Tác dụng của dâu tằm đối với sức khỏe
Trái dâu vị ngọt pha chua, tính mát, ăn tươi hay ngâm rượu dùng bồi bổ gan, thận, dưỡng kinh mạch, trừ cảm mạo, phong hàn. Rượu dâu để lâu năm giúp giảm ho có đờm xanh, hạ cơn suyễn.

Có 3 loại cây dâu: Dâu lâu năm cho quả tròn được trồng ở vùng Lái Thiêu, Cái Mơn ... dâu tây trồng ở Đà Lạt và dâu tằm ăn trồng đại trà ở nhiều nơi trong nước. Với ngành thuốc nam, cây dâu tằm ăn là vị thuốc rất quan trọng.
Dâu tằm ăn tên khoa học là Morus alba albeae. Đông y gọi là tang ngọc vì toàn thân cây, vỏ, lá, trái dâu và đến cả con sâu đục ruột cây cũng được dùng chế tác thuốc. Trái dâu vị ngọt pha chua, tính mát, ăn tươi hay ngâm rượu dùng bồi bổ gan, thận, dưỡng kinh mạch, trừ cảm mạo, phong hàn. Rượu dâu để lâu năm giúp giảm ho có đờm xanh, hạ cơn suyễn.Theo - Eva.vn
Bài thuốc quý từ cây dâu tằm
Hầu hết các bộ phận của cây dâu tằm đều có vị thuốc quý, kể cả những thứ bám vào cây dâu (như tầm gửi, tổ bọ ngựa, sâu dâu...). Tác dụng chữa bệnh: lá dâu (tang diệp) có tác dụng hạ sốt, chữa cảm mạo, hạ huyết áp, làm sáng mắt, chữa chứng mồ hôi trộm ở trẻ nhỏ, chứng thổ huyết, làm lành vết thương.
Cách dùng: lá dâu tươi: 50 gr sắc với 200 ml, còn 100 ml, chia uống hai lần trong ngày (sáng, chiều để chữa cảm mạo, sốt cao, cao huyết áp). Chứng thổ huyết: lấy lá dâu già sao vàng hạ thổ dùng 12 - 20 gr, sắc với 100 ml còn 50 ml, uống ngày 2 lần. Trẻ con đổ mồ hôi trộm: dùng 30 - 40 gr lá dâu non, thái nhỏ, nấu với thịt nạc cho trẻ ăn liên tục 15 - 20 ngày. Vết thương, mụn nhọt lâu lành miệng dùng lá dâu già rửa sạch, sao thật vàng, tán mịn, rắc vào vết thương.
Vỏ, rễ cây dâu (tang bạch bì): chữa chứng ho lâu ngày, sốt cao, băng huyết, cao huyết áp... Cách làm: vỏ rễ cây cắt nhỏ, sao vàng hạ thổ (tán nhỏ hay để nguyên cũng được). Liều dùng 20 gr/ngày sắc với 100 ml, còn 50 ml uống trong ngày. Cành dâu (tang chi): chặt thành từng đoạn dài 3 - 4 cm, phơi khô, sao vàng hạ thổ; Có thể dùng độc vị (chỉ có cành dâu) hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác để chữa các chứng đau nhức xương khớp (nhất là ở tay chân). Quả dâu (tang thâm) có tác dụng bổ gan, thận huyết, tiểu đường, lao hạch. Lấy quả dâu chín rửa sạch rồi đem nấu cao mềm, ngâm rượu hoặc làm mứt (khi ngâm rượu thì chỉ dùng 50 ml vào buổi tối).
Cây tầm gửi trên cây dâu (tang ký sinh): có tác dụng trị các chứng đau nhức xương cốt, lợi sữa, an thai. Để trị chứng phong thấp thường phối hợp với các vị thuốc khác (trong bài thuốc độc hoạt tang ký sinh). Tổ bọ ngựa trên cành dâu (tang phiêu tiêu): có tác dụng trị chứng đái dầm ở trẻ nhỏ, di tinh, liệt dương. Cách dùng lấy tổ bọ ngựa nướng vàng, tán mịn, ngày dùng 10 gr, chia làm 2 lần, dùng liên tục 15-20 ngày. Cần chú ý tang ký sinh và tang phiêu tiêu là hai vị thuốc rất quý và hiếm, cần thận trọng khi thu mua, vì chỉ có ở những cây dâu lâu năm, còn dâu trồng theo dạng công nghiệp thì không thể có được.
Sâu dâu (là ấu trùng của con xén tóc) có tác dụng đối với trẻ còi xương, suy dinh dưỡng, bồi bổ sức khỏe cho người già yếu. Cách dùng nướng 1-2 con sâu dâu cho trẻ ăn 1-2 lần/ngày. Hoặc dùng ngâm rượu cho người lớn (có thể phối hợp với 1 số loại thuốc khác để tăng tác dụng). Chú ý cách bắt sâu, vì ban ngày sâu chui xuống đất, ban đêm mới bò lên thân cây để đục thân, vì vậy phải bắt vào khoảng 21 giờ - 4 giờ sáng, dùng dao bén phạt vào thân cây, dưới chỗ phân đùn ra chừng 15-20 cm, làm nhanh gọn, dứt khoát, nếu không sâu sẽ chui xuống đất.Theo - Thanh Niên
Chất chống oxi hóa trong quả dâu tằm rất tốt
Các nhà nghiên cứu của Học viện de la Grasa (một phần của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Tây Ban Nha- CSIC) và khoa Sinh thái học và Sinh học thực vật thuộc Đại học Seville đã phát hiện rằng cây đậu tằm là một nguồn quan trọng của các hợp chất phenol với hoạt động chống chất oxi hóa cao.
Nó là một thực vật họ đậu thuộc gia đình Fabeae, rất phổ biến sau chiến tranh ở Tây Ban Nha như một loại thức ăn cơ bản. Hiện nay, đậu tằm thường được trồng ở vùng lục địa cận Ấn Độ, ở Ethiopia và các nước xung quanh, ở vùng Địa Trung Hải và Nam Mỹ.

Các phát hiện này là nghịch lý bởi vì lượng tiêu thụ quá nhiều loại cây này gây ra chứng ngộ độc đậu Liên lý, một căn bệnh ở dây cột sống. Nó được in trong tạp chí chuyên ngành Kỹ thuật và Khoa học thực phẩm của Hiệp hội kỹ thuật và khoa học thực phẩm Thụy Sĩ. Đối với các nhà nghiên cứu, các kết quả này có thể mở ra một cánh cửa cho những vụ mùa chuyển đổi trong tương lai.
Các polyphenol là những chất chống oxi hóa bảo vệ LDL khỏi sự oxi hóa. Chúng được hấp thu vào cơ thể chúng ta và xuất hiện trong máu và các mô của con người thông qua trái cây, rau củ và rượu vang. Sự tiêu thụ các chất này gây ra sự tăng lên về khả năng kháng oxi hóa trong máu, điều đó ngăn ngừa tác động oxi hóa, có liên quan đến những bệnh tật và quá trình lão hóa.
Những nhà khoa học đã nghiên cứu thành phần các polyphenol và hoạt động chống chất oxi hóa của hạt giống của 15 loài Đậu liên lý ở Andalusia: L. hirsutus, L. filiformis, L. sativus, L. cicera, L. angulatus, L. sphaericus, L. annuus L. clymenum, L. pratensis, L. ochrus, L. aphaca, L. latifolius, L. setifolius, L. tingitanus and L. amphicarpos. Trong công trình nghiên cứu này, các nhà khoa học đã nhận thấy những thành phần khác nhau có trong hạt gồm các polyphenol dao động từ 3,8 mg/g trong bột của loài L. setifolius đến 29,2 mg/g ở loài L. sphaericus. Hơn nữa, có các thành phần polyphenol cao hơn ở những loại hạt nhỏ bé nhất bởi vì có lượng cao hơn trong vỏ bao, nơi giàu hơn về các hợp chất này.
Những hàm lượng của các polyphenol trong đậu tằm được nghiên cứu là cao hơn nhiều so với những thứ quan sát được trong các loài được tiêu thụ rộng rãi. Ví dụ như những loài chẳng hạn là L. aphaca, L. tingitanus, L. angulatus và L. spahericus cho thấy có chứa lượng hợp chất phenol cao hơn gấp 2 lần so với đậu nành, đậu xanh và đậu lupine.
Hơn nữa, bên cạnh việc có hàm lượng cao các polyphenol, nhiều loài đậu tằm cho thấy có những hợp chất này với khả năng chống oxi hóa cao gấp hơn 2 lần so với các polyphenol có trong đậu nành, đậu xanh và cây lupine. Do đó, 3 loài đậu tằm được trồng là L. sativus, L. cicera and L. annuus có chứa các polyphenol có hoạt tính chống oxi hóa cao hơn.
“Các kết quả này có thể mở ra cánh cửa để cân nhắc lại và đánh giá lại việc trồng trọt những loại cây truyền thống này trong cộng đồng chúng ta như là một nguồn thực phẩm chức năng hay các hợp chất có hoạt động sinh học cao chẳng hạn như các polyphenol. Điều này có thể giúp cho việc đánh giá lại về những vụ mùa này, sự bảo quản các loài đó cũng như bảo vệ sự giàu có về hoa màu và cuối cùng là sự bảo quản tính đa dạng sinh học”, Javier Vioque tuyên bố.
L. sativus là dạng đậu tằm được dùng nhiều nhất làm thực phẩm cho con người như là một mạch động hay thứ gì khác mà không có vỏ bao và được chuyển sang dạng bột để trộn với ngũ cốc và làm thành bánh mì hay cháo yến mạch. Cháo yến mạch là một món ăn phổ biến vào những lúc đói nghèo như thời kỳ hậu chiến ở Tây Ban Nha, ở Castile-La Mancha và Extremadura. Tuy nhiên, sự hiện diện của các hợp chất gây độc trong hạt có thể tạo ra những ca bị liệt nghiêm trọng, được biết đến với tên gọi là bệnh thần kinh do ngộ độc đậu liên lý, mặc dù bệnh này chỉ xuất hiện khi loại cây này là một phần chủ chốt của chế độ ăn (nhiều hơn 30% trên tổng lượng) trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
Các pholyphenol là những hợp chất được biết đến nhiều với tác dụng sinh học. Có nhiều chất này trong các loại rau củ và những tác động có lợi của rượu vang, đậu nành và dầu oliu có chứa polyphenol đã được nghiên cứu sâu rất nhiều. Chúng có các tính chất: chống oxi hóa, kháng viêm và kháng sự sinh sôi của vi khuẩn, và chúng được kiến nghị cho việc phòng ngừa các bệnh về hệ thống tuần hoàn cũng như ung thư, và nói chung là để làm trì hoãn quá trình lão hóa.
Theo - Thanh Niên
Một số bài thuốc chữa cao huyết áp từ dâu tằm
Dâu tằm là loài cây được nhân dân ta nuôi trồng từ lâu đời. Theo tài liệu cổ, quả dâu (tang thầm) vị chua ngọt, tính bình, làm tăng huyết dịch, chữa thiếu máu, đau khớp xương và chứng táo bón ở người cao tuổi. Y học cổ truyền thường dùng vỏ rễ dâu làm thuốc hạ huyết áp, thấp khớp, lợi tiểu… Canh cá diếc lá dâu có tác dụng chữa bệnh huyết áp khá cao.
Lá dâu vị ngọt đắng, tính mát, làm mát máu, thanh đờm, có tác dụng hạ sốt, chữa cảm mạo, hạ huyết áp, làm sáng mắt, chữa chứng mồ hôi trộm ở trẻ nhỏ, chứng thổ huyết, làm lành vết thương. Cành dâu thái miếng sao vàng giúp chữa phong thấp, tay chân co quắp, đau nhức (cành dâu sao 20 g, cây huyết dụ 12 g sắc uống). Tầm gửi cây dâu (tang ký sinh) giúp mạnh gân cốt, lợi huyết mạch, an thai, xuống sữa.
Y học cổ truyền cũng dùng dâu tằm trong nhiều bài thuốc hoặc món ăn chữa cao huyết áp. Nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, dịch chiết vỏ rễ dâu gây hạ huyết áp, giãn mạch… trên động vật thí nghiệm.
Một số bài thuốc chữa cao huyết áp bằng dâu tằm:
Do lá dâu có tác dụng dưỡng âm nên nhiều người đã dùng chữa bệnh cao huyết áp – với bệnh danh là “Huyễn vựng”. Lương y Nguyễn Văn Yến (Hà Nội) có một bài thuốc kinh nghiệm chữa bệnh tăng huyết áp, đã được đăng trong tạp chí Đông y, chuyên đề tăng huyết áp của thập kỷ 1970. Đây là bài thuốc đơn giản, dễ kiếm, đặc biệt thích hợp và hữu dụng cho người dân nông thôn nước ta. Cách chế: lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Cá diếc cho vào chậu nước muối để nhả hết nhớt dãi; Không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu ăn.
- Cháo lá dâu: Thịt trai sông 50-100g, lá dâu tươi 20g thái nhỏ, nấm hương 20g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hàng ngày có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích dụng với người cao tuổi bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần… Đặc biệt người tăng huyết áp bị suy giảm khả năng tình dục cũng nên dùng.
- Vỏ trắng rễ dâu 20 g, sắc uống ngày một thang.
- Canh cá diếc lá dâu: Lá dâu 20 g thái chỉ, cá diếc tươi 1 con. Nấu canh ăn hằng ngày.
Theo - Sức Khỏe & Đời Sống
Quả dâu ta và tác dụng chữa bệnh
Dâu ta hay còn gọi là Dâu tằm, (Dâu cho lá nuôi tằm kéo tơ) có ở nhiều nơi. Cây Dâu nuôi tằm thì nhiều lá, quả ít và nhỏ, vị chua. Cây Dâu lưu niên thì quả nhiều, to, đỏ, tím mọng, ngọt. Mỗi loại có đặc tính riêng tuỳ theo mục đích sử dụng. Loại Dâu lưu niên được trọng dụng hơn. Quả dâu có tên Hán là Tang thầm (Tang thâm tử) tên khoa học phổ biến là Morus Alba.

Trong Đông y, trái Dâu được dùng từ đời Đường. Các công trình nghiên cứu cho thấy Dâu ta và Dâu Tầu có giá trị nuôi tằm và làm thuốc tương đương nhau.
Theo Trung dược học bản thảo : Trái Dâu tằm có công dụng bổ thận, dưỡng huyết, khu phong, sáng mắt, tăng lực, chữa táo bón kinh niên; theo Bản thảo cương mục Lý Thời Trân: Trái Dâu giải được độc của rượu, lợi cho cả khí, cả thuỷ trong cơ thể.
Cây Dâu cho lá nuôi tằm ra hoa kết trái vào tháng 2, 3. Đến mùa Thu thì trái ít và nhỏ hơn. Giống Dâu vườn lưu niên cho quả nhiều, to, ngọt và chất lượng tốt hơn. Trồng Dâu lấy quả phải chọn giống Dâu ít lá, lá nhỏ và mỏng. Ở miền Bắc Công ty Đông dược Bảo Long đã chọn quả Dâu Ba Vì (Hà Tây) để sản xuất Vang dâu cho chất lượng cao. Dâu càng chín (tím đen) càng thơm ngọt, bớt chua chát, nhiều chất bổ dưỡng.
Theo Viện Dược liệu Bộ Y tế: Trong quả Dâu: Nước 84,71%; Đường 9,19%; Axit 80%; Protit 0,36%; Tanin; Vitamin C; Caroten. Trong đường có glucoza, fructoza. Trong axit có axit malic, axit sucinic. Một số tài liệu Trung Quốc cho biết: Cứ 100g quả Dâu có 1,6g anbumin, 0,4 chất béo, 9,6g chất đường, 20mg caroten, 30mg canxi, 33mg phốtpho, 0,3mg sắt.
Thu hoạch dâu chín phải nhẹ tay, không để dập nát, gây lên men, không chất đống, thiếu không khí, dễ gây giảm chất lượng của các chế phẩm. Chế biến quả Dâu bằng nhiều cách, từ đơn giản đến phức tạp: nước ép Dâu, Cao Dâu, Dâu ủ men, Dâu hấp, mứt Dâu, bột Dâu, Dâu xào thịt… Trong các chế phẩm đó, có khi chỉ dùng trái Dâu, có khi phối hợp thêm nhiều thức ăn hay các vị thuốc Đông y khác để phục vụ cho mục đích điều trị khác nhau.
Quả Dâu chín có tác dụng chữa bệnh rất tốt:
- Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, lợi xương khớp - Rượu tang thậm (Tang thậm tửu). Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân: Quả Dâu tươi, chín 5000g, Gạo nếp 6000g. Men rượu vừa đủ. Quả Dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội, cho cơm nếp, men rượu, trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30 – 50 ml/ngày, vào 2 bữa cơm.
- Dưỡng huyết đen mượt tóc (Trung y mỹ dung): Quả Dâu tươi chín 50g. Đường phèn vừa đủ. Quả Dâu rửa sạch, cho vào nồi đất, nước vừa đủ, sắc lấy nước, hoà đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè.
- Các bệnh tuổi già: Nhức mỏi cơ xương, khớp, đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lẫn.
* Cháo quả Dâu: Quả Dâu chín 40g, Gạo cũ 50g, Đường phèn vừa đủ. Nấu cháo loãng, ăn buổi sáng (khi chưa ăn gì, bụng còn đói), rất tốt với trẻ em, người già, yếu, ốm dậy.
* Bánh mè quả Dâu: Quả Dâu 30g, Vừng đen 60g, Bột nếp 700g, Bột gạo tẻ, hạt Đay 10g, Đường trắng 30g. Làm bánh, hấp chín.
- Tóc khô gẫy, rụng, chóng bạc:
* Quả Dâu 100g, rượu 1/2 lít, ngâm 3 ngày. Uống ngày 2 bữa cơm. Mỗi lần 20ml.
* Quả Dâu, Sinh địa, mỗi thứ 30g, Đường trắng 15g. Giã nát, sắc uống, chia 10 lần uống.
- Mất ngủ cấp tính: Quả Dâu tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.
- Mất ngủ kinh niên: Quả Dâu 15g, Thục địa 15g, Bạch thược 15g sắc uống.
- Các chứng bệnh sau đẻ: (hậu sản do âm huyết kém: ho, sốt): Dâu, Long nhãn, Đẳng sâm, mỗi thứ 30g, nghiền nát 3 thứ. Uống mỗi lần 2 – 3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần.
- Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả Dâu 30g, Ngân nhĩ 20g, Ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.
- Ho lâu ngày do phế hư: Quả Dâu 150g, Lá Dâu 100g, Vừng đen 100g, cô cao lỏng, thêm 500g đường, uống ngày 3 lần. Mỗi lần 15g (1 thìa con).
- Phù thũng: Cành Dâu một nắm, băm nhỏ, đổ ngập nước, đun còn một nửa bỏ bã; Dâu chín một lượng bằng lượng cành, nấu nhừ lọc bỏ bã cô đặc, cho đường, ít rượu, ngày uống 2 thìa canh, hoà nước cơm uống trước bữa ăn.
- Chảy nước mắt sống (Nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả Dâu 20g, Cà chua một quả, đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngày 1 – 2 lần. Đồng thời lấy lá Dâu già, chưa rụng, nấu lấy nước rửa mắt hàng ngày.
- Ăn không tiêu, trướng bụng óc ách, tức thở: Quả Dâu 10g, Bạch truật 6g, sắc uống.
- Hoạt huyết, dưỡng huyết thông kinh – chữa bế kinh do huyết ứ: Quả Dâu 15g, Hồng hoa 3g, Kê huyết đằng 12g, Rượu trắng 1 thìa con (15ml). Cho tất cả vào nồi, nấu lấy nước, bỏ bã. Ngày 1 thang, uống trong 5 – 7 ngày.
- Ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm: Quả Dâu, Ngũ vị tử. Mỗi loại 10g, sắc kỹ còn 1/2, uống ngày một lần.
- Bệnh mạch vành: Quả Dâu 30g, Câu kỷ tử 30g, Gạo dính 15g. Nấu uống ngày 2 lần.
- Viêm đa khớp dạng thấp: Quả Dâu tươi 100g, Rượu trắng (gạo hoặc nếp ngon). Dâu rửa sạch, giã nát, gói vào túi vải, ngâm vào rượu 3 – 5 ngày. Uống mỗi lần 20 – 25ml.
- Viêm khớp nói chung: Quả Dâu 250g, cành Dâu 150g, chùm Gửi dâu 100g. Ngâm rượu uống.
- Đái tháo đường do can thận âm suy: Quả Dâu 30g, Thiên hoa phấn 20g, Sinh địa 15g. Sắc uống. Quả Dâu tươi 1kg, Gạo nếp 0,5kg, men rượu vừa đủ dùng. Giã nát Dâu cho gạo nếp vào nấu cùng thành cơm nếp, để nguội rắc men rượu, trộn đều cho lên men thành rượu cái. Ăn khai vị trước bữa cơm.
- Viêm gan mãn tính, ung thư (cancer) gan: Quả Dâu tươi 500g, Bột Củ ấu 50g, Mật ong 30ml. Ép Dâu lấy nước cô đặc, trộn bột Củ ấu và Mật ong nấu chín. Dùng điều trị hỗ trợ ung thư gan bị huyết hư, miệng lưỡi khô, thần kinh suy nhược mất ngủ, táo bón.
- Tràng nhạc: Trái Dâu chín 500g, Thục địa 200g (thái nhỏ), cho vào túi vắt lấy nước cô thành cao, dùng mỗi lần một thìa với nước đun sôi để nguội. Ngày 3 lần.
- Say rượu: Quả Dâu ép lấy nước uống.
Quả dâu dùng ngoài
- Bỏng, vết thương chảy máu: Quả Dâu rửa sạch, ép lấy nước, bôi, rửa đắp.
- Nấm, hắc lào: Quả Dâu tươi 60g. Giã nát, sát lên chỗ tổn thương.
Những tương kỵ khi dùng quả Dâu: Chống chỉ định đối với các bệnh thuộc hàn chứng (vì quả Dâu thuộc tính hàn) như sôi bụng, ỉa chảy. Theo sách xưa, kỵ dùng dụng cụ kim loại, phải dùng dao nứa và nồi phải được tráng men. Xưa dùng nồi đất.theo: Caythuocquy
Vĩnh Bảo sưu tầm 10/8/2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét