hay ngựa Takhi của vùng Trung Á, sa mạc Golbi, đang có nguy cơ tuyệt chủng; và (iii) loài ngựa nuôi ngày nay (Equus ferus caballus) là do thuần hóa từ loài ngựa hoang nói trên.
 image001
Ngựa hoang Przewalski ở Mông Cổ

Ngoài ra, loài ngựa sống hoang ngoài rừng hay đồng cỏ hiện nay như ngựa hoang Mustang ở Hoa Kỳ, hay Brumbyở Úc, hay nhiều giống ngựa hoang khác, là giống ngựa thuần hóa bởi con người bị sổng chuồng chạy trốn nơi hoang dã.
2.  Bà con gần của loài Ngựa (Equus ferus) trong chi Equus gồm có Lừa (donkey, ass) (Equus africanus asinus), Ngựa Kiang (Equus kiang) ở Tây Tạng, Ngựa Onager (Equus hemionus) ở sa mạc từ Syria đến Ấn độ, 3 loài Ngựa Vằn (Zebra) là Ngựa Vằn đồng cỏ (Equus quagga), Ngựa Vằn Núi (Equus zebra), và Ngựa Vằn Grevy (Equus grevyi).
Trong 7 loài trong chi Equus, chỉ có Ngựa và Lừa được con người thuần hóa. Lừa do thuần hóa từ loài lừa hoang Phi châu Equus africanus. Ngược lại, ngựa vằn chưa bao giờ được loài người thuần hóa để nuôi làm gia súc, vì tính tình bất thường, trở chứng và khó dạy. Cũng vậy, ngựa Onager và ngựa Kiang không dạy được, nên không được thuần hóa bởi con người.
image002
Lừa
image003
và Ngựa Vằn
 image004
Ngựa Kiang Tây Tạng
image005
Ngựa sa mạc Onager
3. Ngựa lai. Ngựa nuôi có thể lai với các loài ngựa khác trong chi Equus, nhưng đều cho con lai vô sinh (sterile), nghĩa là không sinh con được.
Con La (mule) là con lai giữa con Lừa đực và con Ngựa cái; ngược lại nếu cha là Ngựa đực còn mẹ là Lừa cái thì là con Hinny.
Zebroid là từ chung của con lai giữa các loài Ngựa Vằn với nhau.
Zorse là con lai giữa con Ngựa Vằn đực và Ngựa cái. Ngược lại, con lai giữa Ngựa Vằn cái với Ngựa đực thì gọi là Horbra.
Zonkey (hay Zedon) là con lai giữa Ngựa Vằn với Lừa.
Zony là con lai giữa Ngựa Vằn đực và ngựa lùn Pony cái; còn Zetlands là con lai giữa Ngựa Vằn và ngựa lùn Shetland Pony.
Ngựa Kiang có thể cho lai với ngựa nuôi, lừa, onager, ngựa vằn, nhưng con lai cũng vô sinh, như trường hợp con La.
image006
Con Zonkey (lai giữa Ngựa Vằn và Lừa)
4. Con lai giữa các loài ngựa trong chi Equus đều vô sinh. Lý do là con lai có số nhiễm thể lẻ, không thể phân chia trong phân bào giảm nhiễm (meiosis).
Con Ngựa nuôi có 64 nhiễm thể, Lừa có 62, Ngựa Vằn có 32 và 46 (tùy loài). Như vậy, con La (Ngựa x Lừa) có 63 nhiễm thể (số lẻ) nên không phân bào giảm nhiễm được.
Ngựa nuôi có 64 nhiễm thể, chứa khoảng 2,7 tỉ cặp-base DNA (DNA base pairs), nhiều hơn Chó (2,5 tỉ cặp-base), nhưng ít hơn Người (3,2 tỉ cặp-base) và Bò (3 tỉ cặp-base)
5. Ngựa nuôi được tiến hóa trong khoảng 45 tới 55 triệu năm qua từ một loài động vật nhỏ có nhiều ngón chân thành loài ngựa lớn hiện nay, chỉ có một ngón chân. Việc thuần hóa ngựa hoang thành ngựa nuôi bắt đầu cách đây 4000 năm, đặc biệt quy mô cách đây 3000 năm. Việc thuần hóa ngựa thực hiện đầu tiên ở vùng Trung Á nhưUkraine và Kazakhstan.
6. Có rất nhiều từ để gọi con ngựa trong tiếng Anh, tùy theo tuổi và giới tính.
Foal: ngựa con, đực hay cái, dưới 1 tuổi. Ngựa con còn bú, từ lúc sanh đến khoảng 5 tháng, còn gọi là suckling hay nursing foal, từ 5 đến 7 tháng khi bắt đầu biết ăn thì được gọi là weanling.
Yearling: ngựa từ 1 đến 2 tuổi, đực hay cái.
Colt: ngựa đực con dưới 4 tuổi,
Filly: ngựa cái con dưới 4 tuổi,
Gelding: ngựa đực bị thiến,
Stallion: ngựa đực (không bị thiến) trên 4 tuổi,
Mare: ngựa cái trên 4 tuổi,
Thoroughbred: ngựa đua đực (colt) hay cái (filly) dưới 5 tuổi theo định nghĩa của người Anh. Theo người Úc thì dưới 4 tuổi.
7. Chiều cao ngựa đo từ đất đến đỉnh xương u đỉnh vai giữa cỗ và thân ngựa. Đơn vị đo là số lượng “hands” (chiều ngang lòng bàn tay) cộng thêm số “inches” còn lại. Một “hand” dài 4 inches tức 10,16 cm. Ví dụ một con ngựa cao “15.2 h”, có chiều cao 15 x 4 inches + 2 inches = 62 inches hay 157,2 cm.
Chiều cao và trọng lượng ngựa thay đổi theo giống, và điều kiện chăn nuôi. Ngựa cởi (riding horse) cao từ 142 cm đến 157 cm, nặng từ 350 kg đến 600 kg. Ngựa kéo (draft horse) khỏe to lớn hơn, cao 163-183 cm, nặng 700 – 1000 kg.
8. Dòng Ngựa Lùn Pony. Cũng thuộc loài ngựa, nhưng pony là loài ngựa tí hon, thấp hơn 147 cm (< 14.2 hands), có hình dạng khác hơn ngựa thường (chân ngắn, phần bụng giữa chân trước và chân sau khá dài, cỗ ngắn và thô, đầu ngắn, trán rộng), tính tình hiền hậu, thông minh. Ngựa Shetland Pony chỉ cao 102 cm.
 image007
Ngựa lùn highland pony
9. Màu sắc. Ngựa có nhiều màu sắc và mang nhiều từ để mô tả. Ngựa bạch (toàn màu trắng), ngựa kim (trắng chen ít đen), ngựa ô (đen tuyền), ngựa khứu (đen pha tí đỏ), ngựa hởi (đen pha nhiều đỏ), ngựa vang (đen pha đỏ tươi), ngựa hồng (đen pha đỏ đậm), ngựa đạm (trắng đen pha chút đỏ), ngựa tía (tím đỏ pha đen), ngựa vằn (trắng sọc đen).
Khoa học cho biết có 13 alleles khác nhau chi phối màu sắc và sọc của lông ngựa. Màu căn bản “đỏ” (chestnut) và “đen” chi phối bởi Melanocortin 1 receptor, theo đó màu “đỏ” mang liệt tính, và “đen” ưu tính. Ngoài ra, còn có nhiều gen khác làm giảm bớt ưu tính của “đen”, nên tạo ra một dải màu từ đen đậm (ô) đến xám.
Màu trắng (ngựa bạch) cũng thay đổi theo tuổi, thường thấy ở ngựa trung niên, hóa ra xám khi già hơn. Khi nhỏ, ngựa có lông xám có màu đậm hơn, khi lớn có màu sáng hơn, trắng hơn, nhưng vẫn giữ màu đen ở chân lông.
10. Tuổi thọ. Tùy theo giống, môi trường sống và cách nuôi, đời sống trung bình của ngựa nuôi là 25-30 năm. Ngựa thọ kỹ lục ghi trong Guinness Book tên Sugar Puff, chết năm 2007 ở tuổi 56, và ngựa tên Old Billy chết ở tuổi 62 trong thế kỹ 19.
11. Sinh dục. Chu kỳ động (rượng) đực (estrous cycle) của ngựa cái khoảng mỗi 19-22 ngày, xảy ra từ đầu mùa xuân đến mùa thu. Trong mùa đông, hiện tượng rượng đực không xảy ra. Ngựa con mới 18 tháng tuổi có khả năng tình dục và sanh đẻ (có lẻ vì vậy mà có thành ngữ “đĩ ngựa”), nhưng thông thường cho ngựa nhảy đực khi quá 3 tuổi. Bốn tuổi mới thật sự trưởng thành ở loài ngựa. Ngựa mang thai 320-370 ngày, trung bình 340 ngày, thì đẻ. Đẻ một con, rất hiếm khi sanh hai. Thông thường sanh vào mùa xuân. Vài giờ sau khi sanh, ngựa con chạy nhảy được. Ngựa con bú mẹ, sau 4-6 tháng thì bắt đầu ăn.
12. Ruột ngựa. Ngựa ăn cỏ và nhiều loại thực vật khác, ăn suốt ngày. Ngựa có bao tử tương đối nhỏ (so với thân thể), nhưng có bộ ruột rất dài,quấn kế nhau (chứ không “thẳng như ruột ngựa” như theo thành ngữ Việt). Một con ngựa nặng 450 kg mỗi ngày ăn 7-11 kg thực phẩm, uống 38-45 lít nước. Ngựa không thuộc nhai lại (như con bò), chỉ có một bao tử, nhưng khác với người là ngựa có khả năng tiêu hóa cellulose. Ngựa không biết nôn mửa, nên khi bị ngộ độc có thể bị chết dễ dàng.
13. Ngũ quan. Vì có nhiều loài thú ăn thịt sát hại sống chung quanh, để sinh tồn nòi giống, ngựa tiến hóa với ngũ quan phát triển đề cao cảnh giác thù địch.
Ngựa có mắt lớn nhất trong loài động vật có vú, mắt nằm hai bên mặt, nên có một nhản quan rộng thấy hơn 350°, mắt tinh thấy rõ ban ngày cũng như ban đêm, nhưng thuộc loại nhị sắc (dichromatic), tức là chỉ nhận định được khi màu chứa không quá hai quang phổ (spectral lights), ngựa không phân biệt được màu đỏ và màu xanh, màu nào có chứa quang phổ đỏ thì ngựa thấy nhòa lẫn với màu xanh.
Khứu giác ngựa nhạy tốt hơn người, nhưng thua loài chó. Đặc biệt ngựa rất nhạy cảm với dầu thơm, đàn bà không nên xức dầu thơm khi gần ngựa, vì làm chúng trở nên rượng đực hay cái. Ngựa có tới 2 cơ quan khứu giác, một ở mũi giúp phân loại mùi, cơ quan thứ hai cũng trong mũi tên Vomeronasal organs hay Jacobson’s organs. Hai hệ thống thần kinh nối tới óc, có nhiệm vụ phân tích các mùi hormones kích động (pheromones), như mùi của thức ăn, mùi của thù địch sát hại, hay mùi tình dục của ngựa đối ngẫu.
Thính giác của ngựa rất tốt, vành tai ngựa có thể xoay 180°, hai tai xoay ngược nên có thể nghe 360° mà không cần quay đầu. Âm thanh có thể gây bực bội cho ngựa. Ngựa thích yên tỉnh, chịu đựng được nhạc êm dịu, nhưng khi bắt nghe nhạc kích động như Jazz, nhạc rock  thì chúng trở nên cáu kỉnh. Khuyến cáo là không nên cho ngựa nghe nhạc, dầu êm dịu, có cường độ trên 21 decibels. Nghiên cứu ở Úc cho thấy ngựa đua nghe radio nói bình luận thường bị bịnh lở bao tử nhiều hơn ngựa nghe âm nhạc, hay không nghe radio.
Xúc giác ngựa rất tốt, chúng cảm nhận những động chạm nhẹ như côn trùng bay đậu lên thân. Phần cơ thể cảm nhận nhất là chung quanh mắt, tai và mũi. Ngựa có giác quan giữ thăng bằng rất cao, một phản xạ giữa cơ thể và chân, nên ngựa ít khi té ngã.
Vị giác cũng rất phát triển, lưỡi phân biệt được loại cỏ nào thích ăn, loại nào không nên ăn, loại nào có độc tố. Lưỡi ngựa có khả năng lừa bỏ, như với hạt thức ăn thật nhỏ nó không thích.
14. Móng ngựa. Ngựa quan trọng ở móng, cần chăm sóc kỹ. Móng ngựa có thành phần cấu tạo như móng tay móng chân người, bao quanh bởi chất sụn và nhu mô mềm có chứa máu. Sức nặng con ngựa đè lên 4 móng này, khi đứng hay chạy. Cũng như móng tay người, móng ngựa cũng tăng trưởng dài.  Ở ngựa hoang, con ngựa phải chạy nhảy nhiều để tự làm mòn móng cho thích hợp đều kiện đất đá nơi chúng sống. Ngược lại, ở ngựa nhà cứ mỗi 5 đến 8 tuần   chủ ngựa phải cắt cắt giũa móng ngựa. Để bảo vệ móng ngựa, nhất là trên nền đất đá lởm chởm, cứng, ngựa được đóng móng sắt, và thỉnh thoảng cũng phải cắt giũa móng lại.
15. Cử động. Có rất nhiều từ mô tả động tác đi hay chạy của ngựa: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, v.v.
Tựu trung, có 4 cách đi chạy căn bản ở ngựa: đi chậm (four-beat walk) với vận tốc 6,4 km/giờ; chạy nước kiệu (two-beat trot or jog) với vận tốc 13-19 km/giờ; phi (canter, lope, a three-beat gait) với vận tốc 19-24 km/giờ; và phi nước đại (gallop) với vận tốc trung bình 40-48 km/giờ, nhưng khi nước rút trong ngắn hạn có thể tới 88 km/giờ.
Trong Anh ngữ, ngoài 4 cách đi chạy căn bản trên, còn có rất nhiều từ mô tả khác rất khó dịch tương ứng với tiếng Việt, như “two-beat pace”, “four-beat ambling“, “rack”, “running walk”, “tölt” hay “diagonal fox trot”, v.v.
16. Tánh nết. Ngựa có rất nhiều thù địch chung quanh rình rập ăn thịt như cọp, sư tử, beo, gấu, chó sói, v.v. và người, vì vậy chúng có phản ứng chống trả hay tẩu thoát. Khi cảm thấy bị đe dọa, ngựa kinh hoàng, ngẩng đầu cao, hai tai vểnh sang hai bên, thấy kẻ thù nguy hiểm thì chạy trốn. Nếu không chạy kịp, hay có ngựa con bên cạnh thì nó đứng dựng lên, sẳn sàng chiến đấu. Trong trường hợp nghi ngờ, phân vân thì một tai hướng về phía trước, tai kia hướng về phía sau để quyết đoán có kẻ thù hay không. Khi hoảng sợ thì đá hậu, tức giận thì dướn miệng, nhe răng, tai cụp về phía sau. Loài ngựa có cách giao cảm với đồng loại qua một loại âm thanh phát từ miệng như thở phì trong lúc đầu gật lên gật xuống (tỏ sự hoan hỉ), hay thở dài như cằn nhằn (chán ngán trở lại làm việc), chân đập vào đất (đòi ăn), hí dài (báo động nguy hiểm), hai con kề sát nhau, liếm lông âu yếm (tỏ sự yêu thương), v.v.
17. Tính khí. Trong từ ngữ chuyên môn về ngựa, ngựa được phân loại “ngựa máu nóng” (hot-bloods), “ngựa máu lạnh” (cold-bloods), “ngựa máu ấm” (warm-bloods), không phải dựa trên thân nhiệt, mà dựa trên tính khí và năng lượng của ngựa.
“Ngựa máu nóng” là các dòng ngựa phương đông như ngựa Á Rập (Arabian horse), Akhal-Teke (ở Turkmenistan), Barb (ở Bắc Phi), ngựa Thoroughbred (tuyển từ ngựa phương đông) của Anh. Ngựa máu nóng dễ dạy, can trường, tính khí tốt, khôn, chạy nhanh và linh động. Thân thể cân xứng, mỏng da, và chân dài. Ngựa này huấn luyện để chạy đua và  dung trong kỵ binh.
image008
Dòng ngựa Á Rập
“Ngựa máu lạnh” là các dòng ngựa có cơ bắp, có sức mạnh, tính nết hiền lành, thích hợp việc kéo xe hay kéo cày. Dòng ngựa Shire, nỗi tiếng mạnh, tuy chậm, dùng cày cánh đồng đất sét.
 image009
Ngựa Shire dùng kéo cày
“Ngựa máu ấm” là các dòng ngựa cởi (riding horse), như Trakehner hay Hanoverian, do lai tạo giữa ngựa chiến với ngựa Á Rập hay Thoroughbreds. Ngựa  có thân hình cân xứng, mảnh dẻ, lớn con, tính hiền hòa. Để tạo ngựa cởi nhỏ con hơn, thường dùng ngựa Pony.
18. Trí thông minh. Ngựa là động vật thông minh, có khả năng ghi nhận, phán đoán và trí nhớ tốt. Ngựa học khá nhanh những gì huấn luyện viên muốn dạy chúng.
19. Ngựa có thể ngũ khi đứng hay khi nằm. Ngựa không ngũ một hơi dài, mà chia làm nhiều lần đứt đoạn. Trong một ngày, ngựa ngũ đứng, đúng hơn là ngơi nghỉ, 4 đến 15 giờ, ngũ nằm trong vài phút đến vài giờ tối đa. Ngựa ngũ say khi ở thế nằm. Tổng cộng mỗi 24 giờ, ngựa ngũ thật sự khoảng vài giờ, gồm nhiều giấc ngũ kéo dài khoảng 15 phút/lần. Trung bình, ngựa nuôi ngũ mỗi ngày 2,9 giờ. Nếu không được nằm trong nhiều ngày liên tục để ngũ, ngựa có chứng mất ngũ, trong trường hợp này ngựa có thể ngũ say trong thế đứng, không biết trời trăng gì nữa. Ngựa sống cô đơn thường ngũ đứt đoạn, dễ bị đánh thức vì bản năng tự vệ. Ngược lại, trong đám ngựa đông, một số ngựa ngũ, một số thức canh chừng và thay phiên nhau ngũ.

Reading, 1/2014
Trần-Đăng Hồng

Những con ngựa nổi tiếng trong sử sách Trung Quốc

Ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường có màu đỏ nổi bật, Ô Vân Đạp Tuyết của Trương Phi lại có màu đen như chủ nhân... là đặc điểm của những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại.

1. Ngựa Xích Thố
Ngua-Xich-Tho.jpg
Anh hùng có Lã Bố, tuấn mã có Xích Thố.  Tranh: Baidu
Trong số những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại, đầu tiên phải nhắc đến Ngựa Xích Thố thời Tam Quốc. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng. 
Ngựa Xích Thố từng qua tay rất nhiều chủ. Chủ nhân đầu tiên của Xích Thố là Đổng Trác (132-192), tướng nhà Đông Hán (năm 25-220). Trong triều đình lúc bấy giờ, có rất nhiều người khinh thường con người tàn bạo như Đổng Trác, trong đó có Đinh Nguyên, cũng là một tướng nhà Đông Hán. Trong một lần họp triều, Đinh Nguyên đã chửi thậm tệ vào mặt Đổng Trác, Đổng Trác định chém Đinh Nguyên thì con nuôi của Đông Nguyên là Lã Bố từ phía sau xông lên, khí chất anh hùng của Lã Bố đã khiến cho Đổng Trác sững lại, đành phải nhượng bộ. Từ đó, Đổng Trác nảy sinh ý định thu phục Lã Bố.
Vì muốn tiếp cận và thu phục Lã Bố, Đổng Trác đã đem Xích Thố tặng cho Lã Bố. Lã Bố sau khi có được ngựa quý quả nhiên đã giết chết chủ cũ của mình là Đinh Nguyên, quy phục dưới chân Đổng Trác, và trở thành con nuôi của Đổng Trác.
Ngựa Xích Thố đã cùng Lã Bố chinh chiến khắp nơi. Trên chiến trường, ông chuyên cưỡi ngựa Xích Thố, như một mãnh hổ tả xung hữu đột, vạn người không địch nổi. Sau này, Lã Bố bị  trúng kế của một đại thần nhà Đông Hán, giết chết Đổng Trác. Sau đó Lã Bố bị Tào Tháo giết, ngựa Xích Thố thuộc về Tào Tháo, một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán.
Có lẽ do duyên số, Quan Vũ hay còn gọi là Quan Vân Trường, một trong những người có công lớn thành lập nhà Thục Hán vào thế kỷ thứ 2, vì muốn bảo vệ hai vị phu nhân của người anh em kết nghĩa của mình là Lưu Bị đã tạm thời về phe Tào Tháo. Tào Tháo vô cùng quý mến nhân tài như Quan Vũ, cũng muốn bắt chước Đổng Trác tặng ngựa cho anh hùng.
Nhưng Quan Vũ không như Lã Bố, ông tiếp nhận Xích Thố là để tìm được Lưu Bị nhanh hơn. Sau khi Quan Vũ bị giết, Xích Thố lại rơi vào tay một viên tướng nhà Thục Hán khác là Mã Trung. Nhưng lần này nó không còn ngoan ngoãn đi theo chủ nhân mới như trước, mà tuyệt thực đến chết.
2. Ngựa Tuyệt Ảnh
Ngựa Tuyệt Ảnh hy sinh thân mình cứu chủ
Ngựa Tuyệt Ảnh hy sinh thân mình cứu chủ. Tranh: Baidu
Ngựa Tuyệt Ảnh là ngựa yêu của Tào Tháo (155-220). Tuyệt Ảnh có nghĩa là phi rất nhanh, đến cái bóng cũng không đuổi kịp được.
Tương truyền, khi Tào Tháo tấn công Trương Tú, Trương Tú dâng thành đầu hàng Tào Tháo. Trương Tú là cháu gọi Phiêu kỵ tướng quân Trương Tế bằng chú. Sau khi Đổng Trác bị giết năm 192, Trương Tế cùng các tướng khác của Đổng Trác mang quân đánh vào Tràng An, lại nắm vua Hán Hiến Đế, thao túng triều đình như Đổng Trác trước đây. 
Tuy nhiên, Tào Tháo không ngờ lại bị trúng kế của kẻ thù, bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, suýt nữa thì bị mất mạng. May có ngựa Tuyệt Ảnh mới thoát được ra ngoài.
Ngựa Tuyệt Ảnh bị trúng ba mũi tên trên mình mà vẫn cất vó phi nước đại, sau đó bị trúng một mũi tên vào mắt mới gục ngã. Trong trận chiến này, Tuyệt Ảnh đã hoàn tất sứ mạng của mình.
Đây là một thất bại nữa của Tào Tháo kể từ sau trận Xích Bích. Trong trận đánh này, Tào Tháo bị mất một con trai, Tào Ngang, một cháu trai, Tào An, và một con tuấn mã, Tuyệt Ảnh. Có thể nói đây là một thất bại thảm hại của Tào Tháo.
3. Ngựa Đích Lô
Ảnh: Ngựa Đích Lô cứu mạng chủ nhân
Ngựa Đích Lô cứu mạng chủ nhân.  Tranh: Weibo
Đích Lô vốn là ngựa của Trang Vũ, vốn là một tướng của một danh sĩ dòng dõi hoàng tộc nhà Hán là Lưu Biểu nhưng sau này phản bội lại Lưu Biểu. Lưu Bị (người sáng lập ra nhà nhà Thục Hán) bị thất bại trong trận giao chiến với Tào Tháo nên về đầu quân cho Lưu Biểu vì hai người cùng trong hoàng thất, đợi thời cơ làm lại sự nghiệp. 
Lưu Bị nhìn thấy ngựa của Trương Vũ cho rằng đây là một con tuấn mã, liền hết lời ca ngợi rằng "con ngựa này chắc chắn là ngựa thiên lý". Tướng của Lưu Bị lúc đó là Triệu Vân  lập tức hiểu ngay ý của chủ nhân, liền giết chết Trương Vũ để cướp ngựa. Triệu Vân là danh tướng thời cuối Đông Hán và thời Tam Quốc, người góp công lớn thành lập nhà Thục Hán.
Khi Lưu Biểu nhìn thấy con ngựa này cũng khen không ngớt lời. Lưu Bị đang không biết lấy gì để báo đáp Lưu Biểu liền tặng con ngựa này cho Lưu Biểu. Không ngờ, Lưu Biểu lại thấy con ngựa này "có quầng mắt, trên đầu có những đốm trắng, lại tên Đích Lô, ắt là con ngựa sát chủ", còn nói rằng "Trương Vũ cưỡi con ngựa này bị chết" chính là minh chứng, nên vội vàng tìm cớ trả lại cho Lưu Bị.
Người hầu của Lưu Bị đem tin "ngựa sát chủ" nói cho Lưu Bị, nhưng Lưu Bị không tin. Sau đó, khi nhận được mật báo có người định sát hại, Lưu Bị vội vàng thoát ra ngoài, cưỡi ngựa Đích Lô chạy trốn, nhưng bị nhầm đường, ông chạy đến bên suối Đàm Khê.
Phía trước là con suối rộng lớn, phía sau là quân địch truy đuổi, lúc này Lưu Bị mới nhớ đến lời khuyên "Đích Lô sát chủ" ngày trước, ông vừa điên cuồng quất vào lưng ngựa, vừa hét: "Đích Lô! Đích Lô! Hôm nay mày hại ta đi!". Đích Lô bỗng nhiên vùng lên, phi một phát sang bờ bên kia, lập một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử. Sau đó, Lưu Bị càng không tin chuyện "Đích Lô sát chủ" , ông càng yêu quý con ngựa đã cứu mạng mình này hơn.
Khi đem quân đi đánh nước Thục, thấy ngựa của Bàng Thống, một trong những mưu sĩ của Lưu Bị, già yếu quá, nên để thể hiện sự trọng dụng của mình với Bàng Thống, Lưu Bị đã đem ngựa yêu của mình tặng cho Bàng. Ai ngờ Bàng Thống không có phúc được hưởng, vừa mới cưỡi lên Đích Lô đã bị kẻ địch tưởng nhầm là Lưu Bị nên bắn chết. Sau này ngựa Đích Lô cũng không rõ lưu lạc về đâu.
4. Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử
Ngua-Da-chieu-ngoc-su-tu-28Ha-My-2c-baid
Dạ chiếu ngọc sư tử. Tranh: Baidu
Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử toàn thân lông trắng như tuyết, tương truyền một ngày có thể đi hàng nghìn dặm. Ngay từ khi mới sinh ra phía dưới cổ đã có một hàng lông dày, trông giống như sư tử, tính khí nóng nảy, sau này lớn lên tính khí bớt nóng nảy hơn, buổi tối con ngựa này còn phát ra ánh sáng trắng bạc, vì vậy mới có tên là Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử . 
Con ngựa này của Triệu Vân, sống vào khoảng thế kỷ thứ hai. Tương truyền, Triệu Vân đóng quân ở trên núi Trường Bản xuất quân đi đánh trận đều cưỡi Dạ chiếu ngọc sư tử, có lần Triệu Vân cùng ngựa bị rơi xuống hố bẫy sẵn của quân địch, tưởng chừng không thể thoát thân. Nhưng sức ngựa rất lớn, cuối cùng cũng nhảy được lên trên miệng hố, cứu chủ nhân thoát chết. Trong bộ tiểu thuyết Thủy hử cũng từng nhắc đến con ngựa này.
5. Ô Vân Đạp Tuyết
O-Van-Dap-Tuyet-28Ha-My-2c-baidu-29.jpg
Ngựa Ô Vân Đạp tuyết. Ảnh: Baidu
Ô Vân Đạp Tuyết còn có tên là Vương Truy Mã, sống ở thế kỷ thứ hai, toàn thân màu đen nhưng bốn vó màu trắng. Đây là ngựa của Trương Phi, người anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Quan Công, được coi là anh hùng tuấn mã.
Ngựa của Trương Phi có tên rất ý nghĩa, Vương Truy Mã có nghĩa là con ngựa đi theo hầu hạ Đại Vương. Tương truyền Trương Phi và Ô Vân Đạp Tuyết đều đen như nhau. Trương Phi quý chú ngựa này như con đẻ, thường xuyên tự tay tắm rửa cho ngựa quý. 
Người đời về sau thường nói người dũng mãnh cưỡi ngựa dũng mãnh. Quan Công từng nói: "Người tôi nặng nề, ngựa không vác nổi nên thường hay gầy, chính vì vậy mà tôi không thể cưỡi ngựa bình thường được". Trương Phi cũng như vậy, ngựa bình thường thì không thể xứng với hào khí phi thường của Trương Phi được.
Hà My (Theo Baike


Năm Ngọ tản mạn về ngựa trong văn hóa nghệ thuật

EmailIn
TÓM TẮT
Ngựa là loại vật được thuần dưỡng từ khá sớm, là loài gia súc đa dụng, thân thiết trong sinh hoạt hằng ngày của con người. Ở các nước phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam,…ngựa vinh dự được chọn vào 12 địa chi. Nhân năm Giáp Ngọ 2014, chúng tôi tản mạn đôi dòng về hình ảnh con ngựa trong văn hóa nghệ thuật Trung Quốc và Việt Nam, tập trung vào mấy chủ điểm là ngôn ngữ, thơ ca và hội họa. 
Trong những gia súc được con người nuôi nấng, thì ngựa và chó là hai con vật gần gũi, trung thành nhất với người chủ, nên từ xưa người ta có câu “khuyển mã chi tình”. Người Trung Quốc đã lấy tính trung thành, tận tâm của chúng để ví với sự tận tụy, trung thành của nô bộc với chủ, của tôi thần với vua chúa như: “khuyển mã chi tâm”; “khuyển mã chi thành”; “khuyển mã chi báo”; “khuyển mã chi lao”; “khuyển mã luyến chủ” v.v… Đặc biệt, ngựa được xem là loài vật tinh khôn, biết phân biệt được dòng tộc của chúng. Người ta nói rằng, những con ngựa cùng huyết thống, mặc dù lưu lạc, xa cách nhau nhiều năm, nhưng khi gặp lại nhau, chúng chỉ ngửi mồ hôi là nhận ra họ hàng thân tộc. Cho nên với loài ngựa thì không có chuyện loạn luân như các giống vật khác.
Ngựa là loài vật được con người thuần dưỡng từ khá sớm, trở thành loài gia súc đa dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Ngựa được con người dùng làm phương tiện đi lại, chuyên chở, sản xuất, nó còn kề vai sát cánh cùng chiến binh xông pha trận mạc, cùng các bậc văn nhân đủng đỉnh thơ túi rượu bầu ngao du đây đó, cùng chú rể rộn ràng hân hoan đón rước cô dâu,... Vì nó hữu ích và gần gũi với con người như thế nên hình tượng con ngựa đã hiện diện từ sớm trong cả hai nền văn hóa Đông và Tây, nó xuất hiện không ít trong tín ngưỡng, thần thoại, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày (tục ngữ, thành ngữ,…) và các bộ môn nghệ thuật như văn học, điêu khắc, hội họa, âm nhạc,… Ngựa không những là biểu tượng cho sự trung thành, tận tụy mà còn là biểu tượng cho tài lộc, thành công, cho sức mạnh, kiêu hãnh và tự do.
Trung Quốc tuy không phải là nguyên quán của ngựa, nhưng ngựa đã đi vào văn hóa Trung Hoa từ rất sớm. TrongThuyết văn giải tự, quyển tự điển thuộc hàng cổ xưa nhất trên thế giới, Hứa Thận (khoảng 58 – 147) đã kê ra đến 116 chữ thuộc bộ Mã . Đến thời Thanh, trong Khang Hi tự điển, những chữ thuộc bộ Mã đã lên đến 475 chữ (bao gồm những dị tự). Một số lượng chữ khiến người ta dễ “choáng” khi muốn chiếm lĩnh nó. Điều đó cho thấy ngựa đã đi vào văn hóa Trung Hoa hết sức sâu đậm. Xin kê ra một số chữ thuộc bộ Mã để độc giả hình dung sự phong phú về mặt từ ngữ có liên quan đến ngựa trong tiếng Hán:
+ Về loại ngựa: câu (ngựa 2 tuổi, ngựa non khỏe);  nô (ngựa xấu, ngựa hèn);  phò (ngựa đóng kèm bên xe); nhân (ngựa trắng hơi đen); lạc (ngựa trắng lông gáy đen); 駿tuấn (ngựa tốt); hãn (ngựa chứng, ngựa hung hãn); chuy (ngựa sắc trắng đen lẫn lộn); kì (ngựa hay); lưu (ngựa xích thố bờm và lông đuôi đen); duật (ngựa đen giữa háng trắng); dịch (ngựa trạm); kí (ngựa giỏi, ngựa thiên lí);…
+ Về hoạt động của ngựa: bằng (ngựa đi nước kiệu);  trì (chạy nhanh, dong ruổi); sử (phi nhanh);  sính (phi, phóng); vụ (chạy lồng); đằng (nhảy chồm lên, vọt lên cao); phiêu/phiếu (ngựa phi, dũng mãnh); kiêu (ngựa lồng, không phục tùng, kiêu căng); kinh (giật mình, sợ hãi);…
+ Về những hoạt động, vật dụng liên quan đến ngựa: ngự (người đánh xe ngựa, kiểm soát, điều khiển); đà (thồ hàng); tuần (thuần hóa, dễ bảo);  bác (chuyên chở, dỡ hàng); trú (lưu lại, trú đóng); giá (đóng ngựa vào xe, đánh xe, xe ngựa, điều khiển); tứ (xe tứ mã); kị (cưỡi ngựa); biển (nhảy lên lưng ngựa, nhảy lên); phiến (thiến súc vật);sô (người cưỡi ngựa dẹp đường, quan coi việc ngựa xe);…
Ở Việt Nam ngựa tuy không nhiều, nhưng những từ ngữ có liên quan đến ngựa cũng khá phong phú và tinh tế (dĩ nhiên là có một số lượng đáng kể người Việt vay mượn từ Trung Quốc). Trong cuộc sống hằng ngày, người Việt thường lấy ngựa ra để ví von đủ kiểu. Chẳng hạn: Chẳng tìm hiểu được cái gì cho kĩ càng, tới nơi tới chốn thì gọi là “cưỡi ngựa xem hoa”; Tính tình thẳng thắn, bộc trực, nói năng không úp mở, quanh co là “thẳng như ruột ngựa”; Người có tài thường có những tật xấu, được xuê xoa “ngựa chứng là ngựa hay” hoặc “ngựa hay lắm tật”; Đua đòi bắt chước người ta một cách lố bịch, không nhìn lại mình thì gọi là “ngựa lồng cóc cũng lồng”; Một thân một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai thì gọi là “đơn thương độc mã”; Đơn độc lẻ loi trong cảnh tình nào đó là “một mình một ngựa”; Đàn bà con gái lăng loàn, hư thân mất nết thì bị chửi là “đồ đĩ ngựa”; Dân làng chơi trở về làm ăn lương thiện thì gọi là “ngựa hoàn lương”; Người hư hỏng không sửa đổi, chứng nào tật ấy, giở lại thói tật cũ thì gọi là “ngựa quen đường cũ”; Bồ bịch, yêu đương rồi anh bỏ chị hoặc chị bái bai anh, thất tình đau khổ thì gọi là “bị ngựa đá”; Gây hậu quả nghiêm trọng rồi chuồn lủi mất thì gọi là “quất ngựa truy phong”; Con cái hư hỏng, không giáo dục được gọi là “ngựa đứt dây cương”; Đang chăm chỉ làm ăn bổng dưng phá ngang, bỏ bê công việc gọi là “ngựa chứng”; Làm ăn thất bại, công danh đổ vỡ, thân bại danh liệt thì gọi là “ngã ngựa”; Bất trị, không quản nổi là “ngựa bất kham”; Vô lại, bất lương, lưu manh, ngang ngược ức hiếp người là “đầu trâu mặt ngựa”; Người trẻ tuổi hung hăng, thiếu chín chắn trong lời nói việc làm thì được tiếng là “ngựa non háu đá”; Chơi xấu, phản phé, đâm sau lưng nhau thì được mang danh “ngựa đá giò lái”; Gặp chuyện buồn rầu thì “mặt dài như mặt ngựa”; Cùng cảnh ngộ, cùng tính cách tìm đến nhau là “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”; Chỗ nguy hiểm, phải cẩn thận, không nên đụng đến là “mõm chó vó ngựa”; Giỡn mặt với quan quyền, cấp trên là “mó dái ngựa”; Đang giữ quyền cao chức trọng mà bị quan thầy lật đổ đưa kẻ khác lên là “thay ngựa giữa dòng”; Đang sung sướng, mê li mà ngã ngang giữa trận thì gọi là “thượng mã phong” v.v...
Trong thơ ca Trung Quốc chúng ta bắt gặp không ít hình ảnh ngựa trong những vần thơ biên tái, những bài thơ nói về chiến tranh. Đây là cảnh người ngựa nhốn nháo, kẻ đi người tiễn trong chiến tranh:
Xa lân lân/ Mã tiêu tiêu/ Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Xe rầm rập/ Ngựa hí râng/ Người đi cung tên đeo bên lưng.
(Đỗ Phủ - Binh xa hành)
Và đây là một hình ảnh sinh li chẳng biết tử biệt lúc nào trong cảnh trạng vó ngựa Hồ tung bụi che lấp cả bầu trời:
Sinh biệt triển chuyển bất tương kiến/ Hồ trần ám thiên đạo lộ trường.
Cuộc sống chia lìa bấp bênh, chẳng được gặp mặt/ Bụi ngựa Hồ mù trời, đường sá xa xôi.
(Đỗ Phủ - Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca)
Hình ảnh ngựa Hồ tung hoành ngang dọc chốn biên tái luôn hiện lên như một ám ảnh thường trực trong tâm khảm những người lính thú:
 Sơn xuyên tiêu điều cực biên thổ/ Hồ kị bằng lăng tạp phong vũ.
Non sông xơ xác khắp biên thổ/ Quân Hồ phi ngựa như mưa gió.
(Cao Thích – Yên ca hành)
Người ta ao ước có một vị tướng giỏi để chặn bước chân của những con ngựa kiêu hùng chốn thảo nguyên hoang dã ấy:
Đãn sử Long Thành Phi tướng tại/ Bất giao Hồ mã độ Âm San.
Phi tướng Long Thành nếu còn đây/ Thì đâu để ngựa Hồ vượt qua Âm San.
(Vương Xương Linh – Xuất tái)
Hình ảnh người lính gian khổ chốn biên cương đồng hiện với hình ảnh của những chiến mã gian lao:
Mã mao đái tuyết hãn khí chưng/ Ngũ hoa liên tiền tuyền tác băng.
Lông ngựa đọng tuyết mồ hôi bốc hơi/ Ngựa ngũ hoa băng đóng cứng yên cương.
(Sầm Tham – Tẩu mã xuyên hành…)
Cuộc sống nơi quan ngoại thật khắc nghiệt, người và ngựa như đôi bạn bên nhau cùng chia ngọt sẻ bùi:
Ẩm mã độ thu thủy/ Thủy hàn phong tự đao.
Nước thu cho ngựa uống/ Nước buốt, gió như dao.
(Vương Xương Linh – Tái hạ khúc)
Gặp người về kinh trong cảnh gấp gáp, thiếu thốn, người lính chỉ kịp ngồi trên mình ngựa nhờ báo về nhà rằng mình vẫn bình an:
Mã thượng tương phùng vô chỉ bút/ Bằng quân truyền ngữ báo bình an.
Trên ngựa gặp nhau không giấy bút/ Nhờ anh nhắn hộ tớ bình an.
(Sầm Tham – Phùng nhập kinh sứ)
Thỉnh thoảng cảnh biên cương cũng pha chút lãng mạn, kiêu hùng, nhưng cuộc vui phải dở dang vì đâu đó đã vẳng lại tiếng đàn tì bà của người Hồ tấu trên lưng ngựa:
Bồ đào mĩ tửu dạ quang bôi/ Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
Rượu quý bồ đào uống bằng chén lưu li/ Toan nhắp thì tiếng tì bà trên ngựa đã giục ra đi.
(Vương Hàn – Lương Châu từ)
Trong chiến tranh, ngựa đã sát cánh bên người vào sinh ra tử trăm trận, đến nỗi mồ hôi chảy ra máu, hồn cứ quẩn quanh nơi quan ải phơi xương trắng:
Bách chiến sa trường hãn lưu huyết/ Mộng hồn do tại Ngọc Môn quan.
Sa trường trăm trận mồ hôi chảy ra máu/ Hồn mơ hãy còn ở ải Ngọc Môn.
(Đường Ngạn Khiêm – Vịnh mã nhị thủ)
Ngựa chứng kiến những cuộc chia tay của con người và nó cũng rầu rĩ, hí lên não nùng trước cảnh li biệt:
Huy thủ tự tư khứ/ Tiêu tiêu ban mã minh.
Vẫy tay tiễn, từ nay bạn lên đường/ Buồn rầu, ngựa hí vang vì xót tình li biệt.
     (Lí Bạch – Tống hữu nhân)
Con ngựa một đời chở chủ nhân của nó trên những nẻo đường bôn ba mưu sinh, tìm an tránh loạn. Nay già yếu bệnh tật, chủ nhân đau lòng, tâm sự với nó như một người bạn:
Thừa nhĩ diệc dĩ cửu/ Thiên hàn quan tái thâm/ Trần trung lão tận lực/ Tuế vãn bệnh thương tâm.
Cưỡi ngươi cũng đã lâu/ Trời rét quan ải xa/ Cõi trần già dốc sức/ Cuối đời bệnh đau lòng.
(Đỗ Phủ - Bệnh mã)
Đặc biệt, nhà thơ Lí Hạ đã làm đến 23 bài Mã thi trứ danh. Trong những bài thơ này Lí Hạ đã lấy ngựa tự dụ, ngầm than thở đời không còn Bá Nhạc. Chẳng hạn ở bài Mã thi thứ 4, Lí Hạ ví mình không phải là một con ngựa phàm mà là một thiên mã ở trên ngôi sao Phòng, một trong Nhị thập bát tú, sao rơi xuống trần mà biến thành ngựa:
Thử mã phi phàm mã/ Phòng Tinh bản thị tinh/ Hướng tiền xao sấu cốt/ Do tự đái đồng thinh.
Ngựa này chẳng phải ngựa phàm/ Phòng Tinh vốn là vì sao/ Trước đây khua xương cỗi/ Nên thân vẫn còn mang tiếng đồng. 
Văn học Việt Nam có những câu thơ thể hiện hình ảnh chiến mã kiêu hùng sau chiến thắng, mà tiêu biểu là hai câu thơ tràn đầy hào khí Đông A của vua Trần Nhân Tông đề ở nhà Thái miếu:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Xã tắc hai phen nhọc ngựa đá/ Sơn hà muôn thủa vững âu vàng. 
Phạm Sư Mạnh ca ngợi ải Chi Lăng hiểm trở bằng hình ảnh tiêu sái, oai hùng:
Lâm phong bạt mã cao hồi thủ/ Cấm khuyết thiều nghiêu vân khí tê.
Thúc ngựa lướt gió, lên cao quay nhìn lại/ Cung khuyết chót vót trong bóng mây trời tây.
Do ảnh hưởng văn học Trung Quốc, nên hình ảnh con ngựa trong văn học Trung Quốc cũng được tiếp nhận khá nhiều trong văn học trung đại Việt Nam. Chẳng hạn, trong Chinh phụ ngâm khúc ta thấy xuất hiện không ít những hình ảnh về ngựa. Đây là hình ảnh oai hùng của một đấng nam nhi ngồi trên mình ngựa ra trận:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái Sơn nhẹ nữa hồng mao/ Giã nhà đeo bức chiến bào/ Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Và rồi người chinh phu ở chốn chiến trường xa xôi, dãi dầu sương gió, mệt mỏi cùng con chiến mã của mình:
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn/ Dòng nước sâu ngựa nản chân bon/ Ôm yên gối trống đã chồn/ Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Cả hai cùng ở trong cảnh hiểm nguy trước làn tên mũi giáo:
Xông pha gió bãi trăng ngàn/ Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
Chinh phu và con chiến mã của mình xa hút, lạc loài nơi biên ải xa xôi ngàn dặm, để cô phụ ở nhà quẩn quanh trong nỗi sầu muộn:
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ/ Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.
Trong thơ ca Việt Nam, có lẽ Truyện Kiều là tác phẩm có nhiều từ ngữ nói đến ngựa nhất. Điều thú vị là năm người đàn ông của Kiều khi xuất hiện trong truyện đều có những từ ngữ liên quan đến ngựa. Mở đầu là cảnh ngựa xe đông đúc trong tiết Thanh minh, “Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”:
Dập diều tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Và Kim Trọng xuất hiện. Chàng buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả:
 Trông chừng thấy một văn nhân/ Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Ngựa chàng cưỡi là một con ngựa trắng non đang độ sung sức, rất tương xứng với phong thái “Đề huề lưng túi gió trăng” của một thư sinh nho nhã:
Tuyết in sắc ngựa câu dòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời/ Nẻo xa mới tỏ mặt người/ Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Chiều xuống, hai bên ở trong cảnh “Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn”, nhưng cũng đành phải chia tay:
Bóng tà như giục cơn buồn/ Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Mã Giám Sinh sau khi “đã tỏ đường đi lối về”, đã “giục giã vội vàng ra đi”. Cũng “vó câu” kéo xe chở Kiều, nhưng không đỉnh đạc, ung dung như “ngựa câu” của chàng Kim:
Đoạn trường thay lúc phân kì/ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Người đàn ông thứ ba trong đời Kiều là Sở Khanh. Khi lừa Kiều y ba hoa “Rằng: Ta có ngựa truy phong”. Kiều tin theo mà:
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu/ Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn.
Nhưng khi bị phát hiện thì y bỏ Kiều mà “quất ngựa truy phong” một cách tệ hại:
Nàng càng thổn thức gan vàng/ Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Đến Thúc Sinh, người đàn ông thứ tư của Kiều, lúc chia tay nàng để về nhà “thu xếp” với vợ cho Kiều về ở chung, cũng đã ra đi bằng ngựa. Khung cảnh mùa thu trong buổi chia tay đẹp đến nao lòng:
Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Còn Từ Hải, người đàn ông thứ năm “đội trời đạp đất” của Kiều dĩ nhiên là phải có ngựa (Từ là một võ tướng thì làm sao thiếu ngựa được!):
Nửa năm hương lửa đương nồng/ Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương/ Trông vời trời bể mênh mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong.
Và khi cho quân lính rước Kiều về dinh, Từ đã tự mình cưỡi ngựa ra ngoài nghênh đón nàng:
Kéo cờ lũy, phát súng thành/ Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Nếu như hình ảnh ngựa ở Chinh phụ ngâm khúc còn đậm chất “ngựa Trung Quốc” thì đến Truyện Kiều hình ảnh ngựa đã được Nguyễn Du chuyển hóa hết sức cao tay, nó mang phong thổ Việt khá đậm đà.
Ngựa có vai trò rất quan trọng trong lịch sử văn hóa của Trung Quốc. Sở dĩ nó có vai trò quan trọng là vì: Thứ nhất, đây là vùng đất luôn có chiến tranh. Chiến tranh ở Trung Quốc thời cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng, có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Kị binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh lính Trung Quốc. Do đó Trung Quốc rất quan tâm tới vấn đề cung cấp và huấn luyện ngựa cho quân đội. Thứ hai, Trung Quốc sông ngòi ít, người ta dùng ngựa làm phương tiện đi lại, vận chuyển là chính yếu. Thứ ba, như đã nói, ngựa là một loài vật quen thuộc, thân thiết và trung thành với con người. Có lẽ vì vậy mà nó đã trở thành chủ đề quen thuộc trong tranh Trung Quốc.
 Ngựa xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là “mã đáo thành công”, thể hiện một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù.
Theo Lê Anh Minh, họa gia vẽ ngựa nổi tiếng ở Trung Quốc, đời Ðường thì có Hàn Cán 韓幹 và Tào Bá 曹霸; đời Nguyên thì có Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫. Hàn Cán (không rõ năm sinh, năm mất) người Kinh Triệu 京兆 (nay thuộc Thiểm Tây), có thuyết nói ông người Ðại Lương 大梁 (nay thuộc Hà Nam). Cũng như thầy ông là Tào Bá, Hàn Cán nổi tiếng về vẽ ngựa và vẽ nhân vật. Tào Bá (không rõ năm sinh, năm mất) người quận Tiêu  (nay là huyện Bạc , tỉnh An Huy), là họa gia của triều đình, chuyên vẽ ngựa và chân dung các công thần. Nhà thơ Ðỗ Phủ xem tranh của Tào Bá vô cùng thích thú và không tiếc lời tán tụng. Đời Nguyên, thư pháp gia kiêm họa gia Triệu Mạnh Phủ (tức Triệu Tùng Tuyết) nhận xét trongTùng Tuyết Trai văn tập rằng: “Ðời Ðường có nhiều họa gia giỏi về vẽ ngựa, nhưng nổi bật nhất là Hàn [Cán] và Tào [Bá]” (唐人善畫馬者甚眾而韓曹為之最).


Triệu Mạnh Phủ (1254-1322) tự là Tử Ngang 子昂, hiệu là Tùng Tuyết Đạo nhân 松雪道人, Thủy Tinh Cung Đạo nhân 水晶宮道人. Ông là Đạo sĩ tại gia, nguyên quán Hồ Châu 湖州 thuộc Chiết Giang 浙江, là dòng dõi tôn thất nhà Tống, từng giữ nhiều chức quan cao ở thời Nam Tống và thời Nguyên. Người đời khen tặng ông là “Vinh tế ngũ triều, danh mãn tứ hải” (Vinh hiển trải năm đời vua, danh tiếng đầy bốn biển). Về thư pháp ông giỏi đủ loại thư thể. Thể chữ Khải của ông (gọi là Triệu thể) thật yểu điệu kiều lệ, đứng ngang hàng với ba đại thư pháp gia đời Ðường là Liễu Công Quyền, Nhan Chân Khanh, Âu Dương Tuân. Về hội họa, Triệu Mạnh Phủ giỏi vẽ ngựa, nhân vật, trúc thạch, sơn thủy. Về vẽ nhân vật, ông chịu ảnh hưởng phong cách đời Tấn, đời Ðường. Ông học vẽ ngựa nơi họa gia Lí Công Lân李公麟, học vẽ sơn thủy ở các họa gia Ðổng Nguyên 董源 và Lí Thành 李成. Giới thưởng ngoạn xem ông là “Nguyên họa chi quán元畫之冠” (người đứng đầu hội họa đời Nguyên). 

Tranh Người cưỡi ngựa (   ) của Triệu Mạnh Phủ

 Ðến thời hiện đại, họa sĩ nổi tiếng vẽ ngựa có Từ Bi Hồng 徐悲鴻 (1895-1953). Ông quê ở Nghi Hưng 宜興, tỉnh Giang Tô 江蘇. Từ Bi Hồng từng du học hội họa ở Pháp. Khi về nước ông vừa dạy hội họa vừa sáng tác. Ông chủ trương dung hợp cách vẽ truyền thống của Trung Quốc (gọi là Quốc họa) với lối vẽ theo định luật phối cảnh và một số kĩ pháp khác của hội họa Tây phương. Trong tranh của Trung Quốc người ta thấy rõ hai loại bút pháp: công bút và ý bút. Tranh cổ đại đa số là công bút, vẽ vật thể gì thì cũng phải có đường viền, rồi tỉ mỉ tô màu lên, lá lan lá tre thì cũng thế, nên những đường viền này làm nét vẽ cứng và thiếu sinh động. Ý bút thì ngược lại, nét bút phóng khoáng sinh động vì loại bỏ các đường viền. Một lá lan lá tre chỉ do một nét bút nhưng chính độ đậm nhạt của màu đã tạo ra sáng tối và sự sinh động. (Trước lúc vẽ, búp lông của cây bút được tẩm màu tươi sáng, rồi ngọn bút được chấm vào màu tối; do đó chỉ một nét vẽ mà hiệu quả sáng tối đậm nhạt đều có đủ). Tranh theo chủ trương dung hợp Ðông Tây có xu hướng dùng ý bút. Ý bút thể hiện rất rõ trong các tranh vẽ ngựa của Từ Bi Hồng. Những mảng sáng tối, những chỗ chừa trắng, những nét bút phóng khoáng ở bờm và đuôi ngựa, và bố cục theo luật phối cảnh Tây phương, tất cả những điều ấy đã giúp tranh có sinh khí và thần thái. Ngoài Từ Bi Hồng, còn có Diệp Túy Bạch cũng là họa gia hiện đại rất nổi tiếng về vẽ ngựa.
  
Tranh ngựa của Từ Bi Hồng (1895-1953)

Tài liệu tham khảo
1. Đinh Gia Khánh-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam (thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII), Nxb Giáo dục, 1997.
2. Lê Anh Minh, Ngựa trong tranh Trung Quốc, anhminh.zxq.net/thuhoaTQ/horse.htm
3. Nhiều người dịch, Thơ Đường, 2 tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987.
4. Nguyễn Hữu Phước, Ngựa trong âm nhạc và văn thơwww.dactrung.com/Bai-bv-2673-Ngua_Trong_am_Nhac_Va_Van_Tho.aspx
5.  許慎撰,段玉裁注 :《說文解字注》,中州古籍出版社,2006.
6.《康熙字典》,中華書局(香港)有限公司,2001.
7.《成語大字典》,北京,商務印書館 國際有限公司,2006.

Hình tượng con ngựa trong văn hóa dân gian Việt nam
Thứ Sáu, 10/01/2014 17:10 
 
Hình tượng Ngựa xuất hiện từ rất lâu đời trong văn hoá Việt Nam. Con ngựa là một trong những loài vật được con người thuần hoá và sử dụng trong đời sống hàng ngày. Ngựa là con vật thông minh, khôn ngoan, nhanh nhẹn cho nên nó được chọn là con vật kề vai sát cánh cùng con người xông pha trận mạc.
Với đức tính hiền lành, vẻ ngoài thanh nhã, sự trung thành với chủ ngựa cũng được coi là con vật có tình có nghĩa. Vì vậy, hình ảnh con ngựa là hình ảnh mà chúng ta dễ dàng bắt gặp trong cuộc sống đời thường. Đó là chủ đề khá quen thuộc cho văn học nghệ thuật, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc và hơn nữa nó còn là một biểu tượng văn hoá điển hình.

Biểu tượng của văn hoá và tín ngưỡng

Qua lăng kính văn hoá, ngựa được xem là biểu tượng của sự tài lộc, thành công, sự trung thành, nhanh nhẹn. Hơn nữa, hình ảnh con ngựa tung vó hý vang, biểu tượng cho sự kiêu hãnh, tự do và thanh khiết.


Mã đáo thành công (Ảnh: Internet)

Trong văn hoá Việt Nam, ngựa là một trong 12 con giáp thuộc hệ can chi (Ngọ). Theo triết lý Âm dương thì ngựa mạnh mẽ, nhanh nhẹn thuộc Dương tính. Theo phong thủy, hướng Nam tướng ứng với hướng Ngọ. Ngọ còn là biểu trưng cho yếu tố Hỏa của Ngũ hành,vì vậy trong dân gian người ta thường sử dụng con ngựa để tượng trưng cho Mặt trời.

Ngựa được xem là con vật gắn liền với trận mạc và chiến tranh, là con vật trung thành với chủ. Hơn nữa, vai trò của ngựa với những trận chiến thắng oanh liệt luôn được đề cao. Cho nên, khi một con vật trung thành chết đi người ta thường lập miếu thờ con vật ấy để tưởng nhớ cũng như xem đó là con vật linh thiêng. Như ngựa sắt gắn liền với Phù Đổng Thiên Vương, hay tượng ngựa ở các đền miếu và lăng tẩm.

Ngựa trong văn học dân gian


Trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, hình ảnh con ngựa được sử dụng khá nhiều bởi các thuộc tính vốn có của nó. Khi chúc nhau may mắn, thành công người ta chúc “mã đáo thành công”; khi nói đến thời gian trôi nhanh người ta nói “ Bóng ngựa qua cửa sổ”; chỉ những người trẻ tuổi thiếu chín chắn, hung hăng, thích chứng tỏ mình là “ Ngựa ngon háu đá”; chỉ những người giống nhau, tìm đến nhau là “ Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”; chỉ một mình chống lại khó khăn, không có sự giúp đỡ của ai là “ Đơn thương độc mã” và còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác nữa như “thiên binh vạn mã”, “đầu trâu mặt ngựa”, “cưỡi ngựa xem hoa”…

Ở Huế, người ta có câu thành ngữ “ Ngựa thượng tứ” để chỉ những người phụ nữ hung hăng, có lời ăn tiếng nói thô lỗ. 

Chuyện là trước đây ở cửa Đông Nam kinh thành Huế có một tàu ngựa để nuôi ngựa cho nhà vua tên là “Tàu ngựa Thượng Tứ”.(Thượng và thuộc về nhà Vua, tứ là cỗ xe ngựa bốn bánh). Và theo như kinh nghiệm dân gian thì “ Ngựa chứng là ngựa hay” thế nên những con ngựa hay của Vua là những con ngựa hoang hung hăng được thuần phục. Vì vậy mà dân gian thường gọi cửa Đông Nam kinh thành là cửa Thượng Tứ và những người con gái, phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, sỗ sàng được ví như là “ Ngựa thượng tứ”.

Trong ca dao dân ca, hình tượng con ngựa cũng được nhắc đến khá nhiều. Khi người con gái có chồng rồi, đã yên bề gia thất được ví như “ngựa có cương”, các chàng trai đừng dòm ngó nữa:
Em có chồng rồi như ngựa có cương
Ngựa em em đứng, đường trường anh đi

Khi quan quân của Lê Lợi đóng trại ở Bồ Đề, mọi người đã thi nhau cắt cỏ về cho ngựa để tỏ lòng yêu mến “ đức Ông”
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn

 
Khi tình yêu đôi lứa không cân xứng, “đứa con gái khôn lấy thằng chồng dại” thì người bình dân lại so sánh: 
Tiếc thay con ngựa cao bành
Để cho chú ấy tập tành sao nên?
    
 
Trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích hình ảnh con ngựa cũng không hề ít. Là người Việt Nam, không ai không ấn tượng trước hình ảnh ngựa sắt thần kỳ của Phù Đổng Thiên Vương hay bắt gặp con ngựa lạ lùng với “ chín hồng mao” trong sính lễ mà Vua Hùng đưa ra cho Sơn Tinh, Thủy Tinh. Và hình ảnh An Dương Vương cưỡi ngựa cùng với con gái Mỵ Châu chạy về biển Đông để tránh sự truy đuổi của quân Trọng Thủy.


Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao
 (Ảnh: Internet)

Trong nghệ thuật


Trong nghệ thuật, ngựa thường xuất hiện với nhiều hình ảnh khác nhau như lông màu trắng là ngựa bạch, đen tuyền là ngựa ô, tím đỏ pha đen là ngựa tía…

Rất nhiều nhà điêu khắc tài hoa, họa sĩ nổi tiếng đã tạc tượng, vẽ tranh về con ngựa. Như bức tranh một đàn ngựa phi nước đại biểu tượng cho sự thành đạt trong kinh doanh hay bức tượng con ngựa tung vó tượng trưng cho sự kiêu hãnh, cao sang, quý phái mà ta thường bắt gặp.

Trong kiến trúc và điêu khắc, hình ảnh con ngựa thường được chạm khắc ở các đền đài, lăng tẩm và đặc biệt nhất là nó được trang trí ở bức bình phong trong dân gian dưới hình tượng con Long Mã .Theo truyền thuyết, Long Mã là hóa thân của Kỳ Lân, một trong tứ linh của văn hóa Việt Nam: Long – Lân – Quy – Phụng. Long Mã là biểu tượng cho điềm lành, cho sự thông thái, cao quý và niềm hạnh phúc.


Hình ảnh ngựa trên Cửa đỉnh (Đại Nội - Huế)
 - (Ảnh: Internet)

Các kiến trúc truyền thống ở Huế thường quay mặt về hướng Nam – là hướng Hỏa theo quan niệm Phong thủy phương Đông. Vậy nên, để tránh khí độc và gió độc bay vào nhà gây hại cho gia chủ, người ta thường xây bức bình phong và trang trí biểu tượng Long Mã phía trước.

Hình ảnh Long Mã đã được chọn làm biểu tượng cho Festival Huế kể từ năm 2002, là phác họa của hình ảnh Long Mã ở bức bình phong trước trường Quốc Học Huế cũng có lẽ vì các đặc tính nêu trên.

Trong tử vi


Theo tử vi thì những người tuổi Ngọ thường có tính phóng khoáng, có năng lực suy nghĩ độc lập, nhanh nhẹn, tháo vát và ít để bụng. Gặp việc gì họ cũng bắt tay vào làm ngay, không chần chừ do dự. Nhưng cũng chính sự nhanh nhẹn đó làm nên điểm yếu của học: nóng vội và thiếu kiên nhẫn.
Thiều Trúc

Ngựa và nghệ thuật thăng hoa (Một số hình ảnh ngựa trong hội họa Tây phương và nghệ thuật dân gian Việt Nam)
09:13 | 27/01/2014
ĐINH CƯỜNG

Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình

                     (Tô Thùy Yên)
Ngựa và nghệ thuật thăng hoa (Một số hình ảnh ngựa trong hội họa Tây phương và nghệ thuật dân gian Việt Nam)
Hình vẽ ngựa hoang trên vách động Lascaux. (Ảnh: Softpedia News)
Ngựa - quá nhiều họa sĩ đã vẽ, với tất cả nét đẹp, sinh động của nó. Kể từ hội họa còn là sự mò mẫm của những ngón tay trên mặt đất sét: chẳng hạn ngựa vẽ bằng ngón tay trên đất sét tìm thấy ở hang Montespan. Và nếu nghệ thuật hội họa của những hang động được coi như là nghệ thuật hội họa cổ nhất thì trong nền nghệ thuật này, hình tượng ngựa cũng đã có mặt rồi.

Trên những vách hang đá Lascaux có khá nhiều hình vẽ ngựa xen lẫn với hình vẽ những con thú khác. Những hình vẽ đã rõ ràng có tính tạo hình, những con ngựa đầu nhỏ, thân hình vạm vỡ, tuy dáng của cẳng chân không được săn sóc đúng mức, vẫn hiện ra vô cùng linh hoạt trên tường đá gồ ghề, tất cả cùng với bầy dã thú như đang ở trong một chuyển động chập chờn, nhịp nhàng và liên tục. Trong sự tạo dáng hình ngựa, nghệ thuật hang đá cũng đã cho thấy khả năng của nhiều phong cách khác nhau: từ cố gắng mô phỏng bằng đường vòng quanh theo sự ghi nhận của thị giác tới những nét phóng bút hay những hình vẽ đã trở thành ký hiệu, đã trở thành chữ tượng hình, đánh dấu một bước nhảy vọt của loài người trên bước đường sáng tạo phương tiện truyền thông, bước đường sáng tạo ngôn ngữ, sự sáng tạo cần thiết để hỗ trợ cho lao động sản xuất và chinh phục thế giới tự nhiên.

Nhưng lịch sử không dẫm chân tại chỗ, những hình tượng ngựa có vẻ thoải mái, hồn nhiên và bay bổng như trên những vách đá ấy dĩ nhiên không thể lặp đi lặp lại trong lịch sử nghệ thuật tạo hình. Chỉ xét riêng về tranh ngựa, ta cũng thấy phong cách vẽ ngày càng có thêm những nét khác biệt, đề tài ngày càng thêm đa dạng, kỹ thuật tạo hình ngày càng được bổ sung.

Trong khi thế giới vẫn tìm bằng chứng về đời sống trên quả đất vào những thế kỷ băng hà qua những tranh vẽ tiền sử trên vách hang động, thì ở Việt Nam chúng ta cũng vậy, bức chạm “Mặt người và thú” ở hang Đồng Nội (Hà Sơn Bình) thuộc nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, giúp các nhà viết sử ít nhiều tài liệu về sinh hoạt, tín ngưỡng và văn minh của người Việt cổ vào sơ thời đồ đá mới, cách ta chừng trên mười ngàn năm. Tới văn hóa Đông Sơn, thời hưng thịnh nhất của các vua Hùng, thì nghệ thuật Việt Nam đã đạt trình độ khá cao. Các tác phẩm hội họa thuần túy thời đại Đông Sơn người ta chưa tìm thấy, căn cứ vào các hình chạm khắc trên các dụng cụ còn để lại, ta thấy chủ đề của các hình vẽ vẫn là những sinh hoạt của người Lạc - Việt như nghênh chiến và nhảy múa. Mặt khác các họa sĩ còn vẽ những cầm thú như chim, thú, hươu, nai… Hình tượng ngựa của Việt Nam cổ nhất có thể tìm thấy qua những nét vẽ còn để lại trong những viên gạch (vẽ để làm khuôn đúc) thuộc Mỹ Thuật Đại La được phát triển trong thời Bắc Thuộc (từ thế kỷ II trước Tây Lịch đến thế kỷ X sau Tây Lịch) mang một sắc thái khác hẳn những nét vẽ thời Đông Sơn.

Trong những viên gạch tìm thấy ở làng Lim (Bắc Ninh) có hình cầm thú và các linh vật như rồng, kỳ lân, phượng. Hãy xem những chi tiết hình khắc trên gạch gồm có: kỳ lân, trên lưng và dưới chân có chim cuốc và gà con, người nhảy múa, ngựa giã gạo, đèn bốn ngọn, rồng, chim, tê tê và gà. Trong Mỹ Thuật Đại La người ta cũng tìm thấy nhiều di tích vẽ ngựa khác hoặc in trên những mảnh gốm, hoặc đúc thành những mảnh trang trí nhỏ gắn vào các kiến trúc đời này. Các trang trí trên và dưới bằng những hình kỷ hà, ở giữa khắc hình ngựa và kỳ lân. Hình ảnh này rất quen thuộc trong nghệ thuật cổ điển Trung Hoa.

Theo những bước đi của lịch sử, hình tượng ngựa mang những ý nghĩa khác nhau. Có những hình tượng nhẹ nhàng, thanh thoát. Có những hình tượng thật hiên ngang và hào hùng, như ngựa của Quang Trung… Nhưng cũng có những hình tượng buồn rầu. Hay đúng ra là những hình tượng nói lên những gút mắc, những mâu thuẫn. Thí dụ hình tượng những con ngựa được chăn dắt, những con ngựa bị nhốt trong chuồng, những con ngựa được trang sức và kéo những cỗ xe lộng lẫy, những con ngựa với yên cương và giáp sắt: những hình tượng phản ánh một tình trạng xã hội tương quan người với người còn chiến tranh.

Ngựa là hình ảnh rất quen thuộc trong lịch sử hội họa Trung Quốc, biểu tượng của hanh thông thành đạt (Mã đáo thành công). [1]

Hàn Cán (706 - 783) đời nhà Đường nổi tiếng với các họa phẩm về ngựa. Ông không chỉ miêu tả được hình thể của ngựa mà còn truyền đạt thành công cái “thần” của nó. Các họa sĩ thế hệ sau này khi vẽ về ngựa đều phải nghiên cứu và tham khảo các bức tranh của ông.
“Chiếu dạ bạch đồ” của Hàn Cán

Bức tranh ngựa nổi tiếng nhất của Hàn Cán có tên là “Chiếu dạ bạch đồ”, trình bày hình ảnh một con ngựa trắng tương truyền ngời sáng trong đêm (Blanc Lueur-nocturne/ Night-Shining White), là một trong những con ngựa quí nhất trong số hàng chục vạn con của vua Đường Huyền Tông. Bức tranh vẽ bằng mực trên giấy, với nghệ thuật sống động hơn hẳn nhiều tranh ngựa trước đó, diễn tả Chiếu dạ bạch bị xích vào cọc - và có vẻ là một cây cọc sơn son thếp vàng - đang đập vó nhảy múa và dũng mãnh ngẩng cao đầu, đôi mắt lửa giận dữ bừng cháy, thể hiện khí thế “thiên thần mã” trong huyền thoại Trung Quốc…
Tranh của Từ Bi Hồng

Một họa sĩ cũng nổi tiếng về tranh ngựa trong hội họa Trung Hoa là Từ Bi Hồng[2]. Tuy trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc đã từng có những họa gia vẽ ngựa danh tiếng như Hàn Cán (đời Đường), Lý Công Luân (đời Tống), Triệu Mạnh Phủ (đời Nguyên), nhưng tranh độc mã hay quần mã của Từ Bi Hồng mang sắc thái độc đáo và sống động. Đó là một sự kết hợp hài hòa giữa tính cổ điển Tây phương và sự ước lệ Trung Quốc. Những nét mực tàu chấm phá mạnh mẽ và hùng hồn nhưng không kém phần tráng lệ, kiều diễm, tượng trưng cái đẹp thiên phú của loài ngựa. Đôi khi chỉ cần vài nét bút vờn lên giấy, dù lột tả ở dáng nào, tư thế nào đi nữa, ngựa trong tranh của Từ Bi Hồng không bao giờ trong tư thế tĩnh, nó luôn căng tràn sức sống, linh động và mạnh mẽ, phóng khoáng và tràn đầy thần thái, khiến cho ngựa của ông vẽ dường như lúc nào cũng như muốn bay ra khỏi tranh.

Những con ngựa trong tranh Từ Bi Hồng khác hẳn những bức tranh vẽ ngựa của Âu châu, nó tiềm ẩn một sức sống thật là mãnh liệt.
Ngựa trong cơn bão” của Delacroix

Hẳn cũng không phải là một điều ngẫu nhiên khi những hình tượng ngựa tương tự cũng được thấy trong hội họa Tây Phương từ thời kỳ phong kiến cho tới thời kỳ tư bản. Bức tranh “Ngựa trong cơn bão” của Delacroix cũng rất đậm nét bi thảm. Hình tượng ngựa của Picasso, hình tượng trung tâm của tác phẩm nổi tiếng “Guernica”.
“Guernica” của Picasso

Được hỏi về tranh “Guernica” có lần Picasso đã nói rằng hình tượng ngựa là tượng trưng cho loài người, và ông cũng còn sử dụng hình tượng này trong nhiều tác phẩm khác, đặc biệt là những tranh vẽ ngựa và tô-rô. Trong nhiều tranh về đề tài này, mâu thuẫn giữa hình tượng ngựa bị choáng ngợp, vùng vẫy, bị đè nén đối với bóng đen hăm dọa của tô-rô, với kỹ thuật tạo hình bóp méo, bẻ gãy ngoặt ngoẹo một cách cuồng bạo, cho thấy điều kiện xã hội trong đó ông đang sống và phản ảnh bằng ngôn ngữ nghệ thuật, trở thành một tiếng kêu thét, một sự vùng vẫy cố gắng thoát khỏi sự áp bức của bạo lực.
Tượng ngựa của Alexander Calder
Tranh Marino Marini
Trước Picasso không lâu “Ngựa bạch” của Gauguin mang dáng dấp một con ngựa bị bỏ rơi, cô đơn, trong khi những con ngựa của Degas thì là thú vui nhàn tản của những người trưởng giả, những con ngựa phục vụ trong những gánh hát xiếc của Toulouse-Lautrec đầy màu sắc trang trí… Sau này những hình tượng ngựa của Alexander Calder, nhà điêu khắc Mỹ nổi tiếng, cũng như nhà điêu khắc Ý Marino Marini với những tác phẩm mang tính hiện đại, vẫn cho ta thấy một nỗi ưu tư về sự hỗn mang sau thời kỳ thế chiến ở châu Âu lúc bấy giờ.

Nếu muốn dựng lại bộ mặt xác thực đã qua của đất nước và con người Việt Nam bằng chứng cứ nghệ thuật, thì nên dùng điêu khắc cổ là một bằng chứng tốt nhất, vì những tác phẩm hội họa cổ không còn lại bao nhiêu, chất liệu chỉ là giấy lụa, màu phẩm, làm sao chống chọi được đến ngày nay trước sức phá hoại nghiệt ngã của thời gian và khí hậu. Ta thấy nền điêu khắc cổ có một sự liên tục, phong phú và hoàn chỉnh hơn nhiều, về thông tin cũng như về ngôn ngữ. Kể từ đời Lý cho đến đời Nguyễn, đời Lý chưa thấy hình tượng ngựa trong các trang trí, chủ yếu là rồng, chim chóc, hoa lá, đôi khi cũng thấy vẽ trên đồ gốm. Sang đời Trần, điêu khắc rắn rỏi, mập mạp, vững chãi hơn trong hình khối, tượng các con thú ở khu An Sinh, Đông Triều trang trí đậm đặc hơn, linh hoạt, vui đời sống thật hơn, chất dân gian cũng đậm hơn.

Tượng đá ngựa và chạm gỗ ngựa xuất hiện nhiều trong các lăng mộ cổ và trên các trang trí đình làng. Tượng đồng ngựa xưa nhất lại tìm thấy trên các vật dụng thờ ở Huế từ thế kỷ thứ XI. Chúng ta nhìn những bức phù điêu chạm gỗ thông trên các đình làng thế kỷ 17 và đầu 18 mới thật là đẹp và độc đáo một tâm hồn Việt Nam. Bởi vì nghệ sĩ đã thoát ra được một trật tự đẳng cấp, đã lôi ra ánh sáng những gì trước đây bị bưng bít, là phô diễn ngợi ca những gì trước đây bị kềm tỏa, là nổi lên nhịp trống làng xã mà trước đây bị giam cầm, lần này nền điêu khắc cổ Việt Nam thật sự đã tìm ra hẳn một ngôn ngữ mới. Nét khắc đục mộc mạc, chất gỗ sống hết cuộc đời tự nhiên của mình. Tâm hồn chất phác, hình ảnh hoàn toàn đồng điệu, nghệ thuật đằm thắm, không chút nỗ lực chật vật nào về trí tuệ làm tâm hồn ta thênh thang gần gũi. Có thể nói điêu khắc đình làng là mảng Việt Nam nhất trong toàn bộ nghệ thuật cổ Việt Nam.

Người nghệ sĩ dân gian tỏ tình, tỏ ý miêu tả con người, sự vật bằng đường nét, mảng khối mà không cần một lời thuyết minh nào hỗ trợ. Họ đã vận dụng sinh động phối cảnh ước lệ, không câu nệ sự thật mà được cách điệu hóa, về mặt diễn tả thì chú ý tập trung vào chỗ nào hấp dẫn nhất. Hãy xem: đoàn người kết thúc buổi đi săn đang trên đường về, người đi đầu cỡi ngựa mặt nghênh lên, vẻ vui vui tự đắc, mấy người sau lơ ngơ khiêng một con hươu bốn chân chổng ngược, con chó săn đi theo, đuôi ngoe nguẩy vẫy mừng. Từ con ngựa thật đến con ngựa thần thoại của người anh hùng làng Gióng đánh giặc Ân. Ngựa là khả năng thông minh, dũng cảm và khỏe mạnh. Trong rèn luyện võ nghệ, có tiết mục cỡi ngựa múa đầu mâu, đấu giáo, cỡi ngựa bắn cung… Trong các môn thể thao, có môn thể thao cỡi ngựa đánh phết, khá phát triển ở đời Lý…
Tranh của Bửu Chỉ

Còn bao nhiêu hình ảnh ngựa nữa trong nghệ thuật cổ xưa. Mà thôi, tạm xếp lại để nhớ đến ngựa trong tranh của anh em bạn bè, một thời Hội Họa Mùa Xuân Sài Gòn… Ngựa, như lao vút vào một mảng nâu nhẹ của Lâm Triết. Ngựa, thiếu nữ, và lẵng hoa trên đồi xanh nhà thờ của Trịnh Cung. Ngựa đài các của Nguyên Khai, ngựa liêu trai của Nghiêu Đề, ngựa đạm bạc của Nguyễn Trung, ngựa khắc khoải của Nguyễn Đồng, ngựa mũm mĩm của Nguyễn Thị Hợp, ngựa quay cuồng của Hà Cẩm Tâm, ngựa đá Huế đầy hoa ngũ sắc của Bửu Chỉ... và không quên được người đam mê vẽ ngựa nhất là Trần Quang Hiếu, từ Pháp về Sài Gòn những năm 60, để rồi, sau 75 đã nằm chết xác xơ bên hè đường vì rượu và kiệt lực. Ngựa và người. Những thân phận. Và nghệ thuật thăng hoa.

Đ.C
(SH300/02-14)


.............................................
[1] Nguyên ý câu này là “Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công” (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công).
[2] “Xu Beihong hoặc Hiu Pei hong, pháp ngữ hóa là Jupéon, sinh tại Giang Tô năm 1895. Là một trong  những họa sĩ tiên khởi Trung Hoa thụ giáo nghệ thuật vẽ tranh sơn dầu và chịu ảnh hưởng phương pháp Tây Âu, Xu Beihong đã theo học trường Mỹ Thuật Paris từ năm 1921 đến 1926, và hòa nhập với phá Montparnasse. Sau đó, từ năm 1949, ông sáng lập và hướng dẫn Hội Mỹ thuật Trung ương tại Trung Quốc. Ông từ trần tại Bắc Kinh năm 1953”.(Danh nhân Tự Điển “Petit Robert”). Trong thời gian du học tại Paris, ông từng kết bạn với họa sĩ Nam Sơn, người đồng sáng lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương cùng Victor Tardieu.

NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA (Giáp Ngọ từ 31-01-2014 đến 18-02-2015)

image001Sau năm Quý Tỵ chấm đứt, thì đến năm Giáp Ngọ được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm thứ năm, 30-01-2014 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 18-02-2015. Năm Giáp Ngọ này thuộc hành Kim và mạng Sa Trung Kim, năm này thuộc Dương, có can Giáp thuộc mạng Mộc và có chi Ngọ thuộc mạng Hỏa. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành,  thì năm  này “Can Trời sanh Chi Đất” tức “mạng Mộc sanh mạng Hỏa “. Bởi vì : mạng Mộc bị sanh xuất, mạng Hỏa tức Đất được sanh nhập. Do vậy, năm này tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như người có : mạng Mộc gặp năm mạng Thủy – mạng Thủy gặp năm mạng Kim.- mạng Kim gặp năm mạng Thổ – mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa và mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc. Được biết năm Ngọ vừa qua là năm Nhâm Ngọ thuộc hành Mộc, nhằm ngày thứ ba, 12-02-2002 đến 31-01-2003.
Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông  xuất  hiện  được  minh định  quảng bá  từ  năm  61  của  đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2014 = 4651, rồi đem chia cho 60 năm, thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp  thứ  77 và số dư 31 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 đến năm 2043. Do vậy, năm Giáp Ngọ 2014 này là năm thứ 31 của Vận Niên Lục Giáp 78 và năm Ngọ kế tiếp sẽ là năm Bính Ngọ thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ ba tính từ 17-02-2026 đến 05-02-2027.
Trong thành ngữ, tục ngữ người ta thường nói, xin trích dẫn như sau : Như Ngựa bất kham – Quất Ngựa truy phong – Thẳng như ruột Ngựa – Tàn che Ngựa cỡi – Ngựa bốn chân còn vấp – Ngựa chạy đường dài – Ngựa chạy về ngược – Ngựa háu đá – Ngựa gầy hỗ mặt người  nuôi – Ngựa hỗn quen đường – Ngựa qua cửa sổ – Ngựa quen đường cũ – Ngựa xe như nước  – Ngựa kéo Voi giày – Tái ông thất Mã (*) – Thiên binh vạn Mã (*) .v.v. (Thành Ngữ).    (*) Ngựa tức Ngọ hay Mã có ý nghĩa giống nhau.
Một con Ngựa đau cả tàu không ăn cỏ – Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn – Đường dài mới biết Ngựa hay – Ngựa lẻ tẻ cũng đến bến giang – Ngựa hồ thương gió heo may .v.v. (Tục Ngữ).
Ngoài ra, con Ngựa là loại thú vật xưa kia ở trong rừng và đã được loài người thuần hóa để trở thành gia súc như những thú vật trong nhà như : Chó, Mèo, Gà, Vịt v.v. Để rồi, con ngựa được giúp đở con người trong mọi công việc như  di chuyển, chuyên chở cho đến chiến tranh v.v. chúng nó có những màu như sau :
Ngựa bạch = Ngựa có lông màu trắng.
Ngựa Kim = Ngựa có lông màu trắng mốc.
Ngựa Kim Than = Ngựa có lông trắng ít, đen nhiều.
Ngựa Kim Lem = Ngựa có lông trắng và đen pha trộn lẫn nhau.
Ngựa Kim Lân  = Ngựa có lông đốm trắng đen.
Ngựa Bích  = Ngựa có lông ngã màu xanh.
Ngựa Ô = Ngựa có lông màu đen tuyền.
Ngựa Tía  = Ngựa có lông ngã màu đỏ tía.
Ngựa Hồng = Ngựa có lông ngã màu ửng hồng.
Ngựa Đạm = Ngựa có lông ngã màu vàng lợt.v.v.
Hơn nữa, mỗi loài ngựa có sanh hoạt riêng như sau :
Ngựa ruồi = Ngựa chạy.
Ngựa Tế = Ngựa chạy đua nước lớn.
Ngựa Kiệu = Ngựa chạy lúp xúp.
Ngựa sải = Ngựa nhảy sải.
Ngựa Sa Hoàng = Ngựa dữ, Ngựa  đi quá sức.
Ngựa Bền = Ngựa chạy dai sức.
Ngựa Bở  = Ngựa chạy yếu sức.
Ngựa Nục  =  Ngựa mập béo quá.
Ngựa Lao = Ngựa thường đau ốm mất sức.
Mặt Ngựa  = Thường để chỉ những người có gương mặt dài giống như mặt ngựa…
Con Ngựa tức con Mã, cho nên có những từ ngữ  như sau :
Mã Binh  = Binh lính cỡi Ngựa
Mã Đề = Loại cây lớn lá, giống cái móng ngựa, thuờng dùng để làm vị thuốc mát.
Mã Tiên Thảo =  Tức loại cỏ roi ngựa.
Thượng Mã = Lên ngựa.
Hạ Mã = Xuống ngựa.
Xa Mã = Xe ngựa.
Xa Song Mã = Xe 2 con ngựa.
Cung Mã = Cung ngựa, đồ kỵ mã.
Hành Thuyền Kỵ Mã Tam Phân Mạng =  Đi thuyền, cỡi ngựa, mạng sống có ba phân, để chỉ sự nguy hiểm.
Long Mã Phụ Đồ = Ngựa rồng đội họa đồ. Vua Phục Hi nhờ đó vẽ nên Bát Quái.
Thượng Mã Phi Đệ = Chỉ người sãi ngựa mang giấy tờ đưa đi cho quan khẩn cấp.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy các danh từ : Mã Giáp, Mã Não, Thợ Mã, Đồ Mã, Tốt Mã, Thượng Mã Phong  hoặc trong dân gian thường nói như:
- Trường đồ tri Mã lực
- Tiên trường bất cập Mã phúc = Roi dài không thấu bụng Ngựa.  …v.v.
Đặc biệt, chúng ta còn thấy những giống mang tên Ngựa, nhưng có hình dạng đặc biệt khác loài Ngựa, xin trích dẫn như sau:
image002Con Hà Mã = L’ hippototame (n.m) = The hippopotamus, có thân hình lớn con như: Voi hoặc Tê Giác hay Trâu, lại hiền lành thường trầm mình dưới nước nơi sông hồ ở Phi Châu cả ngày không biết lạnh, cho nên  con Hà Mã có người gọi con Trâu Nước hay Ngựa Sông chăng?
Con Hải Mã = Le cheval marin = The sea horse hoặc có người gọi con Cá Ngựa =  L’ hippocampe = The hippocampus. Con Hải Mã thường ở vùng biển ấm, nó lội đứng như ngựa sải, thân hình nó ít thịt nhiều xương. Tuy vậy, người  ta  cũng  bắt  nó  rồi  đem  phơi  phô,  rồi đốt tán nhuyễn để trị bịnh suyễn hay tráng dương bổ thận.
Ở Phi Châu cũng có một giống Ngựa Rằn = Le zèbre = The zebra mình có sọc ngang.
Ở Hy Lạp thời xưa, cũng xuất hiện một giống Ngựa có đôi cánh  để bay, được gọi là Phi Mã.
Đó là những loài Ngựa đặc biệt, hơn các loại Ngựa thông thường.
Trong năm Giáp Ngọ tức là năm do con Ngựa hay con Mã cầm tinh. Vậy, chúng ta thử tìm hiểu con Ngọ như thế nào?
Ngọ tức là con Ngựa = Le cheval, đứng hạng thứ 7 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi, chúng ta cũng thường thấy những từ ngữ nói về Ngọ như sau :
Giờ Ngọ  = là giờ từ 11 giờ đến đúng 13 giờ.
Đúng Ngọ  = 12 giờ trưa.
Thượng Ngọ  = Đầu giờ Ngọ.
Trung Ngọ = Giữa giờ Ngọ.
Mạt Ngọ = Cuối giờ Ngọ.
Cúng Ngọ = Làm chay cúng khi mặt Trời đứng bóng giữa trưa.
Tháng Ngọ = là tháng năm của năm âm lịch. . . v.v.
Nhân đây, nói về Tết năm con Ngựa cầm tinh, xin trích dẫn một trong những món ăn liên quan đến con Ngựa, trong dịp Bà Từ Hi Thái Hậu, đời nhà Thanh Trung Hoa, khoản đãi phái đoàn sứ thần thuộc các quốc gia Tây Phương, nhân dịp mừng Xuân Canh Tý 1874. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, có 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời bấy giờ tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu giờ giao thừa Tết nguyên đán năm Canh Tý.
Đó là món Phương Chi Thảo như sau : Phương Chi Thảo là loại cỏ Phương Chi. Tương truyền Hoàng Đế Khang Hy nhà Thanh khi còn sanh tiền rất háo sắc, nhưng có tài y thuật cao cường. Vì vậy, dù có hằng trăm cung tần mỹ nữ cung phụng, nhà vua vẫn khỏe mạnh, vì tự bồi dưỡng cường lực bằng dược chất. Nhưng, lúc tuổi già vua mắc phải chứng bịnh khan háo trong ngũ tạng mà tự mình không thể chữa được, bao nhiêu ngự y đại tài của triều đình cũng bó tay, vua phải bố cáo tìm danh y, thần dược trong dân gian. Ngày nọ, có một dị nhân xin yết kiến rồi móc trong người ra một bó cỏ rất lạ, rễ xanh, lá dài như lá hẹ nhưng màu đỏ tía, ngọn lại trắng. Vua biết là cỏ quí nên hỏi, dị nhân trả lời. Đó là cỏ Phương Chi mọc trên đỉnh Thái Hàng Sơn hướng về mặt trời, đặc biệt chỉ mọc một lần trên một tảng đá duy nhứt cao và chênh vênh vào dịp Trung Thu năm nhuần, cỏ này chỉ sống trong khoảng 30 đến 45 ngày, lúc gặp ngọn gió bấc đầu  mùa  thì lập tức  bị khô héo. Việc  hái cỏ  cũng rất công phu, phải dắt theo một con Ngựa toàn bạch lên đỉnh núi cao trước một ngày, đợi khi mặt trời vừa mọc lên, mới đem Ngựa tới phiến đá để con Ngựa ăn cỏ Phương Chi, khi Ngựa vừa ăn xong, phải  lập tức chém đầu và mổ bụng để lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô. Cỏ Phương Chi khi ăn vào làm cơ thể mát mẻ, đồng thời trị tuyệt các bịnh trầm kha hoặc hiểm nghèo. Trong đại tiệc do Từ Hi Thái Hậu khoản đãi, Phương Chi Thảo được nấu chung với Long Tu (Râu Rồng), thực khách ăn xong cảm thấy tinh thần vô cùng sảng khoái, cả tháng sau không khát nước cũng không mệt mỏi. (tài liệu này do Mọt Sách  sưu tầm và tường thuật).
Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn thời gian 10 năm những năm con Ngựa vừa qua và sắp tới có Hành như thế nào? để cống hiến quý bà con đồng hương nhàn lãm hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Ngọ hay không như dưới đây  :
Tên Năm         Thời Gian       Hành Gì?
Bính Ngọ        25-01-1906 đến 12-02-1907  Thủy
Mậu Ngọ        11-02-1918 đến 31-01-1919  Hỏa
Canh Ngọ       30-01-1930 đến 16-02-1931  Thổ
Nhâm Ngọ      15-02-1942 đến 04-02-1943  Mộc
Giáp Ngọ        03-02-1954 đến 23-01-1955  Kim
Bính Ngọ        21-01-1966 đến 08-02-1967  Thủy
Mậu Ngọ        07-02-1978 đến 27-01-1979  Hỏa
Canh Ngọ       27-01-1990 đến 14-02-1991  Thổ
Nhâm Ngọ      12-02-2002 đến 31-01-2003  Mộc
Giáp Ngọ        31-01-2014 đến 18-02-2015  Kim
Xuyên qua thời gian năm Ngọ ở trên, chúng ta thấy cứ 12 năm thì năm Ngọ trở lại, nhưng can khác nhau và cứ 60 năm thì năm Ngọ trở lại can giống nhau.
Nhân đây, xin trích dẫn Sấm Trạng Trình (*) dưới đây :
Long vĩ xà đầu khởi chiến chinh,
Can qua xứ xứ khởi đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.
(*) Ðối với Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) đã viết Sấm Giảng trên 5 thế kỷ kể từ khi Cụ sanh ra đời (1491-2011) làm sao đoán trúng năm nào là năm Ngọ (Mã) Cụ nói, chúng ta chỉ biết sau khi sự việc xảy ra mà thôi.
Kính chúc quý bà con đồng hương năm mới mọi nhà được An Lạc cùng Đắc Thành tất cả.
Hàn Lâm NGUYỄN-PHÚ-THỨ
Mừng Xuân Giáp Ngọ 2014
(Trích dẫn tác phẩm Tử-Vi & Địa-Lý Thực-Hành của Gs Hàn Lâm Nguyễn-Phú -Thứ)
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/1/2014