Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa ?
Ngài Tinh Vân bảo : Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
1/- Thứ nhất, “học nhận lỗi“. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2/- Thứ hai, “học nhu hòa“. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
3/- Thứ ba, “học nhẫn nhục“. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4/- Thứ tư, “học thấu hiểu“.Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5/- Thứ năm, “học buông bỏ“. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6/- Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
7/- Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
Trong phần thảo luận của bài Vịt quay Bắc Kinh, Dương Trần có hỏi: “ Tôi mới xem một chương trình của mấy anh ba tàu nói về “Hành trình của mỳ sợi”. Trong đó có nói đến món bún của các dân tộc ở Nam Trung Hoa và Đông Nam Á, họ cho rằng món bún là do người Hán thời Tống truyền lại cho người Thái rồi từ đó lan sang các dân tộc khác. Tôi cảm thấy hơi nghi ngờ. Chẳng hay bác có biết gì về lịch sử của món bún hay không?” Bài viết này để trả lời câu hỏi trên về bún của Dương Trần. Toàn bộ ảnh trong bài lấy từ internet.
Một kiệu được rước trong hội làng bún Phú Đô, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội, năm năm mới tổ chức một lần. Trên kiệu là một mâm lễ toàn… bún. Đình làng Phú Đô thờ ông tổ nghề làm bún Hồ Nguyên Thơ nhưng lại không rõ năm sinh năm mất. Hình từ trang này.
“Nghìn năm bảo vật đất Thăng Long Bún chả là đây có phải không?”
Có ông thầy dạy tiếng Anh của mình người New Zealand quát cả lớp thế này: “Các anh các chị chẳng biết làm văn gì hết! Tả bún chả mà viết rằng bún làm từ gạo, chả làm từ thịt thì đứa trẻ lên ba cũng viết được. Muốn người nước ngoài bị thu hút phải biết nói rằng bún chả nước tôi là món ăn cực kỳ lâu đời, vẫn giữ nguyên hương vị của một nghìn năm về trước, nhưng vẫn chứa đựng cả tiến trình lịch sử trong đấy, cà rốt trong bát nước mắm qua đường Trung Quốc vào Việt Nam khoảng thế kỷ 15, xà lách có từ rất lâu rồi nhưng ăn sống là do ảnh hưởng của người Pháp mang lại, bịa ra mà nói chứ!” Mọi người gật gù tán thưởng nhưng qua đấy thì biết bún ở ta cũng đã cả nghìn năm tuổi. Bún là một món ăn cổ truyền, mà “cổ truyền” nghĩa là vốn có từ xa xưa, qua nhiều thế hệ rồi truyền lại đến ngày nay nên tìm ra nguồn gốc chính xác của nó không hề dễ dàng.
Hai người đang phơi bún ở một làng nghề truyền thống tại huyện Thanh Giản, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Tân Hoa xã cho biết doanh thu của nghề làm bún ở huyện này trung bình khoảng 18.87 triệu đô la Mỹ một năm. Huyện giáp ranh với tỉnh Sơn Tây, quê hương của các loại thức ăn hình sợi dài mà ta thường gọi là mì. Hình từ trang này.
Người Hán đã xây nên một nền văn minh cổ đại rực rỡ và thế giới biết đến điều ấy một phần là nhờ họ có hệ thống văn tự hoàn chỉnh từ rất sớm. Chính nhờ lợi thế này (và những cứ liệu cổ xưa ấy còn lưu lại đến nay) mà họ có thể tuyên bố nhiều điều rất danh chính ngôn thuận. Cộng thêm với tính cách tự phụ của dân tộc, họ muốn nhận tất cả những sáng chế phát minh về mình (nên mới ép FIFA phải công nhận bóng đá có nguồn gốc từ Trung Quốc) vì vậy việc bác Dương Trần thấy trên chương trình cũng là chuyện thường ngày ở huyện. Nói họ sai cũng không được, mà công nhận đúng thì ấm ức, nên ta cứ thong thả nghiên cứu xem sao.
Công nhân đang chia bún theo khối lượng trong một xưởng sản xuất “bún sạch”. Chọn ảnh sản xuất công nghiệp vì trông quy trình làm bún đỡ… sợ hơn. Nhìn ảnh sản xuất bún tại các làng nghề lại thấy bát bún… mất cả ngon. Hình từ trang này.
Nhiều người thường thắc mắc là bên Tàu có bún, phở, miến, bánh đa hay không, xin trả lời ngay rằng họ có đủ cả, chỉ là hơi khác ta về cách gọi tên mà thôi. Trong phạm vi bài này ta chỉ tập trung vào một món duy nhất là bún vì nếu nói về mì sợi ở Trung Quốc có lẽ phải thêm độ dăm ba bài nữa. Trước hết cùng định nghĩa xem bún là gì? Bún là một từ thuần Việt, chữ Nôm viết là . Phần bên trái là chữ mễ nghĩa là gạo, phần bên phải là chữ bốn để đọc ra âm bún. Bún là thức ăn tinh bột phổ biến thứ ba tại nước ta, chán cơm chán cả phở thì đi ăn bún. Từ Bắc chí Nam, ở đâu vùng nào cũng đều gọi là bún. Bún và phở cùng làm từ bột gạo tẻ nhưng có một số đặc điểm khác nhau như sau:
Thứ nhất, rõ ràng nhất về mặt hình thức, bún sợi nhỏ, tiết diện tròn, màu trắng tinh, phở sợi to, dẹt, tiết diện hình chữ nhật, màu trắng đục Thứ hai, bột gạo làm bún sau khi đẩy qua lỗ nhỏ thành sợi được thả ngay vào nồi nước sôi luộc khoảng một phút còn phở thì phải hấp, tráng như bánh cuốn rồi mới cắt sợi. Thứ ba, bột bún phải được lên men còn bột phở xay ra phải nấu ngay cho khỏi chua.
Đó là về phần bún ta, còn bún Tàu thì sao? Về cơ bản người Hoa có hai loại “thức ăn sợi” làmiến điều (麵條) và mễ phấn (米粉). Miến điều tiếng Việt ta dịch là mì, nghĩa là các loại sợi làm bằng bột mì. Mễ phấn là tên gọi chung tất cả các loại sợi làm bằng bột gạo tẻ hay nói cách khác bao gồm phở, bún, hủ tiếu, mì Quảng, bánh hỏi, bánh đa (cua). Miền Bắc Trung Quốc ăn bột mì nhiều nên dùng miến điều là chính, miền Nam Trung Quốc giống ta ăn nhiều gạo hơn nên mới có mễ phấn. Bún là mễ phấn sợi nhỏ, phổ biến ở các nước Đông Nam Á hơn là Trung Quốc. Tiếng Hán gọi bún là Quế Lâm mễ phấn (Quế Lâm là thành phố lớn của Quảng Tây – tỉnh giáp với Đông Bắc Việt Nam). Tiếng Anh gọi bún là rice vermicelli để phân biệt với rice noodles, ricelà gạo còn vermicelli là một loại pasta có sợi rất nhỏ.
Người Hán giải thích việc ra đời của mễ phấn có hai giả thuyết. Thứ nhất là vào thời Ngũ Hồ loạn Hoa (304 – 439) chiến tranh liên miên dẫn đến sự rút lui của nhà Tấn về miền Nam Trung Quốc, trên đường vừa chạy giặc vừa phải đảm bảo việc ăn uống, người ta nghĩ ra cách làm bún. Là món ăn làm từ gạo, đã nấu chín sẵn, khi ăn chỉ việc thả vào nước sôi (kiểu mì ăn liền) mà lại dễ dàng vận chuyển, không rơi vãi như gạo. Phương án thứ hai được đưa ra là sự di cư của người Hán từ phía Bắc xuống phía Nam mang theo văn hóa làm mì, trong khi miền Nam lại không có lúa mì nên họ thay bằng bột gạo. Bún không bảo quản được lâu như mì, tốn gạo, làm lại vất vả nên ngày xưa bún là món ăn cao cấp, bún xào là món đãi khách của nhà quan thời đó.
Làm bún là một nghề thủ công truyền thống ở khắp mọi nơi trên nước ta. Ngày nay nhiều hộ sản xuất bún đã đầu tư máy móc để tăng năng suất và giảm bớt công sức lao động nặng nhọc. Hầu hết những dây chuyền này được nhập khẩu từ… Trung Quốc. Gần như các làng nghề ở Trung Quốc đã công nghiệp hóa cao độ chỉ trừ những công đoạn bắt buộc yêu cầu làm tay để đảm bảo chất lượng.
Vậy thì ngày nay ta còn có thể ăn được bún Trung Quốc ở đâu? Hồng Kông và Quảng Đông – Phúc Kiến hay thậm chí Đài Loan có rất nhiều món mì gạo nhưng chúng giống phở hơn là bún. Muốn ăn bún sợi nhỏ phải đi sâu xuống miền Nam với hai món nổi tiếng đó là Bún qua cầu Vân Nam và Bún ốc Liễu Châu.
Bún qua cầu mà hay được dịch qua tiếng Việt là mì qua cầu, rất nổi tiếng ở tỉnh Vân Nam. Cái tên gọi rất thú vị Quá kiều mễ tuyến – bún qua cầu này xuất phát từ một câu chuyện cảm động (phải phục người Trung Quốc hay nghĩ ra những truyền thuyết mĩ miều). Món này ăn ngon nhất ở huyện Mông Tự, vì câu chuyện cũng diễn ra ở đây. Có một anh chàng dùi mài kinh sử để chờ ngày lên kinh ứng thí nên chọn địa điểm ngồi học là hòn đảo nhỏ giữa hồ cho yên tĩnh. Hằng ngày vợ anh mang cơm ra, nhưng từ nhà đến chỗ chồng ngồi học phải đi khá xa, lại phải qua một cái cầu mới sang được đảo, đến nơi thì thức ăn nguội cả, canh thì lạnh, bún thì nhũn. Cô vợ thương chồng quá mới nghĩ ra một cách là nấu nước dùng trong nồi đất, ninh thịt gà đến khi nước đặc lại, có một lớp mỡ dày nổi ở trên để giữ nhiệt cho nước dùng bên dưới. Bún và thịt gà để riêng sang một bát khác, khi ăn mới thả vào nước. Người chồng ăn bún nóng hổi ngon quá mới hỏi vợ đây là món bún gì. Cô vợ nghĩ đến con đường hằng ngày mình đi mà trả lời chồng là món bún qua cầu. Đại loại truyện uyên ương tình củm là vậy và quan trọng là cách ăn như thế vẫn truyền lại đến tận ngày nay.
Một suất bún qua cầu. Sợi bún này không được gọi là mễ phấn mà gọi là mễ tuyến (米线). Phấn là bột còn Tuyến là sợi, loại bún này chỉ Vân Nam mới có vì bột làm bún phải lên men, bún làm xong thơm mùi gạo, khá giống cách làm bún ta.
Một bát bún qua cầu cay sau khi đã thả các nguyên liệu vào nước. Sợi bún trông như bún bò Huế. Cách ăn thì giống với Tsukemen, một món ramen để mì riêng, nước canh nóng riêng của Nhật. Mấy anh Tây thì nói bún qua cầu này ăn cứ như phở gà Việt Nam, nghe mà ức (trai toàn tập)!
Món thứ hai là bún ốc Liễu Châu (để cho một số bác bớt huênh hoang mỗi quê ta có đặc sản bún ốc, danh hài Anh Đỗ người Úc đã nói đùa là có khi người Pháp học tập được cách ăn ốc cùng với lại cách làm baguette, champagne khi sang cai trị Việt Nam!). Người Trung Quốc có câu nổi tiếng về các thành phố ở Giang Nam mà bài trước mình mới trích có một phần: “Sinh ở Tô Châu, sống ở Hàng Châu, ăn ở Quảng Châu, chết ở Liễu Châu”. Tô Châu nhiều gái đẹp, sinh ở đấy thì được cái mặt tiền tử tế, Hàng Châu cảnh đẹp, sạch sẽ lắm chỗ chơi bời, Quảng Châu giáp biển, khí hậu ấm áp nên đủ món ngon rừng biển (người Quảng Châu ăn tất cả những gì hai chân trừ con người, tất cả những gì bốn chân trừ cái ghế). Thế còn “chết ở Liễu Châu”? Là vì Liễu Châu có nhiều gỗ tốt, nổi tiếng với nghề đóng quan tài. Dân ở đây cho rằng “quan tài” là viết tắt của “thăng quan phát tài” nên mới có chuyện độc nhất vô nhị là bán quan tài nhỏ xinh làm đồ lưu niệm, quan chức mua quan tài biếu nhau dịp lễ tết. Thế nhưng ngoài việc mua quan tài về làm quà thì cũng nên thử qua món bún nữa nhé.
Bún ốc có cả vỏ (yên tâm là ăn xong không phải đi đổ vỏ đâu). Nước dùng màu đậm, không thanh lịch như bún ốc Tràng An.
Quay lại với câu hỏi của bác Dương Trần, mình thì nghĩ rằng đúng là người Hán truyền cho người Thái thật, vì người Thái vốn sống ở miền nam Trung Quốc trước khi tràn xuống chiếm đất Thái Lan bây giờ. Bún của người Thái gọi là Khanom chin mà trong đó chữ chin nghĩa là Trung Quốc. Còn các trường hợp Lào, Campuchia, Myanmar (MIẾN Điện là đây chăng?), Malaysia và Indonesia thì mình lại nghĩ là do Hoa Kiều đến định cư rồi dần bản địa hóa món bún. Ngay trường hợp Việt Nam ta cũng có khả năng như vậy mặc dù hoàn toàn có một khả năng khác là các cụ nhà ta cũng nghĩ ra được. Có điều riêng người Việt chắc không thể học món bún thông qua người Thái được, non sông cách trở mà Vân Nam đi qua lại chẳng gần hơn hay sao? Thôi thì nguồn gốc bún ra sao cũng được, chỉ biết cứ về đến nhà, ra đầu đường có bát bún nóng mà ăn là thấy hạnh phúc lắm rồi, chữ mỗi lần nhìn lên kệ hàng của tiệm bán đồ châu Á, cả chục loại bún khô đóng gói xanh đỏ, ngoằn ngoèo đủ thứ tiếng lại chỉ biết… thở dài quay đi!
Một mâm khanom chin với nước dùng và rau sống kiểu Thái.
Phật giáo qua tranh: phật A Di Đà và phật Thích Ca: là hai hay là một?
Trong bài trước, bạn La Thần có hỏi: phật A Di Đà với phật Thích Ca là hai hay là một?
Câu này cũng có bạn hỏi tương tợ trên mạng, và câu trả lời được Yahoo Hỏi-Đáp bình chọn hay nhất là:
Chư Phật đều giống nhau. Các Ngài vốn đã Vô Ngã, không còn chấp vào cái tên nữa. Do đó, Phật Thích ca cũng là Phật A Di Đà, Phật Di Đà cũng là Phật Thích Ca. Chỉ có phàm phu mới còn chấp vào cái tên mà phân biệt Phật này, Phật kia.
Diệu Vợi thì xin làm kẻ phàm phu để trả lời với La Thần rằng: đó là hai vị phật riêng biệt.
Cả hai tuy cùng là thái tử, cùng từ bỏ kinh thành, đi tu rồi thành Phật, nhưng phật A Di Đà là giáo chủ của Tây Thiên Cực Lạc (an vui), còn phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của cõi Ta bà (đau khổ).
Phật Thích Ca là nhân vật có thực trong lịch sử (tên là Tất-đạt-đa Cồ-đàm), là người lập nên đạo Phật.
Chân dung được cho là của phật Thích Ca năm 49 tuổi, do môn đệ là Tôn giả Phú Lâu Na vẽ. Nghe nói bức này hiện có tại Bảo tàng Anh quốc. Có bạn nào đang ở Anh đã từng đến xem chưa nhỉ? (Toàn bộ hình là lấy từ internet. Trong cả bài này, các bạn nhớ bấm vào hình để xem bản lớn hơn).
Qua lời giảng của phật Thích Ca, môn đệ ngài mới biết đến… phật A Di Đà – một vị Phật đã có từ trước đó “mười ức kiếp”, đang cai quản một thế giới cực lạc. Theo phật Thích Ca, khi còn ở cõi Ta bà này, người ta nên phấn đấu để được tái sinh vào thế giới cực lạc ấy bằng cách tu tập, thành tâm hướng về.
Theo lời giảng của phật Thích Ca, những người hằng tâm tu tập và niệm phật A Di Đà, lúc lâm chung sẽ thấy phật A Di Đà cùng hai vị bồ tát đi cùng hiện ra đưa về tái sinh ở cõi Tây thiên Cực lạc.
Trên tranh, phật A Di Đà thường được có thân (hoặc áo cà sa) đỏ, là màu mặt trời lặn ở cõi Tây. Cà sa phật A Di Đà có khoét vuông ở cổ, trước ngực có chữ vạn. Đầu phật có các xoắn ốc tóc. Nếu ở tư thế ngồi thì ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền định (hai ngón cái chụm đầu vào nhau, các ngón còn lại đan nhau), trên tay có một cái bát, là dấu hiệu của giáo chủ (cõi Tây Thiên).
Tượng phật A Di Đà ở chùa Nhật
Tranh vẽ phật A Di Đà với cà sa đỏ khoét cổ vuông, đầu có các xoắn ốc tóc. Tay ở ấn thiền định, ngồi kiết già trên tòa sen.
Một số tranh, tượng có thêm con công là phương tiện di chuyển của phật A Di Đà.
Phật A Di Đà cưỡi công
Về hình này, theo bạn Nghi Thủy thì “không phải là là đức Phật A-di-đà! Bức tượng đó là vị Khổng tước Minh vương”. Các bạn đọc thêm phần bổ sung, dẫn giải của bạn Nghi Thủy trong các cmt bên dưới bài.
Bạn cũng hay thấy tranh, tượng thể hiện phật A Di Đà ở tư thế đứng một mình, vẫn trên đóa hoa sen, nhưng như lơ lửng trong không trung. Bên dưới là biển cả nổi sóng (cõi Ta Bà). Mắt phật nhìn xuống, miệng hơi mỉm cười nhân từ, tay phải buông xuống để chờ cứu vớt chúng sinh đang chìm trong bể khổ.
Tượng phật A Di Đà ở chùa Nhật
Nhưng nhiều nhất, bạn hay thấy phật A Di Đà bên cạnh có hai vị đại Bồ tát: Quán Âm (bên trái Phật, cầm cành dương và bình nước cam lồ) và Đại Thế Chí (bên phải Phật, cầm bông sen xanh).
Ở đây có đổi thứ tự trái phải một chút: Phật A Di Đà (giữa) với Bồ tát Đại Thế Chí (bên trái, áo xanh, Bồ tát Quán Thế Âm (bên phải, áo trắng). Tranh cổ Nhật, cuối triều Goryeo (918-1392)
Phật A Di Đà cùng hai vị bồ tát cai quản cõi Tây Thiên cực lạc.
Trong khi đó, tượng phật Thích Ca thường được vẽ một mình, hai bên không có hai vị bồ tát. Phật mặc áo cà sa vàng, choàng chéo qua vai, đầu thường có một búi tóc cao. Tay phật có thể ở các tư thế khác nhau như ấn xúc địa (chạm đất), ấn vô úy (không sợ hãi), ấn giáo hóa, ấn thiền định…
Tượng phật Thích Ca với áo cà sa không khoét cổ, tóc có búi, tay ở một thế ấn thiền định.
Tượng phật Thích Ca với tay ở ấn chuyển pháp luân.
Phật Thích Ca với tay ở ấn vô úy
Ngoài ra, ở nhiều chùa, tượng phật Thích Ca là dạng Đức Phật mới sinh, với tay chỉ thiên tay chỉ địa.
Nói vậy, nhiều khi trên tranh-tượng, các họa sĩ, nghệ nhân cũng thể hiện… đa dạng lắm, chưa kể Phật ở mỗi nước còn có thể mang hình dạng khá là khác nhau.
Nhưng tóm lại, A Di Đà và Thích Ca là hai vị khác nhau. Vậy thì, lời khấn cũng khác nhau chứ: “Nam mô A Di Đà Phật” là “Đem thân và tâm kính ngưỡng về Phật A Di Đà”
Còn “Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật” là “Đem thân và tâm kính ngưỡng về Phật Thích Ca Mâu Ni”
Bạn biết thế nhé, để đứng trước tượng Phật nào thì niệm đúng tên Phật nấy. Thí dụ như mình, từ khi phân biệt được hai phật là khác nhau thì mình hay khấn phật Thích Ca mỗi khi vào chùa.
Chú thêm: Kiến thức bài này toàn là mình cóp nhặt trên mạng. Nếu thấy sai chỗ nào, các bạn nhớ sửa nhé, cho mình học thêm luôn.
Ngón tay được xem là “trái tim thứ 2” của con người, nếu chăm sóc tốt các ngón tay theo cách này, nhiều bệnh nan y của bạn có thể sẽ bị “đánh bật”. Hãy thử tập luyện ngay bây giờ.
Chữa nhiều bệnh chỉ bằng cách bóp ngón tay
Trong xã hội hiện đại, cuộc sống bận rộn bao nhiêu thì thời gian dành cho việc chăm sóc sức khỏe lại càng bó hẹp bấy nhiêu. Không những thế, nếu chẳng may bị bệnh, đa phần mọi người đều chọn cách đơn giản nhất là dùng thuốc Tây điều trị. Ít người có thời gian quan tâm hay thực hành các phương pháp phòng và chữa bệnh bằng Đông y.
Ở nhiều quốc gia châu Á lân cận chúng ta, người dân có xu hướng thích nghiên cứu và thực hành các phương pháp phòng và chữa bệnh theo cách cổ truyền cha ông xưa để lại càng ngày càng nhiều.
Đặc biệt ở Trung Quốc và Ấn Độ, đất nước có lịch sử phát triển ngành y truyền thống rất đa dạng và phổ biến sâu rộng trong đời sống nhân dân, truyền từ đời này qua đời khác. Đây là cách chăm sóc cơ thể được các chuyên gia Đông y khuyên mọi người tập luyện thường xuyên bởi nó không gây tốn kém, không mất nhiều thời gian, thực hiện được ở tất cả mọi nơi và đặc biệt, chữa được nhiều bệnh.
Theo Đông y, ngón tay chính là “trái tim thứ 2” của con người. Việc chăm sóc ngón tay có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe. Kiên trì chăm sóc thì sức khỏe của bạn sẽ tốt lên trông thấy.
Dùng ngón tay cái và ngón trỏ cầm lấy một ngón tay của bàn tay bên kia sao cho sát vào phần đầu ngón tay ở hai bên móng tay (xem hình minh họa ở dưới).
Bạn bóp day như vậy trong khoảng 10 giây. Làm lặp lại với từng ngón tay, hoặc ưu tiên ngón nào đó tương ứng với mục tiêu chữa bệnh của từng huyệt vị mà ngón tay đó sở hữu.
Công dụng chữa bệnh cụ thể của từng ngón tay:
1/. Ngón cái :Đại diện tương ứng cho khí quản và cơ quan hô hấp. Day ngón trỏ có tác dụng cải thiện hệ hô hấp, giảm ho, giảm đau khớp và một số bệnh lý khác.
2/. Ngón trỏ :Đại diện tương ứng cho hệ tiêu hóa. Thực hiện day bấm ngón trỏ giúp cải thiện bệnh viêm đường ruột, đại tràng, dạ dày.
3/. Ngón giữa :Đại diện cho tai và thính giác, day bóp ngón giữa giúp cải thiện chứng ù tai, các bệnh lý liên quan đến tai khác.
4/. Ngón đeo nhẫn :Đại diện cho cơ quan thần kinh, day bóp có tác dụng kích thích các dây thần kinh giao cảm, cải thiện khả năng miễn dịch.
5/. Ngón út : Đại diện tương ứng với các cơ quan thuộc hệ tuần hoàn, tim, thận… có tác dụng chữa các bệnh cao huyết áp, tiểu đường, đau mắt và một số chứng bệnh khác của hệ tuần hoàn.
Lưu ý khi thực hiện :Bạn cần thực hiện bài tập một cách kiên trì, đều đặn. Mỗi ngày từ 1-2 lần, mỗi ngón tay tối thiểu 10 giây. Nếu cần hỗ trợ trị bệnh hiệu quả hơn thì thực hiện trong 20 giây. Dùng lực khi day cũng cần phải chính xác. Bạn day bóp từ nhẹ đến nặng, cảm thấy hơi đau thì dừng lại.
Các chuyên gia Đông y cho biết, bài tập này đã được nhiều người thực hành và chia sẻ kinh nghiệm cho những người khác cùng biết vì cách làm đơn giản, hiệu quả có thể nhìn thấy sau 1-2 tháng, cũng có người đỡ bệnh sớm hơn.
Chuyên gia nhấn mạnh, kể cả khi bạn không có bệnh tật gì, cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh thì vẫn có thể thực hiện các bài tập này khi rảnh rỗi để phòng bệnh, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể
Nhân sâm có thể hạ huyết áp nhưng cũng có thể tăng huyết áp. Tam thất vừa có công dụng giúp cầm máu lại cũng có tác dụng hoạt huyết. Tác dụng hai chiều của thảo dược này được lý giải thế nào?
“Tác dụng điều tiết hai chiều” (dual – direction regulation) của thảo dược là một thuật ngữ mới xuất hiện những năm gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành một vấn đề trọng điểm trong nghiên cứu dược lý cũng như lâm sàng.
Tác dụng điều tiết hai chiều của vị thuốc, nói đơn giản, là những tác động theo 2 hướng tương phản – trái chiều với nhau, của cùng một vị thuốc. Ví dụ như, tam thất vừa có tác dụng “chỉ huyết” (cầm máu), lại có vừa có tác dụng “hoạt huyết” (thúc đẩy lưu thông máu). Chỉ huyết và hoạt huyết là những tác dụng điều tiết theo hai hướng tương phản với nhau.
Đông y đã sớm nhận biết về tác dụng tương phản của thuốc. Người xưa gọi đó là “nhất vật nhị khí” nghĩa là cùng một vị thuốc (nhất vật) mà có thể tạo ra 2 khí khác nhau (nhị khí). Mặc dù vậy, cho đến nay hiểu biết về cơ chế của của nguyên lý điều tiết hai chiều vẫn còn rất ít.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây, tác dụng điều tiết hai chiều của thảo dược có thể liên quan đến một số nhân tố như sau:
1. Trong thuốc có một số thành phần đối kháng
Trong mỗi một vị thuốc thảo dược, có rất nhiều thành phần hóa học khác nhau. Khi trong số những thành phần đó, có một số thành phần với tác dụng dược lý tương phản, thì vị thuốc có thể tạo ra những tác dụng điều tiết trái chiều với nhau.
Thí dụ, trong nhân sâm có nhiều loại saponin khác nhau. Trong đó, saponin loại Rb có tác dụng trấn tĩnh, ức chế thần kinh, còn saponin loại Rg lại có tác dụng kích thích, hưng phấn thần kinh. Do nhân sâm vừa có thể ức chế, lại có thể kích thích hoạt động thần kinh.
Hay như, đương quy có thể tăng co bóp, lại có thể làm giảm co bóp tử cung. Đó là vì trong đương quy có những hợp chất tan trong nước, có tác dụng kích thích tử cung, khiến cho tử cung tăng co bóp; đồng thời còn có những hợp chất tinh dầu, có tác dụng làm dịu, khiến cho tử cung giảm co bóp.
Trong đại hoàng có chứa sennoside A, là chất có tác dụng tẩy mạnh; lại có chứa các loại tannin, là những chất có tác dụng thu liễm chỉ tả. Do đó, đại hoàng có tác dụng điều tiết hai chiều, có thể thông đại tiện và có thể làm ngừng tiêu chảy.
2. Lượng thuốc với tác dụng điều tiết hai chiều
Đối với thuốc hóa dược, tác dụng của thuốc nói chung tỷ lệ thuận với lượng thuốc sử dụng, liều dùng càng cao thì tác dụng của thuốc càng mạnh. Đối với thuốc thảo dược, thì tình hình phức tạp hơn nhiều. Khi các thành phần trong vị thuốc có tác dụng dược lý tương đồng, theo cùng một hướng, thì cường độ tác dụng của thuốc cũng sẽ tỷ lệ thuận với liều sử dụng. Nhưng khi thuốc bao gồm một số nhóm thành phần, với những tác dụng dược lý trái chiều nhau, tình hình sẽ không còn đơn giản như vậy. Vì với liều lượng sử dụng nhất định, tác dụng của các nhóm thành phần có thể triệt tiêu lẫn nhau. Chính vì vậy, đối với một số thảo dược, thường xuất hiện tình trạng “vật cực tất phản” tác dụng của liều nhỏ và liều cao trái ngược nhau.
Thí dụ, tang diệp (lá dâu tằm) dùng liều nhỏ là thuốc phát hãn (làm ra mồ hôi), dùng liều lớn là thuốc chỉ hãn (cầm mồ hôi). Kim ngân và liên kiều, dùng liều nhỏ thì đi lên và có tác dụng giải biểu (giải ngoại cảm); dùng liều lớn thì đi xuống và có tác dụng giải độc. Bạch truật sử dụng liều trung bình có tác kiện vị dụng chỉ tả (mạnh dạ dày, cầm tiêu chảy), nhưng khi sử dụng với liều lớn, tới 30g, thì lại có tác dụng thông tiện.
Đại hoàng dùng với liều thường quy là một loại thuốc thông tiện mạnh, nhưng khi sử dụng với liều nhỏ thì lại có tác dụng kiện vị chỉ tả. Hồng hoa có tác dụng dưỡng huyết khi dùng liều nhỏ, còn khi sử dụng với liều cao thì sẽ có tác dụng phá huyết (hoạt huyết rất mạnh). Lộc nhung liều bình thường có tác dụng tăng cường sức co bóp cơ tim, liều lớn ngược lại có tác dụng ức chế cơ tim.
3. Bào chế với tác dụng điều tiết hai chiều
Sau khi bào chế, thảo dược không chỉ thay đổi về tính trạng vật lý, mà còn biến đổi về thành phần hóa học và tác dụng cũng thay đổi hẳn.
Ví dụ như hoàng kỳ dùng sống (sinh kỳ) có tác dụng làm tăng huyết áp và kháng lợi niệu (giảm tiểu tiện), sao vàng tác dụng sẽ ngược lại, hạ huyết áp và lợi tiểu tiện. Bồ hoàng dùng sống (sinh bồ hoàng) có tác dụng hoạt huyết, sao cháy đen thì lại chỉ huyết.
4. Phối ngũ với tác dụng điều tiết hai chiều
Trong mỗi phương thuốc, các vị thuốc được phối hợp với nhau theo quy tắc nhất định, gọi là “phối ngũ”. Phối ngũ khác nhau, thì tác dụng của thuốc cũng không giống nhau.
Thí dụ, quế chi phối hợp với ma hoàng có tác dụng phát hãn giải biểu (làm ra mồ hôi để giải cảm), phối hợp với bạch thược thì lại có tác dụng hòa doanh chỉ hãn (điều hòa doanh huyết và cầm mồ hôi). Phát hãn giải biểu và hòa doanh chỉ hãn là những tác dụng điều tiết tương phản với nhau.
Những thầy thuốc giàu kinh nghiệm, thường biết cách phối hợp các vị thuốc với nhau một cách khéo léo, để tạo ra tác dụng điều tiết hai chiều.
Thí dụ, phương thuốc “Bán hạ bạch truật thiên ma thang” vừa có thể chữa hoa mắt chóng mặt (huyễn vựng) do huyết áp tăng cao, cũng có thể chữa hoa mắt chóng mặt do tụt huyết áp. Còn phương thuốc “Kim quỹ thận khí hoàn” vừa có tác dụng chữa tiểu tiện nhỏ giọt hoặc bí tiểu tiện, lại có thể chữa tiểu tiện quá nhiều hoặc tiểu tiện không thể kiềm chế.
(Ảnh: iStock)
5. Trạng thái cơ thể với tác dụng điều tiết hai chiều
Trạng thái cơ thể là điều kiện quan trọng sản sinh ra tác dụng điều tiết 2 chiều của thuốc. Trạng thái bệnh lý khác nhau, thì tác dụng của thuốc cũng sẽ khác nhau.
Thí dụ, đối với người bị tăng huyết áp, nhân sâm có tác dụng làm hạ huyết áp, nhưng đối với người bị huyết áp thấp, nhân sâm lại có thể làm huyết áp tăng lên đến mức bình thường. Đối với phụ nữ đang mang thai ích mẫu thảo có tác dụng ức chế đối với tử cung, nhưng với phụ nữ sau khi đẻ ích mẫu thảo lại có tác dụng gây hưng phấn và làm tử cung tăng co bóp.
Trạng thái sinh lý và bệnh lý khác nhau, hiệu quả của thuốc cũng khác nhau.
Thí dụ, trong trạng thái sinh lý bình thường (cơ thể khỏe mạnh), vị thuốc hoàng cầm và vị thuốc xuyên tâm liên không có tác dụng giảm thân nhiệt. Nhưng trong trường hợp đang phát sốt, hai vị thuốc nói trên sẽ phát huy tác dụng như thuốc hạ sốt.
6. Ứng dụng lâm sàng ngày càng mở rộng
Ví dụ điển hình, đối với bệnh đông máu lan tỏa trong lòng mạch (Disseminated Intravascular Coagulation – DIC). Khi điều trị bằng thuốc hóa học, cần phối hợp hết sức khéo léo thuốc chống đông máu với thuốc cầm máu. Vì dùng thuốc chống đông máu hơi quá liều là có thể dẫn đến xuất huyết; còn dùng thuốc cầm máu hơi quá liều, thì có thể tạo thành huyết khối.
Những năm gần đây, mâu thuẫn nói trên đang dần được hóa giải, do sử dụng một số thuốc thảo có tác dụng điều tiết hai chiều đối với huyết dịch, ví dụ như tam thất, tiên hạc thảo, huyết dư thán, bồ hoàng… Những vị thuốc đó rất phù hợp trong điều trị DIC, vì có thể hoạt huyết, lại có thể chỉ huyết.
Xét theo y học hiện đại, “hoạt huyết” là tăng cường sự lưu thông máu, để phòng ngừa hình thành các cục máu đông, thậm chí còn có thể làm tan những cục máu đông. Còn “chỉ huyết” là làm cho mạch máu co nhỏ và máu đông đặc lại, để làm giảm lượng máu chảy ra ngoài từ chỗ mạch bị vỡ.
Những năm gần đây, tác dụng điều tiết hai chiều của thảo dược còn được ứng dụng ngay trong điều trị các bệnh miễn dịch, giảm cơn đau trong bệnh ung thư, các bệnh tiêu hóa… Trong tương lai không xa, các ứng dụng sẽ ngày càng nhiều.
Bạn thường phải khổ sở vì hay bị đau bụng, đợt thì tiêu chảy, lúc thì táo bón, cứ uống thuốc tây mãi không phải là giải pháp an toàn. Chi bằng dùng những bài thuốc dân gian, và chú ý chế độ ăn uống điều độ.
Lô hội
Theo Đông y, lô hội hay còn gọi là nha đam có tính mát, vị đắng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, lô hội có nhiều tác dụng hiệu quả đối với những bệnh nhân viêm đại tràng bởi tính kháng khuẩn cao, nhuận tràng, làm lành vết thương, thanh nhiệt, kích thích chức năng thải độc tố ra khỏi cơ thể…
Chữa viêm đại tràng mãn tính: Lấy 5 lá tươi của cây lô hội, tước bỏ vỏ ngoài, xay nhỏ cùng 500ml mật ong. Ngày uống từ 2 đến 3 lần, mỗi lần 30ml.
Chữa táo bón: Lấy 1 lá lô hội tươi to hoặc 20g lá, xay nhỏ với 500ml nước, uống 2 – 3 lần trong ngày.
Tiêu hóa kém: Dùng 20g Lô Hội, 12g Bạch truật, 4g Cam thảo. Sắc uống ngày một thang, uống từ 2 đến 3 lần trong ngày.
Mè đen (vừng đen)
Mè đen là loại hạt giàu chất dinh dưỡng, rất tốt cho sức khỏe và còn có tác dụng trị bệnh mà ít ai biết tới.
Bạn có thể rang mè đen đến khi có mùi thơm, cất vào lọ kín để nơi thoáng mát dùng dần. Mỗi lần lấy 1 thìa mè đen trộn với ¼ thìa mật ong nguyên chất, trộn đều sau đó ăn hỗn hợp này, chú ý hãy nhai thật kỹ. Ngày ăn khoảng 2 lần, kiên trì thực hiện trong ít nhất khoảng 1 tháng.
Trị viêm đại tràng mãn tính bằng lá vối
Loại nước uống giải nhiệt mùa hè này được nhiều người yêu thích với vị thanh mát, giải nhiệt. Không chỉ vậy, nó còn có thể điều trị viêm đại tràng.
Cách làm: 200g lá vối tươi, sau khi rửa sạch hãy vò nát và đổ nước sôi vào hãm. Uống nước lá vối tươi thay nước lọc, chúng hoàn toàn lành tính, an toàn do đó mọi người có thể an tâm sử dụng trong thời gian lâu dài. Kiên trì áp dụng bạn sẽ thấy các triệu chứng bệnh viêm đại tràng được giảm thiểu.
Bệnh có thể cải thiện khi kiên trì uống nước vối (Ảnh: internet)
Củ giềng
Theo y học cổ truyền, giềng có vị cay, tính ấm. Có tác dụng ôn trung tán hàn, chống nôn trị tả, làm ấm tỳ vị, tăng cường chức năng của tỳ thổ. Để chữa viêm đại tràng với củ giềng, chúng ta có thể làm theo những bài thuốc sau:
Giềng tươi 20g, búp ổi 20g, vỏ quả chuối xanh 30g. Cho các vị vào ấm đổ 2 bát nước, nấu sôi 10 phút, chắt ra uống dần. Bài thuốc này sẽ giúp cải thiện triệu chứng tiêu chảy, làm ôn ấm tỳ vị.
Giềng tươi rửa sạch thái lát 20g, lá lốt 20g. Cho hai thứ vào ấm chuyên, hãm nước sôi. Sau 20 phút rót nước thuốc uống dần.
Riềng có vị cay, tính ấm, có tác dụng ôn trung tán hàn, chống nôn trị tả, làm ấm tỳ vị, tăng cường chức năng của tỳ thổ (Ảnh: internet)
Lá ổi
Lá ổi là một vị thuốc rất tốt để điều trị tiêu chảy, giảm đau bụng do ruột co thắt. Người bệnh viêm đại tràng sẽ thường bị tiêu chảy, có thể dùng lá ổi để khắc phục các vấn đề này.
Cách làm: Hái phần búp lá ổi, có thể lấy cả lá non hoặc già, chuẩn bị khoảng 50g cho vào nồi đổ thêm 2 bát nước sắc lấy nước uống, đun sôi nhỏ lửa trong khoảng 15-20 phút là được. Uống mỗi lần 1 chén nhỏ, uống hết trong ngày.
Trong cơ thể có bao nhiêu loại độc tố? Hãy cùng học cách loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể
Lựa chọn thực phẩm giúp giải độc theo mùa
Nếu trong cơ thể tích tụ quá nhiều độc tố, thì một loạt các loại bệnh như táo bón, béo phì, mạch vành, tim mạch sẽ không mời mà đến. Các loại chất cặn bã nguy hại chủ yếu bao gồm độc tố dạng nước, mỡ độc, ứ độc, đờm độc, khí độc, hỏa độc…
I. Những loại độc tố trong cơ thể
Những độc tố trong cơ thể đó từ đâu ra? Làm thế nào để thải chúng ra khỏi cơ thể? Khi độc tố quá nhiều có những biểu hiện gì và có những nguy hại như thế nào? Sau đây chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách thải độc tố tự nhiên đúng đắn nhất.
“ Thải độc tố” đã trở thành cụm từ quen thuộc trong cuộc sống hiện nay của chúng ta. Trên thị trường, có rất nhiều sản phẩm hỗ trợ giúp giải độc tố, cũng xuất hiện rất nhiều các loại thuốc giúp loại bỏ độc tố cơ thể. Đặc biệt đối với nữ giới, thải độc tố để làm đẹp da đã trở thành một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của các nhà khoa học và chuyên gia dinh dưỡng của Anh công bố sẽ làm mọi người thất vọng. Họ đã lấy mẫu và phân tích 15 loại sản phẩm hỗ trợ giúp thải độc tố, từ các loại dẫn lưu bạch huyết, nước giải độc tố, thuốc viên hoàn đến các loại mặt nạ.., kết quả đều phát hiện không thấy có hiệu quả thải độc rõ rệt. Hơn 600 chuyên gia dinh dưỡng của Anh đều cho rằng: Cần làm cho cơ thể có thể tự thải độc tố một cách tự nhiên, cơ thể mới hoàn toàn tránh xa khỏi bệnh tật.
Môi trường ô nhiễm chính là ngoại độc tố (Ảnh: baotainguyenmoitruong.vn)
Cảnh báo! Theo quan điểm của y học cổ truyền Trung Hoa, nếu không giải được độc tố ra ngoài ngược lại có khi còn làm cơ thể tăng thêm độc tố, độc tố thường phân thành 2 loại lớn ngoại độc tố và nội độc tố. Nguồn gốc của ngoại độc tố là các loại chất có hại từ bên ngoài cơ thể như không khí ô nhiễm, nguồn nước ô nhiễm, thuốc trừ sâu, khói xe…Nội độc tố là các loại chât cặn bã sản sinh sau quá trình trao đổi chất của cơ thể.
Các độc tố này có tác hại tương tự như các gốc tự do. Nguyên nhân chủ yếu gây tích tụ các loại độc tố trong cơ thể gồm 2 nguyên nhân lớn: Thứ nhất, là các loại độc tố mà bản thân tự hấp thụ qua ăn uống sinh hoạt không điều độ; thứ hai là khi nhiều tuổi hoặc khi một cơ quan nào đó bị bệnh, chất cặn bã trong cơ thể không kịp thời được thải ra ngoài cơ thể sẽ bị tích tụ lại. Một chuyên gia dinh dưỡng vừa tiếp nhận một bệnh nhân nữ hơn 20 tuổi, bởi “quá háo hức muốn thải độc tố” cơ thể, lại cho rằng “ viên giải độc ngưu hoàng” có hiệu quả giải độc rất tốt, nên đã dùng trong 3 năm, thậm trí có tuần còn dùng tới 200 viên, kết quả làm cho da trở nên đen sạm, điều này chứng minh rằng nếu “ giải độc không đúng thì sẽ bị trúng độc”. Con người hiện đại thực sự có hơi ỷ lại quá nhiều vào các sản phẩm giải độc tố, cứ luôn hy vọng chỉ cần một sản phẩm có thể giải quyết được tất cả các vấn đề về sức khỏe của mình.
Khi cơ thể đã tích lũy nhiều độc tố, sẽ có biểu hiện chóng mặt, khó chịu, mệt mỏi, buồn ngủ, chán ăn, táo bón. Các loại chất độc hại trong cơ thể có rất nhiều loại, chủ yếu bao gồm gồm độc tố dạng nước, mỡ độc, ứ độc, đờm độc, khí đốc, hỏa độc…
Độc tố dạng nước
Phù- biểu hiện của độc tố dạng nước (Ảnh: internet)
Tình trạng khá là nghiêm trọng, thường xuất hiện ở những người lớn tuổi. Các triệu chứng thường gặp đó là đi tiểu ít, màu sắc nước tiểu đậm, đi tiểu bất thường… những người trên 40 tuổi cần chú ý, nếu phát hiện xưng ở dưới mí mắt, xưng ở mắt cá chân, thì nên chú ý thận trọng.
Mỡ độc
Ăn nhiều các chất dầu mỡ, sẽ làm tế bào gan bị nhiễm mỡ, dẫn tới chức năng gan không thể hoạt động như bình thường. Muốn loại bỏ mỡ độc, trước tiên cần giảm mỡ trong máu.
Ứ độc
Ứ độc thường tiềm ẩn trong mạch máu của chúng ta. Có rất nhiều người sau tuổi 40, mạch tượng thay đổi, huyết quản bắt đầu bị ứ chệ, làm tình trạng tắc nghẽn mạch máu tăng lên. Các loại bệnh có liên quan tới việc chất cặn bã bị ứ lại không thải được ra ngoài, bao gồm cao huyết áp, tiểu đường…, nếu cứ tiếp tục như vậy, sẽ dẫn tới bệnh tim, động mạch vành.
Đờm độc
Đờm nhiều là biểu hiện chủ yếu của đờm độc. Thông thường mỗi sáng sau khi tỉnh giấc, ho một vài tiếng là thôi, nhưng có một số người triệu chứng ho xuất hiện từ sáng đến tối, đây là biểu hiện của đờm tích độc. Nguyên nhân có thể là do ăn uống không điều độ hoặc mắc bệnh liên quan tới phổi.
Khí độc
Biểu hiện chủ yếu là hôi miệng và khi đại tiện có mùi bất thường. Lúc này là khí độc đang ở trong phổi, để ngăn chặn khí độc, mỗi sáng thức dậy hãy tập hít thở thật sâu, để loại bỏ khí độc ra ngoài.
II. Giải độc như thế nào?
Không nên ăn hải sản tái, sống…sẽ gây tích tụ độc tố trong cơ thể (Ảnh: internet)
Các chuyên gia chia sẻ, tự trong cơ thể chúng ta đã có một hệ thống bài tiết rất đầy đủ, bao gồm gan, thận, da và rất nhiều các cơ quan khác trong cơ thể, đều có thể loại bỏ các chất cặn bã ra ngoài.
Gan
Các loại thực phẩm mà chúng ta hấp thụ, ví dụ như hải sản chưa chín hẳn ngày càng không an toàn do môi trường ô nhiễm, đây là giai đoạn gan phát huy tối đa tác dụng của mình. Theo Trung y, gan là cơ quan giải độc, tham gia hầu hết quá trình trao đổi chất, có thể bài tiết các loại chất cặn bã và các loại chất độc ra ngoài.
Thận
Thận có vai trò thải độc quan trọng nhất, có thể lọc các độc tố trong máu, thải ra ngoài qua đường tiết niệu. Có một nghiên cứu đã chứng minh: con người không cần ăn cơm có thể sống được 20 ngày, nhưng thận không thải được độc tố, thì chỉ sống được 5 ngày. Với người bình thường, sau tuổi 30 chức năng của thận bắt đầu suy giảm, khả năng thải độc cũng giảm xuống.
Phổi
Là một trong những cơ quan dễ tích tụ độc tố nhất. Một ngày chúng ta hít hơn 1000 lít không khí vào phổi, có rất nhiều các chất có hại như tế bào, mầm bệnh, bụi bặm… cũng theo đó thâm nhập vào cơ thể. Nhưng theo bác sỹ hô hấp, phổi có thể tự loại bỏ các độc tố và các chất cặn bã ra ngoài cơ thể, nhưng so với lượng đã hít vào, thì hoàn toàn không đáng kể.
Ngoài ra, đường tiêu hóa, mồ hôi, nước bọt, nước mắt cũng có thể loại bỏ một phần độc tố ra khỏi cơ thể.
Chính bản thân bạn cũng hoàn toàn có thể trở thành một chuyên gia tự giải độc tố cho mình. Theo hầu hết các chuyên gia bày tỏ, chỉ cần bạn nắm bắt được các quy luật, thì có thể thành công trong việc tự loại bỏ độc tố trong cơ thể.
Thời gian và phương pháp giải độc tố
Theo quy luật dưỡng sinh 12h một ngày của y học cổ truyền Trung Hoa, thời gian buổi sớm giờ mão, 5 – 7h; buổi trưa giờ ngọ, từ 1 -3h; buổi tối giờ dậu, từ sau 5h chiều -7h tối lần lượt là thời gian đại tràng, đường ruột, thận bắt đầu giải độc, vào lúc này có thể uống nhiều nước hoặc uống trà xanh để đi tiểu thải độc tố ra ngoài.
Ăn uống theo mùa để giải độc tố
Mùa xuân nên ăn giá đỗ, dâu tây; mùa hè nên ăn chè đậu xanh, cháo đậu xanh, ăn nhiều bí đao, dưa hấu, măng tre.., mùa thu nên ăn lê để giúp lợi cho phổi, mùa đông nên ăn nhiều gừng sống để giải độc, có thể ăn cà rốt, bắp cải cũng giúp giải độc.
Giữ cho cơ thể “ ba thông”
Đại tiện, tiểu tiện, và mồ hôi là 3 con đường thải độc tố tự nhiên của cơ thể, luôn phải giữ cho được thông suốt. Đại tiện giúp thải 50% lượng độc tố ra ngoài cơ thể, nên hình thành thói quen đại tiện đúng giờ, do cuộc sống nên con người hiện đại ngày nay có thể hai đến ba ngày đi đại tiện một lần, điều này là không tốt. Thông thường, mỗi ngày ít nhất nên ăn 500g rau xanh, ăn một bữa ăn chứa các loại ngũ cốc, sẽ có thể giúp bạn tránh xa khỏi bệnh táo bón.
Cuối cùng chúng tôi giới thiệu cho bạn một cách giúp “giải độc bằng đậu xanh”: cho đậu xanh còn nguyên cả vỏ hầm chín, chắt phần nước đậu xanh đó nấu với trứng gà, đậy nắp và để trong tủ lạnh 2 đêm, có thể sử dụng giúp hạ hỏa, giải độc tố rất hiệu quả.