Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Mồ mả

Mồ mả
Thông tin:
Mồ mả trong 4 đời phải chôn kín cố định. Chọn đất, hướng, nguyệt xây gạch, đặt áo quan rồi cất kín. Sau đó không xây, không ốp gì cả. Nếu xây, bới, động mộ sẽ gây tai họa đấy, vì làm xáo trộn vong linh người âm đang yên tĩnh tu luyện ở cõi âm để mau chóng vượt Thiên đi đầu thai kiếp khác.

Đến thăm mộ chỉ khấn xin phép Thổ địaThần linh. Không thắp hương ở mộ, không khấn gọi tên người chết ở tại mộ. Việc ấy chỉ làm tại nhà mình trước khi đi thăm mộ.
Nếu ra mộ khóc lóc, gọi họ, thì hồn họ ở cõi cao, đi xuống, nhập lại hài cốt thì tốc độ rung động của năng lượng linh hồn sẽ chậm chạp, nặng nề, phí công tu luyện những thời gian qua. Họ phải tu luyện lại. Nguy hiểm lắm! Mặt khác, như vậy là làm xáo trộn quy luật cõi âm nên có liên quan tác động đến cõi Trần. Có gia đình không biết – cất mộ xong, thì con cháu gia đình đau ốm, gặp tai nạn … Chọn ngày, địa điểm, chôn chặt một lần là bảo đảm.
Nếu chính quyền bắt dời mộ thì phải chấp hành theo pháp luật. Nhưng phải biết cách làm như sau: Khấn:
1. Khấn Thổ địa, Thần linh khu vực có mộ sắp di dời.
2. Bà cô Tổ dòng họ nhà mình cho dời mộ của … (tên họ).
3. Và chôn cất nơi nào (địa điểm).
4. Nếu có gì con cháu không biết xin bỏ qua, tha thứ.
5. Còn sai phạm điều gì về phần âm thì người ra lệnh phải chịu trách nhiệm.
Đến nơi mới cũng làm đủ thủ tục như khi chôn cất người chết.
Không nên mua đất làm mộ giả trước. Làm xong thì con cháu có người chết.
Nơi đào huyệt có Thổ địa, Thần linh, Con cháu, người nhà đi đào huyệt phải khấn như sau: Con tên là … ở … xin Thổ địa, Thần linh quản lý đất ở đây cho phép con gửi xác mẹ (ông, bà) tên là … ở nơi đây. Khi nhập áo quan cũng nhắc lại. Và nói thêm: Nếu người Trần trong gia đình có gì sai xót, xin Thổ địa, Thần linhThần hoàng ở đây tha thứ, bỏ qua cho.
Một vong nói với mẹ: “Các bác quy tập mộ ông bà là động đấy, làm xáo trộn mồ mả là mang họa. Mẹ đứng ngoài, không góp tiền tham gia quy tập thì mẹ không liên đới mang họa. Tốt nhất là mẹ nên khuyên các bác không nên quy tập mộ các cụ nữa”.
Người âm tồn tại 4 đời tu luyện rồi mới “vượt Thiên” đi đầu thai.
-Mồ mả, bia, phải dùng tiếng Việt, không dùng chữ Hán, chữ Nôm.
-Tối kị là yểm bùa trong quan tài.
-Mất mộ là mất phần xác không ảnh hưởng đến linh hồn, không cần tìm mộ. Không nên quy tập mộ về một chỗ. Ai có tâm nhớ ông bà, tổ tiên thì thờ trong Tâm.
Vong người con nói với bố: “Nhà mình đón thày sửa mộ. Thầy yểm đầu chó, vì mệnh thầy nhỏ hơn người âm nhà mình. Sau 3 tháng anh con chết. Đúng không? (Ông bố gật đầu , đúng). Gia đình mình xảy ra tai nạn; vợ xa chồng, con xa bố mẹ, có người thay đổi công tác đi nơi xa. Phải nghiêm cấm việc động mộ. Mời thầy đi coi bốc mộ nguy hiểm lắm!”.
Đào mộ, dời xương cốt đi; nhưng còn máu, da thịt ở đó. Người âm không đồng ý. Nên làm khó khăn cho con cháu. Đó làm phạm quy luật âm.
Cảm xạ học tìm mộ là không không phải là phúc đâu. Là phạm âm đấy. Phần linh hồn thoát ra về với con cháu rồi. Ai không biết mời họ về thì họ ở cõi âm, tu luyện, học tập. Trẻ thì ở Cô – nhi – viện. Từ khi bố dùng cảm xạ học, con lắc, trứng đũa tìm mộ người khác thì buôn bán làm ăn lung tung, vắng khách đi, có đúng không (ông bố: (Đúng).
Cách đây 5 năm, nhà mình dời mộ ông, nhưng nhầm mộ người khác, vì trẻ con đã nghịch dời bia trên mộ sang mộ khác. Vậy là ma nhà người khác vào nhà mình đấy, gây trong nhà lạc đàn, nhiều khó khăn. Mặt khác, khi cúng, nó hưởng, người âm nhà mình không về. Nó hưởng xong, nó về nhà có độ cho con cháu nhà nó. Có láo không chứ?! (xung quanh nghe cười). Tại người Trần hay đào mồ mả, mà bốc nhầm là tai hại lắm. 
sưu tầm

Long mạch: yếu tố quyết định trong xây nhà cất mộ
Thông tin:
Long mạch là gì ? Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi.


Nói về long mạch phải phân biệt mạch chính và mạch nhánh. Tìm được mạch chính mà lại đặt huyệt ở mạch nhánh là không cát. 

Long mạch có quan hệ mật thiết với các núi, gò của huyệt mộ. Nếu chân long (long mạch chính) thì cần có nhiều gò núi bảo vệ. Nếu có nhiều gò núi hộ vệ, chủ về sự phú quý. Nhưng nếu mất khí của long mạch là đại hung. 

Nhận đúng long mạch sau đó phải quan sát thủy khẩu (gò, núi xung quanh hoặc ở giữa cửa sông), Án Sơn (núi che chắn phía trước huyệt mộ), Triều Sơn (núi ở phía trước nhưng xa huyệt mộ hơn Án Sơn), minh đường (khoảng trống phía trước huyệt mộ), Thanh Long (gò, núi ở bên trái huyệt mộ), Bạch Hổ (gò, núi ở bên phải huyệt mộ).

Thế của long mạch lấy mềm mại, linh hoạt làm quý. Long mạch lên xuống trùng trùng, uốn lượn như cá nhảy chim bay gọi là sinh long, là địa huyệt cát. Nếu long mạch thô thiển, ngang, ngược, cồng kềnh, uể oải như cây khô, cá chết là tử long, làđịa huyệt hung. 
Nhà phong thủy chia long mạch thành các loại: cường long, nhược long, phì long, thuận long, nghịch longtiến longthoái longbệnh longkiếp longsát long,chân longgiả longquý longtiện long 

Long mạch được núi vây quanh dày đặc là sự bao bọc, hộ vệ tốt hay còn gọi là có tình - không lệch, không đi ngược. Hình thế long mạch được xem là cát thì phải đoan trang, nho nhã, tú lệ. Nếu chủ (long mạch chính) và khách (long mạch nhánh) không phân biệt được rõ ràng, núi mọc lung tung, đá núi lộn xộn, hình thù kỳ quái là ác hình. Nơi đây an táng rất hung, là đại kỵ. 

Phân chia Long Mạch 

Mạch núi căn cứ vào hướng núi được chia làm 5 loại, tức 5 thế: 

- Thế chính: long mạch phát ở phương Bắc, hướng tới phương Nam. 

Hình minh họa thế chính long 
- Thế nghiêng: long mạch phát ở phương Tây, hướng lên phía Bắc, Bắc có huyệt hướng về Nam. 

- Thế nghịch: long mạch nghịch thủy hướng lên rồi theo dòng nước đi xuống. 

- Thế thuận: long mạch theo thủy chảy xuống rồi lại nghịch thủy đi lên. 

- Thế hồi: long mạch trở về Tổ Sơn (nơi phát nguồn của long mạch bao gồm hàng loạt núi kế tiếp nhau: Thái Tổ Sơn, Thái Tông Sơn, Thiếu Tông Sơn). 
Dựa vào hướng lượn lượn vòng, có thể chia long mạch làm 2 loại: 

- Dương long: long mạch từ Thái Tổ Sơn lượn vòng theo hướng chiều kim đồng hồ. 

- Âm long: long mạch từ Thái Tổ Sơn lượn vòng ngược chiều kim đồng hồ. 

Một cách chia âm long và dương long khác là căn cứ vào phương hướng của dòng chảy 2 bên mạch núi: 

- Dòng nước từ 2 bên mạch núi chảy đi, nếu dòng từ bên trái chảy sang bên phải, long mạch là dương long. 

- Dòng nước từ bên phải mạch núi chảy sang bên trái, long mạch là âm long. 

Cụ thể hơn, theo hình thái của mạch núi có thể chia long mạch làm 9 loại: 

- Hồi long: hình thế long mạch quay đầu về Thái Tổ Sơn, như rồng liếm đuôi, hổ quay đầu. 

- Xuất dương long: hình thế long mạch phát tích ngoằn ngoèo như thú xuất lâm, như thuyển vượt biển. 

- Giáng long: hình thế long mạch như rồng từ trên trời lao xuống. 

- Sinh long: hình thế long mạch vòng cung, mạch nhánh nhiều như chân rết, như dây leo. 

- Phi long: hình thế long mạch tụ tập như nhạn bay ưng lượn, 2 cánh mở rộng như phượng hoàng nhảy múa. 

- Ngọa long: hình thế long mạch như hổ ngồi, voi đứng, trâu ngủ, thế vững vàng. 

- Ẩn long: hình thế long mạch không rõ ràng, mạch long kéo dài. 

- Đằng long: hình thế long mạch cao xa, hiểm yếu, rộng lớn như rồng bay vút lên trời cao. 

- Lãnh quần long: hình thế long mạch như hội tụ các nhánh, như đàn cá đang bơi, đàn chim đang bay. 


www.phongthuydialytrunghoa.com

Ảnh Hưởng Của Mồ Mả, Đất Đai Với Người Sống
Thông tin:
Từ ngàn xưa, khoa Địa-Lý đã hiểu rõ mối tương quan giữa địa linh và nhân kiệt, mối tương quan vật lý giữa đời sống của sinh vật giới và môi trường chung quanh; cũng như các tương tác về sinh cơ giữa sinh vật này với sinh vật khác. Nhờ sự quan chiêm thực nghiệm về sự liên tục của sinh cơ và các biến thái của sinh cơ, khoa Địa-Lý đã nắm vững về sự liên quan siêu vật lý giữa mồ mả tổ tiên với số mệnh của con cháu. Cho nên, “làm thầy địa lý sai lầm thì hại cả một dòng họ ! “ Người bình dân cũng nói: “Không mả, con bà đứa nào làm nên! “

Trải qua hàng ngàn năm, khoa Địa-Lý đã chứng tỏ vô vàn những chứng tích phi thường. Chỉ cần một lời chỉ dẫn của Trạng-Trình Nguyễn-Bỉnh-Khiêm: “Hoành-Sơn nhất đái, vạn đại dung thân,” mà  Chúa Nguyễn-Hoàng đã dựng nên đế nghiệp kế thế bao đời.
Theo sách Việt-nam Thông-Giám, mộ ông nội kết phát ở huyện Duyên-Hà, tỉnh Thái-Bình, đã phát sinh một cháu nội thiên tài là nhà bác học Lê-Qúi-Đôn. Đất “ bút nghiêng” ở Hà-Tĩnh là nơi xuất thân của thi hào Nguyễn-Du, Nguyễn-công-Trứ, Phan-bội-Châu, Phan-đình-Phùng. Đất kết làng Hành-Thiện, tỉnh Nam-Định là nơi phát sinh nhà ái quốc Nguyễn-thế-Truyền, phó đề đốc Đặng-cao-Thăng và chuyên viên đấu tố của Cộng-Sản là Đặng-xuân-Khu, tức Trường-Chinh. Làng này dưới triều Nguyễn, có 88 vị cử nhân, và 7 vị phó bảng tiến sĩ. Trong thế kỷ 20, Hành-Thiện là sinh quán của hơn 120 bác sĩ, 50 dược sĩ, 100 kỷ sư. (Tài liệu báo Người-Việt tháng 10/1999.) Cũng ở Nam-Định, thế đất dữ “Nghịch Nữ Kình Ba” đã phát sinh các nhân vật Cộng-Sản như Lê-chí-Thọ, đại tướng công an Mai-chí-Thọ, trung tướng, bộ trưởng quân hàm Đinh-đức-Thiện. Thế đất “Đầu Mâu vi bút, Hạc-Hải vi nghiêng” ở làng Lệ-Thủy, tỉnh Quảng-Bình đã  xuất phát tổng thống Ngô-đình-Diệm, Võ-nguyên-Giáp và thiếu tướng Đỗ-Mậu. Đất kết ở Quảng-Nam đã phát sinh “Ngũ phụng tề phi”, gồm 3 tiến sĩ, 2 phó bảng trong cùng một khóa thi dưới triều vua Thành-Thái (1901). Địa danh Gò-Nổi ở Quảng-Nam là quê hương của tổng đốc Hoàng-Diệu và nhân tài Phạm-phú-Thứ. (Tiến-sĩ triều vua Minh-Mạng). Đất “Nga mi tác án” ở Gò-Công là quê hương của Nam-Phương Hoàng-Hậu và phu nhân của tổng thống Nguyễn-văn-Thiệu. Đất  kết ở làng Kim-Liên của Nguyễn-tất-Thành, phát sinh Hồ-chí-Minh.  Đất kết ở làng Tri-Thủy, dưới chân ngọn núi Dao, trong dãy Mặt-Qũy, tỉnh Phan-Rang, đã phát sinh tổng thống Nguyễn-văn-Thiệu …
A/  NHỮNG TRƯỜNG HỢP XẤU:
1. Mộ chôn gần cây cổ thụ, để rễ cây đâm vào hài cốt thì con cháu bị mổ xẻ, bại liệt, đui mù, câm điếc, giảm thọ.
2. Mộ chôn gần freeway, đường xe lửa, bến tàu, hay nhà máy kỹ nghệ nặng, làm nhiễu  động âm phần: Con cháu gian xảo, buôn gian bán lận, cờ bạc, hút xách.
3. Mộ chôn chỗ quanh năm ngập nước phèn, hay sình lầy: Con cháu bị bịnh phì mập, phù thủng, đau thận, đau lưng, hư răng hay mục răng.
4. Triệt địa là đào ao nuôi cá, khai mương nước, làm đường xe lửa, xây xa lộ trên đầu mộ: Long mạch bị cắt đứt! Chết bất đắc hay tuyệt tự, không con trai nối dõi.
5. Mộ chôn ở diên địa (đất có pha quặng chì), bị phá khí thái cực, gây điên đảo âm dương, nên con cháu có người bất phân phái tính, bán nam, bán nữ. Đồng tính luyến ái.
6. Quan quách mà đóng đinh sắt, thép hay chôn theo vàng bạc, châu báu: Con cháu điên khùng, ung thư.
7. Quan tài bằng đá hay kim khí, thì con cháu ngỗ nghịch, dâm đãng, giang hồ, tâm thần loạn trí, phạm pháp.
8. Mộ xây bằng bê tông cốt sắt mà bít kín mặt nấm, sẽ tạo ra áp lực của nước, của khí. Khi nhục thể bắt đầu thối rữa,  phát sinh ra nhiệt, khiến con cháu bị huyết áp cao, tiểu đường, hay cholesterol.
9. Bia mộ để dưới chân: Con cháu ngu đần, vất vả cơ hàn. (Rất may, hầu hết các nghĩa địa ở Mỹ đều để bia trên đầu, như Rose Hill, Peek family,Westminster Memorial Park, Chúa Chiên Lành…)
10. Dùng quế, trầm, tro, củi tẩm liệm: Con cháu bị bệnh  lở lói, phung cùi, xấu xí.
11. Dùng lụa tơ tằm để tẩm liệm hài cốt. Bỏ nhiều giấy vàng bạc có  bột kim khí thì con cháu hay trở thành đồng cô cốt cậu, chồng con lận đận. Bỏ hột xoàn hay vàng vào miệng người chết để phạn hàm, thì đời sau tuyệt tự, không con trai nối dõi.
12. Long hổ giao nhau. Núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên tay phải mộ, đụng vào nhau ở tiền án hay minh đường: Loạn luân, anh em dòng họ lấy nhau. (Như ngôi mộ nhà Trần kết phát 200 năm, nhưng gia tộc ruột thịt lấy nhau, vì sợ mất ngôí!)
13. Mộ nghịch long, tức là đầu mộ để dưới thấp, chân hướng về tổ sơn trên cao: Con cháu loạn thần tặc tử, bất hiếu, bất trung.
14. Mộ đang kết khí, kết thủy, kết mối mà bốc mộ dời đi: Con cháu suy sụp, chết bất đắc. (Nghĩa trang Mạc-đỉnh-Chi ở Sài-Gòn khi bị Cộng-sản giải tỏa, nhiều ngôi mộ nằm ở tầng trên mà lại kết thủy đầy nước trong veo, trong khi mộ ở tầng dưới không kết tốt, lại thấy khô ran.)
15. Trùng táng hay trùng huyệt, tức là chôn nhằm chỗ mà trước đây đã có người chôn rồi; hoặc có xương thú như voi, trâu, bò: Con cháu bị bệnh nan y và chết trùng tang liên táng. Nghĩa là nhiều người chết liên tục trong vòng 3 năm. Nếu nút áo của người chết bằng xương thú hay kim khí, cũng phải cắt bỏ, chứ không để nguyên như vậy mà chôn theo người chết.
16. Người Khmer thường xây mộ bằng đá ong, dùng tà thuật chôn theo người chết những tượng sa thạch, và an táng trên nọa địa hay thiết địa, (đất khô cứng vì có quặng kim khí) nên con cháu tàn ác dã man, chết vì  gươm đao, súng đạn, suýt bị diệt chủng. (“Cánh đồng chết” với những núi sọ người đã làm cả thế giới hãi hùng!).
17. Người Do-Thái và người Nhật ngày xưa, có tập tục hỏa thiêu rồi giữ lại hài cốt mà không chịu chôn cất. Hậu qủa là thế hệ sau làm nạn nhân của lò thiêu Hitler và bom nguyên tử. Trong đại chiến thứ 2, Đức-quốc-Xã của Hitler muốn tiêu diệt người Do-Thái nên đã tập trung họ lại rồi lùa ï vào lò thiêu. Còn người Nhật ở Mã-Đảo và Trường-Kỳ bị thiêu hủy vì 2 trái bom nguyên tử.( Đây là một thứ nhân quả vật lý, khác với nhân qủa của nhà Phật. Ví dụ bà mẹ lận đận chồng con hai ba đời. Con gái sau đó cũng trắc trở hai ba đời chồng. Trong gia đình có người chết trôi, phải lo đoạn nghiệp , vì sợ về sau sẽ có người chết chìm nữa. Cha chết bất đắc,  con cũng chết thảm như gia đình Kennedy.)
B/  NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỐT:
1. Phù địa: Là mạch đất  chỗ chôn mộ ngày càng nổi lên cao, do thủy tụ làm cho đất nở trương ra. ( Khác với phù sa là đất bồi do hiện tượng xâm thực của cuồng lưu.)
2. Đất xốp: Nhẹ và mịn màng gần ao hồ, sông, bể. Huyệt đào lên thấy đất đỏ mịn như tròng đỏ hột gà.
3. Mộ kết: Là một điểm trong long mạch có mật độ siêu vật chất cao nhất và động nhất; đồng thời có cảm trường siêu vật lý đi qua thường trực và cao diệu. Cảm trường siêu vật lý phân giải và làm tê liệt tà vật, tà khí, vi sinh vật hủ hóa, nên hài cốt không bị tiêu hủy và bề mặt sinh cơ còn tiếp tục sinh sản dưới một hình thức khác lạ của sinh vật hạ đẳng như là nấm mốc, mối đùn, thủy tụ.
*Nấm mốc: Làm di hài còn nguyên vẹn và bên ngoài được bao bọc bởi một mạng tơ trắng hay xanh, vàng, do ngoại bì biến thái.
*Kết mối: Là mối (termite) tập họp, tạo thành một lớp keo bảo vệ hài cốt kiên cố như xây xi mân. (Tin đồn rằng mộ ông nội của tổng thống Thiệu ở làng Tri-Thủy ở Phan-Rang kết mối).
*Kết thủy: Hay thủy tụ là hài cốt được một lớp nước trong bảo vệ qua nhiều chục năm như một thứ nước ướp xác. Nếu bốc mộ thì nước sẽ nhanh chóng hóa đục và hài cốt tức khắc ngã nàu đen. ( Thầy địa lý cho rằng mộ ông nội của tiến sĩ Lê-qúi-Đôn ở huyện Duyên-Hà, tỉnh Thái-Bình, kết thủy ?)
C/  TẠI SAO PHẢI MAI TÁNG ?
Dù là địa táng như thường thấy ở Việt-Nam, thiên táng là sét đánh, trời trồng, núi lở, đất sụp,  không thiên di hài cốt được; thủy táng như thả xuống sông Ganges ở Ấn-Độ, điểu táng là chia thành nhiều mảnh nhỏ cho chim ăn như ở Tây-Tạng… cũng đều cùng chung một mục đích: “Của THIÊN trả ĐỊA” để tấm thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hòa cùng vũ trụ. Bởi vậy, đã thiêu thì phải rải xuống nước, hay đem chôn xuống đất mới đúng với qui luật tự nhiên, ngỏ hầu tránh cho con cháu đại họa bom đạn, hỏa hoạn, động đất về sau. (Vì lý do nhân qủa vật lý như đã nói ở phần trên)
Đức  Chúa Trời phán rằng: “Con người sinh ra bằng cát bụi, phải trở về với cát bụi mà thôi.”
Trăm năm còn có gì đâu ?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
Truyện Kiều, Nguyễn-Du)
Kim sanh Thủy (Kim khí nấu chảy ra nước). Thủy sinh Mộc. (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc). Mộc sinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa). Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất). Cho nên, chưa “hạ Thổ” là chu luân sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất. Nghĩa là người chết chưa đi hết hành trình sinh diệt! Thánh Gandi, người đã tranh đấu cho nền độc lập Án-Độ, sau khi hỏa táng, một số ngân hàng đã lưu trữ tro cốt của Ngài. Mới đây, hậu duệ của Ngài đã đấu tranh đòi lại để rải nốt xuống bể. Những gia đình có thờ tro cốt trong nhà, con cháu thường bệnh hoạn, ly tán, bất hòa, tình duyên trắc trở.  Người Hời, người Chàm hay  khoét lổ , nhét xác chết vào một khúc cây, bịt kín 2 đầu rồi đem dựng vào góc nhà mà thờ. (Chúng  ta gọi là ma xó). Kết qủa, dân tộc này đã bị diệt vong.
Người xưa nói : “Sống cái nhà, già cái mồ” là muốn khi chết được mồ yên mả đẹp. Động mồ, động mả là điều đại kỵ. Cho nên, chỉ có xá lợi của Phật là một thứ ngọc rất qúi, kết tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờ phượng mà thôi. Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với qui luật tự nhiên , tự nó sẽ gây ra nhân qủa vật lý có hại mà không ai có thể chối cải được

ĐẤT ĐAI, MỒ MẢ, HÀI CỐT VỚI CON NGƯỜI
Thông tin:
Từ xưa, khoa phong thủy đã hiểu rõ mối tương quan giữa địa linh và nhân kiệt, mối tương quan giữa con người với môi trường chung quanh cũng như các tương tác về tâm - sinh - lý giữa sinh vật này với sinh vật khác. Nhờ quan sát thực nghiệm về tâm - sinh - lý và các biến thái của nó, khoa phong thủy đã nắm vững sự quan hệ của siêu vật lý giữa mồ mả tổ tiên với số mệnh của con cháu... Cha ông ta đã từng nói: "Người ta giàu vì mồ, vì mả, không ai giàu vì kẻ cả bát cơm". Trải qua hàng ngàn năm, khoa phong thủy đã có những đóng góp lớn lao.

Việc dời đô về Thăng Long của vua Lý Thái Tổ đã góp phần làm cho dân tộc ta, đất nước ta hơn một ngàn năm vững bền. Chỉ cần một lời chỉ dẫn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân,” mà Chúa Nguyễn Hoàng đã dựng nên đế nghiệp.

 
             Đất kết “ bút nghiêng” làng Hành Thiện
Theo sách Việt Nam Thông Giám, mộ ông nội kết phát ở huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, đã sinh ra một cháu nội thiên tài, nhà bác học Lê Quý Đôn. Đất "địa linh" ở Nghệ Tĩnh là nơi xuất thân của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Hồ Chí Minh... Đất kết “ bút nghiêng” làng Hành Thiện, Huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nơi phát sinh nhà ái quốc Nguyễn Thế Truyền, phó đề đốc Đặng Cao Thăng và nhà chính khách nổi tiếng Đặng Xuân Khu, tức tổng bí thư Trường Chinh. Làng này dưới triều Nguyễn, có 88 vị cử nhân, và 7 vị phó bảng tiến sĩ. Trong thế kỷ 20, Hành-Thiện là sinh quán của hơn 120 bác sĩ, 50 dược sĩ, 100 kỷ sư (Tài liệu báo Người Việt tháng 10/1999).  Thế đất “Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiêng” ở làng Lệ Thủy, tỉnh Quảng-Bình đã sản sinh ra đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đất kết ở Quảng Nam đã phát sinh “Ngũ phụng tề phi”, gồm 3 tiến sĩ, 2 phó bảng trong cùng một khóa thi dưới triềuvua Thành Thái (1901). Địa danh Gò Nổi ở Quảng Nam là quê hương của tổng đốc Hoàng Diệu và nhân tài Phạm Phú Thứ. (Tiến sĩ triều vua Minh Mạng)...Vì vậy, Cha Ông ta nói: "Địa linh sinh nhân kiệt".
Trên thế giới có nhiều vùng đất "địa linh" như thế. Đất "Minh châu cận hải" ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ là một ví dụ. Đây là nơi sản sinh 8 vị tổng thống Hoa Kỳ lừng danh thế giới (George Washington, Thomas Jefferson, Thomas Jefferson, James Monroe, William Henry Harrison, John Tyler, Zachary Taylor, Thomas Woodrow Wilson), chẳng những ảnh hưởng đến sự lập quốc của nước Mỹ mà còn ảnh hưởng đến cuộc diện của thế giới nữa.
 
Bản đồ Hồ Drummond
Đất kết ở Virginia được nhìn thấy qua minh đường thủy tụ ở phía Nam của thủ đô Richmond, sát biên giới của North Carolina, là hồ Drummond, một cái hồ thiên nhiên lớn nhất của nước Mỹ. Hồ Drummond tròn như một điều thần bí, sáng ngời như một viên kim cương đã được mài thật đều. Từ phía Bắc là tiểu bang Maryland đi xuống, đầu tiên là sông Rappahannock, đến con sông dài nhất tiểu bang là James, rồi tới York. Cả 3 con sông đều chảy ra biển ở phía Đông như đa số sông ngòi ở Việt-Nam.
 
Hồ Drummond tròn như một điều thần bí
Đến nay, khoa Phong thủy bị một số người cho là mê tín dị đoan, mặc dù nó rất khoa học. Mồ mả ông bà, tổ tiên đương nhiên có hiệu ứng tiếp truyền đến đời sống của con cháu qua sự kết tinh và vận chuyển của địa khí siêu vật chất. Khi vua Quang-Trung Nguyễn Huệ chuẩn bị cất quân đi đánh châu Ung và châu Khâm (tức Quảng Đông và Quảng Tây bên Tàu). Thầy phong thủy Tàu đã lập mưu, qua tìm, đốt phá vùng núi đá vôi, cạnh ngôi mộ thân sinh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, chôn trên đèo giữa đường Qui Nhơn lên Pleiku. Lửa cháy, núi sập. Ở Bắc Hà, anh hùng Nguyễn Huệ bị bạo bệnh đột ngột băng hà vào năm 1792, lúc ấy Ngài mới 39 tuổi!
Một số thông tin tham khảo:
a. Những trường hợp không tốt
2. Mộ chôn gần đường cao tốc, đường xe lửa, bến tàu, hay nhà máy công nghiệp nặng, làm nhiễu động âm phần: Con cháu gian xảo, buôn gian bán lận, cờ bạc, hút sách.
3. Mộ chôn chỗ quanh năm ngập nước phèn, hay sình lầy: Con cháu bị bịnh phì mập, phù thủng, đau thận, đau lưng, hư răng hay mục răng.
4. Triệt địa là đào ao nuôi cá, khai mương nước, làm đường xe lửa, xây xa lộ trên đầu mộ, long mạch bị cắt đứt: Con cháu chết bất đắc hay tuyệt tự, không con trai nối dõi.
5. Mộ chôn ở diên địa (đất có pha quặng chì), bị phá khí thái cực, gây điên đảo âm dương: Con cháu có người bất phân phái tính, bán nam, bán nữ, đồng tính luyến ái.
6. Quan quách mà đóng đinh sắt, thép hay chôn theo vàng bạc, châu báu: Con cháu điên khùng, ung thư.
7. Quan tài bằng đá hay kim khíCon cháu ngỗ nghịch, dâm đãng, giang hồ, tâm thần loạn trí, phạm pháp.
8. Mộ xây bằng bê tông cốt sắt mà bít kín mặt nấm, sẽ tạo ra áp lực của nước, của khí. Khi nhục thể bắt đầu thối rữa, phát sinh ra nhiệt, khiến: Con cháu bị huyết áp cao, tiểu đường, hay cholesterol.
9. Bia mộ để dưới chânCon cháu ngu đần, vất vả cơ hàn (Hầu hết các nghĩa địa ở Mỹ đều để bia trên đầu, như Rose Hill, Peek family,Westminster Memorial Park, Chúa Chiên Lành...).
10. Dùng quế, trầm, tro, củi tẩm liệm: Con cháu bị bệnh  lở lói, phung cùi, xấu xí.
11. Dùng lụa tơ tằm để tẩm liệm hài cốt, bỏ nhiều giấy vàng bạc có bột kim khí: Con cháu hay trở thành đồng cô cốt cậu, chồng con lận đận.
12. Bỏ hột xoàn hay vàng vào miệng người chết để phạn hàm: đời sau tuyệt tự, không con trai nối dõi.
13. Long hổ giao nhau. Núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên tay phải mộ, đụng vào nhau ở tiền án hay minh đường: Loạn luân, anh em dòng họ lấy nhau. (Như ngôi mộ nhà Trần kết phát 200 năm, nhưng gia tộc ruột thịt lấy nhau, vì sợ mất ngôi!).
14. Mộ nghịch long, tức là đầu mộ để dưới thấp, chân hướng về tổ sơn trên cao: Con cháu loạn thần tặc tử, bất hiếu, bất trung.
15. Mộ đang kết khí, kết thủy, kết mối mà bốc mộ dời đi: Con cháu suy sụp, chết bất đắc (Nhiều ngôi mộ nằm ở tầng trên mà lại kết thủy đầy nước trong veo, trong khi mộ ở tầng dưới không kết tốt, lại thấy khô ran).
16. Trùng táng hay trùng huyệt, tức là chôn nhằm chỗ mà trước đây đã có người chôn rồi; hoặc có xương thú như voi, trâu, bò: Con cháu bị bệnh nan y và chết trùng tang liên táng (Nghĩa là nhiều người chết liên tục trong vòng 3 năm. Nếu nút áo của người chết bằng xương thú hay kim khí, cũng phải cắt bỏ, chứ không để nguyên như vậy mà chôn theo người chết).
17. Xây mộ bằng đá ong, dùng tà thuật chôn theo người chết những tượng sa thạch, và an táng trên nọa địa hay thiết địa, (đất khô cứng vì có quặng kim khí): con cháu tàn ác dã man, chết vì gươm đao, súng đạn.
18. Hỏa thiêu rồi giữ lại hài cốt mà không chịu chôn cất: Con cháu đời sau là nạn nhân của chiến tranh và tai ương.
b. những trường hợp tốt
1. Phù địa: Là mạch đất chỗ chôn mộ ngày càng nổi lên cao, do thủy tụ làm cho đất nở trương ra (Khác với phù sa là đất bồi do hiện tượng xâm thực của cuồng lưu).
2. Đất xốp: Nhẹ và mịn màng gần ao hồ, sông, bể. Huyệt đào lên thấy đất đỏ mịn như tròng đỏ hột gà.
3. Mộ kết: Là một điểm trong long mạch có mật độ siêu vật chất cao nhất và động nhất; đồng thời có cảm trường siêu vật lý đi qua thường trực và cao diệu. Cảm trường siêu vật lý phân giải và làm tê liệt tà vật, tà khí, vi sinh vật hủ hóa, nên hài cốt không bị tiêu hủy và bề mặt sinh cơ còn tiếp tục sinh sản dưới một hình thức khác lạ của sinh vật hạ đẳng như là nấm mốc, mối đùn, thủy tụ.
- Nấm mốc: Làm di hài còn nguyên vẹn và bên ngoài được bao bọc bởi một mạng tơ trắng hay xanh, vàng, do ngoại bì biến thái.
- Kết mối: Là mối (termite) tập họp, tạo thành một lớp keo bảo vệ hài cốt kiên cố như xây xi măng.
- Kết thủy: Hay thủy tụ là hài cốt được một lớp nước trong bảo vệ qua nhiều chục năm như một thứ nước ướp xác. Nếu bốc mộ thì nước sẽ nhanh chóng hóa đục và hài cốt tức khắc ngã màu đen (Thầy phong thủy cho rằng mộ ông nội của tiến sĩ Lê Quý Đôn ở huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, kết thủy).
Dù là địa táng như thường thấy ở Việt Nam, thiên táng là sét đánh, trời trồng, núi lở, đất sụp, không thiên di hài cốt được, thủy táng như thả xuống sông Ganges ở Ấn Độ, điểu táng là chia thành nhiều mảnh nhỏ cho chim ăn như ở Tây-Tạng, hay thiền táng như trường hợp hai nhà sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu... cũng đều cùng chung một mục đích: “Của THIÊN trả ĐỊA” để thân tứ đại (đất, nước, gió lửa) trả về với vũ trụ. Bởi vậy, đã thiêu thì phải rải xuống nước, hay đem chôn xuống đất mới đúngvới qui luật tự nhiên, ngỏ hầu tránh cho con cháu đại họa bom đạn, hỏa hoạn, động đất về sau.
Đức Chúa Trời phán rằng: “Con người sinh ra bằng cát bụi, phải trở về với cát bụi mà thôi.” Còn theo cụ Nguyễn Du thì:
Trăm năm còn có gì đâu ?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
Kim sanh Thủy (Kim khí nấu chảy ra nước). Thủy sinh Mộc (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc). Mộc sinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa). Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất). Cho nên, chưa “hạ Thổ” là sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất. Nghĩa là người chết chưa đi hết hành trình sinh diệt! Thánh Gandi, người đã tranh đấu cho nền độc lập Án Độ, sau khi hỏa táng, một số ngân hàng đã lưu trữ tro cốt của Ngài. Mới đây, hậu duệ của Ngài đã đấu tranh đòi lại để rải nốt xuống bể. Những gia đình có thờ tro cốt trong nhà, con cháu thường bệnh hoạn, ly tán, bất hòa, tình duyên trắc trở.  Người Hời, người Chàm hay khoét lổ, nhét xác chết vào một khúc cây, bịt kín 2 đầu rồi đem dựng vào góc nhà mà thờ (Chúng  ta gọi là ma xó). Kết quả, dân tộc này đã bị diệt vong.
Người xưa nói : “Sống cái nhà, già cái mồ” là muốn khi chết được mồ yên, mả đẹp. Động mồ, động mả là điều đại kỵ. Cho nên, chỉ có xá lợi của Phật là một thứ ngọc rất quý, kết tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờ phượng mà thôi. Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với quy luật tự nhiên, tự nó sẽ gây ra nhân quả có hại mà không ai có thể chối cải được.
.
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/8/2013

Không có nhận xét nào: