Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Khoai lang trắng: Thực phẩm tốt cho người bị bệnh tiểu đường

Khoai lang trắng: Thực phẩm tốt cho người bị bệnh tiểu đường

Hình ảnh của Khoai lang trắng: Thực phẩm tốt cho người bị bệnh tiểu đường
Sau một thời gian thử nghiệm, các nhà khoa học tại Áo đã công bố kết quả chất Caiapo, một tinh chất được chiết xuất từ củ khoai lang trắng (white-skinned sweet potato), có khả năng kiểm soát tốt lượng đường máu và cholesterol trong bệnh tiểu đường loại 2.
Trong thử nghiệm lâm sàng, bác sĩ Bernhard Ludvik và nhóm cộng sự  tại Đại học Vienna (Áo) đã chọn 61 bệnh nhân nam mắc bệnh tiểu đường loại 2 có độ tuổi trung bình là 58. Họ chia bệnh nhân ra làm hai nhóm: nhóm 1 gồm 30 người dùng 4 gram Caiapo mỗi ngày, và nhóm 2 gồm 31 người dùng thuốc giả cũng 4 gram mỗi ngày. Tất cả được uống trước bữa ăn sáng mỗi ngày và kéo dài trong 3 tháng.
Đến cuối giai đoạn thử nghiệm, lượng đường máu ở nhóm 1 giảm nhanh chóng, từ 143,7 xuống 128,5 milligram/decilit, trong khi không có sự thay đổi nào ở nhóm 2. Ngoài ra, lượng cholesterol ở nhóm 1 là 214,6 mg/dl, thấp hơn hẳn so với nhóm 2 (248,7 mg/dl).
Kết quả trên xác nhận Caiapo là chất có thể kiểm soát một cách hữu hiệu bệnh tiểu đường loại 2. Không một phản ứng phụ nào được ghi nhận ở những bệnh nhân được điều trị bằng Caiapo.
Caiapo chính là chất được chiết xuất từ khoai lang trắng đã được Nhật Bản điều chế thành dược phẩm bổ sung bày bán trên thị trường Nhật từ lâu để phòng ngừa và điều trị cho những người bị bệnh tiểu đường, nay mới được sự xác nhận bởi các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây.

Một nghiên cứu mới đây ở trường đại học College of Agriculture and Life Sciences thuộc Viện Đại học North Carolina (Mỹ) cũng xác nhận khoai lang là loại thực phẩm có trị số GI thấp (low-glycemic index food), rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường. Ngoài ra họ cũng khám phá khoai lang trồng tại bang North Carolina có chứa nhiều tinh chất Caiapo hơn loại khoai lang Nhật điều chế thành dược phẩm bổ sung bày bán trên thị trường Nhật.
Khoai lang là loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe nhờ có nhiều chất xơ (gấp ba lần khoai tây), nhiều vitamin như vitamin A dưới dạng beta-caroten, glutathione, vitamin C, B6, kali, sắt… nhờ vậy nó có khả năng mạnh chống oxy hóa, ngăn ngừa bệnh, làm tăng khả năng miễn dịch và chống lại các tế bào bị bệnh. Đặc biệt như kết quả thử nghiệm nói ở phần trên, nó giúp điều chỉnh insulin ở trạng thái cân bằng. Do vậy, ăn khoai lang vừa là cách để phòng ngừa vừa là cách để hạ thấp mức độ nghiêm trọng của bệnh tiểu đường.
Ngoài ra khoai lang lại có tác dụng giảm cân hiệu quả, là thực phẩm lý tưởng cho phái nữ trong việc giảm trọng lượng cơ thể. Năng lượng có trong khoai lang rất ít, chỉ bằng 30% so với cơm trắng và 50% so với khoai tây. Ăn khoai lang trước bữa ăn chính sẽ giảm được một lượng lớn thức ăn sẽ đưa vào cơ thể mà không hề gây ra cảm giác đói.
Ăn khoai lang lại rất có lợi cho hệ tiêu hóa vì thành phần chất xơ, vitamin C, các axit amino và nhiều loại enzyme giúp dạ dày co bóp, kích thích nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa thức ăn trở nên nhanh hơn, dễ dàng hơn, ngăn ngừa tình trạng táo bón.
Nên nhớ khoai lang trắng mới tốt cho người bệnh tiểu đường.TÂM LINH tổng hợp

Những món người bị tiểu đường không nên ăn

Một khi được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường, người bệnh sẽ phải ăn uống kén chọn trong suốt phần đời còn lại. Vì vậy, cần phải biết những gì có thể và không thể ăn.


Nhiều người quan niệm rằng rau củ luôn tốt cho sức khỏe và có thể ăn thoải mái. Nhưng theo các chuyên gia, hầu hết các loại rau củ mọc dưới đất thường có chỉ số đường huyết cao. Chúng làm tăng hàm lượng đường trong máu một cách nhanh chóng. Vì vậy, bệnh nhân tiểu đường phải tránh các loại rau có chỉ số đường huyết cao.
Sau đây là một số loại rau củ mà bệnh nhân tiểu đường nên tránh hoặc ăn uống hạn chế:
Khoai tây: Có vị ngọt, béo và rất giàu tinh bột. Đó là lý do tại sao người tiểu đường phải tránh khoai tây ở bất kỳ hình thức chế biến nào.
Những món người bị tiểu đường không nên ăn 1
Khoai lang, cà chua, khoai tây... là những thực phẩm nên hạn chế ở người tiểu đường - Ảnh: Minh Khôi
Khoai từ, khoai mỡ: Là những loại củ giàu tinh bột mọc dưới đất, không tốt cho lượng đường trong máu của người bệnh.
Đậu: Tuy vị không ngọt nhưng chúng giàu tinh bột. Người tiểu đường không cần phải ngưng ăn tất cả các loại đậu; mà có thể ăn đậu luộc hoặc nướng với số lượng hạn chế.
Củ dền: Cũng mọc ở dưới đất và hấp thụ tất cả “sự ngọt ngào” từ đất. Người bệnh có thể ăn củ dền nhưng không nhiều hơn một lần mỗi tuần.
Cà chua: Về mặt kỹ thuật, cà chua là loại trái cây nhưng chúng ta sử dụng chúng như rau. Cà chua có a xít citric nhưng về cơ bản, chúng ngọt. Người tiểu đường tốt nhất tránh ăn cà chua sống trong món salad. Cà chua nấu thì cũng chỉ ăn ở mức tối thiểu.
Bắp (ngô): Vị ngọt và rất giàu tinh bột. Nếu bị tiểu đường, hãy cố gắng tránh ăn bắp dưới mọi hình thức


Cần đọc kỹ bài dưới đây :

Lợi ích tuyệt vời của bắp ngô

HỒNG MINH   -Thứ Hai, 16/01/2012, 10:47 (GMT+7)
Chúng ta thường xuyên ăn ngô dù là ngô luộc và ngô nổ, nhưng ít người biết tác dụng của loại thực phẩm phổ biến này.
Chống ung thư hiệu quả
Trong hạt ngô có chứa rất nhiều chất beta-cryptoxanthin, một loại carotenoid có tác dụng chống oxi hóa, giúp ngăn ung thư phổi hiệu quả. Một nghiên cứu kéo dài nhiều năm ở 63.000 người trưởng thành tại Trung Quốc cho thấy, những người có chế độ ăn nhiều beta-cryptoxanthin giảm được 27% nguy cơ ung thư phổi. Một nghiên cứu khác, ở 35.000 người tham gia cho biết, những người ăn thực phẩm nguyên hạt như ngô giảm được đáng kể nguy cơ ung thư vú. Lý do là trong bắp ngô có chứa hàm lượng cao chất xơ cũng như chất chống oxi hóa, giúp bảo vệ tế bào khỏi bị ung thư.
Tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa
Một trong những lợi ích của ăn ngô là giúp cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh. Lý do là bắp ngô giàu chất xơ không hòa tan- chất khiến dễ tiểu tiện. Chất xơ này cũng hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi cho ruột già và đổi lại vi khuẩn giúp biến chất xơ thành chuỗi axit béo ngắn (SCFA). SCFA có thể cung cấp năng lượng cho các tế bào ruột, từ đó làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề ở ruột, bao gồm cả ung thư ruột kết.
Tốt cho người tiểu đường
Nhiều nghiên cứu cho thấy, thường xuyên ăn bắp ngô sẽ giảm được nguy cơ tiểu đường tuýp 2. Trong một cuộc thử nghiệm ở 40.000 người cho thấy, những phụ nữ thường xuyên ăn ngô giảm được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 hơn 30% so với những người không ăn hoặc ít khi ăn. Chỉ số đường huyết của ngô thấp giúp giảm lượng đường huyết trong máu. Chất xơ cũng giúp làm chậm quá trình chuyển hóa thức ăn thành đường, từ đó giúp hạ thấp nồng độ đường trong máu.
Tốt cho não
Bắp cũng giàu vitamin B1 giúp acetylcholine-một chất truyền tín hiệu thần kinh cho bộ nhớ. Nếu cơ thể thiếu vitamin B1 sẽ gây ra tình trạng đầu óc mệt mỏi và giảm trí nhớ. Một bát ngô có thể đáp ứng được khoảng 24% lượng thiamin mà cơ thể cần mỗi ngày.
Tốt cho mắt
Bắp ngô cũng giàu beta-carotenoid và folate, cả hai chất này giúp làm chậm quá trình suy thoái điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Các nhà khoa học phát hiện thấy, beta-carotenoid trong bắp khi đi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A với tỷ lệ cao hơn so với những loại rau củ khác. Mà chúng ta biết rằng, Vitamin A rất cần thiết cho “cửa sổ tâm hồn” vì nó giúp sáng mắt.
Tốt cho da
Lâu nay nhiều hãng được phẩm trên thế giới đã dùng ngô để chiết xuất nhiều thành phần dinh dưỡng để chế tạo dược phẩm. Tuy nhiên, cách đơn giản là bạn có thể ăn bắp thường xuyên sẽ giúp da sáng đẹp hơn. Nếu bạn bị dị ứng, bạn cũng có thể lấy hạt ngô non tươi giã ra và xoa lên chỗ bị dị ứng. Một lúc là vết ngứa sẽ dịu đi.
Tốt cho phụ nữ mang thai
Lâu nay bác sĩ thường khuyên phụ nữ mang thai tăng cường bổ sung chất folate nếu cơ thể bị thiếu. Folate là chất giúp ngăn chặn nguy cơ sảy thai và thai nhi bị khuyết tật. Trong khi đó, bắp lại rất giàu folate. Nếu bạn thường xuyên ăn ngô sẽ không cần phải bổ sung các viên folate, nó sẽ giúp cơ thể thai nhi tổng hợp tế bào mới và khỏe mạnh.
Bảo vệ tim
Bắp là thực phẩm cũng có chứa nhiều cả chất xơ hòa tan và không hòa tan. Các chất xơ hòa tan liên kết với cholesterol trong mật, được bài tiết từ gan, sau đó lan truyền đi khắp nơi trong cơ thể để hấp thụ tiếp cholesterol có hại. Ngoài ra, lượng vitamin B trong bắp cũng giúp làm giảm homocysteine. Chúng ta biết rằng, nếu homocysteine tăng cao có thể phá hủy các mao mạch, từ đó mà dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Ăn một bắp ngô cũng có thể cung cấp được 19% lượng vitamin B mỗi ngày..
Bắp chuối: Giàu tinh bột và ngọt như quả chuối, cũng là thực phẩm người bệnh cần hạn chế
Khoai lang: Có hàm lượng tinh bột ít hơn so với khoai tây, nhưng có chỉ số đường huyết cao hơn. Khoai lang rất tốt trong điều kiện sức khỏe bình thường, nhưng đã mắc bệnh tiểu đường thì phải nói không với khoai lang.Theo Thanh Niên

Khoai Lang tốt cho người bị bệnh tiểu đường và giúp cho sự giảm ký


                                    TamLinh bi ên dịch (bài do bạn TaoPham giới thi ệu).

 Khoai lang là một trong những loại lương thực lâu đời nhất trên thế giới được biết của con người. Ngày nay những nghiên cứu khoa học cho thấy khoai lang không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà có những công dụng phòng chữa bệnh, đặc biệt  là bệnhtiểuđường  loại 2 và là một trong những thực phẩm tạo miễn dịch tốt cho cơ thể.


 

Sau một thời gian thử nghiệm, các nhà nghiên cứu khoahọc tại hai quốc gia Áo và Ý đã công bố kết quả chất  caiapo, một tinh chất được chiết xuất từ củ khoai lang trắng (white-skinned sweet potato -Ipomoea batatas ), có khả năng kiểm soát tốt lượng đường máu và cholesterol trong bệnh tiểu đường loại 2.

Trong thử nghiệm lâm sàng, bác sĩ Bernhard Ludvik, MD và nhóm cộng sự của ông tại University of Vienna, Áo Quốc, đã chọn 61 bệnh nhân nam mắc bệnh tiểu đường loại 2 có độ tuổi trung  bình là 58.  Họ chia bệnh nhân ra làm hai nhóm: nhóm một 30 người dùng 4 grams Caiapo mỗi ngày,và nhóm hai  31 người dùng thuốc giả cũng 4 grams mỗi ngày.  Tất cả được uống trước bữa ăn sáng mỗi ngày và kéo dài trong 3 tháng.


Sau ba tháng, kết quả thử nghiệm cho thấy, ở nhóm điều trị bằng Caiapo thật, lượng hemoglobin HbA1c (yếu tố đánh giá khảnăngkiểm soát lượng đường huyết của cơ thể) giảm đáng kể, từ 7,21% xuống còn 6,68%. Trong khi đó, HbA1c ở nhóm dùng thuốc giả không thay đổi. Đến cuối giai đoạn thử nghiệm, lượng đường máu ở nhóm Caiapo giảm nhanh chóng, từ 143,7 xuống 128,5 milligram/decilit, trong khi không có sự thay đổi nào ở nhóm dùng thuốc giả. Ngoài ra, lượng cholesterol ở nhóm một (Caiapo)(214.6 mg/dL)  thấp hơn hẳn so với nhóm đối chứng (nhóm hai dùng thuốc giả)(248.7 mg/dL. Kết quả trên xác nhận Caiapo là chất  có thể kiểm soát một cách hữu hiệu bệnh tiểu đường loại 2. Bác sĩ Ludvik cho biết không một phản ứng phụ nào được ghi nhận ở những bệnh nhân được điều trị bằng Caiapo

Tưởng cũng nên biết Caiapo là chất được chiết xuất từ khoai lang trắng đã được Nhật Bản điều chế thành dược phẩm bổ sung bày bán trên thị trường Nhật từ lâu để phòng ngừa và điều trị cho những người bị bệnh tiểu đường nay mới được sự xác nhận bởi các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây.  

Mới đây một nghiên cứu tại trường đại học College of Agriculture and Life Sciences (AALS) thuộcViện Đại Học North Carolina State  University do các giáo sư  Jone Allen,  Van Den Truong và Masood Butt hướng dẫn đã
xác nhận khoai lang là loại thực phẩm có chỉ số GI  (low-glycemic index ) thấp, rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường  và cũng đã phát hiện làkhoai lang trồng tại bang NorthCarolinacó chứa nhiều tinh chất Caiapo hơn loại khoai lang
 Nhật điều chế thành dược phẩm bổ sung bày bán trên thị trường Nhật.

Trong bàn báo cáo giáo sư Allen đã viết "Với nhiều nghiên cứu hơn nữa trong lãnh vực  này, rất có thể sẽ có những khuyến cáo vể việc các bệnh nhân tiểu đường nên dùng tinh chất chiết xuất từkhoai  lang North Carolina để kiểm soát bệnh tiểu đường" Ông viết tiếp “Khoai lang liệu pháp sẽ rẻ hơn là phương pháp trị liệu hiện nay, và sẽ ít có phản ứng phụ”.

Đượcbiết khoai lang cónguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam châu Mỹ, lan truyền sang cácquần đảo Thái Bình Dương, các nước Châu Á, được  Christophe Colombo đưa về châu Âu và người Bồ Đào Nha đưa vào Châu Phi.  Khoai lang đã từng là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ  đặc biệt là tại khu vực đông nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thì nó đã trở nên ít phổ biến hơn. Tiêu thụ bình quân trên đầu người tại Hoa  Kỳ ngày nay chỉ khoảng 1,5-2 kg (4 pound) mỗi năm, trong khi trong thập niên 1920 là 13 kg (31 pound). Kent Wrench viết: "Khoai lang đã gắn liền với thời kỳ khó khăn  của tổ tiên chúng ta và khi họ trở nên giàu có đủ để thay đổi thực đơn của mình thì người ta ít ăn khoai lang hơn."

Theo các nghiên cứu khoa học, khoai lang là một loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe nhờ có nhiều chất xơ (gấp ba lần khoai tây) , nhiều vitamin như vitamin A dưới dạng beta-caroten, glutathione, vitamin C, B6, Kali, Manganese,
và sắt, do vậy khoai lang có tính chất chống ôxy hóa (Antioxidant) mạnh, ngăn ngừa bệnh và làm tăng khả năng miễn dịch và chống  lại các tế bào bị bệnh. Đặc biệt như kết quả thử nghiệm nói ở phần trên, nó giúp điều chỉnh insulin ở trạng thái cân bằng. Do vậy, ăn khoai lang vừa là cách để phòng ngừa vừa là cách để hạ thấp mức độ nghiêm trọng của bệnh tiểu đường. Ngoài ra khoai lang lại có tác dụng giảm cân hiệu quả nên là thực phẩm lý tưởng cho phái nữ trong việc giảm trọng lượng cơ thể. Năng lượng có trong khoai lang rất ít, chỉ bằng 30% so với cơm trắng và 50% so với khoai tây. Ăn khoai lang trước bữa ăn chính sẽ giảm được một lượng lớn thức ăn sẽ đưa vào cơ thể mà không hề gây ra cảm giác đói.  Ăn khoai lang lại rất có lợi cho hệ tiêu hóa vì thành phần chất xơ, vitamin C, các axit amino và nhiềuloại  enzyme giúp dạ dày co bóp, kích thích nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa thức ăn trở nên nhanh hơn, dễ dàng hơn, ngăn ngừa tình trạng táo bón


Ghi chú

1- Chỉ số glycemic (glycemic indexglycaemic index, or GI) là số đo các tác dụng của carbohydrates lên mức đường-huyết (blood sugar).Carbohydrate có GI cao thì vỡ nhanh trong quá trỉnh tiêu hóa và phóng thích glucose nhanh chóng vào dòng máu (bloodstream), còn carbohydrate có GI thấp thỉ vỡ chậm hơn và phóng thích glucose chậm hơn vào trong dòng máu

Glycemic Index
                Low GI: 55 or less,  Medium GI: 56 to 69 , High GI: 70 and above
Cereals
Snacks
Pasta
Beans
All Bran
51
chocolate bar
49
cheese tortellini
50
baked
44
Bran Buds + psyll
45
corn chips
72
fettucini
32
black beans, boiled
30
Bran Flakes
74
croissant
67
linguini
50
butter, boiled
33
Cheerios
74
doughnut
76
macaroni
46
cannellini beans
31
Corn Chex
83
graham crakers
74
spagh, 5 min boiled
33
garbanzo, boiled
34
Cornflakes
83
jelly beans
80
spagh, 15 min boiled
44
kidney, boiled
29
Cream of Wheat
66
Life Savers
70
spagh, prot enrich
28
kidney, canned
52
Frosted Flakes
55
oatmeal cookie
57
vermicelli
35
lentils, green, brown
30
Grapenuts
67
pizza, cheese & tom
60
Soups/Vegetables
lima, boiled
32
Life
66
Pizza Hut, supreme
33
beets, canned
64
navy beans
38
muesli, natural
54
popcorn, light micro
55
black bean soup
64
pinto, boiled
39
Nutri-grain
66
potato chips
56
carrots, fresh, boil
49
red lentils, boiled
27
oatmeal, old fash
48
pound cake
54
corn, sweet
56
soy, boiled
16
Puffed Wheat
67
Power bars
58
french fries
75
Breads
Raisin Bran
73
pretzels
83
grean pea, soup
66
bagel, plain
72
Rice Chex
89
saltine crakers
74
green pea, frozen
47
baquette, Frnch
95
Shredded Wheat
67
shortbread cookies
64
lima beans, frozen
32
croissant
67
Special K
54
Snickers bar
41
parsnips
97
dark rey
76
Total
76
strawberry jam
51
peas, fresh, boil
48
hamburger bun
61
Fruit
vanilla wafers
77
pot, new, boiled
59
muffins

apple
38
Wheat Thins
67
pot, red, baked
93
apple, cin
44
apricots
57
Crackers
pot, sweet
52
blueberry
59
banana
56
graham
74
pot, white, boiled
63
oat & raisin
54
cantalope
65
rice cakes
80
pot, white, mashed
70
pita
57
cherries
22
rye
68
split pea soup w/ham
66
pizza, cheese
60
dates
103
soda
72
tomato soup
38
pumpernickel
49
grapefruit
25
Wheat Thins
67
yam
54
sourdough
54
grapes
46
Cereal Grains
Milk Products
rye
64
kiwi
52
barley
25
chocolate milk
35
white
70
mango
55
basmati white rice
58
custard
43
wheat
68
orange
43
bulgar
48
ice cream, van
60
Drinks
papaya
58
couscous
65
ice milk, van
50
apple juice
40
peach
42
cornmeal
68
skim milk
32
colas
65
pear
58
millet
71
soy milk
31
Gatorade
78
pineapple
66
Sugars
tofu frozen dessert
115
grapefruit juice
48
plums
39
fructose
22
whole milk
30
orange juice
46
prunes
15
honey
62
yogurt, fruit
36
pineapple juice
46
raisins
64
maltose
105
yogurt, plain
14


watermelon
72
table sugar
64





2- Thử nghiệm HbA1c (glucated hemoglobin) đo lượng glycated hemoglobin trong máu. Glycated hemoglobin là một chất trong các tế bào máu đỏ được tạo thành khi đường (glucose)-huyết bám dính vào hemoglobin. Thử nghiệm này giúp bác sĩ ước lượng đươc kết quả kiễm soát bệnh tiểu đưỡng trong khoảng thời gian từ 2 tới 3 tháng trước khi làm thử nghiệm.

Bệnh nhân càng có nhiểu glycated hemoglobin  thỉ  mức glucose trong máu càng cao. Nói tổng quát, số đo HbA1c càng cao thì rủi ro bị các bệnh như sau càng nhiểu: bệnh mắt, bệnh tim, bệnh thận, tổn thượng thẩn kinh, đột quỵ.

Số đo HbA1c là 6 hay ít hơn thỉ là bình thường.Ngưởi nào bị tiẻu đường nên cố giữ số đo HbA1c bẳng hay dưới 7%

 .

Vĩnh Bảo sưu tầm 14/8/2013


Không có nhận xét nào: