Bàn về Tết QUÝ TỴ
Cũng có rất nhiều vần thơ ”trào phúng” liên quan đến Tết Nguyên Đán. Tôi từng nghe quý cụ nói “mỗi người Việt là một thi sĩ”. Thật vậy, người Việt Nam chúng ta hầu như ai cũng có tâm hồn thi sĩ, không nhiều thì ít và chuyện gì cũng làm thơ được, đặc biệt cho ngày Tết thì vô số … nhưng tôi chỉ giới thiệu với quý độc giả vài bài tiêu biểu:
Năm hết Tết đến, bài thơ sau đây phản ảnh rõ nét những chuyện xảy ra trong năm:
Thiếp ngồi thiếp tính làm gì chẳng ra
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai rõi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về.
Tháng sáu em đi buôn chè
Tháng bảy tháng tám trở về đong ngô.
Chín mười cắt rạ đồng mùa
Một chạp vớ được anh đồ dài lưng.
Anh ăn, rồi anh lại nằm.
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Gạo bồ thóc đống, còn phiền nỗi chi !
Mượn Tết để làm bài thơ tả tình, tả chân về người đàn bà
Tháng giêng là tiết mưa xuân
Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra
Đàn bà như hạt mưa sa
Mưa đâu mát đấy biết là đâu hơn.
Tháng năm, tháng sáu mưa trận mưa cơn
Bước sang tháng bảy rập rờn mưa ngâu
Thương thay cho vợ chồng Ngâu
Cả năm chỉ mới gặp nhau một lần….
Cuối cùng, bài thơ ngắn sau đây cho ta thấy hạnh phúc, quan hệ vợ chồng rất quan trọng…
Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.
Ai ơi cùng vợ cùng chồng
Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay !
2013 là Năm Con Rắn, Quý Tỵ.
Để kết thúc bài giới thiệu tổng quát về Tết, như là một hình thức “Tống Cựu Nghinh Tân” (tiễn đưa năm Nhâm Thìn, chào đón Quý Tỵ) người viết xin được trích dẫn vài câu ca dao sưu tầm về “Nàng Rắn” theo truyền khẩu nhân gian.
Phản ảnh sự trêu ghẹo lãng mạn vì muốn quyến rũ đàn ông nên “nàng Rắn” sẵn sàng chịu trách nhiệm trong các liên hệ, nhận lãnh “hậu quả” :
Con rắn không chân, con rắn biết,
Đá có ngọc ẩn, thì đá hay,
Tội thì thiếp chịu, vạ chi lây tới chàng ?
Diễn tả nỗi mơ ước thầm kín của người phụ nữ, mong được gặp người thương :
Con ếch ngắn, con rắn dài
Em trông anh trông mãi, trông hoài
Trông cho thấy mặt thấy mày mới yên
hoặc để ví von “sự quan hệ giữa nam – nữ”:
Con rắn không chưn đi năm rừng bảy rú
Con gà không vú nuôi chim mười con
Phải chi nhan sắc em còn
Anh vô chốn đó chịu lòng mẹ cha.
“Rước voi giầy mả tổ” thường đi đôi vối câu ca dao sau đây là Cõng rắn (có lẽ đúng hơn Bắt rắn về) cắn gà nhà ! Mục đích phê phán những kẻ phản bội lại nhân dân, tổ quốc, đem giặc hay ngoại bang về sát hại đồng bào.
Vì “Rắn” thích một cuộc sống bình yên, chọn sự yên tĩnh nên Ca dao Việt Nam diễn tả “sự nghi ngờ chàng hay nàng muốn ve vãn người trong mộng” rất thâm thúy, đầy lãng mạn tính :
Con chi rột rẹt sau hè,
Hay là con rắn mối tới ve con chuột xù ?
Mục đích phê phán những kẻ phản bội, Và để khen tặng ai khéo ăn nói, dễ thuyết phục người khác, có câu : Nói rắn trong lỗ bò ra !
Sau hết, người viết cũng xin lưu ý một điều quan trọng liên quan đến tình duyên là người bạn đời của “Rắn” giống như một phần thưởng “Rắn” giành được sau thời gian dài thầm mong ước vì thế “Rắn” trở nên ghen tuông và thậm chí bảo vệ người thương. Cho nên đừng bao giờ phản bội “người tuổi Tỵ” vì một khi con “Rắn” bị phản bội sẽ trả thù ghê gớm lắm!
Tuổi Tỵ hạp với Tuổi Dậu (con Gà) và tuổi Sửu (con Trâu) ! Ngược lại tuổi Tỵ kỵ (khắc) với tuổi Dần (con Cọp), tuổi Thân (con Khỉ) và tuổi Hợi (con Heo).
Trước thềm năm mới, xin kính chúc quý độc giả một Năm Quý Tỵ 2013: “AN KHANG THỊNH VƯỢNG và HẠNH PHÚC”.
Tài liệu tham khảo:
- Ca dao sưu tầm theo truyền khẩu nhân gian.
- Internet, Trang Web Hà Phương Hoài (theo Lê-Ngọc Châu)
ÔNG TÁO CHẦU TRỜI
Tết đến, người ta cũng nghĩ ngay tới Táo Quân. Người Việt không xa lạ với “sự kiện” Táo về trời để báo cáo với Ngọc Hoàng về những việc xảy ra trong năm cũ. Có một loại văn vần như vè, thường là 4 chữ, quen gọi là “Sớ Táo Quân”.
Táo Quân [Trung ngữ: 灶 君 (Táo quân), Zào jūn], Táo Vương (灶 王) hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung quốc được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Táo (灶) nghĩa là bếp. Việt Nam và Trung quốc có những truyền thuyết về Táo Quân khác nhau.
Trung Hoa có những truyền thuyết về Táo Quân như sau :
– Theo Lã Thị Xuân Thu : Chúc Dung là thần quản lý lửa do Viêm Đế mang tới, khi chết người dân thờ làm thần lửa.
– Theo Ngũ Kinh Di Nghĩa : Táo Quân tên Tô Cát Lợi, vợ là Vương Thị.
– Theo Dũ Dương Tạp Trở : thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi.
– Theo Hoài Nam Tử : Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân, khi chết được thờ làm Thần bếp.
Về giới tính, người dân Phúc Kiến (Giang Tây) cho rằng Táo là nữ thần, gọi là “Táo Quân Lão Mẫu” hoặc “Táo Quân Thái Thái”. Theo Thái Bình Ngũ Lãm trích từ Ngũ Kinh dĩ nghĩa, Trịnh Huyền cho Táo Thần là “lão phụ”, tức một bà già. Hứa Thận, nhà ngôn ngữ đời Đông Hán, cho rằng : “Táo Thần họ Tô, tên Cát Lợi, phu nhân của Táo Thần họ Vương tên Bác Giáp”, và hình tượng Táo Thần là người đàn ông. Nhưng người vùng Ninh Hóa và một số vùng khác thì vẫn tôn thờ nữ thần, có thể do họ chịu ảnh hưởng của Trịnh Huyền hoặc cho Táo Thần chuyên lo việc bếp núc, điều tra tội nhỏ, công việc Tết đến, người ta cũng nghĩ ngay tới Táo Quân.
Người Việt không xa lạ với “sự kiện” Táo về trời để báo cáo với Ngọc Hoàng về những việc xảy ra trong năm cũ. Có một loại văn vần như vè, thường là 4 chữ, quen gọi là “Sớ Táo Quân”.
Người Trung Quốc cho rằng, trước kia, mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối trời (cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình nhưng sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 tháng Chạp.
Vào ngày đó, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp với thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo. Ngoài ra còn có nước và cỏ khô cho ngựa của vua bếp “ăn” để bay và chở vua lên trời.
Vào ngày đó, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp với thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo. Ngoài ra còn có nước và cỏ khô cho ngựa của vua bếp “ăn” để bay và chở vua lên trời.
Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần : Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung quốc, nhưng được Việt hóa thành huyền tích “hai ông, một bà” – thần Đất, thần Nhà, thần Bếp. Tuy vậy, người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo, do kết quả của tính chất Tam vị Nhất thể. Bếp là nguyên bản của nhà khi người nguyên thủy có lửa, và đều dựa trên nền móng là đất.
Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi được ghi chép, do đó có những sự khác nhau về chi tiết. Nội dung chính như sau :
- Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá nên đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm, vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết, Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, hai người nhận ra nhau. Thị Nhi đưa Trọng Cao vào nhà, hai người hàn huyên tâm sự, rồi Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Lúc đó, Phạm Lang trở về. Sợ chồng bắt gặp Trọng Cao thì khó giải thích nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà rồi ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.
Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao nên cũng nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao nên cũng nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Linh hồn của ba vị được gặp Thượng đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là : Định Phúc Táo Quân (定 福 灶 君), nhưng mỗi người giữ một việc :
- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp núc, danh hiệu là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân;
- Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần;
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.
Người Việt quan niệm rằng ba vị Thần Táo định đoạt phúc đức cho gia đình, do việc làm đúng đạo lý của những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, trên có bài vị viết bằng chữ Hán. Hằng năm, đúng ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Công lên chầu trời, có nơi gọi ngày này là “Tết Ông Công”, lễ cúng có cá chép – vì người Việt cho rằng ông Táo cưỡi cá chép lên trời.
Ngoài ra người Việt còn quan niệm rằng Táo Quân lên trời và thưa với Ngọc Hoàng Thượng Đế về những sự kiện xảy ra trong năm vừa qua ở dưới trần gian. Vì thế, người Việt làm lễ tiễn ông Táo rất thịnh soạn, với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng, còn những điều không may mắn hoặc không tốt sẽ được báo cáo nhẹ đi. Tương truyền như thế.(theo Trầm thiên Thu)
Vĩnh Bảo sưu tầm 6/2/2013



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét