ĐỒNG HỒ SINH KHÍ ( tư liệu Y Khoa)
thuannghia | 04 January, 2014 16:04
Để tiện lợi chu việc chú giải các Topic viết về Khí Công nói riêng và Đông Y nói chung, cũng như những chiết giải về các bài viết về Dao Động Tổng Hợp trong những Topic sắp tới. Đặc biệt là cho những người mới theo học Đông Y hay Khí Công. Lão phu dựa vào Y Lý Đông Phương và các minh họa của Y Học hiện đại để thiết lập ra một đồ hình tạm gọi là Đồng Hồ Sinh Khí hay là Bánh Xe Năng Lượng Sinh Học.
Đồ hình Đồng Hồ Sinh Khí này không những đúc kết toàn bộ lý thuyết về Kinh Mạch Huyệt Vị một cách logic và ngắn gọn rõ ràng nhất mà còn cô động toàn bộ lý thuyết về Khí Hóa trong Đông Y và trong cả Triết Học Á Đông.
Với đồ hình sinh khí đơn giản này, bạn sẽ có một Chiếc Chìa Khóa vạn năng để mở mọi cánh cửa đi vào thế giới bao la, rồi rắm, và miên man như Ma Trận của học thuyết Đông Y, của Kinh Dịch, của Tử Vi Đẩu Số và Kỳ Môn Độn Giáp....và sẽ vững vàng, chắc chắn để lý giải mọi khái niệm, mọi ngã rẽ, mọi ngõ ngách kỳ bí hư ảo, mông lung...nhưng không kém phần hấp dẫn của Triết Học Á Đông.
Với người đã tinh thông về Y Lý thì không cần đến đồ hình này trong khi hành nghề, nhưng nó không phải là vô vị khi cần truyền đạt hay lý giải cho bệnh nhân và học trò
Cấu trúc của Đồng Hồ Sinh Khí như sau:

Đồng Hồ Sinh Khí được cấu tạo bằng Ba Vòng Tròn Đồng Tâm và Sáu Trục Tý Ngọ Xuyên Tâm chia Ba Vòng Tròn Đồng Tâm thành 12 phần
1- Vòng tròn thứ Nhất trong cùng:
Ở giữa vòng tròn này có hình một ngôi sao Sáu Cạnh. Mỗi cạnh của Ngôi Sao là hình chữ nhật và được vẽ hai màu Trắng và Đen. Trắng là Dương, Đen là Âm.
Ngoài các cạnh của ngôi sao sáu cạnh này có ghi tên các Đường Kinh. Đường Kinh nào ở cạnh màu Trắng là đường Kinh Dương. Đường Kinh nào nằm ở các cạnh màu Đen là đường Kinh Âm. Ví dụ Tâm Kinh nằm ở cạnh màu Đen nên nó là đường Kinh Âm, Tiểu Trường Kinh nằm ở cạnh màu Trắng, nó là đường Kinh Dương. Tương tự, Đởm Kinh nằm ở cạnh màu Trắng, nó là đường Kinh Dương, Can Kinh nằm ở cạnh màu Đen, nó là đường Kinh Âm.....
2- Vòng tròn thứ Hai:
Ở trên vòng tròn này có các cặp hình thoi tô màu khác nhau. Trên đó có ghi rõ hình thoi nào mang Hành gì. Và màu hình thoi được tô cũng chính là màu sắc của Hành đó. Và các hình thoi này nằm ở vị trí tương ứng với tên các đường Kinh ở vòng trong thứ nhất bên trong. Cho nên các đường Kinh tương ứng cũng mang Khí Hóa của Hành đó cùng màu sắc tượng trưng của nó. Ví dụ Thận Kinh ứng với hình thoi màu Xanh Đậm có ghi là Âm Thuỷ, thì Thận Kinh thuộc hành Thủy và mang Khí Âm. Lưu ý trong Triết Học Á Đông cho hành Thuỷ là màu Đen. Nhưng trong đồ hình lại mang màu Xanh Biển, vì sao tôi sẽ lý giải trong các topic sau. Tương tự Đại Trường Kinh ứng với hình thoi màu Trắng có ghi là Dương Kim, thì kinnh này màu tượng trưng là màu Trắng thuộc Hành Kim và mang Khí Dương.....
3- Vòng tròn thứ Ba:
Ở vòng tròn này bị các trục Tý Ngọ Xuyên Tâm chia thành 12 phần. Trên mỗi phần có ghi các con số Chẵn. Đó chính là các con số chỉ Giờ vận hành tối đa của Khí Hóa của đường kinh tương ứng trong Vòng Tròn Thứ Nhất. Vì mỗi ngày có 24 giờ nhưng chỉ có 12 Đường Kinh, nên mỗi đường Kinh vận hành mạnh nhất trong 2 tiếng Đồng Hồ. Con số chẵn gi trên đồ hình là chỉ Giờ Khởi Đầu mạnh nhất của đường Kinh. Ví dụ Kinh Tâm ứng với số 12 có nghĩa là Tâm Kinh hoạt Khí mạnh nhất từ 12trưa cho đến 2 giờ chiều. Tương tự..Đởm Kinh tương ứng với con số 24 có nghĩa là Kinh Đởm hoạt khí mạnh nhất từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng.
Thời Khí của Kinh Mạch được ghi trong vòng tròn thứ Hai này rất quan trọng trong việc Thời Châm và vận khí theo thời gian cũng như dùng thuốc trị bệnh lúc nào là có hiệu quả nhất..Vì lúc Hành Khí của kinh mạch mạnh nhất, thì cũng chính là khí hóa của cơ quan nội tạng tương ứng mạnh nhất. Đó là lúc vận khí hay dùng thuốc trị bệnh cho cơ quan nội tạng đó có hiệu quả nhất
Ở phía ngoài cùng của Vòng Tròn Thứ Ba có Ba Vòng Tròn Màu Đỏ có ghi Đoạn Chu Thiên 1, 2 và 3
Vòng tròn ghi Đoạn Chu Thiên 1 là nơi bắt đầu sự Vận Hành khí hóa của 12 Đường Kinh. Bắt đầu từ kinh Tâm thuận theo chiều kim đồng hồ 12 Đường Kinh tương ứng ghi trong đồ hình và kết thúc tại Kinh Tỳ và tiếp tục liên tục như vậy gọi là vòng Vận Khí Đại Chu Thiên.
Vòng Đại Chu Thiên được hình thành bằng Ba Vòng Đoạn Chu Thiên. Mỗi vòng Đoạn Chu Thiên có Bốn đường Kinh. Bắt đầu từ lòng ngực chạy theo cánh tay phía trong đến ngón tay rồi chạy dọc theo cánh tay phía ngoài lên đỉnh đầu, chạy xuống dọc lưng và xuống ngoài bàn chân, rồi chạy ngược phía trong chân qua vùng bụng và kết thúc ở ngực. Sự vận hành của các Đoạn Chu Thiên nào cũng tuân theo nguyên lý này cả.
Mỗi vòng Đoạn Chu Thiên đều có ghi bao gồm các đường kinh liên tiếp nối nhau ở trong đồ hình. Lưu ý đối vời hành giả Khí Công. Đây là một nguyên lý vận hành Khí Huyết rất quan trọng cho quá trình trì luyện ở cảnh giới cao
4- Sáu Trục Tý Ngọ xuyên tâm:
Trên đồ hình có Sáu Trục xuyên tâm chia vòng tròn thành 12 phần bằng nhau. Đó chính là các trục Tý Ngọ. Biểu thị sự cân bằng Âm Dương của các Kinh Mạch theo học thuyết Tý Ngọ Lưu Chú.
Ví dụ trục có ghi Đoạn Chu Thiên 1. Trục này xuyên tâm và chia vòng tròn ra hai phần đối xứng. Đường Kinh ghi ở bên này đối xứng qua trục ở bên kia vòng tròn chính là Tý Ngọ Lưu Chú của chúng. Ví dụ ở trục này có Tâm Kinh ở bên phải, đối xứng qua bên kia vòng tròn là Đởm Kinh. Vậy thì Tâm Kinh và Đởm Kinh là Tý Ngọ Lưu Chú của nhau. Kinh Âm là Tý, Kinh Dương là Ngọ.
Tương tự cũng trên trục này Tỳ Kinh đối xứng qua trục là Tam Tiêu Kinh, nên Tỳ Kinh và Tam Tiêu Kinh là Tý Ngọ Lưu Chú của nhau
Tương tự theo nguyên tắc này chúng ta cứ tìm các Đường kinh đội xứng qua trục để biết Tý Ngọ Lưu Chú của 6 cặp 12 đường Kinh.
Học thuyết Tý Ngọ Lưu Chú cực kỳ quan trọng trong thuật Bổ Tả của Châm Cứu
Ngoài ra trong Vòng Đại Chu Thiên bắt đầu từ Tâm Kinh và thuận theo chiều kim Đồng Hồ và kết thúc ở Tỳ Kinh còn có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong Đông Y và Khí Công nữa là quan hệ Mối Quan Hệ Chu Thiên.
Một đường Kinh bao giờ cũng kết nối với Hai đường Kinh khác trong Vòng Đại Chu Thiên. Đường Kinh đi trước nó gọi là Mẫu, đường kinh đi sau nó gọi là Tử. Đây là mối quan hệ Mẫu Tử Chu Thiên.
Ví dụ, Kinh Thận, theo vòng Đại Chu Thiên, đường kinh đi trước nó là Bàng Quang Kinh, cho nên Mẹ của Kinh Thận là Kinh Bàng Quang. Đi sau kinh Thận là kinh Tam Tiêu, cho nên nói con của Kinh Thận là kinh Tam Tiêu.....
Hai đường kinh cùng màu nằm kề nhau là quan hệ Phu Thê. Ví dụ hai đường kinh Vị Kinh và Tỳ Kinh cùng màu Vàng nằm kề nhau là quan hệ Vợ Chồng. Tỳ là Vợ của Vị. Tương tự, Tâm Bào Kinh và Tam Tiêu Kinh là hai màu đỏ nằm kề nhau, cho nên gọi Tâm Bào là Vợ yêu (hay trời đánh) của Tam Tiêu he he he he....
Và hai đường kinh Khác Màu nằm kề nhau thì gọi là mối quan hệ Huynh Đệ. Ví dụ Can Kinh màu Lục nằm kế Phế Kinh màu Trắng trong vòng Chu Thiên, đường kinh nào đi trước thì làm lớn, nên gọi Can Kinh là chị của Phế kinh. Họăc Kinh Tiểu Trường màu đỏ nằm cạnh Bàng Quang Kinh màu Xanh, Tiểu Trường đi trước nên gọi Tiểu Trường là Anh của Bàng Quang.
Châm Cứu, Bấm Huyệt, Khí Công ...hay các liệu pháp Sinh Khí khác đều nhằm mục đích Dung Hòa các mối quan hệ này. Đó chính là ý nghĩa tối hậu của khái niệm Điều Hòa Âm Dương trong lý luận Bệnh Lý của Đông Y.
Ngoài ra đồ hình Đồng Hồ Sinh Học còn mang nhiều ý nghĩa huyền ào khác nữa. Nhưng khi các bạn nắm giữ được ý nghĩa của đồ hình mà lão phu đã chú thích trên. Thì các bạn đã có cái chìa khóa vạn năng để mở tất cả các cánh cửa huyền bí của Triết Học Á Đông nói chung và Đông Y cũng như Khí Công Y Đạo nói riêng
Chúc các bạn thành công và vui vẻ
04.01.14
TN
Vĩnh Baor suwu taamf 14/1/2014
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét