Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

Nghĩ về học Hán Nôm

Nghĩ về học Hán Nôm

Blog người hiếu cổ - Nhiều người hỏi tôi học Hán Nôm là học cái gì, tôi nhiều lần ra sức giải thích, rồi người ta dần cũng hiểu được "mang máng" thế nào là Hán Nôm. Nhân đọc được bài viết cảm nghĩ về học Hán Nôm của bạn tôi là NCS Nguyễn Đức Toàn, xin trích lại để bạn đọc nào ghé thăm Blog người hiếu cổ hiểu thêm về sự học Hán Nôm dưới góc nhìn của một người nghiên cứu và yêu Hán Nôm:
Xưa đi luyện thi ĐH học thầy Phương khoa Văn học. Mình thích cái kiểu giảng bài từ tốn của thầy không sóc, không khoa trương mà cách nói rất giản dị. Thầy trông mộc mạc đi chiếc cúp Honda cũ kỹ. Dịp ấy mới bổ sung thêm phần thơ văn Hồ chủ tịch vào bộ đề. Nghe thầy giảng nhớ được mấy điểm hay. Bác Hồ làm văn làm thơ, bác luôn quan tâm chú ý đến mấy điểm chính là: Viết để làm gì, Viết cho ai, Viết cái gì và cuối cùng là viết như thế nào. Từ cách phân định rạch ròi đối tượng, phương tiện và mục đích như thế nên văn chương Hồ chủ tịch rất gần với quần chúng mà lại rất uyên bác với các trí thức nhân sĩ cũ gây được ảnh hưởng trong cuộc đời làm cách mạng của bác. Nhớ bài thầy, giờ lại ngẫm lại việc học Hán Nôm của thế hệ ngày nay. Khi mà kinh tế mở cửa phát triển. Văn hóa cũ từng lớp từng lớp được phục hồi dần dần. Suy ra cái lý luận để cho việc học Hán Nôm cũng cần thiết minh bạch rõ ràng. Nhiều người không hiểu cứ mù mờ học lọ học chai rồi ra mê sảng, thậm chí mê tín về việc học Hán Nôm nữa. Người thì ngờ ngợ nó là tiếng Tầu, người thì bảo nó là chữ nhà Chùa, …. Chữ Thầy cúng, … Nó cứ mờ mờ ảo ảo vậy. Nhân nhớ bài giảng của thầy luận thêm về sự học ấy một chút 1 chít, gọi là đưa tiếng. Chẳng đúng đại cục với người quân tử thì cũng đúng với kẻ ngu phu nhu phụ.
    
Thư pháp Nguyễn Ngọc Thanh
Thư pháp chữ Hán (Tử Hư - Nguyễn Ngọc Thanh)
Vậy Học Hán Nôm để làm gì
: Nhiều người ngày nay luôn gắn liền cái sự học với sự kiếm tiền, thăng quan tiến chức. Quả cũng đúng. Nhưng đừng vì thế mà quên đi cái bảo tồn tinh hoa truyền thống qua tư tưởng ngôn ngữ văn hóa tín ngưỡng mà ông cha đã sáng tạo trên cơ sở chắt lọc tinh hoa của Văn hóa Hán. Người Việt giờ đã không dùng Hán tự, nên học nó để kiếm tiền e là không còn thuyết phục bằng việc đi học Ngoại ngữ. Nhưng chữ Hán nó thâm sâu trong tiếng Việt ta hàng ngày. Nó im lìm sâu lắng trong 2000 năm văn hóa độc lập tự cường. Bỏ nó thì người ViệtNam ta thua thiệt. Thua là mất gốc, thua là mất bản sắc truyền thống. Mạch nối văn hóa từ quá khứ 2000 năm anh hùng với hiện đại và tương lai bị phá vỡ. Làm cách nào đây. Người Hàn người Nhật cũng giống như ta, họ cũng bị văn hóa hiện đại xâm lấn mà muốn tìm về cội nguồn của họ là họ có thể ngay. Còn người mình thì làm cái phim dã sử cổ trang một cái là bị các nhà chuyên môn văn hóa cổ phê cho tàn tạ luôn. Vậy thì ta cũng cố mà phải học để giữ cho được cái bản sắc.
    Học còn để tu dưỡng đạo đức theo truyền thống văn hóa, bảo tồn và gạn lọc để phát triển nó để minh chứng Việt Nam đã từng là một dân tộc có văn hiến, không chỉ là 1 nước nông nghiệp lạc hậu, chiến đấu anh hùng mà còn là 1 nước Văn hiến lâu đời, có bản sắc Văn hóa, biết thu nhận vào mình những tinh hoa của những dân tộc khác để biến nó thành của mình. mà các nước khác phải học tập
    Học Hán Nôm cho ai: Học cái gì thì trước hết cũng là cho bản thân cái đã (cái câu phú nhuận ốc đức nhuận thân trong sách Nho đúng lắm. Người giàu thì sửa nhà cho đẹp, người đức hạnh thì sửa mình cho đẹp sửa mình không gì bằng tu, tu không gì bằng học- học các tri thức nói chung không riêng gì Cổ văn). Không những thế mình học còn gây thành nếp hay cho con cháu, cho gia đình, cho tập thể, cho xã hội. Nhân sinh quý thích chí, học cho cái thú ngâm nga nhàn vịnh. Học cho tri thức được bồi đắp. Để hiểu sâu sắc hơn về nhiều mặt đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh, ngôn ngữ của người Việt cũng như của các dân tộc anh em.
    Học Hán Nôm là học cái gì: Chữ Hán + Nôm, .... và những tri thức văn hóa đạo đức truyền thống được lưu truyền bằng văn tự Hán Nôm. Chỉ học những cái tinh túy để từ những tinh túy đó có thể có những quan điểm lập trường đạo đức trong việc nhìn nhận, giải quyết các trường hợp cá lẻ cụ thể.
Học Hán Nôm như thế nào bây giờ: Học từ thấp đến cao. Từ đơn giản đến phức tạp. Và không có gì ngoài học thuộc lòng và chăm chỉ luyện tập hàng ngày. Học theo căn cơ của chính bản thân. Nhiều người cố gắng tự tìm con đường tắt để thông chữ nghĩa nhanh nhất để còn thời gian làm việc “Nhớn” và nhanh thành “Rồng” để ứng dụng ngay. Xin thưa là không, học là không chỉ hao tiền của mà còn cả tâm trí, và cả tuổi trẻ nữa. Không nói là mất thời gian vì để mọi người thấy quý hóa thời niên thiếu mà gấp học cho kịp thời, đừng để chết khát mới đào giếng.

GIẢI THÍCH THÊM VỀ HÁN NÔM

1) Thế nào là Hán - Nôm
    Gồm có học chữ: Chữ Hán + Chữ Nôm

2) Thế nào là chữ Hán
    Chữ Hán là chữ của người Hán tức người Trung Quốc ngày xưa, nhưng được đọc theo cách đọc của người Việt gọi là cách đọc Hán Việt (âm Hán Việt), được người Việt biến đổi chút ít cho phù hợp với điều kiện của người Việt phục vụ cho sự phát triển của dân tộc trong suốt thời kỳ Lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai bên cạnh người láng Giềng khổng lồ đang không ngừng lớn mạnh. Quả thật ngôn ngữ văn tự nó gắn liền với văn hóa nhiều lắm. Cụ Phạm Nam Phong nói:Truyên Kiều còn tiếng nước ta còn. Tiếng nước ta còn thì nước ta còn. Ý đúng lắm đừng hiểu theo nghĩa đen mà hỏng mất ý sâu của cụ. Cụ là người ủng hộ học Quốc ngữ nhưng không bỏ Hán văn mà học hỏi thêm Hán văn để giàu cho Tiếng Việt. Người trí thức nghĩ được như vậy chứ đừng tự cắt tay mình.

3) Thế nào là chữ Nôm
    Là chữ được xây dựng trên cơ sở chữ Hán và các bộ thủ chữ Hán, đọc trên cơ sở âm Hán Việt để ghi âm tiếng nói của người Việt (nguồn gốc Kinh – để phân biệt với chữ của các dân tộc khác như Tày, Nùng, Dao, Choang …). Trong lịch sử chữ Nôm chưa từng được chuẩn hóa nên có nhiều cách viết và cách đọc khác nhau tùy thuộc vào trình độ và thói quen của người viết bên cạnh những chữ đã được cố định do cách dùng quá phổ biến của người dân.

4) Học chữ
    Tiên độc tự âm, hậu giải tự nghĩa. Cứ trước đọc âm, sau giải nghĩa, lâu nhiều sẽ nhớ.
    Một chữ Hán có thể có nhiều âm đọc, một âm đọc có thể đọc được cho nhiều chữ Hán.
    Một chữ Hán có thể có nhiều cách viết. Từ quy tắc viết chữ này có thể luận ra quy tắc viết chữ có bộ thủ hoặc bộ phận tương đồng
    Chữ Nôm cũng vậy.
    Trong khi viết - đọc nghiên cứu chữ Hán có 1 quy tắc không được quy định cụ thể mà do kinh nghiệm cá nhân đúc kết là: Có chữ nếu thêm hoặc bớt 1 nét cơ bản thì sẽ cbiến thành chữ khác với âm và nghĩa biến đổi; nhưng có chữ có thể trong khi viết thiếu hoặc thừa nét (có thể do thói quen hoặc sơ suất) nhưng không biến chữ đó thành chữ khác thì vẫn luận được chữ ấy như chữ gốc (tất nhiên là sai nhé).

5) Học nghĩa
    Chữ Hán là chữ ghi ý âm, mỗi 1 chữ có thể có nhiều nghĩa, mỗi một nghĩa có thể có nhiều chữ để biểu hiện. Và còn phụ thuộc vào văn hóa vùng và cách sử dụng trong từng trừơng hợp cụ thể và văn cảnh.

6) Học Văn hóa – Đạo lý – Truyền thống – Học ứng nhân xử thế
    Cây Hán Nôm có gốc từ chỗ nắm bắt được nhiều chữ nghĩa, đạo lý, văn hóa của cổ nhân từ đó nảy trồi đâm nhánh ra những cành khác: Thư pháp, Y học, bói toán, Cúng bái, sớ má, Phong thủy, Tâm linh, Tôn giáo .... Nhiều người cần vun bồi cho cái gốc chắc chắn thì các cành khác sẽ tự đâm trồi ra nhánh, còn nhiều người chỉ vụ vào hình thức màu mè ở ngọn mà không lo vun bồi gốc thì không bao giờ mong có được những khả năng còn lại
Và những điển tích điển cố và những vấn đề mà văn tự đó được dùng làm công cụ phản ánh. Giới hạn trong cổ văn. Tuy nhiên có thể liên hệ đến tiếng Hiện đại tùy khả năng và điều kiện của người tiếp thu.
Học Hán Nôm: Là học Văn hóa và nhân cách ứng xử với quộc sống cũng như các tri thức trong truyền thống quá khứ của các nước đồng văn nữa. Ta biết được chữ Hán rồi ta sẽ đọc các tác phẩm chữ Hán của người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản từ đó mà thấy được cái văn hóa mỗi nước như hòn ngọc lung linh lấp lánh dưới ánh nắng của Chữ Viết đồng văn.

Nguyễn Đức Toàn
yeuhannom.blogspot.com


Nguồn http://nguoihieuco.blogspot.com/2013/12/nghi-ve-hoc-han-nom.html#ixzz2xVDsBF4b

Vĩnh Bảo sưu tầm 31/3/2014

LÝ DO NÊN UỐNG NƯỚC ẤM

LÝ DO 

NÊN UỐNG NƯỚC ẤM

Có thể bạn không biết, uống nước ấm mang lại những lợi ích bất ngờ mà bạn không thể có được khi uống nước lạnh.
1/. Giảm cân : Nước ấm rất tốt cho việc duy trì sự trao đổi chất. Nếu muốn giảm cân, bạn hãy uống nước ấm hằng ngày. Cách tốt nhất để giảm cân là bắt đầu một buổi sáng sớm với một cốc nước ấm và một lát chanh. Nước ấm cũng giúp đánh tan các mô mỡ trong cơ thể.
2/- Giải quyết tắc nghẽn mũi, họng : Uống nước ấm là phương thuốc tự nhiên tuyệt vời để chữa cảm lạnh, ho và đau họng. Nước ấm hòa tan đờm và cũng giúp bạn loại bỏ đờm từ đường hô hấp. Như vậy, nước ấm cũng làm giảm đau họng và nghẹt mũi.
6 Nuoc nong3/. Giảm đau bụng kinh : Nước ấm có thể làm giảm đau bụng kinh, làm dịu nhẹ cơn đau.
4/. Giải độc cơ thể : Khi uống nước ấm, nhiệt độ cơ thể bạn bắt đầu lên cao, gây đổ mồ hôi. Nước ấm giúp giải phóng độc tố và làm sạch cơ thể đúng cách. Để có kết quả tối ưu, hãy thêm một lát chanh vào cốc trước khi uống.
5/. Ngăn ngừa lão hóa sớm : Giải độc cơ thể giúp bạn ngăn ngừa lão hóa. Ngoài ra, uống nước ấm giúp làm lành các tế bào bị tổn thương, làm tăng tính đàn hồi và giảm bớt ảnh hưởng bị gây ra bởi gốc tự do. Làn da bạn sẽ đẹp và tươi trẻ hơn nhờ nước ấm.
6/. Ngăn ngừa mụn trứng cá ; Nước ấm làm sạch cơ thể bạn và loại bỏ những nguyên nhân chính dẫn đến mụn trứng cá.
7/. Làm đẹp tóc : Uống nước ấm cũng giúp bạn có mái tóc sáng bóng, mềm mại. Nước ấm tiếp thêm sinh lực cho dây thần kinh trong chân tóc của bạn và làm cho chúng hoạt động nhịp nhàng.
9 Xa Stress 18/. Làm tóc mọc nhanh hơn : Nước ấm thúc đẩy sự hoạt động thường xuyên của chân tóc và làm tóc mọc nhanh hơn.
9/. Ngăn ngừa gàu : Nước ấm giúp da đầu của bạn ngậm nước và giúp chống lại da đầu khô hoặc gàu.
10/. Tăng cường máu lưu thông và thúc đẩy hệ thần kinh khỏe mạnh : Một lợi ích quan trọng của việc uống nước ấm là tăng cường lưu thông máu, hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh. Ngoài ra, nước ấm giữ cho hệ thống thần kinh của bạn khỏe mạnh bằng cách phá hủy chất béo tích tụ xung quanh.
11/. Hỗ trợ tiêu hóa : Nước ấm đặc biệt có lợi cho tiêu hóa. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống nước lạnh trong hoặc sau bữa ăn có thể làm đông cứng dầu trong thực phẩm tiêu thụ. Điều này dẫn đến tích tụ chất béo trong đường ruột và cuối cùng có thể dẫn đến ung thư ruột. Tuy nhiên, nếu thay thế ly nước lạnh bằng nước ấm, bạn có thể tránh vấn đề này. Ngoài ra, nước ấm có lợi cho tiêu hóa, bạn nên uống sau bữa ăn.
12/. Bảo vệ đường ruột : Nước ấm giúp hệ tiêu hóa của bạn hoạt động nhịp nhàng, vì vậy, đường ruột của bạn sẽ khỏe mạnh và bớt đau đớn. Mất nước có thể gây táo bón mãn tính, vì phân được tích lũy trong ruột của bạn, khiến ruột làm việc chậm hơn. Bạn nên uống một ly nước ấm vào buổi sáng khi chưa ăn gì.
Mỹ Nhàn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 31/3/2014

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Chiếc Giường Nơi Bắt Đầu và Kết Thúc Của Đời Người

Chiếc Giường Nơi Bắt Đầu và Kết Thúc Của Đời Người

 Quốc Huy

Từ chiếc nệm tảo cho đến nệm nước, con người sáng tạo hàng ngàn cách làm giường để làm chỗ nghỉ ngơi. Câu chuyện về chiếc giường trong đời sống con người thật phong phú, sinh động và hấp dẫn... Ngược lại với những gì mà tất cả chúng ta đã đọc khi còn nhỏ, tổ tiên của con người vào thời tiền sử không ngủ trần truồng, cuộn mình trong tấm da thú và nằm trên nền đất ẩm ướt và băng giá của hang động. Họ đã biết xây những chiếc lều, dưới những vách đá thẳng đứng, trong đó họ đặt những lớp tảo khô hay cây bắc, rồi xếp lên nhiều lớp da thú đày để làm cho chiếc giường thô sơ này êm ái và thoải mái hơn. Loại giường này vẫn còn đến ngày nay, khi con người sử dụng những lớp nệm gồm một lớp lá hay vỏ cây mềm và đặt lên trên một lớp da động vật hay một chiếc chiếu. Trong nhà người Masai ở miền Nam Kenya, người ta nằm ngủ theo tư thế cò súng trong một chiếc lều tròn nhỏ, trên một chiếc giường bằng lá cây có trải da bò. Người Esquimau lại nằm dài, người trần truồng, trên một phẳng nhỏ đặt trong các lều tuyết. Bề mặt là một tấm thảm cây lá rậm rạp, khi có điều kiện, họ sẽ trải lên một lớp da chó biển để nằm êm ái hơn.

Ngủ là một kỹ thuật phản ảnh một sự đánh giá, một cách nhìn về thế giới. Nếu nhà nhân chủng học Claude Levi - Strauss dựa trên thức ăn để phân biệt các nền văn minh ăn "sống" và nền văn minh ăn "chín", thì người ta cũng có thể nói rằng nhân loại được phân ra làm hai loại: xã hội nằm giường "cứng" và xã hội nằm giường "mềm". Sự khác nhau này không dựa trên sự thoải mái - vì điều này không được định nghĩa như nhau trong mọi nền văn hóa - mà dựa trên yếu tố chính là khí hậu. Phương Tây du nhập kiểu giường mềm từ Trung Đông. Ở Châu úc, người ta có thói quen ngủ trên bề mặt cứng - dù là nền đất, một chiếc chiếu, một chiếc giường củi hay một mặt phẳng có chân. người ta dùng một chiếc ghế nhỏ để tựa đầu và không bao giờ cuộn người trong chăn để được mát mẻ và dễ chịu. Tại Châu Phi, ngoài chức năng giúp người ngủ cảm thấy thoải mái, chiếc gối còn là nơi cất giấu những đồ trang sức của phụ nữ. Bằng cách cất giấu nữ trang trong gối, họ không sợ bị mất trộm trong khi ngủ say. Ở phương Tây, ngược lại, người ta lại thích chọn sự "mềm mại": giường giát lò xo mềm, nệm, gối dài đầu giường và gối con đều bằng lông mềm. Thật ra, người phương Tây không sáng tạo nên những vật dụng này mà vay mượn chúng từ nền văn minh Ả Rập- Andalousia, và từ nền văn minh Trung Đông qua các cuộc Thập Tư chinh. Từ "Matelas" (nệm) chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ Pháp vào thế kỷ 15, dựa theo từ Ả Rập "Matrah", nghĩa là "vật bị ném ra đất": khi màn đêm buông xuống, người Ả Rập đặt ngay cửa nhà những lớp nệm mềm mà ban ngày được cuộn tròn và cất đi. Vào thế kỷ 17, sự hâm mộ nệm mềm "nở rộ" ở Pháp, thậm chí nhiều người còn ngủ ngồi trên hàng đống gối! Cuối thế kỷ thứ 19, mọi chuyện diễn biến ngược lại khi các nhà vệ sinh học phản đối loại giường mềm và đòi trở lại với giường cứng được cải tiến.

Ở phương Tây, người La Mã đã phát triển một nền "Văn hóa giường" thật sự. Giường là phần chính, nếu không nói là vật dụng quan trọng nhất trong nhà. Trong nhà ở của người La Mã, giường có mặt khắp nơi và có nhiều công dụng: họ không chỉ ngủ ở đó, mà còn đọc sách, tranh luận và ăn uống. Tựa khuỷu tay trái trên gối nhỏ, người ta nằm dài và nhấm nháp các món ăn đặt trên chiếc bàn một chân, trong các phòng ăn ba giường (triclinium: trong phòng này, người ta đặt 3 chiếc giường lớn hình chữ U). Nhà người giàu thường có nhiều phòng đặc biệt hoàn toàn đóng kín, gọi là "cubiculum", nơi đó có các giường nhẹ hơn dành để ngủ trưa, nghỉ đêm hay để ân ái. Nói chung, tại La Mã, mọi chuyện đều xoay quanh một chiếc giường...

Thời Trung Cổ, người ta ngủ trần truồng 10 người trên một chiếc giường lớn! Cũng như phần lớn các lãnh vực khác, nước Pháp bao giờ cũng chỉ bắt chước nghệ thuật sống trên giường của người La Mã đô hộ. Tuy nhiên, nghệ thuật này chỉ dành riêng cho các tầng lớp trên. Ở thôn quê, người dân còn rất xa lạ với sự tinh tế của chiếc giường. Quả vậy, nông dân còn giữ thói quen ngủ chung trên giường cả chục người, từ cha mẹ đến con cái và cả người thân, kẻ hầu. Thói quen ngủ chung này vẫn tồn tại trong đa số nông dân đến tận thế kỷ 12.

Trong các gia đình quý tộc, khi đêm xuống, những người hầu mang ra những tấm nệm, giường đẩy, ghế lăn. Ban ngày, các đồ vật này có công dụng khác, nhưng buổi tối đó là nơi các nhà quý tộc cởi bỏ hết quần áo và nằm dài để ngủ.

Vào lúc này, ngủ chung với người khác không có ý nghĩa giống như hiện nay. Ngủ chung giường với người khác được coi là một điều cần thiết, một vinh dự hơn là một sự thích thú. Giai thoại kể rằng Vua Louis 13 cho dọn giường nằm cạnh Hồng Y Richelieu vì muốn thể hiện sự quan tâm của mình đối với sức khỏe của vị tể tướng đang bị cơn đau bao tử hành hạ. Chia sẻ giường với một ai đó trong vài trường hợp lại là biểu tượng của hòa bình: vào thế kỷ 15, Quận Công Orleans đã chứng tỏ sự hòa giải với Charles 8 bằng cách ngủ chung giường với ông ta.

Để trở thành một chiếc giường hiện đại và cá nhân như hiện nay, giường ngủ đã tiến triển rất chậm. Vào thế kỷ 18, tại triều đình, giường còn được đặt trên một chiếc bục, chung quanh là lan can, để thể hiện quyền lực và vị trí xã hội.

Giường ngủ và khuê phòng cũng có nhiều thú vị. Không ai có thể ngờ rằng mãi đến thế kỷ 19, người ta vẫn còn ái ân trong gác xép chứa cỏ, hầm rượu, cánh đồng...gần như khắp nơi, nhưng trừ ở...trên giường! Quả vậy, hầu như không có một nền văn minh nào liên kết giường ngủ và chuyện ái ân. Theo nhà sử học Emmanuel Le Roy Ladurie, vào thế kỷ 14, tại Montaillou- ngôi làng miền Nam nước Pháp- người ta làm tình trong rừng, hành lang trong nhà... Những người theo chủ nghĩa khổ hạnh quy định nằm ngủ lưng phải sát giường, tay đặt trên khăn trải giường để chống lại những gợi ý đen tối xuất phát từ cơ thể! Đến thế kỷ 18, "các bí mật khuê phòng" chỉ liên quan đến một phần của xã hội quý tộc và trưởng giả cấp trên, vì trên tất cả, giường là nơi nghỉ ngơi hay chiêu đãi khách chứ không phải là chỗ để nô đùa.

Thực tế, phải chờ đến thế kỷ 19, tại phương Tây, thói quen ái ân trên giường mới hình thành. Đó là kết quả của lối sống đô thị khiến người ta phải thực hiện những điều này ở nơi kín đáo hơn.

Tatami và Futon của Nhật Bản nhập phương Tây Vào giữa thế kỷ 18, khái niệm "phòng ngủ" mới xuất hiện tại phương Tây. Điều đó cũng dễ hiểu vì vào giai đoạn này, các giá trị quý tộc mới bị đảo lộn và các chuẩn mực tư sản mang tính cá nhân được hình thành. Tuy nhiên, phải chờ đến thế kỷ 19, giường mới được xem là một phương tiện dành riêng cho việc nghỉ ngơi. Mỗi người đều có giường riêng: các chuẩn mực cá nhân và riêng tư đã chiến thắng

Nếu các loại nệm len có mặt vào cuối thế kỷ 19, thì loại nệm bằng sợi cước thực vật, lấy từ cây cọ, chỉ phát triển sau chiến tranh 1914-1918, như là kết quả của việc đô hộ vùng Bắc Phi. Cũng vào thời điểm này, sự hiện đại hóa và "bình thường hóa" phòng ngủ đã diễn ra. Bước vào những năm 70, phương Tây đã du nhập những loại khăn giải giường và nệm lông từ các nước phương Bắc. Khăn trải giường được lật ra nhanh như khi mở một loại đồ hộp. Sau đó, làn sóng chủ nghĩa tự nhiên Hippy diễn ra, giường được thay bằng chiếc nệm đơn giản đặt trên đất. Do lối sống độc thân trở nên phổ biến và thiếu chỗ trong các căn nhà một phòng, giường trở thành nơi diễn ra mọi sinh hoạt: đọc sách, gọi điện thoại, xem truyền hình, ái ân và ăn uống... Ngày nay, giường đã quaylại với chức năng truyền thống của nó và phòng ngủ cũng được hiểu đúng nghĩa hơn. Nhân loại sắp bước vào thế kỷ 21, song dù con người đã biết đến nhiều loại giường độc đáo và thoải mái, nhân loại vẫn chưa biết giường là gì. Dĩ nhiên, đó là người dân các nước nghèo khổ, họ vẫn còn thói quen ngủ trên võng, trên rơm rạ, thậm chí cả ngoài vỉa hè.

Quốc Huy
Vĩnh Bảo sưu tầm 29/3/2014

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ

Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ


Lá củ dền giàu chất xơ, canxi, sắt, vitamin A và K, mang hương vị nửa như củ dền, nửa như cải xoăn, ăn rất ngon. Thế nhưng khi nấu nướng, bà nội trợ thường cắt bỏ lá đi.
 
Một người trưởng thành cần khoảng 2 ly trái cây và 2 đến 3 chén rau củ mỗi ngày để có sức khỏe tốt. Tiêu chuẩn này có thể dễ dàng đạt được hơn nếu chúng ta không vứt bỏ nhiều phần bổ ích của các loại trái cây và rau củ như hạt, vỏ, thân, lá rau... Bạn không nên quẳng những phần phụ của rau củ quả vào sọt rác vì chúng mang lại nhiều lợi ích sức khỏe lâu dài. Đó là chưa kể đến việc chúng ta có thể góp phần hạn chế tình trạng lãng phí thực phẩm đang diễn ra trên toàn cầu.
 
1. Thân rau cải đỏ
 
Một nghiên cứu năm 2006 cho thấy trong những thân cây màu sắc rực rỡ này có hàm lượng đáng kể glutamine (một axit amin đóng vai trò quan trọng trong việc chữa lành cơ thể và quá trình phục hồi). Do đó các chuyên gia dinh dưỡng khuyên không nên vứt bỏ mà hãy xắt mỏng thân cây để nấu cùng với lá sẽ rất ngon.
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ
Nhiều bà nội trợ có thói quen chỉ lấy phần lá rau cải để nấu ăn. Đó là điều sai lầm.
 
2. Lá dền
 
Theo “The Complete Leafy Greens Cookbook”, mặc dù chúng ta thu hoạch cây dền để lấy củ nấu ăn, thế nhưng trên thực tế lá cây là bộ phận phát triển đầu tiên. Lá củ dền cung cấp chất xơ, canxi, sắt, vitamin A và K. Lá dền mang hương vị nửa như củ dền, nửa như cải xoăn, ăn cũng rất ngon.
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ 2
Hãy tận dụng cả lá dền khi chế biến thức ăn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể.
 
3. Vỏ dưa hấu
 
Loại trái cây mọng nước của mùa hè này chứa một lượng axit được gọi là L-citrulline giúp cơ thể hoạt động thể thao tốt hơn, giảm tình trạng đau nhức cơ bắp. Trong một nghiên cứu năm 2003 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, chất citrulline giúp loại bỏ nitơ trong máu, cũng được phát hiện trong vỏ dưa hấu.
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ 3
 
4. Lá củ cải xanh
 
Như các loại củ cải khác, lá cải có vị pha trộn giữa ngọt và cay. Nó cũng rất giàu vitamin A và K, cùng với một nguồn dồi dào chất xơ, sắt, kali...
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ 4
 
5. Vỏ khoai tây
 
Thịt củ khoai tây có rất nhiều chất dinh dưỡng, nhưng vỏ khoai tây chứa nhiều chất xơ hơn. Theo Viện Dinh dưỡng và ăn uống Mỹ, vỏ khoai tây chứa một loạt vitamin nhóm B, vitamin C, sắt, canxi và kali, cùng với các chất dinh dưỡng khác. Phát hiện này không phải khuyến khích bạn gọt bỏ khoai tây để ăn mà hãy thay đổi thói quen sử dụng, chẳng hạn chế biến món khoai tây nướng còn nguyên vỏ.
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ 5
 
6. Hạt bí ngô
 
Khi gọt quả bí ngô, hãy lấy muỗng khoét ruột ra để sang một bên. Khoảng nửa cốc hạt bí ngô chứa nhiều magie hơn lượng khuyến cáo cần thiết hàng ngày. Hàm lượng magie thấp có thể dẫn đến bệnh tim, loãng xương và đau đầu. Hạt bí còn rất giàu chất sắt và protein, cũng như một số hợp chất thực vật gọi là phytosterols, đã được chứng minh là giúp giảm hàm lượng cholesterol xấu.
 
Những phần tốt nhất của rau củ thường bị gọt bỏ 6
  Nguồn: Vnexpres
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/3/2014
 

s

Công dụng chữa bệnh tuyệt vời của rau khoai lang

Công dụng chữa bệnh tuyệt vời của rau khoai lang


Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như: Cam thử, Phiên chử. Củ khoai lang tính bình, vị ngọt, vào hai kinh tỳ và thận.
Công dụng chữa bệnh tuyệt vời của rau khoai lang
Tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thân, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt; chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ.
Rau lang tính bình, vị ngọt, không độc, bổ hư tổn, ích khí lực, kiện tỳ vị, tư thận âm. Chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc. Kiêng kỵ với các trường hợp thấp trệ, tiêu chảy, viêm dạ dày đa toan, đường huyết thấp.
Trị mụn: Lá khoai lang giúp hút mủ nhọt đã vỡ bằng cách dùng lá khoai lang non, đậu xanh, thêm chút muối và giã nhuyễn, bọc vào vải đắp vào vết mụn.
Quáng gà: Lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.
Thiếu sữa: Lá khoai lang tươi non 250 g, thịt lợn 200 g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.
Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30 g, mai rùa 30 g, sắc kỹ lấy nước uống.
Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.
Nhuận tràng: Rau lang tươi luộc chín có tác dụng nhuận tràng. Rau lang có vị ngọt, mát, nhờ chứa nhiều chất xơ nên giúp nhuận tràng rất hay. Lá rau lang còn chứa chất nhựa tẩy khoảng 1,95% – 1,97% nên có tác dụng nhuận trường.
Trị buồn nôn, ốm nghén: Trong rau lang chứa nhiều vitamin B6, có tác dụng giảm buồn nôn đối với phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu (thường bị ốm ghén), hoặc hay nôn ọe, ăn uống không ngon hoặc chán ăn.
Tốt cho người mắc bệnh tiểu đường: Trong các bữa ăn của người bệnh tiểu đường, nên thường xuyên dùng món rau lang luộc. Lá rau lang có đặc tính giảm đường huyết. Nên dùng rau, không dùng củ vì củ chứa nhiều tinh bột.
Đọt rau lang đỏ có chứa một chất gần giống insulin, ở lá già không có chất này.Vì thế người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đọt rau lá non cây khoai lang để ăn.
Thanh nhiệt, giải độc: Trong những ngày trời nắng nóng, hoặc cơ thể đang bị nhiệt (nóng), nên dùng rau lang trong bữa ăn, vì rau lang có tính thanh nhiệt, làm mát.
Những lưu ý khi ăn rau khoai lang:
Không nên dùng khoai lang (củ và rau) lúc quá đói vì khi đó đường huyết đã thấp, lại làm hạ thêm gây mệt mỏi.
Để nhuận tràng (chữa táo bón) thì dùng rau lang tươi luộc chín, không dùng rau lang còn sống vì sẽ có tác dụng ngược lại là gây táo bón. Cũng không nên dùng rau lang quá nhiều mà nên dùng xen kẽ với những loại rau khác.
Không ăn thường xuyên rau lang vì chứa nhiều calci có thể gây sỏi thận.
Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.
Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.Nguồn: Megafun

Khoai lang - một vị thuốc quý

Để phòng chống béo phì, có thể ăn củ và rau lang luộc. Áp dụng chế độ nửa gạo, nửa khoai riêng rẽ, hoặc độn chung với nhau nấu thành cơm, cháo, bánh...

Lá khoai lang là loại rau dân dã vừa ngon, vừa mát và bổ. Củ và rau khoai lang là vị thuốc phòng chữa bệnh đã được dùng từ lâu trong dân gian, có nơi gọi nó là “sâm nam”.

Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như: cam thử, phiên chử. Củ khoai lang tính bình, vị ngọt, có tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thận, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt. Nó được dùng chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ.
Rau lang tính bình, vị ngọt, không độc, bổ hư tổn, ích khí lực, kiện tỳ vị, bổ thận âm, dùng chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc. Kiêng kỵ với các trường hợp tiêu chảy, viêm dạ dày đa toan, đường huyết thấp. Khoai lang vàng đỏ có nhiều vi chất hơn khoai lang trắng.
Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang:
- Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón, phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.
- Không ăn thường xuyên rau lang vì nó chứa nhiều canxi, có thể gây sỏi thận.
- Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.
- Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này, khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa.
- Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Do đó phải bảo vệ phần vỏ không bị sây sát, không gọt vỏ nếu không cần thiết. Vỏ còn giúp bảo vệ dưỡng chất bên trong, vì vậy khi luộc khoai nên để cả vỏ (đã rửa sạch).
- Bảo quản khoai ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, không có chuột bọ và chỉ nên dùng trong vòng một tuần.
- Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc.
- Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.
Món ăn bài thuốc từ khoai lang
Chữa cảm sốt mùa nóng: Thời tiết nóng dễ gây sốt vì cảm, không ra được mồ hôi. Với người sức khỏe tốt, có thể nấu khoai lang trắng với cải bẹ xanh ăn thay cơm để giúp ra mồ hôi, hạ sốt, giải cảm. Có thể dùng các bài thuốc:
- Khoai lang trắng khô một nắm, nghệ một củ, giấm 1/2 chén con, sắc uống nóng.
- Khoai lang trắng khô 16 g, gừng 16 g, sắc uống hoặc nấu cháo.
- Khoai lang trắng tươi luộc chín để xông, rồi ăn khoai nóng, uống nước luộc khoai nóng cho ra mồ hôi.
- Khoai lang 1 củ (400 g), gạo 200 g, đậu xanh 1/2 bát cơm, mã thầy 4 củ, củ cải 1 củ, tỏi 3 nhánh, thịt gà 150 g, tôm nõn 70 g, gia vị. Tất cả giã nát hoặc thái nhỏ nấu nhừ, riêng đậu xanh và mã thầy cho vào sau rồi nấu nhừ tiếp.
Chữa táo bón: Ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng; ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ cà, nghiền cùng khoai thành khối. Các cách khác:
- Uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch).
- Nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế.
- Dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước cất này vào buổi sáng.
- Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ). Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

Trẻ biếng ăn: Cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

Quáng gà: Lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.
Thiếu sữa: Lá khoai lang tươi non 250 g, thịt lợn 200 g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.
Viêm tuyến vú: Khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.
Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30 g, mai rùa 30 g, sắc kỹ lấy nước uống.
Thận dương hư, đi tiểu nhiều lần: Hầm thịt chó với khoai lang, cho thêm chút rượu và gia vị.

Chữa ngộ độc sắn: Khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.

Say tàu xe: Củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.

Vàng da: Nấu cháo đặc bằng khoai với gạo hoặc bột ngô.
Mụt nhọt: Khoai lang củ 40 g, lá bồ công anh 40 g, đường hoặc mật mía giã nhuyễn bọc vào vải, đắp lên mụn nhọt. Để hút mủ nhọt đã vỡ, lấy lá khoai lang non 50 g, đậu xanh 12 g, thêm chút muối, giã nhuyễn bọc vào vải đắp(Theo Sức Khỏe & Đời Sống.


Ăn khoai lang để nhận những lợi ích ngoài sức tưởng tượng


09/3/2014 09:14
Khoai lang là thực phẩm phổ biến, hữu ích cho sức khỏe con người. Không chỉ là loại thực phẩm ngon, bổ, rẻ, khoai lang còn có tác dụng rất lớn trong làm đẹp và giữ gìn nhan sắc cho phụ nữ.
Cùng khám phá những lợi ích bất ngờ cho sức khỏe từ loại củ dân dã quen thuộc này nhé: 
Ngăn ngừa lão hóa
Thêm 1 muỗng canh mật ong, 1 thìa sữa và 1 thìa nước gừng. Pha trộn tất cả các thành phần với nhau cho đến khi bạn có một hỗn hợp thật mịn. 
Thoa mặt nạ này lên phần mặt và cổ đã được rửa sạch. Để trong 20-25 phút phút và rửa lại với nước ấm. Mặt nạ này sẽ giúp cho làn da của bạn được mềm mại hơn, ngăn ngừa việc lão hóa da sớm. Ngoài ra, bạn có thể dễ dàng giữ phần chưa dùng hết của mặt nạ trong tủ lạnh cho đến 2-3 ngày sau.
Kiểm soát nhịp tim
Ăn khoai lang để nhận những lợi ích ngoài sức tưởng tượng | Khoai lang,Công dụng của khoai lang,Chống béo phì
Kali có nhiều trong khoai lang. Nó là chất điện ly quan trọng giúp kiểm soát
nhịp tim và các tín hiệu thần kinh
Cũng như các chất điện ly khác, kali đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu trong đó có thư giãn co thắt cơ, giảm sưng, bảo vệ và kiểm soát hoạt động của thận. Khoai lang chính là nguồn cung cấp kali tuyệt vời mà bạn không thể bỏ qua.
Tăng cường thị lực
Một nghiên cứu do ĐH Harvard (Mỹ) thực hiện trên 124.000 người cho thấy, những người tiêu thụ thức ăn giàu carotene trong chế độ ăn uống thường xuyên của mình giảm tới hơn 32% nguy cơ ung thư phổi.
Ăn khoai lang để nhận những lợi ích ngoài sức tưởng tượng | Khoai lang,Công dụng của khoai lang,Chống béo phì
Màu cam trên vỏ khoai lang là dấu hiệu cho thấy mức carotene rất cao
của loại củ này. Nhóm chất carotene giúp tăng thị lực, thúc đẩy
hệ miễn dịch, chống oxy hóa và ngăn ngừa lão hóa.
Ảnh minh họa
Chống ung thư
Beta carotene là tiền chất của vitamin A trong cơ thể người. Vitamin A duy trì đôi mắt sáng và làn da khỏe mạnh. Đồng thời, beta caroten được chứng minh là có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi những tác nhân gây ung thư. Đây cũng là một dưỡng chất dồi dào trong khoai lang.
Những phụ nữ có nồng độ carotene cao nhất có nguy cơ tái phát ung thư vú thấp nhất. Đây là kết luận được các nhà khoa học từ WHEL (Women’s Healthy Eating and Living) đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ hoàn tất giai đoạn đầu điều trị căn bệnh này.
Giảm cân
Ăn khoai lang để nhận những lợi ích ngoài sức tưởng tượng | Khoai lang,Công dụng của khoai lang,Chống béo phì
Để phòng chống béo phì, có thể ăn củ và rau lang luộc. Áp dụng chế độ
nửa gạo, nửa khoai riêng rẽ, hoặc độn chung với nhau
nấu thành cơm, cháo, bánh... 
Khoai lang cũng là sự lựa chọn số 1 cho những người muốn giảm béo. Năng lượng có trong khoai lang rất ít, chỉ bằng 1/3 so với cơm và 1/2 so với khoai tây. 
Loại củ này không chứa chất béo và cholesterol, ngăn ngừa quá trình chuyển hoá đường trong thức ăn thành mỡ và chất béo trong cơ thể. Ăn khoai lang trước bữa ăn sẽ tạo cảm giác no bụng, vì thế sẽ giảm được lượng thức ăn hấp thụ trong bữa ăn chính.
Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang:
- Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón, phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.
- Không ăn thường xuyên rau lang vì nó chứa nhiều canxi, có thể gây sỏi thận.
- Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.
- Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này, khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa.
- Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Do đó phải bảo vệ phần vỏ không bị sây sát, không gọt vỏ nếu không cần thiết. Vỏ còn giúp bảo vệ dưỡng chất bên trong, vì vậy khi luộc khoai nên để cả vỏ (đã rửa sạch).
- Bảo quản khoai ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, không có chuột bọ và chỉ nên dùng trong vòng một tuần.
- Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc.
- Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.
Theo Lao Động

14 lý do nên ăn khoai lang hàng ngày

Khoai lang có vị ngọt nhưng không làm tăng đường huyết hay tăng cân.Protein trong khoai lang rất đặc biệt do khả năng ức chế ung thư ruột kết và trực tràng.

Khoai lang là thực phẩm phổ biến, hữu ích cho sức khỏe con người do chứa nhiều chất xơ, carotene, các vitamin và chất chống oxy hóa...
Ảnh minh họa. (beautyhealthtips.in)
Ảnh minh họa: beautyhealthtips.in.
Dưới đây là những lý do các bà nội trợ không nên bỏ qua loại củ tuyệt vời này trong chế độ ăn của gia đình, theo Care2.
1. Khoai lang có vị ngọt nhưng không làm tăng lượng đường huyết, mệt mỏi hay tăng cân. Đường tự nhiên trong khoai lang sẽ từ từ thẩm thấu vào máu, giúp cân bằng nguồn năng lượng cho cơ thể.
2. Khoai lang là nguồn cung cấp chất xơ rất tốt, giúp duy trì đường huyết ở mức cân bằng.
3. Cứ 100 g khoai lang nghiền cung cấp 86 calo, thấp hơn nhiều so với mức 118 calo trong 10 0g củ từ.
4. Khoai lang là thực phẩm giàu protein. Protein trong khoai lang rất đặc biệt do khả năng ức chế ung thư ruột kết và trực tràng ở người. Hàm lượng protein trong khoai lang càng cao thì khả năng ức chế hoạt động của tế bào ung thư càng lớn.
5. Hàm lượng vitamin B6 cao chứa trong khoai lang làm giảm homocysteine trong cơ thể. Homocysteine có liên quan đến các bệnh lý thoái hóa và tim mạch. Nồng độ homocysteine trong máu cao làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.
6. Khoai lang là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, giúp ngăn ngừa cảm lạnh vàvirus cúm. Đồng thời, vitamin C cũng rất cần thiết cho xương và răng, tốt cho hệ tiêu hóa và quá trình hình thành các tế bào máu. Ngoài ra, vitamin C còn góp phần chữa lành vết thương, tạo ra collagen giữ cho làn da luôn tươi trẻ, giảm stress và bảo vệ cơ thể khỏi những độc tố có nguy cơ gây ung thư cao.
7. Vitamin D trong khoai lang có tác dụng hỗ trợ hệ miễn dịch và tăng cường sức khoẻ tổng quát. Vitamin D góp phần giữ cho hệ xương, tim mạch, thần kinh, răng, da và tuyến giáp khỏe mạnh.
8. Vi chất sắt trong khoai lang cung cấp năng lượng cho cơ thể, giảm stress, thúc đẩy sản xuất hồng cầu, bạch cầu, tăng cường miễn dịch và chuyển hoá protein.
9. Khoai lang cũng là nguồn cung cấp magie rất tốt. Magie không những là khoáng chất quan trọng chống căng thẳng mà còn có ý nghĩa then chốt cho sự phát triển khỏe mạnh của cơ xương, tim mạch và các chức năng thần kinh.
10. Kali là chất điện ly quan trọng giúp kiểm soát nhịp tim và các tín hiệu thần kinh. Cũng như các chất điện ly khác, kali đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu trong đó có thư giãn co thắt cơ, giảm sưng, bảo vệ và kiểm soát hoạt động của thận. Khoai lang chính là nguồn cung cấp kali tuyệt vời mà bạn không thể bỏ qua.
11. Màu cam trên vỏ khoai lang là dấu hiệu cho thấy mức carotene rất cao của loại củ này. Nhóm chất carotene giúp tăng thị lực, thúc đẩy hệ miễn dịch, chống oxy hóa và ngăn ngừa lão hóa. Một nghiên cứu do ĐH Harvard (Mỹ) thực hiện trên 124.000 người cho thấy, những người tiêu thụ thức ăn giàu carotene trong chế độ ăn uống thường xuyên của mình giảm tới hơn 32% nguy cơ ung thư phổi.
Ngoài ra, những phụ nữ có nồng độ carotene cao nhất có nguy cơ tái phát ung thư vú thấp nhất. Đây là kết luận được các nhà khoa học từ WHEL (Women’s Healthy Eating and Living) đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ hoàn tất giai đoạn đầu điều trị căn bệnh này.
12. Beta carotene là tiền chất của vitamin A trong cơ thể người. Vitamin A duy trì đôi mắt sáng và làn da khỏe mạnh. Đồng thời, beta caroten được chứng minh là có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi những tác nhân gây ung thư. Đây cũng là một dưỡng chất dồi dào trong khoai lang.
13. Mới đây, các nhà khoa học đã khám phá ra nhóm chất dinh dưỡng trong khoai lang có tên là batatoside có khả năng chống lại các đặc tính của vi khuẩn và nấm.
14. Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chất cyanidins và peonidins trong khoai lang có khả năng giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của kim loại nặng tới sức khỏe con người.
Thu Hiền









































































Khoai lang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khoai lang
Hoa khoai lang tím giống Nhật.jpg
Hoa và lá khoai lang tím Nhật được trồng ở huyệnBình Tân.
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Solanales
Họ (familia)Convolvulaceae
Chi (genus)Ipomoea
Loài (species)I. batatas
Danh pháp hai phần
Ipomoea batatas
L.
Khoai lang (danh pháp hai phầnIpomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang và nó là một nguồn cung cấp rau ăn củ quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực. Các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau. Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có nguồn gốc Nam Mỹ và quan hệ họ hàng rất xa với khoai mỡ (một số loài trong chi Dioscorea) là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và châu Á.
Chi Ipomoea có khoai lang, rau muống (Ipomoea aquatica) và một số loài hoa dại được gọi bằng một số tên như bìm bìm (chung với các chi khác), mặc dù từ này không được dùng để chỉ khoai lang, rau muống. Một vài giống cây trồng củaIpomoea batatas cũng được trồng như là cây trồng trong nhà.
Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le hình tim hay xẻ thùy chân vịt, các hoa có tràng hợp và kích thước trung bình. Rễ củăn được có hình dáng thuôn dài và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu hay trắng. Lớp cùi thịt có màu từ trắng, vàng, cam hay tím.

Nguồn gốc và phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]


Một cánh đồng trồng khoai lang.
Khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Mỹ, nó được con người trồng cách đây trên 5.000 năm [2] [3]. Nó được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe. Nó cũng đã được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người phương tây tới Polynesia. Nó được đưa tới đây như thế nào là chủ đề của các cuộc tranh luận dữ dội, có sự tham gia của các chứng cứ từ khảo cổ học,ngôn ngữ học và di truyền học.
Ngày nay, khoai lang được trồng rộng khắp trong các khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm với lượng nước đủ để hỗ trợ sự phát triển của nó.
Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004, thì sản lượng toàn thế giới là 127 triệu tấn[4], trong đó phần lớn tại Trung Quốc với sản lượng khoảng 105 triệu tấn và diện tích trồng là 49.000 km². Khoảng một nửa sản lượng của Trung Quốc được dùng làm thức ăn cho gia súc và gia cầm [5].
Sản lượng trên đầu người là lớn nhất tại các quốc gia mà khoai lang là mặt hàng lương thực chính trong khẩu phần ăn, đứng đầu là quần đảo Solomon với 160 kg/người/năm và Burundi với 130 kg.
Bắc Carolina, tiểu bang đứng đầu Hoa Kỳ về sản xuất khoai lang, hiện nay cung cấp 40% sản lượng khoai lang hàng năm của quốc gia này.
Mississippi cũng là bang chủ lực trong việc trồng khoai lang, tại đây khoai lang được trồng trên diện tích khoảng 8.200 mẫu Anh. Khoai lang từ Mississippi đóng góp khoảng 19 triệu USD vào nền kinh tế bang này và hiện nay có khoảng 150 trang trại ở Mississippi trồng khoai lang. Năm quận đứng đầu canh tác khoai lang ở Mississippi là CalhounChickasawPontotocYalobusha và Panola. Lễ hội khoai lang quốc gia (Hoa Kỳ) được tổ chức hàng năm tại Vardaman vào tuần đầu tiên của tháng 11, và Vardaman được gọi là "The Sweet Potato Capital" (tạm dịch: Thủ đô khoai lang).
Thị trấn BentonKentucky kỷ niệm khoai lang hàng năm cùng với Lễ hội Ngày Tater vào thứ hai đầu tiên của tháng 4.

Trồng[sửa | sửa mã nguồn]


Một vài củ khoai lang.
Khoai lang không chịu được sương giá. Nó phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình khoảng 24 °C (75 °F). Phụ thuộc vào giống cây trồng và các điều kiện khác, các rễ củ sẽ phát triển đầy đủ trong vòng từ 2 đến 9 tháng. Với sự chăm sóc cẩn thận, các giống ngắn ngày có thể trồng như cây một năm để cho thu hoạch vào mùa hè tại các khu vực có khí hậu ôn đới, như miền bắc Hoa Kỳ. Khoai lang ít khi ra hoa nếu khoảng thời gian ban ngày vượt quá 11 giờ. Chúng được nhân giống chủ yếu bằng các đoạn thân (dây khoai lang) hay rễ hoặc bằng các rễ bất định mọc ra từ các rễ củ trong khi lưu giữ bảo quản. Các hạt hầu như chỉ dành cho mục đích gây giống mà thôi.
Trong các điều kiện tối ưu với 85-90% độ ẩm tương đối ở 13-16 °C (55-61 °F), các củ khoai lang có thể giữ được trong vòng 6 tháng. Nhiệt độ thấp hoặc cao hơn đều nhanh chóng làm hỏng củ.
Khoai lang phát triển tốt trong nhiều điều kiện về đất, nước và phân bón. Nó cũng có rất ít kẻ thù tự nhiên nên thuốc trừ dịch hại là ít khi phải dùng tới. Do nó được nhân giống bằng các đoạn thân nên khoai lang là tương đối dễ trồng. Do thân phát triển nhanh che lấp và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại nên việc diệt trừ cỏ cũng tiêu tốn ít thời gian hơn. Trong khu vực nhiệt đới, khoai lang có thể để ở ngoài đồng và thu hoạch khi cần thiết còn tại khu vực ôn đới thì nó thường được thu hoạch trước khi sương giá bắt đầu.
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới (với sản lượng năm 1990 là 130 triệu tấn; bằng khoảng một nửa sản lượng khoai tây của quốc gia này). Trong quá khứ, phần lớn khoai lang tại Trung Quốc được trồng để làm lương thực, nhưng ngày nay phần lớn (60%) được trồng để nuôi lợn. Phần còn lại được dùng làm lương thực hay chế biến các sản phẩm khác cũng như để xuất khẩu, chủ yếu là sang Nhật Bản. Tại Trung Quốc hiện nay có trên 100 giống khoai lang.
Khoai lang trở thành phổ biến từ rất sớm tại các đảo trên Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Polynesia. Một lý do có lẽ là nó có thể cho thu hoạch khá sớm nếu như các loại cây trồng khác bị thất thu do bão, lụt. Nó là đặc trưng trong nhiều món ăn ở Nhật Bản, Đài Loan,Philippines và các quốc gia khác. IndonesiaViệt NamẤn Độ cùng một số quốc gia châu Á khác cũng là các quốc gia trồng nhiều khoai lang. Uganda (quốc gia đứng thứ ba sau Indonesia), Rwanda và một số quốc gia châu Phi khác cũng trồng nhiều khoai lang do nó là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại các quốc gia này. Bắc và Nam Mỹ, quê hương của khoai lang nhưng ngày nay chỉ chiếm không quá 3% sản lượng toàn thế giới. Châu Âu cũng có trồng khoai lang, nhưng sản lượng không đáng kể, chủ yếu tại Bồ Đào Nha (nguồn: JRT, FAO)
Khoai lang đã từng là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ trong phần lớn lịch sử của quốc gia này, đặc biệt là tại khu vực đông nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thì nó đã trở nên ít phổ biến hơn. Tiêu thụ bình quân trên đầu người tại Hoa Kỳ ngày nay chỉ khoảng 1,5–2 kg (4 pao) mỗi năm, trong khi trong thập niên 1920 là 13 kg (31 pao). Kent Wrench viết: "Khoai lang đã gắn liền với thời kỳ khó khăn trong suy nghĩ của tổ tiên chúng ta và khi họ trở nên giàu có đủ để thay đổi thực đơn của mình thì người ta ít ăn khoai lang hơn." (NCSPC)

Bệnh dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]


Khoai lang
Củ khoai lang thường được luộc, rán hay nướng. Chúng cũng có thể được chế biến thành tinh bột và có thể thay thế một phần cho bột mì. Trong công nghiệp, người ta dùng khoai lang làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và cồn công nghiệp.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù lá và thân non cũng ăn được, nhưng các rễ củ nhiều tinh bột mới là sản phẩm chính và quan trọng nhất từ khoai lang. Trong một số quốc gia khu vực nhiệt đới, nó là loại lương thực chủ yếu. Cùng với tinh bột, củ khoai lang cũng chứa nhiều xơ tiêu hóa,vitamin Avitamin C và vitamin B6. Tất cả các giống đều cho củ có vị ngọt, dù nhiều hay ít. Mặc dù có vị ngọt, nhưng khoai lang trên thực tế là thức ăn tốt cho những người mắc bệnh đái tháo đường do các nghiên cứu sơ bộ trên động vật cho thấy nó hỗ trợ cho sự ổn định nồng độ đường trong máu và làm giảm sức kháng insulin [1].
Năm 1992, người ta đã so sánh giá trị dinh dưỡng của khoai lang với các loại rau khác. Lưu ý tới hàm lượng xơ, các cacbohydratphức, protein, các vitamin A và C, sắtcanxi thì khoai lang đứng cao nhất về giá trị dinh dưỡng. Theo các tiêu chuẩn này thì khoai lang đạt 184 điểm và hơn loại rau đứng thứ hai (khoai tây) 100 điểm trong danh sách này.(NCSPC)
Các giống khoai lang có lớp thịt màu vàng cam sẫm chứa nhiều vitamin A hơn các giống có thịt màu nhạt và việc trồng giống này được khuyến khích tại châu Phi do thiếu hụt vitamin A là vấn đề nghiêm trọng tại khu vực này. Một số người Mỹ, như Oprah Winfrey, cổ vũ cho việc ăn nhiều khoai lang vì lý do sức khỏe cũng như vì tầm quan trọng của nó trong ẩm thực truyền thống của người miền nam Hoa Kỳ.
Candied sweet potatoes (Khoai lang tẩm đường) là món ăn phụ, được làm chủ yếu từ khoai lang, đường, kẹo dẻoxi rô phongmật đường hay các thành phần có vị ngọt khác. Nó thường được người Mỹ dùng trong Lễ tạ ơn, nó là tiêu biểu cho ẩm thực Mỹ truyền thống và thức ăn của người thổ dân.
Sweet potato pie (Bánh nướng khoai lang) cũng là một món ăn truyền thống được ưa thích trong ẩm thực miền nam Hoa Kỳ.
Baked sweet potatoes (Khoai lang nướng) tại Hoa Kỳ đôi khi cũng được dùng trong các nhà ăn như là sự thay thế cho khoai tây nướng. Thông thường, tại đây nó được phủ bằng đường nâu hay bơ.
Rau lang xào là món ăn khá phổ biến trong ẩm thực Đài Loan, Việt Nam, thông thường nó được xào với tỏi và dầu ăn và một chút muối ăn ngay trước khi ăn.
Rau lang luộc cũng là món ăn phổ biến của người Việt và nó hay được dùng với nước cáy.
Shōchū là một loại rượu của Nhật Bản, sản xuất từ gạo và khoai lang.

Phi ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]


Một đọt khoai lang
Tại Nam Mỹ, nước lấy từ củ khoai lang đỏ trộn lẫn với nước chanh để làm một loại thuốc nhuộm vải. Bằng cách thay đổi tỷ lệ thành phần của các loại nước này mà người ta thu được các tông màu từ hồng tới tía hay đen. (Verrill, trang 47)
Tất cả các phần của cây đều có thể dùng làm thức ăn (khô hay tươi) cho gia súc.

Y học dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các rễ khí được sử dụng làm chất tăng tiết sữa.
  • Lá được dùng để diều trị bệnh đái tháo đường, sổ giun móc, điều trị áp xe và cầm máu.
  • Củ được dùng điều trị hen suyễn.

Một số giống khoai lang được trồng ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khoai lang Lệ Cần[sửa | sửa mã nguồn]

Khoai lang Lệ Cần là đặc sản của vùng Lệ Cần, xã Tân Bình, Đắk ĐoaGia Lai. Vì nổi tiếng nên giống khoai này được trồng ở khắp nơi. Nhưng do chỉ nhân giống bằng dây nên củ không còn nguyên phẩm chất như ban đầu[2].
Khoai lang Lệ Cần có thân dây to, cứng, lá mọc dài, tán có nhiều thùy màu nâu tím, củ màu đỏ, dài, thuôn. Ruột có màu vàng nghệ nên khi luộc bở vàng ươm, ăn ngọt lịm và bùi. Đặc biệt, giống khoai này chỉ trồng ở vùng Lệ Cần mới có đủ đặc điểm trên. Nếu đem giống đó trồng nơi khác thì bề ngoài tuy giống khoai Lệ Cần, nhưng ruột không có màu vàng và không ngọt, phẩm chất củ giảm rõ rệt[2]. Qua phân tích mẫu đất tại khu vực xã Tân Bình cho thấy, một số mẫu ở vùng Lệ Cần có hàm lượng vi lượng cao hơn khu vực khác, đặc biệt là các nguyên tố Mn, Bo, nhờ đó khoai lang mới có chất lượng thơm, ngon[2].
Trong 3 năm (2008-2010), Trung tâm Nghiên cứu giống cây trồng tỉnh Gia Lai đã thực hiện phục tráng giống khoai lang này, tạo tiền đề cho sản xuất hàng hóa[2].

Khoai lang tím Nhật ở Bình Tân[sửa | sửa mã nguồn]


Một trong những cánh đồng rộng lớn trồng khoai lang tím Nhật ở huyện Bình Tân
Khoai lang tím Nhật Bản hiện được trồng nhiều ở huyện Bình Tân (Vĩnh Long), vì nó cho năng suất cao và có giá trị kinh tế… [3].

Tham khảo và liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sweet potatoes
  2. a ă â b Gia Lai: Phục tráng giống khoai lang quý
  3. ^ Xem chi tiết: "Khoai lang Bình Tân", cập nhật 28/11/2013 [1].

)
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/3/2014