Chỉ với vài bước dưới đây, bạn hoàn toàn có thể sở hữu trong tay bài thuốc quý ngăn chặn 3 căn bệnh nguy hiểm: Huyết áp cao, đường huyết cao và mỡ máu cao.
Theo Trung y. “tam cao” là tổ hợp bệnh thường mắc phải ở những người bước vào độ tuổi trung niên. gồm 3 loại bệnh là huyết áp cao, đường huyết cao và mỡ máu cao.
Nhiều người cho rằng, những bệnh nhân mắc “tam cao” chỉ có thể dùng thuốc điều trị, thậm chí trong quá trình trị liệu còn gặp phải nhiều biến chứng như tiểu đêm nhiều lần, hoa mắt, trướng bụng, táo bón, mất ngủ…
Tuy nhiên, có một bài thuốc rất đơn giản nhưng lại khác hiệu nghiệm và không gây tác dụng phụ để chữa 3 căn bệnh trên là hành tây ngâm rượu vang đỏ. Bài thuốc này vốn được sử dụng rộng rãi ở ở Nhật Bản, dần dần lan truyền sang một số vùng lãnh thổ ở châu á như Trung Quốc, Hong Kong, Malaysia..
Tại Nhật, người ta dùng loại rượu ngâm này để chữa bệnh cao huyết áp, giảm lượng đường trong máu, cải thiện tình trạng viễn thị ở người cao tuổi, đồng thời chữa chứng tiểu đêm, khó ngủ, hoa mắt, chữa bệnh nước tiểu đục, trướng bụng…
Sau này, bài thuốc trên tiếp tục được Trung Y áp dụng để hỗ trợ điều trị những bệnh nhân mắc chứng “tam cao”.
Cách làm bài thuốc hành tây ngâm rượu vang
Nguyên liệu :Rượu vang đỏ 500ml, hành tây 3 củ.
Cách làm : – Bước 1 : Hành tây bỏ vỏ, cắt hình bán nguyệt sao cho vừa miệng.
Chưa dừng lại ở đó, hành tây còn là loại rau quả duy nhất chứa prostaglandin A, có tác dụng giãn mạch, giảm độ nhớt máu nên có tác dụng hạ huyết áp, tăng lưu lượng máu mạch vành và phòng ngừa sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, nữ giới uống đều đặn 1 cốc rượu vang mỗi ngày sẽ giúp huyết áp giảm từ 2 – 4 mmHg; với phái mạnh nếu uống 2 cốc rượu vang đỏ không cồn mỗi ngày trong 1 tháng sẽ giúp giảm huyết áp đáng kể.
Cácchất phytochemical trong rượu vàng làm tăng cholesterol tốt trong cơ thể, thêm vào đó, thành phần chất chống oxy hóa giúp bảo vệ niêm mạc của động mạch vành.
Vì thế uống rượu điều độ từ 1-2 ly rượu vang đỏ mỗi ngày rất có lợi cho sức khỏe.(Trần Quỳnhtheo NTDTV)
Viêm khớp mạn tính là căn bệnh dai dẵng rất khó chịu đặc biệt là vào những ngày trời lạnh. Căn bệnh này đối với y học hiện đại ngày nay là vấn đề nan giải nhưng bài thuốc từ cà tím được xem là phương pháp hiệu quả cho điều trị chứng bệnh này.
Viêm khớp mãn tính (VKMT) là một dạng thường gặp của bệnh viêm khớp. Trên thế giới, cứ 8 người ở độ tuổi từ 18 đến 79 lại có một người bị bệnh này. Theo cơ quan nghiên cứu về bệnh viêm khớp Hoa Kỳ, có tới 16 triệu người Mỹ bị bệnh này, trong đó số bệnh nhân nữ nhiều gấp 3 lần so với nam giới.
1/. Nguyên nhân : Bệnh viêm khớp dạng thấp chủ yếu là do yếu tố di truyền, do virus, thời tiết, vận động hoặc do chính quá trình tự miễn của cơ thể gây ra. Khi khớp bị viêm mà không được chữa trị kịp thời thì sẽ sinh ra mạn tính làm cho khớp mất dần dịch nhầy bảo vệ, sụn khớp bị bào mòn dẫn đến thoái hóa khớp. Đây chính là bệnh viêm khớp dạng thấp mà Đông y gọi là thấp khớp.
2/. Các triệu chứng thường gặp :
– Đau khớp:Các cơn đau xuất hiện sau khi luyện tập, càng dần về sau, các cơn đau ngày càng nhiều hơn, thậm chí ngay cả khi nghỉ ngơi. Khó ngủ được về đêm khi các cơn đau có tần xuất lớn .
– Cứng khớp:Khi bị viêm khớp, lúc thức dậy vào sáng sớm thường rất khó chịu. Các khớp sẽ cứng dần và có tiếng kêu rắc rắc cho đến khi bạn vận động. Bạn cũng có thể bị cứng khớp khi đang ngồi.
– Các cơ bắp yếu dần đi:Các cơ quanh khớp sẽ ngày càng trở nên yếu hơn, đặc biệt là các cơ quanh đầu gối.
– Sưng tấy:Viêm khớp có thể gây ra sưng tấy quanh các khớp khiến chúng ta có cảm giác đau khi chạm vào và đau nhức, đặc biệt vào ban đêm.
– Khó hoặc mất vận động:càng về sau các khớp bị tổn thương sẽ bị mất vận động, sưng, đỏ, và viêm nóng thường xuyên.
– Biến dạng khớp:sẽ xảy ra khi mà một bên khớp bị mài mòn và xập xuống..
– Tiếng kêu từ các khớp:Bình thường chúng ta có thể nghe thấy tiếng kêu rắc rắc khi bẻ các khớp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bạn sẽ không có cảm giác đau nhưng không có nghĩa là khớp hoàn toàn bình thường
3/. Bài thuốc gia truyền từ cà tím : Cà tím hay cà dái dê (danh pháp hai phần : Solanum melongena) là một loài cây thuộc họ Cà với quả cùng tên gọi, nói chung được sử dụng làm một loại rau trong ẩm thực. Nó có quan hệ họ hàng gần gũi với cà chua, khoai tây, cà dừa, cà pháo và có nguồn gốc ở miền Nam Ấn Độ và Sri Lanka.
Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.
– Chuẩn bị:1 quả cà tím, 1 lít nước.
– Thực hiện: Trước tiên, hãy rửa cà tím và thái nó thành những lát mỏng. Sau đó, cho cà tím vào nồi nước sôi (đun 1 lít nước đã chuẩn bị).
Đậy nắp nồi và hãy để phần cà tím được ngâm trong nồi nước sôi đến khi nước nguội hoàn toàn. Cuối cùng, lọc bỏ phần xác cà tím và lấy phần nước.
– Cách dùng:Đổ 750ml hỗn hợp vào chai thủy tinh rồi bảo quản trong tủ lạnh. Hỗn hợp chia ra làm 3 phần, mỗi phần 250ml uống vào ba bữa sáng, trưa, tối khi bụng đói hoàn toàn.
250ml sẽ dùng để bào chế thuốc thoa bên ngoài da. Hãy trộn 250ml hỗn hợp với 50ml dầu ô liu và khuấy đều. Sau đó, bảo quản trong tủ lạnh và dùng mỗi đêm trước khi đi ngủ. Chỉ cần dùng một chút hỗn hợp thoa lên chỗ đau và vùng băng gạc quấn lại để giữ ấm. Việc kết hợp cả uống và bôi ngoài sẽ cho kết quả chỉ sau vài ngày. Tuy nhiên, bạn nên uống trên 3 tuần để cơn đau biến mất vĩnh viễn.
30 tuổi lập cái gì, 40 tuổi mê điều gì – Đây là lời giải hay nhất mà tôi đọc được
Khổng Tử từng nói: “Ta, 15 tuổi chí ở học hành, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không còn nghi hoặc, 50 tuổi biết được mệnh Trời, 60 tuổi ta biết điều phải trái, 70 tuổi tâm theo ý mình, có thể làm một cách tùy ý nhưng lại không vượt quá quy tắc”.
(Khổng viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ”).
Đây là tổng kết của Khổng Tử về cuộc đời mình, cũng là tấm gương cho những ai muốn theo đuổi một cuộc đời hoàn mỹ, đặc biệt là sau tuổi 30. Vậy thì khi đến ngưỡng 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi, chúng ta cần sống như thế nào?
Khổng Tử viết về cuộc đời mình, cũng là tấm gương cho những ai muốn theo đuổi một cuộc đời hoàn mỹ, đặc biệt là sau tuổi 30. (Ảnh: youtube.com)
Tam thập nhi lập: 30 tuổi có thể tự lập
30 tuổi là ngọn núi chia đôi dòng nước, chia đôi ngã rẽ của đời người. Con người ở độ tuổi này về cơ bản đã có thể xác lập được phương hướng phát triển cuộc đời mình. Họ cũng có thể dựa vào bản lĩnh của tự thân mà gánh vác những trách nhiệm mình cần đảm đương.
“Nhi lập” ở đây là lập thân, lập gia, lập nghiệp.
Lập thân là xác lập nhân cách và sự tu dưỡng của bản thân. Điều này bao gồm việc tu dưỡng trong tư tưởng và hàm dưỡng đạo đức, bồi dưỡng năng lực và có thể tự lực tự cường. Trong đó sự tự cường là cái gốc lập thân, là yêu cầu cơ bản nhất khi mỗi người muốn đứng vững trong xã hội.
Lập nghiệp là xác lập công danh, sự nghiệp mà mình muốn theo đuổi. Người 30 tuổi nên có nghề nghiệp vững chắc. Dẫu theo đuổi bất kỳ công việc nào cũng cần có một năng lực nhất định. Nói theo cách hiện đại chính là có một sở trường về kỹ năng nào đó.
Lập nghiệp là phương thức mưu sinh, là cơ sở để độc lập về kinh tế. Đây cũng là quá trình con người ắt phải trải qua để thực hiện giá trị nhân sinh.
Lập gia là lập gia đình. Xã hội cạnh tranh mạnh mẽ ngày nay đã kéo dài tuổi lập gia đình của những người trẻ. Nhưng đứng từ góc độ sinh sôi nảy nở của nhân loại mà nói thì độ tuổi này lại rất phù hợp. Hơn nữa con người khi đến 30 tuổi sẽ hiểu rõ về hôn nhân và trách nhiệm.
Con người khi đến 30 tuổi sẽ hiểu rõ xác lập nhân cách và sự tu dưỡng của bản thân, về hôn nhân và trách nhiệm. (Ảnh: snowpavilion.co)
Ý nghĩa của gia đình là tổ ấm. Lập gia đình thì tâm hồn mới tìm được bến đỗ bình yên để ngơi nghỉ.
Còn về trình tự lập nghiệp và lập gia đình, do tình huống của mỗi người mỗi khác, nên chúng ta không phải câu nệ thứ tự trước sau, mà hai điều này đều tương trợ cho nhau.
Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi không còn mê hoặc
40 tuổi là độ tuổi dùng điều bất biến để ứng vạn biến, là độ tuổi có thể nhìn thấu vạn vật trên thế gian, cũng là độ tuổi trưởng thành. “Bất hoặc” tức là tỉnh táo, là minh bạch về bản thân, về người khác và về thế giới.
Con người sống trong xã hội thì không thể tách khỏi xã hội. Mối quan hệ giữa con người và xã hội là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể. Cá thể là một phần tử trong quần thể. Lý tưởng và nguyện vọng của một cá nhân phải được kiến lập dựa trên cơ sở của một xã hội hiện thực. Trong tâm cần có một sức mạnh điềm nhiên khi ứng phó với thế giới bên ngoài.
Hiểu thấu bản thân mình
Chính là khiến nội tâm mình dần dần trở nên lớn mạnh trong quá trình tôi luyện, biến những thứ bên ngoài trở thành năng lượng bên trong. Người 40 tuổi là người có độ tuổi thực tế nhất, không nên phạm quá nhiều sai lầm và đi đường vòng.
Hiểu rõ trách nhiệm của bản thân
Đặc điểm lớn nhất của người 40 tuổi là hiểu rõ trách nhiệm của bản thân mình. Họ phải gánh vác trách nhiệm xã hội, trách nhiệm gia đình, hiếu thuận với cha mẹ, và chịu trách nhiệm dưỡng dục con cái.
40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người hiểu thấu bản thân mình, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội. (Ảnh: pinterest.com)
40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội.
Ngũ thập nhi tri thiên mệnh: 50 tuổi biết được mệnh Trời
Mệnh trời còn gọi là số mệnh, 50 tuổi biết mệnh Trời. Người 50 tuổi đã tới giai đoạn chín muồi trong cuộc đời. Lúc này có rất nhiều việc trong đời dường như đã thành hình.
Người 50 tuổi hiểu biết hơn về xã hội nên càng thấu hiểu bản thân hơn. Họ học được cách thản nhiên đối mặt với mọi việc. Họ không oán trời, không trách người, không lười nhác.
Tri thiên mệnh
Người 50 tuổi sức khỏe không còn như trước. Họ càng hiểu rõ hơn về sự yếu nhược của sinh mệnh, hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là vốn liếng của sinh mệnh. Không khi nào con người lại có trải nghiệm sâu sắc như thế về sức khỏe như ở độ tuổi này. Họ sẽ chú trọng tới việc dưỡng sinh hơn trước và bắt đầu tích cực rèn luyện.
Người 50 tuổi đã có sự đánh giá khá chuẩn xác về bản thân mình. Họ rất ít khi dao động, khiến tâm trạng lên lên xuống xuống vì một chuyện gì đó. Trải qua bao nhiêu năm vất vả họ cũng có một điều kiện kinh tế nhất định, tham vọng tiền tài cũng không còn mạnh mẽ như khi còn trẻ nữa.
Người 50 tuổi họ rất ít khi dao động, khiến tâm trạng lên lên xuống xuống vì một chuyện gì đó. (Ảnh: chinatimes.com)
Biết trân trọng tình cảm
Người 50 tuổi đã trải qua sự gột rửa của thời gian. Họ sẽ biết trân quý hơn người bạn đời đồng cam cộng khổ trong đời mình, biết trân trọng hơn đứa con đã trưởng thành và những người bạn cũ luôn kề vai sát cánh bấy lâu nay… Tình thân, tình bạn, tình yêu, những điều này dần sẽ trở thành những điều quan trọng trong số những điều được coi trọng trong lòng họ. Tâm danh lợi của họ cũng dần tiêu tan.
Lục thập nhĩ thuận: 60 tuổi tai biết điều phải trái
Tới khi 60 tuổi, dẫu cho ai nói ngả nói nghiêng, dù gặp phải trắc trở, khó khăn thế nào thì con người cũng đều không quá kích động. Họ có thể suy nghĩ mọi sự một cách điềm tĩnh và thuận theo quy luật của sự vật. Họ có thể thản nhiên trước vinh nhục, ngộ ra ý nghĩa đời người, nhìn thấu kiếp nhân sinh và coi nhẹ danh lợi.
60 tuổi nhìn thấu kiếp nhân sinh
Từ khi nghỉ hưu, họ chuyển từ vai trò chính ngoài xã hội về với vai trò chính trong gia đình, vui hưởng đạo cùng trời đất. Người 60 tuổi đã minh bạch những điều này, nên có thể vui vẻ tiếp nhận cuộc sống hiện thực và hiểu rõ cuộc sống nên có của một người ở độ tuổi này.
60 tuổi nhìn thấu sinh mệnh
Người 60 tuổi phải sống thật mạnh khỏe, vui vẻ, điều này cũng là một sự cống hiến đối với xã hội. Ý nghĩa của sinh mệnh là nghĩ cho người khác nhiều hơn là đòi hỏi cho riêng mình. Khi bạn đã làm được thì cũng không còn gì phải nuối tiếc nữa.
Người 60 tuổi có thể thản nhiên trước vinh nhục, ngộ ra ý nghĩa đời người, nhìn thấu kiếp nhân sinh và coi nhẹ danh lợi. (Ảnh: youtube.com)
Người 60 tuổi nhìn thấu danh lợi, nhờ trải qua sự tôi luyện của tháng năm mà lưu lại những kinh nghiệm phong phú của bản thân mình.
Trong cuộc sống nhàn nhã, họ thường hồi tưởng về những ký ức đắng cay ngọt bùi như một trải nghiệm đặc biệt trong mùa thu cuối đời. Khi đã về hưu thì họ chỉ còn sót lại một danh xưng: “Người về hưu”. Lúc này duy chỉ có sức khỏe là của bản thân mình. Vậy nên giữ gìn chăm sóc sức khỏe cho mình, sống mạnh khỏe, hạnh phúc mới là điều quan trọng nhất.
Thất thập tòng tâm sở dục: 70 tuổi tâm theo ý mình
Người 70 tuổi có thể muốn gì làm nấy theo cách nghĩ của mình. Họ biết cách sống thuận theo tự nhiên, thích ứng với mọi hoàn cảnh, cũng không được vượt quá quy củ.
Cơm ăn không quan trọng cao lương mỹ vị hay đạm bạc đơn sơ, chỉ cần thấy ngon miệng là được. Phòng ốc không quan trọng lớn hay nhỏ, chỉ cần sống vui vẻ là được. Hãy làm những chuyện bản thân thấy hứng thú, đừng oán người, trách trời, trách đất, cũng đừng để tâm lo nghĩ quá mức tới người khác. Thấy sức khỏe suy giảm từng ngày cũng đừng hoảng hốt, thấy cái chết cận kề mỗi ngày cũng đừng khiếp sợ. Mọi thứ cứ thuận theo tự nhiên, tùy cảnh mà an.
Người 70 tuổi họ biết cách sống thuận theo tự nhiên, thích ứng với mọi hoàn cảnh, cũng không được vượt quá quy củ. (Ảnh: dkn.tv)
Mỗi giai đoạn trong đời người đều có những trải nghiệm riêng trong từng giai đoạn ấy. Chúng ta không nhất định cứ phải làm theo một thước đo hay một chuẩn mực nào đó. Nhưng mỗi một giai đoạn chúng ta đều nên có sự kỳ vọng về bản thân mình. Tệ nhất thì 10 năm một lần chúng ta cũng nên ngẫm nghĩ lại về bản thân. Những điều không thể quên chính là hồi ức, nhưng điều vẫn tiếp diễn là cuộc sống. Hãy sống hết mình mỗi ngày để có thể sống trọn vẹn cả một đời.
Một nghiên cứu ở hơn 1.000 người trung niên cho thấy những người ăn nhanh có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá (béo phì, huyết áp cao, đường máu và cholesterol) cao gấp 5,5 lần so với những người ăn chậm.
Theo TS. Takayuki Yamaji, bác sỹ tim mạch tại Đại học Hiroshima (Nhật Bản) kết quả của nghiên cứu 5 năm này (bắt đầu từ 2008) cho thấy 11,6% nhóm ăn nhanh đã mắc hội chứng chuyển hóa trong khi ở nhóm có tốc độ ăn bình thường là 6,5%, và chỉ 2,3% ở những người ăn chậm.
Theo đó, 642 nam giới và 441 nữ giới ( tuổi trung bình là 51) đều khỏe mạnh khi bắt đầu tham gia nghiên cứu. Họ được chia thành 3 nhóm theo nhận định của bản thân họ về tốc độ ăn uống là chậm, bình thường hay nhanh.
Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ăn chậm và cắn miếng nhỏ hơn giúp chúng ta có cảm giác đói ít hơn một giờ so với những người nuốt chửng thức ăn. Và những người ăn chậm cũng uống nhiều hơn nên nhanh no hơn.
Tiến sĩ Yamaji nói: “Khi mọi người ăn nhanh, họ sẽ không cảm thấy no và như thế, có thể sẽ ăn quá nhiều. Ăn nhanh khiến glucose tăng bất thường và có thể dẫn đến kháng insulin”.
Ăn chậm có chỗ nào tốt ?
Nhai kỹ đối với tiêu hóa mà nói, quan trọng vô cùng. Bởi vì nó có thể thông qua mùi vị của thức ăn truyền dẫn tín hiệu đến dạ dày ruột, thông tin cho chúng biết có những chất béo, đạm và carbohydrate nào đang trên đường, như vậy ruột sẽ chuẩn bị enzym tương ứng để nghênh tiếp đồng thời phân giải chúng.
Quá trình này, không chỉ để hấp thụ dinh dưỡng từ trong thực phẩm, mà còn là để đảm bảo chắc chắn thức ăn không bị đình trệ tại chỗ cũ, để tránh những thức ăn đọng lại sau khi thối rữa sinh ra khí, đồng thời dẫn tới những phiền phức như táo bón, tiêu chảy và chứng không dung nạp thức ăn (chán ăn)…
Qua kiểm tra của điện não đồ, khi cơ nhai vận động, lượng máu trong não cũng tăng, tránh thiếu máu não, đồng thời còn giúp phòng chống căn bệnh Azheimer’s Disease. Nhất là người lớn tuổi, nên siêng nhai thức ăn. Có hàm răng khỏe, cần tranh thủ ăn những thứ cần độ nhai, giúp tăng lưu lượng máu trong não, qua đó tránh được bệnh tật.
Một nghiên cứu trước đây của các chuyên gia thuộc Trường Đại học North Carolina đã phát hiện ra rằng “ăn uống có tâm” tức là thưởng thức từng miếng ngon, tập trung vào mùi vị và “ăn uống có chủ đích” giúp chúng ta giảm trọng lượng gấp 6 lần so với những người nhịn ăn để cố giảm cân.
Họ đã phát hiện ra rằng tuân theo quy tắc “ăn uống có tâm” này, những người thừa cân đã giảm được 1,9kg trong 15 tuần trong khi những người nhịn ăn để giảm cân chỉ giảm được 0,2kg.
Theo đó, các nhà nghiên cứu cũng khuyến khích tắt tivi vào bữa tối và không ăn trưa tại bàn làm việc.
Ăn chậm nhai kỹ
Nhiều người ví miệng như cái bao tử đầu tiên, nơi đây, thực phẩm đi qua chặng đầu của quá trình tiêu hóa trước khi được đưa xuống bao tử thứ hai. Nếu bạn không để cho bao tử đầu tiên làm việc, bao tử thứ hai phải lãnh hết mọi trách nhiệm nặng nề, và trở nên suy yếu sau vài mươi năm lao tác. Không những thế, thức ăn không qua “cửa ải” thứ nhất sẽ trở thành một thứ phá hoại khi nó vào đến dạ dày.
Do đó, hãy ăn chậm, nhai kỹ khoảng 30 lần trước khi nuốt xuống là bước quan trọng đầu tiên để làm cho thức ăn nhuyễn giúp tiêu hóa dễ dàng. Khi ăn bất cứ thứ gì, thì nó cần phải được tiêu hóa trong miệng trước khi tiêu hóa trong dạ dày.
Những thức ăn có nhiều protein như thịt, cá, gà thì không cần phải nhai nhiều như những thức ăn từ bột. Nhưng dù sao thì bạn cũng nên nhai cho nhuyễn. Nếu thức ăn càng được nhai kỹ thì tính dinh dưỡng của nó càng gia tăng.
Hãy thử nhai cơm 30 lần cho nhuyễn, bạn sẽ cảm thấy vị ngọt của cơm. Điều này có nghĩa là nếu bạn biết nhai kỹ thức ăn thì lượng thức ăn mà bạn cần sẽ giảm đi phân nửa.
Không những thế, nhai kỹ giúp giảm nguy cơ mắc ung thư. Các nhà y học Nhật Bản cho rằng: nhai kỹ trong 30 giây sẽ khiến các độc tố gây bệnh ung thư mất tác dụng gây bệnh. Đây có thể chính là tác dụng của nước bọt. (theo Cao Sơn)
Trong văn hóa ẩm thực của người Việt, nem công chả phượng là biểu tượng của sự tao nhã, mọc vân ám đòi hỏi sự cầu kỳ, tỉ mỉ, còn cỗ thang cuốn là món ăn vô cùng tinh tế,…
Nhưng đáng tiếc, theo dòng chảy của thời gian, những món ăn này đã dần mất đi vị thế và không còn nhiều người có may mắn được thưởng thức.
1/- Nem công chả phượng
Nem công chả phượng được coi là món ăn đứng đầu bát trân và không thể thiếu trong các bữa tiệc cung đình xưa kia. Nhiều người cho rằng món ăn này có nguồn gốc từ ẩm thực Trung Hoa, vào thời Nguyễn đã được sao chép và cải biên lại cho phù hợp với khẩu vị của người Việt.
Nem công là nem làm từ da và thịt của con công. Món ăn này đặc biệt ở chỗ không qua nấu nướng mà được làm chín bằng quá trình lên men. Người ta dùng phần thịt đùi của con công trưởng thành giã mịn, sau đó trộn cùng riềng, tiêu, tỏi… rồi gói bằng lá chuối và ủ trong khoảng 3 ngày là có thể ăn được. Vì thịt công rất lành, có khả năng thải được nhiều loại độc nên được các bậc vua chúa vô cùng yêu thích.
Chim phượng hoàng là một loài chim chỉ có trong truyền thuyết, nên để làm món chả quý hiếm, thường người ta sử dụng chim trĩ để thay thế.Thịt chim trĩ sau khi đem sơ chế, trộn với các loại gia vị thì được gói vào lá chuối rồi hấp hoặc chiên trong mỡ gà đến khi chín vàng.
Ngày nay, do sự khan hiếm của chim công và chim phượng nên khi chế biến hai món ăn này, người ta thường thay thế bằng thịt lợn hoặc thịt gà, sau đó trang trí sao cho thật bắt mắt để dâng lên bàn thờ tổ tiên vào các dịp lễ Tết.
2/- Mọc vân ám
Trong số các món ăn truyền thống xưa, có lẽ món mọc vân ám là cầu kỳ, tinh tế nhất. Cũng có thể chính vì sự cầu kỳ này mà món ăn đã bị thất truyền. Mọc vân ám được làm từ 5 màu khác nhau: màu đỏ được lấy từ quả gấc, màu vàng từ hạt dành dành, màu xanh từ nước lá mảnh cộng, màu trắng thì để nguyên, màu đen thì cho thêm tí mộc nhĩ, nấm hương băm. Chúng đông kết với nhau thành một khối trong lớp nước bì trong suốt rất đẹp mắt, nhìn không nỡ ăn.
Những viên mọc 5 màu được cho vào bát xếp xen kẽ, sau đó chan nước ninh xương cùng bì lợn lên trên, chờ cho nước đông lại thì úp ra đĩa. Mọc vân ám có mùi thơm của thịt, hồ tiêu, khi ăn thấy rất mềm và dẻo. 5 màu của món mọc vân ám ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, là sự mong ước của người xưa về một cuộc sống đủ đầy, trọn vẹn.
3/- Thang – cuốn tôm thịt
Thang – cuốn tôm thịt, hay còn gọi là cỗ thang cuốn, là một món ăn khá phổ biến vào dịp “cỗ hóa vàng” sau tết. Món ăn này không đâu xa lạ mà chính là sự bao gồm của 2 món ăn Bún thang và Cuốn tôm thịt. Tuy thực khách thi thoảng vẫn bắt gặp món ăn này trong thực đơn của các nhà hàng, nhưng chắc chắn hương vị không còn giữ được nguyên gốc như ngày xưa.
Bún thang tuy nhiều thành phần, nhưng mỗi thức chỉ dùng một chút và đều được thái sợi, nước dùng lại ngọt thanh. Còn cuốn tôm thịt nghe tên là vậy nhưng nếu không có đủ rau diếp, các loại rau húng thơm, rau mùi, rau răm thì hẳn là hương vị cũng kém ngon đi phần nào.
Các khâu lựa chọn nguyên liệu, gia giảm gia vị,… đều phải kĩ lưỡng và cẩn trọng. Có như vậy người ăn mới cảm nhận được hết nhiều thứ vị hòa quyện tạo nên một món ăn tinh tế, thanh mát và ngon miệng.
4/- Đồn đột hầm gà ác
Đồn đột (tức hải sâm) là một loại nguyên liệu quý. Ngư dân xưa kia đi biển bắt được đồn đột chủ yếu chỉ để cống nạp cho vua quan. Ngày nay, thực khách đã có thể thưởng thức các món ăn từ đồn đột trong các nhà hàng sang trọng.
Đồn đột có hình dạng giống như con giun lớn, chiều dài từ 20 đến 30cm, nhiều màu sắc. Để sơ chế, người ta xẻ bụng đồn đột rửa sạch cát, luộc chín rồi chế biến ngay hoặc phơi khô để dành.
Trong món đồn đột hầm gà ác, đầu bếp dùng cả con đồn đột nhồi vào bụng gà, sau đó đem hầm nhừ. Món này đến nay ít được chế biến vì lượng dinh dưỡng quá cao, không còn phù hợp với nhu cầu ăn uống hiện đại.
5/- Hải sâm nấu với tôm ba oản và rau củ
Hải sâm nấu với tôm ba oản và rau củ là một món ăn cao lương, cầu kỳ từ khâu lựa chọn nguyên liệu đến nghệ thuật nấu nướng. Nguồn hải sâm “chuẩn” phải được lấy từ Phú Quốc.Hải sâm nơi đây được cho là ngon bậc nhất, bổ dưỡng và có công dụng như một loại thuốc quý.Còn tôm ba oản là một loại tôm rêu, viên tròn nhỏ.
Nước dùng cho món ăn này được chế biến rất công phu. Đầu bếp đem sá sùng ở Quảng Ninh, cồi sò điệp ở Khánh Hòa… hầm qua 1 ngày đêm rồi mới nấu, nên món ăn có chất ngọt, mặn tự nhiên, không cần nêm thêm gia vị. (theo Hoàng Ngọctổng hợp)
Đu đủ - Carica papaya L., thuộc họ Đu đủ - Caricaceae.
Mô tả: Cây cao đến 10m, mang một bó lá ở ngọn. Lá mọc so le, có cuống dài, mỗi phiến lá chia làm 8-9 thuỳ sâu, mỗi thuỳ lại bị khía thêm nữa như bị xẻ rách. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm xim ở nách những lá già. Hoa thường khác gốc, nhưng cũng có cây vừa mang cả hoa đực; hoa cái và hoa lưỡng tính, hoặc có hoa cái và hoa lưỡng tính. Cụm hoa đực phân nhánh nhiều, có cuống, rất dài. Cụm hoa cái chỉ gồm 2-3 hoa. Quả mọng to, thịt quả dày, trong ruột quả có nhiều hạt đen.
Bộ phận dùng: Quả, hạt, hoa đực, lá, rễ, nhựa - Fructus, Semen, Flos musculus, Folium, Radix et Latex Caricae Papayae; papain (trong nhựa) và cacpain (alcaloid trong lá, quả, hạt).
Nơi sống và thu hái: Gốc ở Mỹ chân nhiệt đới, Đu đủ được trồng khắp mọi nơi để lấy quả ăn. Các bộ phận của cây có thể thu hái quanh năm. Nhựa chích từ quả xanh đem phơi khô.
Thành phần hoá học: Trong quả chín có chừng 95% nước, các chất đường, trong lá chủ yếu là glocuse 8,5%, một ít pectin, chất béo, một ít muối vô cơ (Ca. P.Mg. Fe), vitamin A, B, C. Quả đu đủ xanh và các bộ phận khác của cây như thân, rễ, lá, đều chứa chất nhựa mủ. Trong nhựa mủ này có men papain có khả năng hoà tan một khối lượng tơ huyết (fibrin) gấp 2000 lần khối lượng của nó. Men này có tác dụng tiêu hoá protid, biến đổi các chất có albumin thành pepton; cũng có tác dụng tiêu mỡ, tiêu các hydrat cacbon trong môi trường hơi kiềm hay trung tính. Nó cũng có tính chất làm dễ tiêu hoá và giải độc. Nó làm triệt tiêu progosteron, một hormon sinh dục cần thiết chuẩn bị cho tử cung thụ thai và duy trì sự sống cho bào thai sau đó. Carpain (có nhiều trong lá) có tác dụng gần như digitalin là loại thuốc làm mạnh tim. Hạt đu đủ chứa mysorin và kali myronat khi kết hợp với nhau tạo thành tinh dầu mùi diêm sinh hắc. Trong rễ, có nhiều kali myronat, trong lá có nhiều myrosin.
Tính vị, tác dụng: Đu đủ chín có vị ngọt mát, có tác dụng nhuận tràng, tiêu tích trệ, lợi trung tiện, lợi tiểu. Đu đủ xanh vị đắng, ngọt, có tác dụng tiêu mạnh, nhưng ăn nhiều thì xót ruột. Nhựa mủ quả xanh làm tan vết nhơ ở da, lại có tác dụng trục giun, nhất là giun đũa. Còn có tác dụng chống đọng máu. Hạt cũng trừ giun, hạ sốt, lợi trung tiện, điều kinh và gây sẩy. Rễ hạ sốt, tiêu đờm, giải độc.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả Đu đủ chín là một món ăn và bổ dưỡng giúp sự tiêu hoá các chất thịt, chất albumin. Quả Đu đủ xanh được chỉ định dùng trong suy thiểu năng tiêu hoá, dạ dày và tuỵ, trong sự giảm dịch vị hay sự lên men dạ dày, trong viêm dạ dày mạn tính, lên men ruột và viêm dạ dày ruột non của trẻ em. Quả Đu đủ xanh dùng ăn sống trong 3 ngày liên tiếp có thể gây sảy thai; quả Đu đủ chín dùng ăn hàng ngày sẽ ức chế sự thụ thai. Hạt thường dùng làm thuốc trị giun. Rễ dùng trị sốt rét và làm thuốc lợi tiểu. Lá Đu đủ dùng tiêu mụn nhọt. Lá nấu nước dùng tẩy sạch vết máu ở vải và rửa vết loét, vết thương, sát trùng. Nhựa Đu đủ bôi mặt bị tàn nhang và các vết nhơ khác ở da, hắc lào mới phát, các loại lở sần da ngoan cố. Hoa Đu đủ đực dùng trị ho gà.
Cách dùng: Quả xanh dùng hầm với thịt. Lá, rễ thường sắc nước uống và rửa. Hoa hấp với đường, đường phèn. Nhựa dùng dạng bột hay xi rô, rượu thuốc, hoặc chế xi rô papain.
Đơn thuốc:
1. Chữa di, mộng, hoạt tinh: Quả Đu đủ bằng bắp tay, khoét cuống; cho 2 cục đường phèn vào, lắp cuống, gạt lửa than nướng chín, đem ra bóc vỏ da xanh bên ngoài, ăn lớp thịt bên trong, kể cả hạt. Chỉ cần ăn 1-2 quả là thấy kết quả (Kinh nghiệm dân gian ở An Giang).
2. Chữa ung thư phổi, ung thư vú: Hái lá lẫn cuống Đu đủ để tươi, cho vào nồi, thêm nước nấu sôi, để nguội, chiết nước đặc uống, cũng có thể nấu thành nước cô lại. Uống 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 chén to (300ml). Ngoài ra uống thêm 3 muỗng cà phê mật mía trong ngày, mỗi lần 1 muỗng. Có thể kết hợp với chiếu tia X quang và uống bột củ Tam thất (*) thì hiệu quả càng nhanh. Tuy nước lá Đu đủ đắng, nhưng cần uống liên tục 15-20 ngày mới có kết quả.
3. Ho gà: Dùng hoa Đu đủ đực 30g nấu lấy nửa chén nước, hoà tan với đường cho trẻ em uống ngày 2 lần.
~~~~~~~~~~~~
Đu đủ là thức ăn đáng lựa chọn để giải quyết việc táo bón. Đu đủ lại thường có sẵn trong vườn sau nhà hoặc mua dễ dàng ở các hàng bán trái cây... Đu đủ hương vị độc đáo, ăn bổ, được người Trung Quốc mệnh danh là "vua quả Lĩnh Nam".
Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Do có nhiều sinh tố C và caroten nên đu đủ có tác dụng chống ôxy hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.
1)- Đu đủ hầm với đường phèn: 1 quả đu đủ chín, gọt vỏ, thái miếng, đựng trong bát to, thêm đường phèn, hầm cách thủy. Món này ăn rất ngon, có hương vị đặc trưng, già trẻ ăn quanh năm đều được. Ăn đu đủ + đường phèn thường xuyên trong mùa xuân, hè có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Ăn vào mùa thu, đông có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tỳ vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm.
2)-Ít ngủ, hay hồi hộp: Đu đủ chín, chuối, củ cà rốt mỗi thứ 100g; xay với nước dừa non nạo, thêm mật ong cho đủ ngọt, cách ngày uống 1 lần.
6)-Trị ho do phế hư: Đu đủ 100g, đường phèn 20-30g, hầm ăn.
7)-Trị mụn nhọt: Lá đu đủ giã nát, đắp.
8)-Sinh xong, muốn có nhiều sữa: Các bà mẹ thường hầm chân giò với đu đủ xanh.
9)-Trị gai cột sống: Hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong 20-30 ngày.
10)-Trị giun kim: Ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói, liên tục 3-5 ngày.
11)-Trị tỳ vị hư yếu (ăn không tiêu, táo bón): Đu đủ 30g, khoai mài 15g, sơn tra 6g, nấu cháo.
12)-Trị tiểu gắt, buốt: Rễ đu đủ tươi 200g sắc lấy nước uống cả ngày thay nước uống.
13)-Trị các vết chai và mụn cóc: Lấy nhựa từ lá của cây đu đủ bôi lên vùng da bị chai hay mọc mụn, công hiệu khá tốt.
14)-Trị vết loét trên da: Trộn một chút bơ với nước đu đủ, bôi lên vết loét. Cách làm này có tác dụng làm se bề mặt và nhanh chóng làm liền vết thương.
15)-Giúp sáng mắt: Những người lớn tuổi nên ăn khoảng 3 phần đu đủ mỗi ngày trở lên để ngăn ngừa quá trình lão hóa cũng như suy giảm thị lực vì đu đủ không chỉ là loại trái cây ngon ngọt, mát, bổ mà còn chứa nhiều carotin hơn so với các loại trái cây khác như táo, ổi, chuối.
16)-Làm đẹp da: Nước ép của trái đu đủ và nhựa khô là thành phần chính trong quá trình sản xuất các loại kem chống mụn và dầu gội dưỡng tóc.
17)-Vỏ của trái đu đủ xanh có thể được giữ lạnh trong tủ lạnh và sử dụng để tạo mặt nạ. Điều này cũng lý giải tại sao người dân xứ Island luôn có làn da trắng mịn, và nhất là không bao giờ lo sợ mụn trứng cá tấn công.
18)-Nghiền nhuyễn đu đủ chín đắp lên mặt và rửa sạch sau khoảng 15-20 phút có tác dụng làm mềm, mịn da, ngăn ngừa mụn, các vết nám và đặc biệt phát huy tác dụng trong việc điều trị làn da thô ráp.
19)- Theo tài liệu y học của nước ngoài, đu đủ có thể trị được 13 thứ bệnh:
Buổi sáng, 8 giờ, ăn 100g đu đủ, trị chứng nóng ở ruột và dạ dày
9 giờ sáng, ăn 200g đu đủ để thanh lọc máu.
10 giờ sáng, ăn 200g đu đủ, trị được gan nóng (hỏa can) hay nổi giận.