Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

BA THẢO DƯỢCBẢO VỆ GAN




Dau ganBA THẢO DƯỢCBẢO VỆ GAN

Thảo dược bảo vệ gan đã là bài thuốc quý báu từ hàng ngàn năm nay của Đông y, và đang trở thành xu hướng được giới Y học khuyến nghị sử dụng trong thời đại ngày nay.
Trong rất nhiều loại thảo dược đã được dân gian kết tụ thành các bài thuốc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh gan, Diệp hạ châu đắng – Vọng cách – Nhân trần là ba thảo dược được đánh giá cao hơn cả về công dụng.
Diệp hạ châu đắng còn có tên gọi phổ biến khác là cây chó đẻ răng cưa. Loại dược liệu quý này đã được dân gian sử dụng hơn 2.000 năm nay, nhằm điều trị viêm gan vàng da, rối loạn tiêu hóa, diệt khuẩn, chữa viêm… Trong Đông y cổ truyền, loài thuốc này được nhận định có vị đắng, hơi ngọt, tính mát, có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng tiết mật.
3 Tot gan 1Công dụng chính là làm mát gan, mát máu, giải độc gan, hạn chế tác động sinh trưởng của vi rút (đặc biệt là vi rút viêm gan B).
Những tác dụng này cũng đã được Y học hiện đại công nhận và sử dụng. Chất đắng (phyllathin, hypophyllanthin, triacontanal) trong Diệp hạ châu đắng có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là khả năng giải độc, khôi phục chức năng bình thường của gan, rất tốt trong các trường hợp suy giảm chức năng gan do sử dụng nhiều bia rượu. Các chất này làm gia tăng lượng glutathione – chất bảo vệ gan thường bị thiếu trầm trọng ở những người thường xuyên sử dụng bia rượu. Năm 1995, các nhà khoa học Brazil cũng phát hiện tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của loài cây này. Tác dụng này được cho là do nhờ acid gallic có trong Diệp hạ châu đắng, có khả năng hỗ trợ chữa trị tình trạng viêm gan, tổn thương gan do bia rượu.

Câu chuyện về cây diệp hạ châu

Tác giả : BS. QUÁCH TUẤN VINH (Tham khảo tài liệu trên Internet)

Nicole Maxwell, tác giả cuốn Witch Doctor?s Apprentice, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1961 trên cơ sở những nghiên cứu được tiến hành từ năm 1950 tại Peru, đã coi Chanca Piedra như một dược liệu quan trọng nhất để chữa bệnh. Bà Nicole Maxwell thường xuyên gặp gỡ các pháp sư và những người Ấn Ðộ ở vùng sông Amazon. Thời gian sau đó, bà được gặp một người Ðức đã từng sử dụng Chanca Piedra trong chữa bệnh tại Ðức. Ông ta nói rằng có tới 94% bệnh nhân của mình được hỏi đều cho biết sỏi thận đã hoàn toàn loại trừ sau 1-2 tuần điều trị. Tuy nhiên vài giờ sau khi loại bỏ được sỏi thận, một vài bệnh nhân đã bị chuột rút. Những thầy thuốc khác đã phỏng vấn những bệnh nhân được Nicole Maxwell cho sử dụng Chanca Piedra. Họ đều nói rằng có thể sử dụng vào bất cứ thời gian nào và không xảy ra tác dụng phụ gì.

CHANCA PIEDRA LÀ CÂY THUỐC GÌ?

Ðó chính là cây Phyllanthus ninuri, một cây thuốc cùng họ với cây Phyllanthus amarus mà dân ta gọi là diệp hạ châu đắng, còn cây diệp hạ châu ngọt được gọi với tên Phyllanthus urinaria..., cũng đã trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam dưới tên gọi dân dã là chó đẻ răng cưa, hoặc mỹ miều hơn là diệp hạ châu (ngọc dưới lá).
Những cây thuốc cùng họ Euphorbiaceae cũng được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới, và người ta cho rằng đây là một dược thảo phổ biến ở các nước nhiệt đới. Tại Ấn Ðộ, theo mô tả của các nhà khoa học, cây thuốc này có thể cao từ 30-60cm và có hoa màu vàng. Ngoài ra còn được tìm thấy ở các nước khác như Trung Quốc (Phyllanthus urinaria), Cu Ba, Nigeria, Guam, Philippines... Toàn bộ cây được sử dụng làm thuốc, có tác dụng giảm đau, chữa viêm gan... Các nhà khoa học đã chứng minh đây là một cây thuốc mang lại nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

NHỮNG CÔNG DỤNG CỦA CÂY DIỆP HẠ CHÂU

Tại Pháp, Chanca Piedra còn được sử dụng điều trị sỏi thận, sỏi mật. Sản phẩm của Chanca Piedra gọi là Pilosuryl, được bán như một thuốc lợi tiểu. Chanca Piedra có thể sử dụng kéo dài nhằm khôi phục chức năng bình thường của gan và giải độc cơ thể (do gan có chức năng thải độc, chống độc cho cơ thể). Việc ăn các thức ăn có nhiều bơ, sữa, thịt, đường, thức ăn nhanh, hóa chất sát trùng, uống nước tiệt trùng bằng Clo, nước chứa ký sinh trùng, sử dụng thuốc tránh thai ở phụ nữ trẻ và hormone ở phụ nữ mãn kinh, điều trị bằng các hormone steroid, hóa trị liệu điều trị ung thư, sử dụng thuốc chữa bệnh tim mạch và ngăn ngừa chống loãng xương... cũng chính là những nguyên nhân thường gặp gây tổn hại cho gan.
Một nghiên cứu được tiến hành tại trường Ðại học Dược Santa Catarina (Brazil) vào năm 1984 về Chanca Piedra đã phát hiện có một alkaloid là phyllan thoside. Alkaloid này có tác dụng chống co thắt mạnh. Phyllanthoside có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, do vậy có thể giải thích được hiệu quả chữa bệnh của nó trong điều trị sỏi thận, sỏi mật.
Các nhà nghiên cứu Brazil cũng khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của vài giống Phyllanthus, bao gồm Phyllanthus niruri. Trong một cuốn sách có tựa đề "Cats claw, cây leo chữa bệnh" của Peru, tác giả Kenneth Jones đã dành hẳn một chương mục để nói về Chanca Piedra. Chúng ta biết rằng, morphin là một thuốc giảm đau gây nghiện cổ điển nhất trên thế giới và indomethacin cũng là một thuốc chống viêm, giảm đau. Thế nhưng, trong các cuộc thử nghiệm, Phyllanthus niruri có tác dụng giảm đau mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin!
Tác dụng giảm đau của Phyllanthus đã được các nhà khoa học Brazil cho là do acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid như beta sitosterol và stigmasterol. Từ những năm 1960 đã có thông tin nói về Chanca Piedra. Những nghiên cứu của Brazil và Ấn Ðộ trước hết được áp dụng trên những người bản xứ. Trong một vài nghiên cứu khác đã được báo cáo, người ta không thấy có sự khác biệt nào của Phyllanthus niruni và Phyllanthus amarus vì các hoạt chất của 2 cây này là giống nhau. Trong thực tế, các nhà khoa học cho rằng nó chỉ là một loại cây với hai tên gọi khác nhau mà thôi. Tác dụng chống co thắt của Chanca Piedra trong nghiên cứu giữa năm 1980 của các nhà khoa học Brazil đã giải thích tác dụng điều trị sỏi thận và sỏi bàng quang trong dân gian của cây thuốc này.
Những Alkaloid của Phyllanthus có tác dụng làm giãn cơ, đặc biệt là đối với cơ quan bài tiết. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán nó có tác dụng làm mòn sỏi ở đường tiết niệu (thận và bàng quang). Nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Ðộ trong năm 1980 đã xác định những tác dụng điều trị của Chanca Piedra đối với bệnh gan là do tác dụng của các hoạt chất phyllanthin, hypophyllathin và triacontanal. Glycoside được tìm thấy trong Chanca Piedra đã ức chế men Aldose reductase (AR), do các nhà nghiên cứu Nhật Bản kết luận thông qua một nghiên cứu tiến hành vào những năm 1988-1989. Còn vào các năm 1994-1995, các nhà khoa học Brazil đã phát hiện tác dụng giảm đau của Chanca Piedra. Trong một ghi chú đặc biệt, cuối những năm 80, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống virus viêm gan B của cây thuốc này.
Những thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em với bệnh viêm gan truyền nhiễm bằng một thuốc chứa Phyllanthus amarus của Ấn Ðộ đã cho kết quả hứa hẹn trong cả Invivo và Invitro. Nghiên cứu Invitro về sự ức chế virus viêm gan B của Break Stone được báo cáo tại Ấn Ðộ vào năm 1982. Trong nghiên cứu trên Invivo, Break Stone cũng đã loại trừ virus gây bệnh viêm gan B ở những động vật có vú trong 3-6 tuần.
Những nghiên cứu khác tiến hành vào những năm 1990-1995 đã cho thấy Chanca Piedra có tác dụng chống lại virus viêm gan B.
Chúng ta cũng biết rằng virus viêm gan B không chỉ tồn tại trong giai đoạn cấp tính mà còn tồn tại trong cơ thể và có thể tiến tới gây ung thư gan. Các nghiên cứu cho thấy có tới 90% bệnh nhân bị ung thư gan đã từng mắc bệnh viêm gan virus B và đây quả là một điều đáng sợ! Phyllanthus niruri và Phyllanthus amatrus đã cho thấy các dược chất tự nhiên không độc mà nó chứa đựng có tác dụng đối với virus viêm gan B.
Cây thuốc này còn có tác động tới cả hệ thống miễn dịch của cơ thể. Khi mà AIDS trở thành đại dịch nguy hiểm trên thế giới và cho tới nay việc điều trị vẫn còn là một thách thức đối với khoa học, thì những nghiên cứu gần đây nhất của Break Stone đã phát hiện tác dụng chống virus HIV của cây thuốc này. Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV với cao lỏng của cây thuốc. Trong một nghiên cứu khoa học được tiến hành vào năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất được ít nhất một hoạt chất có tác dụng này và người ta đã đặt tên nó là "Nuruside".

DIỆP HẠ CHÂU CÓ ÐỘC TÍNH KHÔNG?

Người ta không gặp bất cứ độc tính nào ngoại trừ hiện tượng gây chứng chuột rút trong thời gian sử dụng thuốc. Nếu có hiện tượng chuột rút thì cần giảm 1/2 liều điều trị, thuốc đảm bảo an toàn ở phụ nữ có thai.

Nhận biết và sử dụng 2 loài cây mang tên Diệp hạ châu
  • Việc sử dụng hai loài cây mang tên Diệp hạ châu làm thuốc hiện nay đang có sự nhầm lẫn, việc này không chỉ ở  trong nhân dân mà còn có ở một số các nhà chuyên môn y học được thể hiện cụ thể bằng các văn bản do các nhà chuyên môn biên tập đang tải trên một số trang tin về y dược.
  •  Điều này có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả trong việc sử dụng hai loài cây này trong phòng và điều trị một số bệnh. Từ thực trạng đó, chúng tôi thực hiện chuyên đề về nhận biết và sử dụng hai loài cây mang tên Diệp Hạ Châu.
    • I. Một số nét về: Tên gọi, hình thái, nhận dạng, thành phần hóa học và công dụng của hai loài Diệp hạ châu
      Tên gọi phổ thông
      Diệp hạ châu đắng, Chó đẻ thân xanh
      Diệp hạ châu, chó đẻ thân tím, chó đẻ răng cưa.
      Tên khoa học
      Phyllanthus amarus Schum & Thonn.. tên đồng danh khác  Phyllanthus niruri auct., non L
      Phyllanthus urinaria L.
      Hình ảnh
       amarus_2
       uriania2
      Đặc điểm nhận dạng
      (mô tả theo hình thái cây )
      -       Lá và toàn thân có màu xanh, khi cây già gốc và cành  ngả sang màu nâu vàng
      -       Cây phân cành cách gốc 5-8 cm tùy điều kiện sinh trường, tán cây hình chóp nón
      -       Chiều cao cây trung bình 30-40 cm, tuy nhiên có cây cao tới 60-70 cm
      -       Lá có màu xanh thẫm, thân cành có màu tím (nên gọi là diệp hạ châu thân tím)
      -       Cây phân nhánh từ gốc, tán cây xòe dạng bò lan

      -       Chiều cao trung bình 10-12 cm
      Thành phần hóa học
      Trong lá Phyllanthus amarus Schum.& Thonn chứa một chất đắng là Phyllanthin, không có quinin hoặc alcaloid khác. Lá khô chứa các chất đắng hypophyllanthin (0,05%) và phyllanthin (0,35%) gây độc đối với cá và ếch. Ngoài ra, trong cây có chứa niranthin, nitetralin và phyteralin. [6]
      Người ta còn phát hiện trong cây có các lignan, flavonoid và các alkaloid kiểu securinin: niuroidin, isobubbialin, epibubbialin, chất amariinic acid, một loại ellgitannin, cùng với elaeocarpusin, geraniiic acid B và repandusinnic acid A I-O-galloyl-2,4-dehydrohexahydroxydyphenoyl – glucopyranose. [31], [32], 35].
      Foo-Ly đã tách được, 1,6-digalloylglucopyranosid, amariin geranniin, corilagin, cũng như rutin, quercetin-3-O-glucopyranosid từ phân đoạn phân cực của Phyllanthus amarus L. [32] 
      -           Mới đây, khi nghiên cứu thành phần khoáng của cây, Vũ Văn Vụ đã xác định trong cây có mặt Gd, La, Ce có khả năng tạo phức có hoạt tính chống ung thư. Các kim loại nặng độc đều có hàm lượng rất thấp, chỉ có Cu và Zn là các vi lượng trội hơn. Hàm lượng K trung bình cao (1,8%), điều này liên quan đến tác dụng mát gan lợi tiểu của cây thuốc. [24]
      Trong loài P. urinaria L. có mặt các acid, triterpen, một vài alkaloid và các dẫn xuất phenol. Gần đây, từ lá người ta đã phân lập được acid ellagic, acid gallic, một acid phenolic và một flavonoid, chất thứ nhất không tan trong nước, các chất sau tan trong nước nóng, còn một chất gọi là coderacin. [6] 
      Theo Trần Công Khánh, một tác giả người Trung Quốc đã phân lập từ cây này được một số hợp chất, trong đó có 2 chất được xác định là methylester dehydrochebulic và carboxylat methyl brevifolin. 
      Gần đây, trong công trình nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học của 2 loài Phyllanthus amarus và Phyllanthus urinaria [9], Thạc sĩ Lê Việt Dũng và cộng sự đã phân lập được 3 chất mới là: HQ, DUNG 1, DUNG 4. Căn cứ vào những phổ thu được dự kiến chúng có thể là các polyphenol, trong đó DUNG 4 có thể có cấu trúc flavonon. So sánh thành phần hóa học giữa 2 loài, tác giả khẳng định: hai loài này đều có tannin, flovonoid, đường khử, acid hữu cơ, carotene, trong đó tannin và flavonoid là thành phần chính, nhưng ở loài P. amarus còn có alkaloid, sự khác biệt này cũng có thể giúp cho việc phân biệt hai loài này qua phản ứng định tính. 
      Cả hai loài này đều có hàm lượng tanin rất cao (P. amarus: 7,78%; P. urinaria: 9,11%), điều này đã phần nào lý giải tính sát trùng, giải độc và chống viêm của chúng và có liên quan đến tác dụng chữa viêm gan do tác dụng ức chế enzyme polymerase DNA nội sinh của virus viêm gan B. [9] 
      -
      Hoạt chất chính
      -       Phyllanthin
      -       Phillanthin
      Có tài liệu ghi nhận thành phần phyllanthin trong Diệp hạ châu đắng (Thân xanh) cao gấp cao gấp 27 lần hàm lượng phyllanthin trong Diệp hạ châu (thân tím).

      Tác dụng dược lý
      Cây diệp hạ châu đắng có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, lợi tiểu, thông sữa. [3] 
      Cao diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ gan trên chuột cống trắng được gây nhiễm độc gan bằng carbon tetraclorid. Trong mô hình gây xơ gan thực nghiệm trên chuột cống trắng, thuốc có tác dụng làm giảm hàm lượng colagen trong máu và làm giảm mức độ xơ gan ở động vật điều trị so với đối chứng. Thuốc có tác dụng lợi tiểu, chống oxy hóa và tỏ ra có mức độ an toàn cao trong thử nghiệm về độc tính. Các liguan phyllanthin và hypo phyllanthin trong diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ tế bào gan chuột cống trắng chống lại tác dụng độc hại tế bào gây bởi carbon tetraclorid và galactosamin. 
      Diệp hạ châu đắng ức chế DNA polymerase virus viêm gan B và virus viêm gan khác. Trong thời gian nghiên cứu lâm sàng sơ bộ, những người mang virus viêm gan B được điều trị với liều hàng ngày 200 mg cao toàn cây Diệp hạ châu đắng (bỏ rễ) trong 30 ngày. Kết quả, 22/37 (59%) bệnh nhân được điều trị đã mất kháng nguyên bề mặt của viêm gan B trong khi chỉ 1/23 (4%) bệnh nhân đối chứng có hiện tượng này. Một số đối tượng được theo dõi 9 tháng không có trường hợp nào kháng nguyên bề mặt xuất hiện trở lại. Không thấy có hoặc chỉ có ít tác dụng  gây độc. 
      Toàn cây diệp hạ châu đắng có tác dụng gây hạ đường máu, hạ áp và lợi tiểu ở người. Cây cũng có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm. 
      Ba hoạt chất từ diệp hạ châu đắng có tác dụng ức chế aldos reductase là acid elargic, brefolin carboxylat và ethylbrevifolin; acid elargic có tác dụng mạnh nhất, ức chế mạnh hơn 6 lần so với quereitrin là chất thiên nhiên ức chế aldos reductase đã biết. 
      Nghiên cứu mới nhất của Viện Dược liệu về tác dụng dược lý của bột phyllanthin cho thấy: diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ gan trên mô hình gây nhiễm độc bằng CCL4khi cho thỏ uống cao khô của cây diệp hạ châu đắng với liều 0,65 g/1kg/ngày kéo dài trong 18 ngày. Nghiên cứu cũng khẳng định cao khô của cây Diệp hạ châu đắng có tác dụng chống viêm cấp tốt khi cho thuốc bằng đường tiêm và đường uống, tuy nhiên đường tiêm có tác dụng mạnh hơn đường uống. Thuốc có tác dụng chống xơ gan và antioxydant. Khi sử dụng bột phyllanthin với liều lượng tương ứng 10g dược liệu/kg/ngày uống liên tục 8 tuần có tác dụng bảo vệ gan tốt trên mô hình gây xơ gan thực nghiệm 12 tuần. Về tác dụng chống antioxydant, thuốc đã làm giảm peroxy hóa có ý nghĩa < 0,01 và hoạt tính chống oxy hóa của thuốc là 29,76%. Với liều tính theo dược liệu khô 20 g/kg chuột cho thấy tác dụng lợi tiểu khá rõ rệt. Đồng thời cũng khẳng định cao Diệp hạ châu đắng có tính độc rất thấp, có độ an toàn cao trong việc sử dụng làm thuốc điều trị cho người. [10] 
      Theo Văn Chi, cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) với vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, thanh can, sáng mắt, làm se và hạ nhiệt. Người ta cũng nhận thấy tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rõ rệt của acid phenolic và flavonoid trong chó đẻ răng cưa. Coderacin phân lập được từ cây dùng chế thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, do khả năng tiêu diệt một số vi khuẩn, nấm gây bệnh ở mắt [6]. Năm 1961, phòng Đông y – Viện vi trùng Việt Nam nghiên cứu tác dụng kháng sinh của chó đẻ răng cưa thấy kết quả cho kháng sinh đồ như sau: tụ cầu trùng (0,5), Typhi (0,9), Flexneri (1,1), Sonnei (0), Shiga (1), Subtilis (0,4), Coli (0) cm. Kết quả này cũng hợp với nghiên cứu mới đây (1995) chứng minh dịch chiết n – hexan của P.urinaria có tác dụng kháng lại tất cả các loại vi khuẩn thử Proteus vulgaris, Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Klebsiella preumonie, những vi khuẩn thường tìm thấy ở đường tiết niệu. Còn dịch chiết dichlomethal thì kháng Proteus vulgaris, Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Volorio paranaemoliticus. Điều này cho thấy P.urinaria cũng rất hiệu quả trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. 
      Theo Huang ST và cs., sự chết tế bào theo chương trình hiện được biết đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội mô tế bào và chống gây ung thư. Tác dụng chống gây ung thư của cao chiết nước được chế từ cây chó đẻ (Phyllanthus urinaria) đã được khảo sát bằng việc phân tích khả năng của nó gây ra sự chết tế bào theo chương trình ở các tế bào ưng thư người. Các tác giả đã chứng minh được rằng cao chiết nước của cây chó đẻ có thể gây ra sự chết tế bào theo chương trình của các tế bào ung thư người có nhiều nguồn gốc khác nhau được thể hiện qua những thay đổi hình thái học và sự phân đoạn ADN. Tuy nhiên, cây chó đẻ đã không thể hiện tác dụng độc tế bào trên các tế bào người bình thường gồm có các tế bào nội mô mạch và tế bào gan dưới cùng điều kiện. Điều này gợi ý rằng cao nước cây chó đẻ có thể có ích trong việc điều trị nhiều loại tế bào ung thư ở người mà không có tác dụng phụ độc trên các tế bào bình thường. [22] 
      Các tác giả Yang CM. và cs. cho biết, các cao chiết với aceton, ethanol và methanol của Chó đẻ răng cưa có tác dụng ức chế sự nhiễm HSV – 2 (virus Herpes simplex – 2) thông qua việc làm rối loạn giai đoạn đầu của sự nhiễm virus và thông qua việc làm giảm tính gây nhiễm virus. [12] 

      Công dụng
      Diệp hạ châu đắng từ lâu đời đã được sử dụng trong các bài thuốc dân gian của nhiều dân tộc trên thế giới, nhất là ở các nước vùng  Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. 
      Ở Việt Nam, diệp hạ châu đắng được biết đến từ lâu với tác dụng trị viêm gan, vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn. 
      Diệp hạ châu đắng làm tăng mãnh liệt sự bài tiết nước tiểu cũng như kinh nguyệt nhưng không gây hại gì. Ở nhiều nước Viễn đông cũng đã sử dụng tính chất này của cây. Tác dụng lợi tiểu của cây này là do có tỷ lệ Kali cao [24], [6]. Dân gian thường sử dụng cây này làm thuốc thông tiểu, thông sữa điều kinh và thông kinh trục ứ. 
      Ở Ấn Độ, người ta dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu [37] trong bệnh phù, bệnh lậu và những rối loạn của đường niệu sinh dục. Nước sắc các chồi non dùng để trị lang; rễ tươi làm thuốc trị vàng da; lá dùng làm thuốc trị tiêu hóa, dịch lá dùng để đắp vết lở loét. Người ta còn dùng lá và rễ phơi khô nghiền thành bột, trộn với nước vo gạo dùng làm thuốc chữa các vết sưng phù và loét [6]. Ở Tây Ấn, diệp hạ châu đắng còn được dùng để trị giun cho trẻ em. 
      Theo cuốn cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, ở Thái Lan, Diệp hạ châu được sử dụng làm thuốc trị vàng da. Ở Peru, nhân dân uống nước sắc phần phía trên mặt đất của cây để làm thuốc lợi tiểu, trị sỏi mật và sỏi thận. Ở một số nước Nam Mỹ, diệp hạ châu đắng được dùng trị sốt rét, sỏi thận, sỏi bàng quang, các rối loạn về tiết niệu nói chung và còn có tác dụng gây sẩy thai. Ở Haiti, nhân dân uống nước sắc diệp hạ châu đắng và tắm với nước ngâm lá để trị sốt. Từ đảo Hải Nam đến Indonesia, nhân dân dùng nước sắc hoặc nước hãm diệp hạ châu đắng làm thuốc lợi tiểu trị bệnh thận và gan, bệnh hoa liễu, đau bụng làm thuốc long đờm cho trẻ em, hạ sốt, điều kinh và trị tiêu chảy. Nước sắc toàn cây là thuốc bổ dạ dày. Lá giã nát làm thuốc trị dung giật và bệnh ngoài da. Ở Papua – Niu Ghine, nước hãm toàn cây để trị đau đầu, hoặc trị nhức nửa đầu. Các thầy thuốc cổ truyền ở Tanzania dùng cao nước thân lá của cây diệp hạ châu đắng trị bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Ở Nigieria cao nước cây khô dược sử dụng để trị tiêu chảy, lá nhai nuốt nước trị ho kéo dài, và sắc uống làm đỡ đau dạ dày. Nhân dân bờ biển Nga uống nước sắc lá để làm đẻ dễ trong trường hợp đẻ khó, trị vàng da, nôn, đau bụng, đau gian sườn, đau mình mẩy kèm theo sốt và phù, đánh trống ngực, bệnh lậu, bệnh về da. [3] 

      Trong dân gian, chó đẻ răng cưa thường được sử dụng chữa đau yết hầu, viêm họng, đinh râu, mụn nhọn, viêm da thần kinh, lở ngứa, sản hậu ứ huyết, trẻ em tưa lưỡi, chàm má, rắn cắn. 
      Dân gian Trung Quốc dùng chó đẻ răng cưa để chữa viêm thận, phù thũng, viêm niệu đạo và sỏi niệu đạo, viêm ruột, lỵ, viêm kết mạc, viêm gan, trẻ em cam tích, suy dinh dưỡng 
      Người Ấn Độ dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu chữa bệnh phù thũng, trị bệnh lậu và những rối loạn đường niệu sinh dục và làm ruốc cá cho trẻ em mất ngủ. [22] 
      Ở Campuchia, người ta dùng cây sắc uống, dùng riêng hoặc phối hợp với những vị thuốc khác trị các bệnh về gan, trị kiết lỵ, sốt rét. 
      Ở Thái Lan, cây được dùng để trị các bệnh về dạ dày, bệnh hoa liễu, vàng da, trĩ và lỵ. Cây non dùng làm thuốc chữa ho cho trẻ em
      Một số bài thuốc có sử dụng
      Trị vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn: diệp hạ châu đắng 20 – 40g cây tươi, giã lấy nước hoặc 6 – 8g, sắc uống 
      Trị mụn nhọn, lở ngứa: cả cây diệp hạ châu giã đắp hoặc lấy nước cốt bôi 
      Trị viêm gan do virus B: diệp hạ châu đắng 10g, nghệ vàng 5g, sắc nước 3 lần, lần đầu với 3 bát nước lấy 1 bát thuốc. Lần thứ hai và ba với 2 bát nước, mỗi lần lấy nữa bát thuốc. Trộn chung rồi thêm 50g đường, đun sôi cho tan đường, chia làm 4 lần uống trong ngày – sau 15 ngày dùng thuốc xét nghiệm lại, khi kết quả xét nghiệm máu đạt HbgAg (-) thì thôi dùng thuốc. 
      Trị suy gan (do sốt rét, lỵ amib, ứ mặt nhiễm độc): diệp hạ châu đắng sao khô( 20g), cam thảo đất sao khô (20g). Hai vị bỏ chung sắc nước uống hàng ngày 
      Trị xơ gan cổ trướng thể nặng: diệp hạ châu đắng 100g sắc nước 3 lần, cho thêm 150g đường, chia nhiều lần uống trong ngày (thuốc rất đắng, uống một đợt từ 30 – 40 ngày, nghỉ một tuần, nếu chưa khỏi uống tiếp đợt 2), phải kiên trì uống mới thấy được tác dụng của thuốc 

      Trị nhọt độc, sưng đau: trộn chó đẻ răng cưa với một ít muối giã nhỏ, chế nước sôi vào, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp chỗ đau 
      Trị mắt đau sưng đỏ, viêm gan vàng da, viêm thận đái đỏ, hoặc viêm ruột đi ngoài ra nước: chó đẻ răng cưa 40g, mã đề 20g, sành dành 12g sắc uống 
      Trị lở loét thối thịt không liền miệng: dùng lá chó đẻ răng cưa, lá thồm thồm, liều bằng nhau, đinh hương 1 nụ, giã nhỏ đắp 
      Trị trẻ em tưa lưỡi: giã cây tươi vắt lấy nước cốt bôi 
      Trị hậu sản ứ huyết: dùng 8 – 16g cây khô sắc uống hằng ngày [6] 


      • II. Một số nhận xét:
      1. Hiện nay, nhân dân vẫn đang sử dụng 2 loài Diệp hạ châu thân xanh (Phyllanthus amarus schum.& Thonn) và Diệp hạ châu thân tím (Phyllanthus uriania L.) để phòng và điều trị một số bệnh, tuy nhiên còn có sự nhầm lẫn về công dụng của từng loại cây. Để giúp bà con lựa chọn đúng cây thuốc cho bệnh cần phòng và trị, chúng tôi khái quát tính vị và công  của hai loài cây theo y học cổ truyền như sau:
      Diệp hạ châu thân xanh (đắng) (Phyllanthus amarus schum.& Thonn) có tính vị và công năng như sau: Vị đắng, tính mát có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ thông huyết, điều kinh, lợi tiểu, thống sữa.
      Diệp hạ châu thân tím (Phyllanthus uriania L) có tính vị và công năng như sau: Vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tiêu viêm, tán ứ, thông huyết mạch lợi tiểu
      1. Để sử dụng các cây thuốc này, người tiêu dùng nên hỏi kỹ tại các cửa hàng bán dược liệu và thuốc từ dược liệu. Tránh việc sử dụng nhầm lẫn dẫn đến thiếu hiệu quả trong quá trình sử dụng.
      2. Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus schum.& Thonn ) có hàm lượng phyllanthin (tác dụng chính là bảo vệ và tăng cường chức năng gan) cao gấp nhiều lần so với Diệp hạ châu thân tím (Phyllanthus uriania L) (có tài liệu ghi nhận 27 lần). Do vậy, loài Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus schum.& Thonn )  được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm Diệp hạ châu trên thị trường hiện nay. Để tránh nhầm lẫn, người tiêu dùng nên xem kỹ thành phần của sản phẩm trước khi dùng. Nên sử dụng các sản phẩm đã ghi rõ thành phần là tên thông thường + tên khoa học. ví dụ, trên thành phần trà Diệp hạ châu Vapro có ghi: Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus schum.& Thonn ). Như vậy, người tiêu dùng sẽ có sự lựa chọn phù hợp với mục tiêu sử dụng của mình.

    Cách phân biệt các loài diệp hạ châu

    Trích dẫn Gửi bởi Viết Dũng
    Phòng bệnh đốm trắng trên tôm sú bằng Diệp Hạ Châu
    Sản phẩm Diệp Hạ Châu có công dụng phòng ngừa bệnh đốm trắng do virus trên Tôm Sú (Penaeus monodon). Thành phần chính của sản phẩm là hoạt chất Phyllanthin và Hypophyllanthin chiết xuất từ cây Diệp Hạ Châu (Phyllanthus amarus) có tác dụng ức chế sự phát triển của virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV).
    Nghiên cứu phòng trị với Diệp Hạ Châu trên tôm Sú cho kết quả sau 5 tuần 96,67% tôm sống khỏe mạnh bình thường so với tôm không dùng Diệp Hạ Châu sau 10 ngày đã chết 100% . Diệp Hạ Châu có nguồn gốc thảo dược hoàn toàn thân thiện với môi trường, bảo đảm tuyệt đối yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản. Sản phẩm thuộc dự án sản xuất thử nghiệm của Bộ nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn, phân phối tại TT QGQT CBMT & PNDBTS KVNB - Viện NCNT Thủy Sản 2 và các đại lý trên toàn quốc.
    Phyllanthus amarus là cây diệp hạ châu đắng. Mình xin bổ sung một số thông tin về cách phân biệt diệp hạ châu đắng hay còn gọi nôm na là "cây chó đẻ" với một số loài diệp hạ châu khác.

    -----------------------------------------

    Cây chó đẻ có nhiều công dụng nhưng đáng chú ý nhất là giải độc, mát gan và tiêu mỡ máu. Cây có sức sống mạnh mẽ, ta thường thấy chúng mọc chen chúc chung với cỏ, thậm chí cả những nơi mà cỏ không sống được như kẽ nứt lề đường. Khi khai thác, chúng ta cần lưu ý có 3 loài cây gần giống nhau:

    * Cây chó đẻ thân xanh (diệp hạ châu đắng) Phyllanthus niruri (tên đồng nghĩa Phyllanthus amarus): Toàn thân có màu xanh tươi, cành ngắn, rất ít phân nhánh, phiến lá có màu xanh nhạt, ngắn và mỏng hơn cây chó đẻ thân đỏ. Khi nhai có vị đắng nên trong đông y được gọi là cây diệp hạ châu đắng. Đây là loài có dược tính mạnh nhất, khi nói về cây chó đẻ hay diệp hạ châu thì mọi người hầu như ám chỉ đến loài này.

    * Cây chó đẻ thân đỏ (diệp hạ châu ngọt) Phyllanthus urinaria: Thân có màu hanh đỏ và màu thường đậm nơi gốc cành, phân nhánh rất nhiều, phiến lá có màu xanh hơi đậm, dài và dầy hơn cây chó đẻ thân xanh. Khi nhai có vị ngọt nên trong đông y được gọi là cây diệp hạ châu ngọt. Khác với điều một số người thường nghĩ, cây chó đẻ thân đỏ vẫn được khai thác trong tự nhiên để làm thuốc nhưng có lẽ dược tính không mạnh bằng cây chó đẻ thân xanh nên không được trồng đại trà.

    * Một loài diệp hạ châu nữa Phyllanthus sp. có màu xanh đậm, lá rời rạc, phiến lá hẹp và chóp nhọn hơn so với hai loài trên. Loài này không được dùng làm thuốc.

    Lưu ý
    Một số cá thể chó đẻ thân đỏ lại hầu như không có màu đỏ (mất đỏ). Những cây như thế này thường xuất hiện vào mùa mưa hay ở những vùng có nhiều nước, có lẽ cây lớn quá nhanh không tích đủ chất sắt hoặc vùng đất nghèo chất sắt. Trên mạng có rất nhiều hình cây Phyllanthus urinaria "mất đỏ" được dùng minh họa cho cây chó đẻ thân xanh Phyllanthus niruri. Đây là một lỗi khá phổ biến, bởi vậy chúng ta không nên hoàn toàn dựa vào màu đỏ để phân biệt các loài diệp hạ châu (mà phải dựa vào dạng lá). Một lỗi nữa là sự nhầm lẫn giữa tên khoa học của hai loài này với nhau nhưng không gây ra tác hại gì. Khi khác thác cây dược liệu, chúng ta cần lưu tâm đến vấn đề này để chọn đúng loại cây chó đẻ có dược tính mạnh nhất, tức chó đẻ thân xanh.





    Một bài thuốc
    * Cây chó đẻ tươi - 1 nắm.
    * Lược vàng - 1 rổ. Cây này rất dễ trồng. Nhà ở thành phố cũng có thể trồng được.
    * Nấm linh chi xắt lát - 1 nắm. Không phải loại nấm nào cũng đc gọi là "linh chi" và không thể phân biệt được bằng... mắt thường. Bởi vậy nên mua nấm từ những cơ sở nuôi trồng hoặc nhà cung cấp đáng tin cậy.

    Tất cả rửa sạch bỏ nồi lớn - đun sôi cỡ 1 tiếng, linh chi có thể đun riêng rồi hòa vào thuốc sau - để nguội (đậy nắp) - đổ chai - bỏ tủ lạnh - uống thay nước. Vì lược vàng cực mát nên khi mới dùng huyết áp sẽ tụt, lưu ý điều chỉnh liều lượng dùng để cơ thể... quen dần.

    http://forum.caycanhvietnam.com/dien...read.php?t=619
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B...n_bi.E1.BB.87t
    DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG

    DIỆP HẠ CHÂU NGỌT



    LOÀI KHÔNG DÙNG LÀM THUỐC


    Vọng cách có tên khoa học là Premma integrifolia L. Đặc điểm toàn cây có mùi thơm, rễ có vị hăng đắng. Vọng cách được dân gian lưu truyền về khả năng lá cây chữa viêm gan A, chữa lỵ, tiêu hóa kém; rễ dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, sốt, chữa bệnh về gan, tiểu đường…
    3 Tot gan 2Năm 2008, các nhà khoa học thuộc Viện dược liệu, Viện khoa học công nghệ, phối hợp cùng 2 trường Đại học Y và Dược Hà nội đã tiến hành một số đề tài nghiên cứu khoa học về cây Vọng cách. Kết quả cho thấy, lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau. Cao lỏng lá Vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm, mật độ gan mềm hơn, bị bạc màu ít hơn, các điểm tổn thương cũng ít hơn. Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan, đặc biệt trước các tổn hại gây ra bởi bia rượu mà dân gian từng đúc kết kinh nghiệm. Đây là những bằng chứng khoa học đầu tiên về tác dụng sinh học của cây
    T

    Phát hiện mới về tác dụng bảo vệ gan do bia rượu của cây Vọng Cách

    Phát hiện mới về tác dụng bảo vệ gan do bia rượu của cây Vọng Cách
    Nhắc đến Vọng cách người ta thường nghĩ ngay tới thú chơi cây cảnh. Vọng cách có sức sống mãnh liệt so với các loài cây hoang dại khác. Chắc vì thế mới có câu “Nhất tường vi nhì vọng cách”. Lá vọng cách làm thơm thêm hương vị của nhiều món nướng, xào, thịt bò nướng lá cách, rắn xào lá cách. Trong mọi thứ rau làm “bì”, vọng cách gói ghém cả một thế giới ẩm thực đồng quê. Cái mùi hăng hăng, nhân nhẩn của nó làm cho thịt, giá, tép trong nhân bánh thơm tho, đậm đà hẳn lên. Vọng cách còn có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh về gan do bia rượu. Chẳng thế mà trong bữa tiệc của cánh đàn ông bia rượu không thể thiếu thứ lá này.
                     Vọng cách không chỉ là 1 loại cây cảnh mà còn là vị thuốc bảo vệ gan hữu hiệu
    Ở nước ta Vọng cách mọc hoang ở nhiều nơi. Vọng cách là một cây nhỏ, lá mỏng, hình dáng thay đổi, khi thì hình trứng dài, khi thì hình hơi bầu dục. Hoa nhiều, nhỏ, màu xanh lục nhạt, mọc thành ngù ở đầu cành. Quả hình trứng màu đen nhạt, to bằng hạt đậu, có 4 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt. Lá Vọng cách được dân ở vùng Nam Định dùng phổ biến để ăn gỏi cá và chữa lỵ, tiêu hóa kém, viêm gan. Rễ dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, sốt, chữa bệnh về gan, tiểu đường…
     Xuất phát từ kinh nghiệm sử dụng Vọng cách trong dân gian, từ năm 2008 các nhà khoa học thuộc Viện dược liệu, Viện khoa học công nghệ, phối hợp cùng 2 trường Đại học Y và Dược Hà nội đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống viêm của cao lỏng lá vọng cách trên thực nghiệm” (năm 2008), “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Vọng cách thu hái ở Nam Định” (Luận án tiến sỹ dược học Nguyễn Thị Bích Hằng – năm 2010). Đây là những bằng chứng khoa học đầu tiên về tác dụng sinh học của cây Vọng cách.
    Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột. Cao lỏng lá Vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm so với lô chứng bệnh lý, mật độ gan mềm hơn, gan bị bạc màu ít hơn, các điểm tổn thương cũng ít hơn. Trong mô hình gây viêm, cao lỏng lá Vọng cách giảm phù, giảm lượng dịch rỉ viêm, giảm hàm lượng protein và bạch cầu trong dịch rỉ viêm so với lô chứng. Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan, đặc biệt trước các tổn hại gây ra bởi bia rượu mà vọng cách đang được sử dụng trong dân gian.
    Trước thực trạng bia rượu được sử dụng phổ biến như hiện nay đang gióng lên một hồi chuông cảnh báo về nguy cơ các bệnh về gan. Nam giới mặc nhiên uống bia rượu mà không hề quan tâm đến tác hại của nó. Đó là nguyên nhân làm số bệnh nhân viêm gan, xơ gan do rượu tăng nhanh trong những năm gần đây. ¼ số bệnh nhân nằm điều trị trong các khoa tiêu hóa là các bệnh nhân xơ gan. Rượu là nguyên nhân thứ 2 gây xơ gan, chỉ sau virus viêm gan B. Đã đến lúc dư luận phải tác động mạnh mẽ hơn nữa để nam giới có ý thức  bảo vệ sức khỏe trước tác hại bia rượu. Trong hoàn cảnh đó các nghiên cứu này đã mở ra một nguồn dược liệu quý mà lâu nay chưa được sử dụng rộng rãi, là tin mừng cho các bệnh nhân nam giới bị bệnh gan do uống nhiều bia rượu.
    Hiện nay trên thị trường Vọng cách đã xuất hiện trong thành phần của TPCN Hamega. Đây là sản phẩm đầu tiên khai thác những tác dụng quý của vị dược liệu này. Kết hợp với Diệp hạ châu đắng và Nhân trần, cũng là 2 vị nổi tiếng tốt cho gan, Hamega là sản phẩm có tác dụng bảo vệ và giải độc gan, rất tốt cho các nam giới thường xuyên sử dụng bia rượu.
    Vọng cách bờ đìa 
    Món chuột đồng dân dã. Tháng Chạp, mùa chuột đồng béo ngậy. Bụi vọng cách bờ đìa xum xuê lá non! Khi lúa thóc đã vào bồ, bọn con nít trong xóm tôi lại hăng hái theo người lớn đi đào hang bắt chuột... Ngoài món thịt chuột nướng lửa than thì món chuột xào lá cách là món ngon mà ngoại tôi thích nhất. Ngoại tôi hay nói món này khiến cánh trai tráng thành thợ săn giỏi mà cánh đàn bà cũng thành tổng khậu giỏi. Còn bọn trẻ nhỏ chúng tôi thì khoái tới ngây người mỗi khi ngồi chật tấm đệm trải ngoài bờ đìa, nơi hàng vọng cách thường trụi lá khi ai nấy thích ăn chuột đồng với lá cách (cây vọng cách). Những con chuột cơm lông vàng óng, ú tròn, được thui bằng rơm, lột da và làm sạch. Chặt chuột làm tư hoặc làm sáu miếng đem ướp muối, đường và một ít nước màu. Đợi thịt thấm, rồi đổ vào chảo mỡ đang sôi, xào đến khi ráo nước, thịt chuột săn lại thì đổ lá cách đã xắt nhuyễn vào. Đảo đều cho lá cách xanh bóng mỡ rồi nhắc xuống. Không biết từ hồi nào, vọng cách hoang dại trở thành gia vị chính trong món chuột xào lá cách. So với xào rau răm thì món xào lá cách không bị hăng đắng mà còn làm cho thịt chuột mềm, ngọt và thơm nức mũi. Vọng cách có tinh dầu nên dù món có nguội vẫn không tanh. Cái mùi lá cách quê mùa ấy lạ lắm, ở quê đã đành nó còn theo xe đẩy nghi ngút khói thơm mỗi khi ai đó rao món “thịt bò nướng lá cách”. Vọng cách làm tôi nhớ chảo bánh xèo, bánh cống vàng tươi, giòn rụm, cứ dùng tay mà cuốn rau diếp cá, húng cây, húng lủi, tía tô, lá lụa (có khi là đọt xoài non, đọt chùm ruột)... ăn với nước mắm chua-cay. Trong mọi thứ rau làm “bì”, vọng cách gói ghém cả thế giới ẩm thực miệt đồng. Bây giờ ở các quán bán bánh xèo, bánh cống có thêm nhiều loại cải bản lá rộng để gói, nhưng nếu là dân miền Tây “rặt ròng” thì thế nào cũng gọi lá cách. Cái mùi hăng hăng, nhân nhẩn của nó lại làm cho thịt, giá, tép trong nhưn bánh thơm tho, đậm đà. Trong những mảnh vườn hoang rậm rạp, vọng cách mọc chen cùng bình bát, mua, sắn, bí bái, gừa, sộp... chen trong đám dừa nước hoặc trên gò đìa. Vọng cách có sức sống mãnh liệt so với các loài cây hoang dại khác. Hễ chặt đi một cành là lập tức sau đó nó đâm thêm năm ba chồi mới, mập mạp. Nó có thể “ngâm mình” trong nước hoặc mọc xanh tốt ngay trên những bờ mẫu khô cằn vào tháng Giêng. Người lớn nói, các món xào lá cách ăn rất bổ dương khí, dẻo gân cốt. Trong xóm, hễ có sản phụ hạ sinh thì má tôi và cánh đàn bà liền tới thăm; truyền miệng biểu người nhà sản phụ phải kiếm lươn nấu cháo với lá cách hoặc lươn om lá cách cho sản phụ ăn, lợi sữa cho bé. “Vọng cách chữa lỵ, tiểu tiện khó, tiêu hóa kém... chữa phạm phòng phát sốt, viêm gan, co thắt chuyện phòng the, đau bụng, ăn không tiêu, sốt... Trong y học dân gian Đông Nam Á, vọng cách làm thuốc lợi tiểu trị phù, thuốc gây trung tiện, bổ dạ dày, trị tiêu chảy, viêm phế quản, thấp khớp, nhức đầu và thuốc bổ cho phụ nữ sau khi sinh con...”. Trước khi xuất hiện những trang sách về “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi, thì bên bờ ao sau nhà, ngoại tôi đã trồng một hàng vọng cách để lấy lá làm rau. Tôi thắc mắc, ông giải thích gọn lỏn: “Cây này nên thuốc đó con!”. Với bạn, vọng cách chỉ là loài cây hoang dại, nhưng với tôi vọng cách là ký ức tuổi thơ, là hình ảnh một thời lũ nhỏ xóm tôi lùng sục trong các vườn tạp hái đọt ráng, đọt choại, lá cách đem về chấm với cá kho, mắm kho... Ăn no đến phát ách! Những hôm bắt được rắn ri voi, ri cá, rắn nước, hổ hành... bằm xào lá cách thì đúng là hưởng lộc trời ban! Nhưng mãi tới bây giờ, mỗi khi nhìn trên bản đồ tôi vẫn không giải thích được vì sao bên Indonesia, người ta cũng sắc lá cách làm thuốc lợi sữa và chữa thấp khớp. Ở Malaysia, nước sắc lá và rễ dùng hạ sốt. Ở Ấn Độ, rễ vọng cách được dùng để nhuận tràng, lợi dạ dày, trợ tim, bổ và có trong thành phần dược tính trong thuốc cổ truyền Dasamula trị sốt dai dẳng... nước sắc cây non trị thấp khớp, đau dây thần kinh... Còn điều gì khiến ngoại tôi trồng vọng cách lấy lá làm rau thì... chính ông cũng không cắt nghĩa nổi? Còn tôi thì miên man thèm món chuột đồng xào lá cách. Đôi khi chỉ cần ướp thịt chuột với muối ớt rồi nướng lửa than và nắm lá cách là đời đã lên hương. Có lẽ vì vậy mà ít ai lùi trở lại quá khứ để giải thích.[/img] đây là hoa vọng cách -chụp ở cây của bác PQM-thành viên của diễn đàn này[/IMG]



    Diệu kỳ lá cách
    Lá cách “cứu rỗi” thịt ếch chân ngắn (hàng nuôi) - Ảnh: Tạ Tri

    Diệu kỳ lá cách


    Ngoài tự nhiên lá tỏa mùi hôi khó gần, nhưng vào món ăn lại bất ngờ ngát thơm.

    Mâu thuẩn vốn là thuộc tính cố hữu của cuộc sống. Không chỉ có ở người, mà còn hiện hữu nơi cỏ cây. Đơn cử như lá cách.
    Diệu kỳ lá cách - 1
    Lá cách ác “miệng” thiện “tâm”! - Ảnh: Tạ Tri
    Cây lá cách có nơi còn gọi vọng cách, thích mọc hoang nơi thềm ao, bìa rừng, vách núi... trên chân đất phèn lợ hay đất thịt pha cát. Đứng cách cây này khoảng 1-2 m, người thính mũi đã nghe tỏa mùi hăng hăng khó chịu. Càng lại gần, hơi lâu, người sức khỏe yếu dễ bị “mệt ngang”.

    Theo ghi nhận của dược sĩ Trần Việt Hưng, “lá cách được dùng trong nhiều món ăn dân dã đồng thời cũng được xem là một “cây thuốc nam” dùng trị một số bệnh theo kinh nghiệm dân gian. Cây tuy có nguồn gốc tại vùng Nam Á Châu nhiệt đới nhưng cũng được trồng tại Hawaii, Florida (Hoa Kỳ). Lá cách thuộc chi thực vật Premna, họ Verbenacea. Chi Prem na có khoảng 200 loài, riêng tại Việt Nam có khoảng 15 loài trong đó có 4 hay 5 loài được dùng làm thực phẩm và làm thuốc.”

    Cho nên, dân sành ăn tây nam bộ thường trồng vài bụi cách ngoài bờ mương, thềm rạch để dành chế biến nhiều món độc đáo. Cách mười ngày, nửa tháng họ chịu khó tỉa trụi cây cách, cho nó đâm nhiều chồi non mới. Lá cách non ít hôi hơn. Và khi gặp những vật thực có hậu vị tanh như: chuột, lươn, rắn... nó lại càng có khả năng “phù phép” cho chúng thơm tho.
    Diệu kỳ lá cách - 2

    Lá cách “cứu rỗi” thịt ếch chân ngắn (hàng nuôi) - Ảnh: Tạ Tri
    Có lần về Bình Đại, Bến Tre, cậu một người bạn đãi món chuột dừa với mớ lá này. Ngon “nhức răng”! Tuy lá hôi hăng, nhưng khi gặp nhiệt cao thì bỗng dưng khiến món ngon thơm lừng. Không kiềm chế nổi, thằng cu Tí (cháu ngoại của cậu) lẻn vào bốc vụng một miếng, nhai “ngọt xớt” rồi vụt chạy trốn sau lùm chuối sau vườn.

    Tuổi thơ hồn nhiên gợi nhớ thằng tôi thuở nhỏ, cũng ham chơi: đội nắng bắn chim, trèo tìm ổi chín, thả diều... nên dễ bị cảm ho. Chiều, mẹ níu áo bắt uống hết chén nước lá cách giã, pha muối. Tôi cứ nhăn mặt lắc đầu. Mẹ dụ: “Nín thở ực một hơi sẽ hết ho liền. Giỏi! Mẹ cho nửa cục đường tán!”

    Tương đồng, anh Hải chủ một quán nướng trên đường Nguyễn Thị Diệu, Q.3, TP.HCM có lần về Trà Vinh, được đãi nhiều món lá cách xào, um (om) thật ngon. Hỏi kỹ mới biết cây này dễ trồng như khoai mì, chặt nhánh giâm xuống đất, che mát, tưới nước đều nó sẽ “sống nhăn”. Anh Hải liền mang về trồng ở quán, lấy lá cho đầu bếp chế biến các món đồng quê. Nhiều người ăn vào, khen nức nở!

    Thêm một tin mừng cho những ai thường ngậm đắng nuốt cay (nhậu), lá cách có khả năng bảo vệ gan. “Dịch chiết bằng alcohol từ lá có khả năng bảo vệ gan, tạo được sự giảm nồng độ men gan, giảm bilirubin và chặn được các phản ứng loại peroxy-hóa lipid. Hoạt tính có thể so sánh với bilirubin”, Trần Việt Hưng.

    Đồng thời, Viện khoa học công nghệ, phối hợp cùng 2 trường Đại học Y và Dược Hà Nội đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống viêm của cao lỏng lá vọng cách trên thực nghiệm” (năm 2008), “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Vọng cách thu hái ở Nam Định” (Luận án tiến sỹ dược học Nguyễn Thị Bích Hằng – năm 2010). Kết quả: các nghiên cứu trên cho thấy lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột.

    Mặt khác, những ai ghét đắng chê cay cũng nên chú ý đến lá cách. Bởi khi lá gan khỏe, sẽ giúp cơ thể giải độc tốt hơn.

    Dược sĩ Bùi Kim Tùng cũng có những đúc kết về công dụng của lá cách: giúp thanh nhiệt, thông tiểu, hạ huyết áp, trị nhức mỏi, điều hòa kinh nguyệt...

    Thêm một hiện tượng đặc biệt quan trọng là, nhóm vật thực trong cùng sinh cảnh có khả năng hỗ trợ cho nhau. Ví dụ, con ếch, con nhái, chú rắn nước, bụi lá cách... vốn “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau". Thế nên, khi gom chúng vào nồi, tự nhiên chúng sẽ khắc chế những điểm yếu của nhau, để người ăn gắp mạnh hơn.

    Bên cạnh đó, chuyện lá cách cũng nhắc nhở chúng ta đến yếu tố ngoại lệ, không thể “trông mặt mà bắt hình dong” được! Và lẽ nào, sự tương trợ trong cây cỏ thường “bền vững” hơn những động vật bậc cao: Con Người?Theo Tạ Tri (Saigonamthuc)

    Khong dùng vọng cách thường xuyên
    Mấy tháng trước, có người mách dùng cành lá cây vọng cách, băm nhỏ, ... ngoài tác dụng chống mệt mỏi, cây vọng cách còn có những tác dụng gì khác? ... mất cân bằng Âm Dương và làm rối loạn chức năng của tạng phủ, ..
    http://www.thuocvuonnha.com/c/khong-nen-uong-vong-cach-thuong-xuyen/thuoc-vuon-nha

    Nhân trần là vị thuốc đã quá quen thuộc đối với người Việt Nam. Theo sách thuốc cổ, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn; có công dụng thanh nhiệt, được dùng để làm mát gan, chữa các chứng tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp.
    3 Tot gan 3Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, về tác dụng đối với gan, nhân trần có khả năng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật; bảo vệ tế bào gan và phòng chống tích cực tình trạng gan nhiễm mỡ; giải nhiệt, giảm đau và chống viêm; cải thiện công năng miễn dịch và ức chế trực tiếp sự tăng sinh của tế bào ung thư.
    Là các loại thảo dược quý, nhưng ưu điểm của Diệp hạ châu đắng – Vọng cách – Nhân trần là rất dễ mọc, dễ sống, khá phổ biến tại nhiều vùng đất của Việt Nam. Tuy nhiên, trước đây các loại thảo dược này thường được ông cha ta sử dụng riêng rẽ, hoặc chưa được kết hợp một cách tối ưu. Hiện nay, sau một công trình nghiên cứu giữa …, ba loại thảo dược này đã được kết hợp khoa học trong sản phẩm bảo vệ gan Hamega. Hơn nữa, các thảo dược này cũng được trồng và chế biến theo quy trình chuẩn hóa, trở thành nguồn nguyên liệu sạch cho Hamega.

    Bảo vệ gan đừng quên nhân trần!

    Đã từ lâu, trà nhân trần là thức uống giải khát được nhiều người yêu thích, nhất là trong những ngày hè nóng bức. Một cốc nhân trần đá mát lạnh, thật sảng khoái, đã khát, xua tan đi những mệt mỏi. Không chỉ là thứ nước uống giải khát, Nhân trần còn là vị thuốc quý có rất nhiều tác dụng chữa bệnh, nhất là đối với các bệnh gan, mật.


    T truyn thuyết
    Chuyn xưa k li rng: vào mùa Xuân năy, có mt n bnh nhân tìm gp danh y Hoa Đà để cha bnh. Nhìn thân hình gy như que ci, sc mt vàng vt, niêm mc hai mt mang màu mơ chín, Hoa Đà tiên sinh biết rng cô gái này b chng “Hoàng lao bnh” hay còn gi là “Hoàng đản bnh”, căn bnh mà ngày nay Y hc hiđại gi là Viêm gan vàng da. Nhưng vì thđóchng bnh này chưa có cách cha nên Hoa Đà đành nói vi người bnh: “Căn bnh này tôi không chđược, cô hãy v đi !”. Cô gái nghe v danh y nói vđành ngm ngùi tr v nhà và cũng không nghĩ chuyđi tìm thy cha bnh khác na.

    Mt năm trôi qua, tình c gp li, nhìn thy cô gái thân hình béo tt, sc mt hng hào, dáng đi nhanh nhn, Hoa Đà rđỗi ngc nhiên, hi :” Cô đã tìmđược ai để cha khi bnh vy ?”. Cô gái lđầu: “Không , cháu không ung thuc ca ông lang nào c”. Hoa Đà li hi: “Vy có t dùng thuc gì không ?”. Cô gái đáp: “Thưa  không, cháu cũng không dùng thuc gì c”. Hoa Đà tiên sinh trong lòng đầy nghi ng, t hi: bnh nng mà không dùng thuc thì làm sao có th khđược? Vì vy li gng hi: “Cô th nghĩ kxem, hàng ngày ngoài vic dùng cơm có còn ăn th gì khác na không ?”. Cô gái đáp: “Không . My năm nay đói kém, cơm go chng đủ, cháu phi lên núi hái Dã cao đầđể ăn”. Nghe vy, Hoa Đà vi nh cô gái dđi xem loi rau mà ông chưa h nghe nói bao giThì ra đó chính là Hoàng cao đầu, mt cây thuc vđược dùng để cha chng Hoàng đản. T đó tr đi, HoaĐà chú tâm nghiên cu kh năng cha tr ca Hoàng cao đối vi chng bnh viêm gan vàng da. Sau này, ông đã đặt cho cây thuc này mt cái tên mi gi là“Nhân trn”.

    Đến công dng thiết thc ca nhân trn

    Theo sách thuc c, nhân trn v hơđắng, tính hơi hàn; vào được bnđường kinh t, v, can và đởm; có công dng thanh nhit li thp, li mt thoái hoàng được dùng để cha các chng hoàng đản, tiu tin bt li, viêm loét da do phong thp.
    Theo y hc hiđại,  thì nhân trn có tác dng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xut dch mt, bo v tế bào gan, ngăn nga tình trng gan nhim m, làm h huyết áp, thúc đẩy tun hoàn, gii nhit, giđau và chng viêm. Nó có kh năng c chế mt s vi khun như t cu vàng, thương hàn, phó thương hàn, m xanh, e.coli, l, song cu khun gây viêm não, viêm phi và mt s loi nm, ci thin công năng min dch và c chế trc tiếp s tăng sinh ca tế bào ung thư. Ngoài ra, nhân trn còn có tác dng li niu và bình suyn.

    Trên lâm sàng hiđại, Nghiên cu trên thc nghim cho thy tác dng tăng tiết mt tăng 24,4% và làm tăng chc năng thi tr ca gan đến 187,5% so vi lô chng. Trong y hc hiđại, nhân trđã được B môn truyn nhim Trường đại hc Y khoa Hà Ni dùng điu tr thc nghim bnh viêm gan do virus. Kết qu đã cho thy men gan ca các bnh nhân đều tr v mc bình thường, bnh nhân hết mt mi, hếđau vùng gan, ăn ngon.
    T
    Cách s dng nhân trn trong phòng nga và điu tr các bnh gan, mt:

    Dùng nhân trđơn thun hoc phi hp vi mt s v thuc khác hãm trong nước sôi theo kiu pha trà để ung nhm mđích phòng và cha bnh.Đây là mt cách s dng thuc khá độđáo ca y hc c truyn, va tin li, d chế, d dùng li rt r tin. Nhân trn có th kết hp vi 1 s tho dược b gan khác để tăng tác dng như: dip h châu, cúc hoa….

    Mt s lưu ý khi s dng nhân trn:
    Hu hết nhân trn khi đến vi người tiêu dùng đều là loi khô. Thi tiết nhng ngày mùa thu thường không có nng to, cây không được phơi khôđúng cách. Nhiu người vì li nhuđã phun thuc dit c vào cây tươđểcây nhanh héo và khô, d dàng cht ra đem bán. Đặđim khí hu nước ta là  độ m cao, nhng loi cây lá để khô rt d m mc. Nếđể kinh doanh, các ca hàng thường phi dùng thuc chng m mc, gây nh hưởng đến sc khe người s dng.
    Tuy chưa có nhng kết lun chính thc v vic người s dng nhân trkém cht lượng s có nh hưởng như thế nào đến sc khe nhưng để đảm bo an toàn cho gia đình và bn thân, người tiêu dùng nên tìm mua  nhng địa ch tin cy, có ngun gc rõ ràng để tránh mua phi nhng hàng kém cht lượng, để lđâu không thy mà ch thy hi.

    Ngun tham kho: Cây thuc và động vt làm thuc Vit Nam; ykhoa.net

    Nhân trần với cam thảo - sự kết hợp "chết người"

    Nhân trần vốn có vị đắng nên để dễ uống nhiều gia đình hoặc hàng nước vỉa hè đã kết hợp cho thêm cam thảo với mục đích tăng thêm vị ngọt, nhưng ít ai biết đó là sự kết hợp “chết người”.

    Theo các bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam - cam thảo có tính chất giữ nước, trong khi nhân trần lại giúp đào thải, hai vị thuốc trái ngược nhau được sử dụng chung sẽ không có lợi cho cơ thể.
    Nhân trần với cam thảo - sự kết hợp "chết người" 1
    Ảnh minh họa
    Bên cạnh đó, việc uống nhân trần thường xuyên có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì nhân trần có tác dụng lợi mật, nhuận gan, nhưng người ta chỉ cần lợi mật khi mật không tiết ra (mật viêm, tắc mật...) và nhuận gan khi gan có vấn đề. Nếu không có bệnh mà lại uống hàng ngày, nghĩa là bắt gan và mật không có nhu cầu tiết cũng phải tiết, dẫn tới phải làm việc nhiều hơn nên dễ bị tổn thương, mất cân bằng và sinh bệnh.
    Đối với phụ nữ mang thai, nếu không có bệnh lý về gan, không được bác sĩ chỉ định thì tuyệt đối không nên dùng nhân trần. Bởi nếu uống nước này nhiều sẽ làm xuất tiết các tuyến trong cơ thể. Vì vậy, sau khi sinh, người mẹ thường bị mất sữa hoàn toàn hoặc chỉ có rất ít.
    Ngoài ra, nhân trần thường đến với tay người tiêu dùng ở dạng khô và khi thời tiết ẩm rất khó để bảo quản được lâu. Nếu để kinh doanh, các cửa hàng thường phải dùng thuốc chống ẩm mốc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng. Thậm chí, nhiều người vì lợi nhuận đã phun thuốc diệt cỏ vào cây tươi để cây nhanh héo và khô, dễ dàng chặt ra đem bán. Sản phẩm chứa thuốc diệt cỏ hết sức nguy hiểm cho sức khỏe người dùng.
    Theo VnMedia.vn
    Vĩnh Bảo sưu tầm 29/8/2013

    Không có nhận xét nào: