Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Cà cuống


Vietsciences- Võ Quang Yến        20/03/2007   
http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org Võ Quang Yến

Bên nước ta có nhiều loại cà. Trừ cà kheo, cà mèn, cà rá, cà ròn, cà sa, cà vạt, …những cà bát, cà dái, cà dại, cà dừa, cà độc dược, cà gai, cà hoang, cà hôi, cà lào, cà na, cà ổi, cà pháo, cà quánh, cà quinh, cà tím, ngay cả cà rốt, cà phê… nhập khẩu thuộc loài thảo mộc, còn những cà ghim, cà kếu, cà niễng, cà tong,… thì lại thuộc loài động vật. Trong số nầy, cà cuống là một côn trùng được nói đến nhiều nhất. Trước ở miền Bắc, nay phổ biến khắp nơi, dầu cà cuống hương mùi độc đáo, có người cho cay đắng, nhưng nhỏ một vài giọt vào bát phở, tô bún thì lại nâng cao mùi vị của món ăn. Ở Á châu, cà cuống thường được dùng toàn cơ thể làm thức ăn, từ Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar qua Trung Hoa, Singapore, Indonesia (13). Người Tàu ăn cà cuống luộc thêm một chút muối ở Quảng Châu hay xào trong dầu mè ở Bắc Kinh. Ở Singapore, fwai fa shim im là một món cà cuống rất được ưa thích (3) . Người Thái Lan gọi cà cuống là mangda. Họ trộn nhuyễn toàn cơ thể, có khi vứt bỏ mắt, cánh và những bộ phận xơ cứng, với hành, kiệu, ớt, đường, thêm vào nước chanh, nước mắm thành một thứ bột nhão gọi là nam prik mangda để ăn với cơm hay rau (13) .


Ở ngoài Bắc, cà cuống được loại chân, cánh, đuôi phụ rồi hấp cách thủy trong một cái chõ hay nướng trên lò than để ăn ; cũng có khi để nguyên con còn cả vỏ chitin đem thái nhỏ rồi xào mỡ để ăn ngay hay ướp muối để tích trữ. Người biết thưởng thức không sao quên được hương vị cà cuống thịt. “Bỏ cánh đi rồi, anh nhần nhần sáu cái chân nó, lấy cái đầu, xé ra nhấm nhót cái ức trước rồi cái đuôi sau, anh sẽ thấy nó có một vị ngon khác hẳn các món ăn ngon nào khác : nó nhận nhận, bùi bùi, beo béo mà lại thanh thanh, một người tục có thể ăn cả trăm con mà không biết ngán” (16). Cà cuống sinh trưởng ở dưới nước, tại các ruộng sâu, hồ ao, sông lạch, sống bằng trứng cá và các loài nhuyễn thể. Mùa cà cuống vào tháng 10 âm lịch, sau vụ gặt lúa mùa ở các đồng ruộng, ao hồ. Tháng 7-8, ban đêm cà cuống thường bay vào các nơi đèn sáng (16). Trứng cà cuống lượm trên các thân cỏ dưới nước. Con trẻ thường thích ăn trứng cà cuống sống hay nướng.  Để bắt cà cuống, người ta thường dùng những dụng cụ đánh cá như lờ, đó, rưu, dậm. Ở Thái Lan và Việt Nam, cách dùng đặc biệt cà cuống cay là chiết xuất tinh dầu của nó để làm tăng hương vị món ăn, cuốn, thang, bánh chưng, nước mắm (1). Thạch Lam, thời tiền chiến, đã thi vị hóa món ăn : “Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm ngát, lại điểm thêm một chút cà cuống thoảng nhẹ như một nghi ngờ” (2).
Vũ Bằng, một nhà văn quê ngoài Bắc vào sống trong Nam, luôn nhớ đến cà cuống và cho nó là một gia vị quý hơn cả bát trân. Ông kể trong cuốn Thương nhớ mười hai : “ Tục truyền rằng Triệu Đà là người đầu tiên ở nước ta ăn cơm với con cà cuống. Thấy thơm một cách lạ lùng, ông ta gửi dâng vua Hán một mớ và gọi là quế đố nghĩa là con sâu cây quế. Vua Hán nếm thử thì nhận rằng nó giống mùi quế thực, khen ngon và phân phát cho quần thần mỗi người một con. Bất ngờ, trong đám có một ông lắm chuyện lại tâu rằng : “Đó không phải là con sâu sống trong cây quế, mà chỉ là một con sâu sống dưới nước, thủy đồ ”. Vua mới phán rằng : “ Thử nãi Đà chi cuống dã ” nghĩa : đó là lời nói láo của Đà. Từ đó cà cuống thành rađà cuống. Nó còn có một tên nữa là long sắt nghĩa là "rận rồng ” (16) . Trước đó hơn một na thế kỷ, sự tích nầy đã được cụ Nguyễn Công Tiu, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công nghiệp và Lâm nghiệp Đông Dương, cán sự Sở Công nghiệp, kể lại trong Tạp chí Kinh tế Đông Dương (1)  với lời phán của vua Tàu có phần khác : “Nam Việt hà nhân quế đố, anh hùng vị tất bất khi nhân ”  vẫn cùng hàm ý chế nhạo.
 
Cà cuống là một loại côn trùng Belostomatidae sống dưới nước thuộc họ Cryptocerate, bộ cánh khác Heteroptera, lớp cánh nửa Hemiptera. Nó mang tên khoa học Belostoma indica Vitalis hay Lethocerus indicus Lep. et Serv. Khi non giống như con dán, mình dài 7-8cm, rộng 3cm, màu nâu xám, có nhiều vạch đen, đầu nhỏ với hai mắt tròn và to, miệng là một ngòi nhọn hút thức ăn. Ngực dài bằng 1/3 thân, có 6 chân dài, khỏe. Bụng vàng nhạt có lông mịn, ở phía trên có một bộ cánh mỏng nửa mềm nửa cứng. Khi m cà cuống, ta thấy nó có một bộ máy tiêu hóa dài khoảng 45cm, gồm có một ống đầu trên nhỏ là cuống họng, đầu dưới phình to chứa một thứ nước có mùi hôi. Sát ngay bầu chứa nước nầy là hai ngòi nhọn mà con cà cuống có thể thò ra thụt vào được. Nếu lấy tay rút mạnh hai ngòi nầy thì cả bộ tiêu hóa của cà cuống có thể bị lôi ra ngoài. Ở dưới ngực, ngay gần phía lưng, có hai ống nhỏ gọi là bọng cà cuống. Mỗi bọng dài 2-3cm, rộng 2-3cm, màu trắng, trong chứa một chất thơm, đó là tinh dầu cà cuống. Nhưng chỉ có con đực mới có tuyến nầy phát triển(11)
Muốn lấy dầu cà cuống, người ta áp bụng cà cuống xuống phía dưới, để phía lưng lên, lấy một que tre đầu vót nhọn, đem rạch ngang lưng nơi tiếp giáp với ngực, nghĩa là ở vị trí  đôi chân thứ ba, sau đó gấp bụng cà cuống xuống, tức khắc hai cái bọng dầu cà cuống sẽ lòi lên phía trên. Lấy đầu tre nhọn khều hai cái bọng này ra, dùng ngón tay khẻ bỏ bọng vào bát hay chén. Khi được nhiều bọng, chích bọng cho dầu thoát ra khỏi bọng. Vỏ bọng được loại bỏ đi, nếu không, để lâu dầu cà cuống sẽ có mùi hôi. Tinh dầu cà cuống là một chất lỏng trong  như nước lọc. Để ngoài không khí rất dễ bay hơi do đó dầu cà cuống cần đựng trong lọ nhỏ, nút kín. Tùy theo con to, nhỏ mà tinh dầu có nhiều hay ít. Trung bình một con cho 0,02mL, 1.000 con đực mới thu được chừng 20mL (11) .
 Dầu cà cuống, nhẹ hơn nước, cho thoảng ra một mùi đặc biệt giông giống như mùi quế. Ông Trịnh Văn Hợi, kỹ sư hóa học ở Phòng Thí nghiệm Nông học ở Hà Nội, không có phương tiên phân tích, đoán chất dầu có thể là amyl valerianat (1) . Năm 1957, nhân được Ban Khoa học Kỹ thuật và Văn hóa Tòa Đại sứ Pháp cấp học bổng, kỹ sư Nguyễn Đăng Tâm, nay đã qua đời, qua Đức dự thảo luận án tiến sĩ tại phòng thí nghiệm của giáo sư Adolf Butenandt tại Viện Sinh vật học Max-Planck ở Tubingen-München. Vào hồi đó, giáo sư Butenandt và các cộng sự viên đã khảo cứu nhiều về các chất hấp dẫn tính phái pheromon, đặc biệt của bướm tằm hay bạch cương tàm  Bombyx mori L. Bắt đầu từ 2-hexenol, họ thấy càng tăng gia dãy carbon và các dấu nối đôi như trong các chất 2,4-hexadienol hay 2,4,6-octatrienol, sức hấp dẫn lại càng lớn. Nhiều văn bằng sáng chế mang tên ông và các nhà cộng sự đã đề nghị dùng, hoặc một mình, hoặc trộn lẫn với các chất diệt trùng, những chất hấp dẫn tính phái như tetradecadienol, pentadecadienol, hexadecadienol, … (6). Đến phiên anh Tâm lấy tinh dầu cà cuống làm nguyên liệu. Sử dụng những phương pháp phân tích mới mẻ nhất hồi ấy, anh phát hiện được thành phần chính của dầu là phân tử (E)-2-hexenol acetat (E hay trans là một trong hai thể của dấu nối đôi giữa hai carbon 2 và 3, dạng kia là Z hay cis). Để hoàn thành luận án, anh còn đề nghị một phương pháp nhân tạo tổng hợp phân tử ấy từ butyraldehyd và ethyl malonat trong môi trường pyridin (9). Hexenol acetat chế tạo ra, độ sôi 168-170°, chỉ số khúc xạ n25D = 1,4160, cũng có dạng E như chất thiên nhiên (4). 
Nhưng chất anh Tâm tìm ra được không phải độc nhất trong dầu cà cuống mà chỉ là thành phần lớn nhất. Bảy năm sau, ở Hà Lan, nhờ máy sắc ký khí tinh xảo hơn, V. Devakul và H. Maarse khám phá ra dầu cà cuống chứa đựng cả một chục chất khi khảo sát sắc khí phổ. Ngoài hexenol acetat, họ xác định được một thành phần khác, tương đối ít hơn, là 2-hexenol butyrat cũng ở dạng E (5). Ngoài ra, môt số amin acid như alanin, arginin, glutamic acid,  methionin, phenylalanin, tryptophan, tyrosin, valin,… đã được tìm ra trong nhiều bộ phận của cà cuống trưởng thành : bắp thịt lồng ngực, màng treo dạ dày, máu và bạch huyết, buồng trứng (7). Người ta cũng nhận thấy chất prolin liên quan đến sự cầm giữ và bảo quản nước thì lại vắng mặt trong máu và bạch huyết (8). Bên cạnh (E)-2-hexenol acetat, chất đồng vị (Z)-3-hexenol acetat đã  được phát hiện trong tế bào trái một loại táo (13), trong thân một cây mùi tây Anthriscus nitida (1), trong lá loại đậu nành Davis (14), trong trái nho Vitis vinifera (17), trong dầu ô liu (10), hay trong số các chất dễ bốc hơi của cây đậu Vigna unguiculata (15). Những phân tử nầy cống hiến mùi hương (19) có tính chất hấp dẫn sâu bọ (14) và đã được hòa trộn với nhiều chất khác làm thơm thuốc thoa da hay thuốc đánh răng (20). Đáng để ý là song song với hexenol acetat, hexenol butyrat , những chất hấp dẫn tính phái tương tự như (E)-2-octenyl acetat, (E)-2-decenyl acetat,… đã được phát hiện trong những loại sâu như Rhoecocoris sulciventris, Biprorulus bibax (6). Cũng nên biết là cis-hexenol có mặt trong cây cỏ nên thường được gọi là “rượu của lá ”  còn trans-hexenal hiến mùi lá nên mang tên “aldehyd của lá ” (5).

Người ta nghĩ đến mùa sinh nở, cà cuống đực tiết tinh dầu làm cho cà cuống cái ngửi thấy ngoi theo và đôi cà cuống đực cái tìm nơi yên ổn mà giao phối. Ngoài chức năng tính phái nấy, dầu cà cuống còn có phận sự săn mồi, bảo vệ. Khi kiếm mồi gặp cá lớn, cà cuống lao mình bám lấy, tìm chỗ huyệt châm ngòi chích tinh dầu vào, tức thì con mồi bị tê liệt, lăn kềnh ra, cà cuống cứ việc bám vào mà hút máu ; hoặc khi cà cuống bị con vật khác đuổi thì phun chất tinh dầu nầy, làm cho kẻ địch ngửi thấy mùi phải rút lui. Trên thực nghiệm, dùng với liều nhỏ thì tinh dầu cà cuống có tác dụng kích thích thần kinh và hưng phấn bộ phận sinh dục, nhưng dùng với liều cao thí có thể gây ngộ độc (11).

Hồi còn công tác ở Viện Hóa Học các Chất Thiên Nhiên ở Gif-sur-Yvette (Pháp), trong phòng thí nghiệm của giáo sư Bửu Hội, tiến sĩ Nguyễn Đạt Xường và cộng sự viên có chương trình khảo cứu những chất tương tự. Non 50 hexanyl, hexenyl, hexynyl, cyclohexanyl, cyclohexenyl ester (acetat, butyrat, propionat, hexanoat, decanoat, valerianat, benzoat, ethoxalat, theonat, furoat, nocotinat,) đã được nhân tạo tổng hợp dựa lên phản ứng ester hóa các phân tử rượu với một acid chlorid. Những kết quả không đăng báo nầy không được khai thác về mặt ứng dụng có lẽ các chất nhân tạo nầy thoạt xem không thấy có hương vị thơm cay, ngon lành như dầu thiên nhiên. Thật ra, ngay cả chất hexenol acetat nhân tạo mà người Thái Lan đã khai thác trên thương trường, hoàn toàn ròng sạch, cũng không làm vừa ý người dùng. Phải chăng dầu cà cuống thơm ngon vì nó có hương vị của một hỗn hợp nhiều chất mà ngoài hexenol acetat và hexenol butyrat, ta chưa xác định được cấu tạo các thành phần khác, tuy số lượng không bao lăm nhưng góp phấn tích cực vào hương vị dầu. Đây cũng là một đề tài khảo cứu hữu dụng cho các phòng sinh vật học.

Một cảnh tượng quê hương mỗi lần gợi lên biết bao thương nhớ ở người sống xa xứ : “… những người đàn bà bán cà cuống ấy sở dĩ không cần rao vì họ đã có khách quen cả rồi : có hàng thì cứ tự nhiên đem vào bán, mà đã vào thì các bà nội trợ cứ tự nhiên mua. Người bán và người mua cùng ngồi nhễ bọng cà cuống cho vào một cái đĩa nhỏ, đến khi xong cả thì mới trút vào trong một cái ve nhỏ bằng ve dầu Vạn Ứng, đậy thật kín, lấy giấy bóng bao ngoài cái nút rồi lấy giấy quấn chặt cho không bay hơi đi mất ” (16)

Chuyện bắt Cà cuống 
Huy Vũ

Trong một dịp tình cờ tôi được đọc Chuyện con cà cuống của học giả Lê Văn Lân, đăng trong Làng Văn số 90 tháng 2 năm 1990. Theo sự hiểu biết thực tiễn của tôi thì hình như đã có một vài khác biệt về "lý lịch và thân thế" của con cà cuống, loài côn trùng mà chúng ta lấy dầu để ăn bún thang, chấm bánh cuốn.

Để giúp đọc giả tìm hiểu thêm về cà cuống, tôi xin trình bày một vài điểm mà chính tôi đã làm và đã thấy vào thời gian năm mươi năm về trước ở quê tôi, một làng nhỏ nằm bên bờ sông Hồng Hà thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nay là tỉnh Vĩnh Phú, qua câu chuyện bắt cà cuống.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình thôn quê, cách thủ đô Hà Nội về hướng bắc khoảng 40 cây số tính theo đường chim bay. Lúc bấy giờ, tuy còn nhỏ, tôi vẫn thường phụ giúp bố mẹ tôi trong công việc đồng áng. Một trong những công việc mà tôi thích được giáo phó là chăn trâu. Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chư có lẽ là "chân lý" của tôi lúc bấy giờ, vì chăn trâu tuy phải "thi gan cùng tuế nguyệt" và đảm đương "s­ứ mệnh" là ngăn chặn chúng "xơi tái" hay "tiến công" những thửa ruộng hoa mầu xanh tươi trong khu vực trồng trọt, song trẻ chăn trâu được tự do chơi đùa theo sáng kiến riêng của mình, nhiều khi rất tinh quái, mà không bị hay ít bị sự kiềm chế của người lớn. Trong lịch sử Việt Nam đã có một vị vua rất nỗi tiếng xuất thân từ mục đồng. Tục Ngữ "nhất quỉ, nhì ma, thứ ba mục đồng" chắc chắn phải có trước "nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò". Chăn trâu nói chung sướng nhiều hơn khổ. Một trong những cái thú của trẻ chăn trâu là bắt cà cuống để nướng ăn tại chỗ. Tôi còn nhớ rõ là thường vào đầu mùa mưa, sau những đêm mưa lớn làm hầu hết các thửa ruộng với những cây cỏ dại nhỏ và thấp sâm sấp nước, là thời kỳ các chị cà cuống bụng mang dạ bay về những cánh đồng quê tôi đẻ trứng. Đó là lúc tụi mục đồng chúng tôi vừa chăn trâu vừa bắt cà cuống, cứ việc lội ngang qua các thửa ruộng sâm sấp nước mưa, liếc ngang liếc dọc vào phần thân cây nằm trên mặt nước độ 3,4 phân để nhận diện trứng cà cuống từ khoảng xa, song cũng đừng quên thỉnh thoảng "tự kiểm" xem chân mình có bị đỉa đói bám hay không. Trứng cà cuống được sắp xếp thành nhiều hàng thẳng đứng, dài độ 3 hay 4 phân, bọc tròn quanh thân cây rất đều đặn, không có chỗ nào thừa hay thiếu cả. nhìn toàn bộ ổ trứng, ta thấy nó như một trái bắp thu nhỏ, chỉ khác ở chỗ trái bắp nhỏ không râu này có hai đầu bằng nhau và những hạt của nó màu trắng có khía đen với đầu rất tròn. Thường mỗi ổ có trên dưới một trăm trứng được gắn bằng một chất keo dính mềm như cao xu màu xám bám vào thân cây. Trứng cà cuống nướng chín ăn rất ngon, nhai trong miệng nổ lốp bốp nghe rất vui tai và có thể ăn sống được. Hễ thấy ổ trứng trên thân cây là hy vọng tìm được cà cuống mẹ nằm chìm dưới nước gần gốc cây. Bắt đầu từ đây, kỹ thuật bắt cà cuống cần được tôn trọng, nếu không, chẳng những bắt được con nào mà đôi khi còn bị chích rất nhức nhối nữa.

Khi thấy ổ trứng, bạn hãy nhẹ nhàng tiến lại gần gốc cây cách độ khoảng 1 hay 2 mét để quan sát xem trứng đã nở chưa. Trứng nở rồi khác với trứng chưa nở ở chỗ đầu mỗi trứng mang một lỗ hổng tròn đường kính độ 1 mi-li-mét. Nếu nở rồi, chắc chắn cà cuống mẹ đã bỏ đi. Nếu chưa nở, chắc ăn tới 99% là cà cuống mẹ nằm ở một chỗ nào đó gần gốc cây. Nếu vũng nước chung quanh gốc cây mang ổ trứng khá trong, bạn có thể nhìn thấy dễ dàng cà cuống mẹ nằm gần gốc cây, và việc tóm bắt sẽ không mấy khó khăn. Nếu nước đục bạn không thể nhìn thấu qua được thì chỉ còn cách duy nhất là dùng bàn tay để mò tìm mà thôi.

Việc mò bắt cà cuống thực ra không dễ dàng lắm đâu, mà đôi khi cà cuống với cái vòi dài khá lợi hại chích vào tay bạn. Chỗ bị chích sưng lên, đau nhức vô cùng, kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Đau hơn bị ong vò vẽ chích rất nhiều, song bạn không cần phải thuốc thang gì cả, cứ để tự nhiên độ một ngày sau sẽ hết. Khi bắt đầu tiến hành việc tìm kiếm cà cuống mẹ, bạn cần nhẹ nhàng tiến sát đến gốc cây, xòe thật rộng bàn tay ra, hai ngón cái và trỏ kẹp lại một chút để tránh khoảng cách quá lớn giữa hai ngón, rồi từ từ đặt một cách nhẹ nhàng xuống vùng đất dưới mặt nước chung quanh gốc cây, cố tránh gây tiếng động làm cà cuống mẹ trốn chạy. Vùng dắt đầu tiên mà hai bàn tay đặt xuống không gặp được cà cuống mẹ, bạn hãy mau chóng chuyển sang vùng đất mới. 

Thường là qua hai lần đặt tay đầu tiên, bạn có thể biết được cà cuống mẹ nằm ở chỗ nào rồi. Nếu sau hai lần đầu vẫn chưa gặp được cà cuống mẹ, bạn phải đổi “chiến thuật” ngay. Bàn tay bạn không thể nhẹ nhàng và từ từ nữa mà phải chụp thật nhanh, dù có phải tạo thành tiếng động, từ vùng quanh gốc cây ra xa dần vì bạn đã bị lộ rồi và cà cuống mẹ đã “di tản chiến thuật”. Nếu sau nhiều lần mò mẫm tìm kiếm vẫn không gặp cá cuống mẹ và nơi gốc cây nhỏ, có ổ trứng chỉ là một vũng nước có giới hạn nhỏ, bạn nên kiên nhẫn mò mẫm kỹ sẽ bắt được cà cuống mẹ vì cô ta chắc chắn chỉ “chém vè” đâu đó mà thôi. Còn nếu đó là một mảnh ruộng đầy nước khá rộng, “tha làm phước”. Điều quan trọng trong việc bắt cà cuống mẹ là khi đã chạm vào thân của nó, dù ở bộ phận nào, bạn không nên dùng ngay bàn tay này để nắm trọn lấy con cà cuống như bắt cá, vì nắm như thế những ngón tay của bạn sẽ ôm vòng qua miệng nó, và bạn khó có thể thoát khỏi bị chích vào một trong những ngón tay. Bạn phải tìm cách đè cô ta xuống sát đất để không thể trốn chạy, rồi tìm thế kè hai bên sườn từ phía sau lưng. Khi đã nắm chắc hai bên hông và “bồng” nàng ta lên khỏi mặt nước, việc phải làm ngay là “bịt miệng” nàng lại bằng cách ngắt bỏ cái kim chích nguy hiểm của cô ta. Bạn phải rất thận trọng và khéo léo trong công việc này, vì cà cuống mẹ dùng hai chân trước nhanh và mạnh với móng sắt để kéo những ngón tay ngà ngọc của bạn vào sát vòi chích để “hôn” đấy. Hồi nhỏ khi bắt được cà cuống mẹ, ngoài việc ngắt bỏ ngòi chích, tôi còn ngắt bỏ phần chân thấp của chúng, chỉ giữ lại phần đùi sát thân để chúng khỏi trốn chạy, rồi mới bỏ vào túi áo cho chắc ăn.

Khi di cư vào Sài gòn, đôi khi vào buổi tối tôi vẫn thường bắt gặp các cô chú cà cuống bò dưới chân cột đèn đường. Khi bắt nướng ăn thì không thấy mùi cay thơm như ở miền Bắc. Tiện đây, tôi xin kể một câu chuyện vì bắt cà cuống thiếu kỹ thuật mà một anh bạn đã tôi bị cà cuống chích sưng bắp vế non. Số là được nghe nói về hình dạng con cà cuống, vị thơm ngon của nó và ở Sài gòn thì bắt ở đâu, anh bạn tôi lấy làm thích thú lắm, tự nhủ là có dịp sẽ bắt vài con nướng ăn cho biết. Rồi một hôm tình cờ đi xem chiếu bóng về khuya qua cột đèn đường trước cổng nhà, anh ta thấy một đám côn trùng đang lổm ngổm bò dưới lòng đường.

Nhận ra đấy là con cà cuống, anh ta bèn tóm lấy và đút vào túi quần. Khi vào đến nhà chưa kịp lấy ra để nướng ăn, đã bị cà cuống chích một phát vào đùi non, báo hại anh suốt đêm chịu nhức nhối đến nỗi phải vào bệnh viện xin thuốc. Khi gặp tôi, anh kể lại chuyện này cho nghe.

Tôi cười an ủi và cho biết trong cái xui của anh còn có cái hên rất lớn, vì nếu con cà cuống đổi góc độ khác hơn một chút để “tự vệ chính đáng” thì “cỗ pháo” của anh ta có thể không còn hoạt động được nữa, và nếu còn hoạt động được thì cũng khó đặt tới mục đích tối hậu như trước.

Khi bắt được dăm ba con cà cuống, cái thú của trẻ mục đồng là tìm cách nướng ăn liền. Cà cuống đem nướng vàng, những phần mỏng của thân cà cuống bị cháy xém, bốc mùi thơm phức. Thêm vào đó, dầu cà cuống tiết ra, thấm vào các bộ phận bị lửa nóng làm khô chín đi, tỏa ra một hương vị độc đáo khó tả. Thơm ơi là thơm! Có lẽ sành ăn và hay chữ như cụ Tản Đà cũng không thể diễn tả nổi cái mùi thơm ngon có một không hai trên thế gian này. Nếu bạn được xơi một con cà cuống cay trước khi đi ngủ, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy tiếc rẻ vì phải đi xúc miệng ngay sau khi dậy. Một điều đáng chú ý là thường chỉ cà cuống đầu mùa là có dầu cay thơm, nhưng gầy còm ít thịt. Vào giữa mùa, thường là cà cuống non trông giống như con rệp, đầu nhỏ bụng to, không có dầu cay, không có cánh và chích cũng đau nhức không thua cà cuống mẹ. Tới tuổi nào đó, cà cuống non lột xác trở thành cà cuống trưởng thành có cánh dài. Vào cuối mùa thường là cà cuống ở thế hệ thứ hai đã trưởng thành, hoặc cà cuống già còn sót lại, trắng trẻo và mập mạp hơn, song ăn không còn tìm thấy vị cay thơm như thuở ban đầu nữa.

Qua bài viết của ông Lê Văn Lân và sự hiểu biết theo thực tế của tôi, chắc quý vị đã thấy được một vài khác biệt sau đây:

1. Loại cà cuống lấy dầu ăn bún thang, chắc chắn không phải là loại Belostoma, mà là Lethocerus, vì loại này đẻ trứng trên thân cây, còn cà cuống mẹ nằm canh dưới nước ngay gốc cây, và con cà cuống trưởng thành không bao giờ có chiều dài nhỏ 1 inch cả, mà tùy theo lớn nhỏ thường từ 2 đến 3 inches.

2. Việc bảo vệ trứng cho đến lúc nở là trách nhiệm của con cái, không phải của con đực. Còn loại côn trùng có họ với cà cuống mà ông Lê Văn Lân để cập đến như đẻ trứng trên cánh con đực, và con đực chịu trách nhiệm nuôi con, chắc chắn không phải là loại cà cuống ta lấy dầu. Tôi có thấy ở đồng quê vùng Phú Thọ có một loại côn trùng sống dưới nước, giống hệt con cà cuống từ màu sắc đến những bộ phận trên thân thể, song nhỏ hơn rất nhiều, dài độ 1 inch, rộng độ ¼ inch. Không chích được hoặc không đủ sức mạnh để chích vào tay người. Khi đánh giậm bắt cá quanh các bờ cỏ mọc dưới nước sâu thường bắt được loại này và bị loại bỏ đi. Tôi không rõ các cách sinh nở của loại này có giống như cách ông Lê Văn Lân mô tả không.

Trong khi bắt cà cuống trên ruộng, tôi chưa bao giờ bắt gặp con cái và con đực đi chung với nhau. Đôi khi còn bắt được vài con cà cuống mang bụng trứng lớn chờ đẻ nằm cô đơn dưới gốc cây. Do đó tôi tin rằng con cà cuống mà chúng tôi bắt được là cà cuống cái.

3. Túi chứa chất cay thơm, có nhiều người cho là túi mật, không nằm ở sau đít, mà nằm ở phần dưới của ức và phần trên của bụng. Túi này trong như một bong bóng, nhò bằng 1/4 hạt gạo. Khi lấy dầu, tôi thường xẻ ngang nhè nhẹ ngay ở phần bụng dưới ngực một chút sẽ thấy túi dầu. Mức độ thơm cay rất khác nhau, có những con ăn cay tê miệng, song cũng có con ăn chỉ thơm cay nhẹ nhàng thôi. Ba bốn chục con cà cuống chưa lấy nổi nửa chai dầu nhị thiên đường.

4. Theo tôi hiểu, có lẽ không có loại cà cuống cay và loại cà cuống thịt riêng biệt. Cà cuống cay là loại cà cuống lúc đầu mùa khi còn ốm đi tìm chỗ sinh đẻ. Sau khi sinh đẻ hay thế hệ thứ hai thì cà cuống mập trắng, ngực nở nang nhiều thịt hơn, song rất hiếm kiếm được con có dầu cay. Có lẽ tạo hóa chỉ cho phép chúng có đầu cay để làm công việc bào vệ giống khi sinh nở mà thôi. Tôi nghe nói rằng một khoa học gia Việt Nam ở Pháp đã phân tích chất dầu này và tìm ra dầu cà cuống có tất cả 24 hóa chất khác nhau, song ông ta đã thất bại trong việc tổng hợp các chất này lại với nhau để chế dầu cà cuống nhân tạo.

5. Chỗ ở thực sự của cà cuống có lẽ là vùng đồng sâu hay đồng lầy quanh năm nước ngập. Vào lúc nước rút từ những cánh đồng ra sông Hồng, người ta đặt đáy bắt được hàng thúng cà cuống mập, song luộc ăn không còn tìm thấy vị cay thơm nữa. Dân chúng vùng quê quanh Hà Nội thường đội từng thúng cà cuống luộc ủ nóng đem ra thủ đô bán cho người thích của lạ. Còn về mùa đông thì không tìm thấy bóng dáng của cà cuống đâu cả. Vào dịp gần Tết, dân chúng miền Bắc thường hay tát ao, đìa, đầm, chuông để bắt cá ăn Tết, đôi khi cũng bắt được vài con cà cuống già, đen, gầy, nóng ăn không có vị cay. Có lẽ chúng ẩn mình nơi đồng sâu để chờ đến mùa mưa bay lên đồng cao có nước để đẻ trứng.

6. Cà cuống có thể bay rất xa. Làng tôi thuộc vùng trung lưu của sông Hồng nên đôi khi chúng tôi bắt gặp những con cà cuống bay từ phía bên kia sông sang, đường bay ít nhất cũng độ một hai cay số. Có một điều lạ là khi bắt được cà cuống, dù còn nguyên vẹn, bắn tung nó lên trời, rất ít khi chúng chịu bay mà rơi xuống như cục đất vậy. Hình như việc mở cánh tung bay còn lệ thuộc vào một điều kiện bí mật nào đó. Giống như các loài côn trồn có bốn cánh, cà cuống khi bay hai cánh ngoài cùng chỉ mở rộng ra để giữ thăng bằng, hai cánh trong mềm, quạt mạnh để đưa thân hình về phía trước. 

7. Vùng đồng quê Phú Thọ, người ta thường thấy những con cà cuống già lột xác để thở thành con cà coi. Con cà coi lớn hơn con cà cuống một chút và thân hình tròn trịa, nghĩa là không có thân hình dẹt nữa? Tất cả bộ phận bệnh ngoài vẫn còn giữ nguyên vẹn, chỉ khác ở chỗ toàn thân không còn màu đất nữa mà lẫn màu đen có chút óng ánh xanh, có đốm trắng hay vàng trên cánh, đốm đen trên sống lưng vàng. Con cà coi thường bay từ các cánh đồng vào những làng mạc, đậu trên thân cây cao ít lá, thường là cây cau, cây dừa. Có con vừa đậu vừa kêu “ó ó ó ó...” liên tục và kéo dài như tiếng ve sầu, nhưng lớn và dễ nghe hơn. Chúng tôi thường dùng cây sao dài, ở đầu buộc một cái vợt nhỏ có lưới để bắt chúng, đem buộc vào đầu một sợi dây cầm cho chúng bay đi chơi. Khi muốn nghe chúng ca hát, chỉ việc dùng hai ngón tay bóp nhè nhẹ vào con mắt của chúng. con nào có chấm đen lớn trên lưng vàng thì hát được lâu con nào có chấm đen nhỏ thì hát không được dai lắm, và không có chấm đen thì dù bóp đến bể mắt chúng vẫn không hát được. 

Lời quê xin góp nhặt dông dài với học giả Lê Văn Lân để quí vị độc giả có dịp hiểu thêm về con cà cuống của quê hương ta. Rất mong được nghe thêm lý lịch của con cà cuống nơi quý vị hiểu biết nhiều về loài côn trùng này.

(Trích Làng Văn)


Cà cuống làng Chèm- nay còn đâu ?


(Dân trí) - Từ làng Chèm xuống Bãi Hoa men theo con đường mòn ven sông, qua các vườn cây, ao chuôm và bãi cát thì sẽ đến được quê hương của cà cuống làng Chèm - Hà Nội.

Mưa rào mùa hè luôn về bất chợt làm nước ao nổi dềnh lên bám lấy cây cỏ xanh mướt. Để ý kỹ một chút là sẽ thấy cỏ lác mọc cao vượt hẳn lên trên, đan xen trong những chùm hoa dại là từng cụm trứng cà cuống còn bám lại.

Bọn trẻ con thường lội bì bõm xuống ao, í ới gọi nhau đi tuốt trứng cà cuống rồi hí hửng nếm thử mùi hương ngan ngát tan hòa trong miệng. Các cụ thường bảo, những phiên chợ Chèm ngày xưa bao giờ cũng đầy rẫy cà cuống chín bày trên mẹt, nhiều con còn sống bò lổm ngổm trong giỏ hệt như cua.

Người ta bảo rằng, cà cuống xưa kia được xếp vào hàng sơn hào hải vị của người Việt và được dùng để cống nạp cho Trung Hoa với tên gọi là “con sâu quế”. Bọng tinh dầu trong bụng cà cuống đực được coi là loại gia vị quý giá thường được pha chế vào nước mắm và nó trở thành một loại hương liệu không thể thiếu trong các món ăn truyền thống như bún chả, bún thang, chả cá, bánh cuốn.

Cà cuống, ảnh minh họa
Cà cuống, ảnh minh họa

Bánh cuốn có nước mắm chắt, có giấm ớt chua cay mà không có mùi cà cuống thì cũng thành vô vị. Từ xưa kia, làng Chèm đã nổi tiếng là vùng đất có nhiều cà cuống nhất Hà Nội. Còn nhớ, trong tác phẩm “Hà Nội Băm sáu phố phường”, tác giả Thạch lam đã thi vị hoá món ăn “Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm ngát, lại điểm thêm một chút cà cuống thoảng nhẹ như một nghi ngờ”, hay như nhà văn Vũ Bằng đã coi cà cuống là một gia vị quý hơn cả “bát trân”. Vậy nhưng bây giờ, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp thì cà cuống làng Chèm dường như chỉ còn biết tới như một địa danh mà thôi.

Còn đâu những đầm, những vũng, những đường mòn ngập nước để cà cuống có thể tung tăng bơi lội như trong những tác phẩm một thời viết về ẩm thực Hà thành. Chợt tiếc thương, chợt nhớ để rồi lại thấy xao xuyến cứ mỗi khi hè tới, lao xao đâu đó từ trong kí ức dội về hình ảnh một người đàn ông mặc áo rách, đội một cái thúng vá trên đầu và xách một cái đèn dầu ở tay. Thỉnh thoảng, người đàn ông lại đánh rơi vào trong đêm khuya một tiếng rao. Nhưng ở sâu trong ký ức của người dân Hà Thành thì đôi lúc cứ thấy hiện lên những bầy cà cuống bay từ đâu bay về, lao vào những ngọn đèn sáng.
                                                           
Hè về không có gió bấc, không có mưa phùn, đó là mùa cà cuống…

Gia Linh

Vĩnh Bảo sưu tầm 7/8/2012


Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

RAU MỒNG TƠI



Bà con ơi…Xem công hiệu của mồng tơi nè…! Ca dao có câu“Gần nhà mà chẳng sang chơi / Ðể anh ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu”. 
Xưa là vậy, còn nay chàng trai nào muốn “cưa đổ” nàng có lẽ cách hay nhất là ngắt ngọt mồng tơi… nấu canh mời nàng !
Bởi mồng tơi không những là món ăn dân dã, ngon lành trong mùa nắng nóng mà từ lâu còn được dùng như thuốc chữa bệnh.
Mồng tơi (mùng tơi, tầm tơi) tên Hán là lạc quỳ, chung quỳ, yên chi thái, đằng thái, có danh pháp khoa học Basella alba L., thuộc họ mồng tơi (Basellaceae). Có hai loại mồng tơi thường trồng : thứ hoa trắng tím, quả đen nhánh và thứ hoa trắng, quả trắng.
Đông y ghi nhận toàn cây mồng tơi có vị ngọt nhạt, tính hàn, tán nhiệt, mát máu, lợi tiểu, giải độc, tiếp cốt chống đau, làm nhuận da, hoạt trường, không độc.
Theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, mồng tơi còn có tác dụng hoạt thai giúp dễ sinh. Riêng lá mồng tơi có vị chua, ngọt, tính mát; có tác dụng hoạt trường, thông đại tiểu tiện.
Tây y cho biết mồng tơi chứa nhiều vitamin (chủ yếu là vitamin A3 và B3), chất saponin, protein, canxi, sắt…
Đặc biệt chất nhầy (pectin) trong mồng tơi rất quý để phòng chữa nhiều bệnh : có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu.
Mồng tơi thường được dùng làm thức ăn như rau cho người bị táo bón, người đi tiểu ít và đỏ, phụ nữ đẻ xong ít sữa. Dùng tươi giã đắp chữa được sưng đau vú.
Hạt dùng sắc lấy nước rửa chữa đau mắt. Tán bột hoà với mật ong bôi lên mặt giúp da mặt mịn màng, hoặc dùng thoa trị rôm sảy.
Nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan còn dùng mồng tơi làm thuốc trị lỵ, đại tiện bí kết, viêm bàng quang, viêm ruột thừa; trị ngoại thương, xuất huyết, bỏng lửa; điều trị bệnh lậu và viêm quy đầu; trị nấm lang ben, gàu…
Chú ý phải rửa sạch mồng tơi trước khi ăn. Rau mồng tơi có tính mát lạnh, người hay bị lạnh bụng đi ngoài cần cẩn thận khi dùng. Để bớt lạnh, nên nấu kỹ hoặc phối hợp với các thức ăn có nguồn gốc động vật.
- Thanh nhiệt giải độc : Có nhiều cách từ đơn giản đến phức tạp. Ta đã có những cách thông dụng như canh rau mồng tơi, hoặc kèm rau đay, mướp, cua, tôm… ăn với cà pháo muối giòn thì ngon tuyệt, lại mát ruột ngon miệng, ăn được nhiều cơm mặc cho trời nóng bức…
Hoạt trường thanh nhiệt dưỡng âm giúp da tươi nhuận: Rau mồng tơi luộc chấm hoặc trộn vừng đen đã rang tán bột.
- Chữa đầy bụng :  Rau mồng tơi 50g, rau đay 50g, khoai sọ 1 củ (bóc vỏ thái nhỏ) nấu canh ăn vài ba ngày.
Hoặc dùng 4 loại rau sau đây với lượng bằng nhau nấu canh: mồng tơi, đay, rau khoai, rau má.
- Chữa táo bón lâu ngày gây thoát giang : Lá mồng tơi, lá vông non mỗi thứ 30g, rễ đinh lăng 20g, củ mài 12g (thái mỏng sao vàng), vừng đen 30g (rang nổ) sắc với 600ml nước còn 300ml. Người lớn chia 2 lần, trẻ em tùy tuổi dùng ít hơn.
-  Chữa khí hư, suy nhược : Gà ác 1 con, lá mồng tơi 1 nắm, đậu đen 1 nắm, ninh nhừ ăn nóng cả nước và cái.  Tuần ăn 1-2 lần cách nhau 3-6 ngày. Khi thấy có kết quả cho thêm một nắm đậu nành, 2 nắm lạc.
Món này giúp chị em bồi dưỡng sau đẻ và làm cho da hồng hào, tóc đen mượt. Người bị đau dạ dày, ợ chua ăn món này cũng tốt. Để da tươi nhuận hồng hào : Dùng rau mồng tơi nấu canh với cá trê vàng, mỗi tuần ăn 1 lần.
- Chữa tiểu tiện buốt nóng : Lá mồng tơi 1 nắm, giã nhuyễn, lấy nước cốt pha thêm nước, chắt lấy nước, uống nóng với ít hạt muối. Bã đắp vùng bàng quang.
- Nhức đầu do đi nắng : Lá mồng tơi giã nhuyễn lấy nước uống, bã đắp vào 2 bên thái dương băng lại.
- Tráng dương, trị “yếu sinh lý” : Rau mồng tơi, rau ngót, rau má. Mỗi thứ 1 nắm, 1 bộ lòng gà hay vịt, đủ cho 1 người lớn ăn 1 bữa. Nấu canh, ăn vã hoặc ăn với cơm. Tuần ăn vài lần. Nếu uống kèm nước cơm rượu, hiệu quả càng lớn.
- Canh rau mồng tơi phối hợp với tôm : Tôm tươi bóc vỏ bỏ đầu ướp hành muối xào săn, chế nước dùng sôi cho rau mồng tơi sôi lại. Tác dụng bổ dương cường thận.
- Chữa di mộng tinh : Rau mồng tơi, đậu nành, lạc. Mỗi thứ 1 nắm, nấu với 1-2kg xương lợn (xương ống tốt hơn), hầm kỹ xương lợn trong nồi áp suất rồi mới cho đậu lạc và cuối cùng cho rau mồng tơi. Có thể cho thêm tiêu bột, nước tương, nước mắm. Ăn nóng, ăn xong uống nước nóng.
- Chữa hoạt tinh : Trường hợp tinh xuất quá nhanh và sau giao hợp thường bị mệt mỏi đuối sức, xanh xao.
Rau mồng tơi 1 nắm, rau dền tía 1 nắm nấu với 1 đôi bầu dục để nguyên lớp mỡ và vỏ bọc (không bóc vỏ) cho gia vị. Ăn nóng. Ăn xong uống nước trà gừng nóng sẽ tăng hiệu quả. Trước khi đi ngủ ăn 1 thìa vừng đen (đã rang thơm) nhai kỹ nhuyễn rồi nuốt.  Xong uống 1 chén nước cơm rượu, càng có hiệu quả cao hơn.
- Chữa đầu vú sưng, nứt, trĩ, mụn nhọt, bỏng : Lá mồng tơi rửa sạch giã nhuyễn với ít muối đắp lên chỗ tổn thương. Da mặt khô nhăn nẻ, tay chân bị cước cũng có thể dùng lá mồng tơi như vậyChú ý rau mồng tơi phải rửa sạch.
Mỹ Nhàn post
Vĩnh Bảo sưu tầm 7/8/2012

10 LỢI ÍCH CỦA TRÁI XOÀI


 

Ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giúp cơ thể chống lại nhiều căn bệnh đáng sợ như ung thư, tiểu đường, bệnh tim… Thực phẩm dạng hạt giúp giảm cân. Xoài là loại trái cây phổ biến nhất thế giới vì hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng tuyệt vời của nó. Một cốc xoái có thể cung cấp 25% lượng vitamin C cơ thể cần mỗi ngày, 2/3 vitamin A và một lượng lớn vitamin B6, vitamin E, pectin, phốt pho, kali và magiê.
1/. Ngăn chặn ung thư : Các hợp chất phenolic được tìm thấy trong xoài như quercetin, isoquercitrin, astragalin, fisetin và methylgallat đã được chứng minh là có đặc tính chống oxy hóa và chống ung thư. Xoài cũng là loại trái cây có hàm lượng pectin cao. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng, pectin có tác dụng giúp cơ thể chống lại ung thư đường tiêu hóa.
2/. Hỗ trợ tiêu hóa : Xoài là loại trái cây rất hữu ích trong việc điều trị các bệnh về tiêu hóa. Trong xoài có chứa các enzyme giúp phá vỡ protein, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hấp thụ vào cơ thể, chất xơ có trong xoài cũng giúp ích rất nhiều trong việc hỗ trợ hệ tiêu hóa làm việc. Chất xơ có trong xoài cũng giúp ích rất nhiều trong việc hỗ trợ hệ tiêu hóa làm việc
3/. Ngăn ngừa bệnh tim : Xoài là loại trái cây tuyệt vời cung cấp vitamin A, E và selen cho cơ thể và giúp chống lại bệnh tim. Xoài cũng rất giàu vitamin B6, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim bằng cách giảm mức độ homocysteine. Homocysteine ​​là một axit amin trong máu gây tổn thương mạch máu.
4/. Giảm LDL cholesterol : Hàm lương pectin và vitamin C cao có trong xoài giúp làm giảm mức LDL cholesterol trong cơ thể, đặc biệt là LDL cholesterol xấu.




5/. Làm giảm huyết áp : Xoài có hàm lượng kali cao, vì vậy mà nó có thể điều chỉnh huyết áp. Do đó, ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giảm huyết áp mà không phải lo lắng đến tác dụng phụ.
6/. Cải thiện trí nhớ : Xoài có chứa axit glutamine, một loại chất được biết đến với tác dụng cải thiện trí nhớ và giữ cho các tế bào não hoạt động. Ăn xoài thường xuyên là cách để chiến đấu với căn bệnh giảm trí nhớ khi có tuổi.
7/. Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường : Lá xoài có tác dụng làm bình thường hóa nồng độ insulin trong máu. Đun sôi lá xoài trong nước khoảng 15 phút, để nó qua đêm và uống nước này vào sáng hôm sau. Điều này sẽ làm giảm lượng đường trong máu.
8/. Tăng cường sức khỏe của đôi mắt : Xoài có nhiều nhiều vitamin A, một chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp tăng cường sức khỏe của đôi mắt và bảo vệ mắt chống lại sự thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Tăng cường sức khỏe đôi mắt bằng xoài
9/. Mang lại nhiều lợi ích cho làn da : Xoài là loại trái cây tốt cho làn da, bởi chúng có hàm lượng vitamin A cao. Chúng kích thích quá trình tuần hoàn máu ở màng nhầy và da, từ đó làm giảm tắc nghẽn lỗ chân lông, một hiện tượng khiến làn da bị tổn hại.
10/. Xử lý tình trạng thiếu máu : Xoài có nhiều chất sắt, vì vậy mà chúng có thể giúp cơ thể khắc phục tình trạng thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có trong xoài giúp tăng cường hấp thụ sắt. Vì vậy mà xoài là loại trái rất có lợi đối với phụ nữ mang thai và những người bị thiếu máu.
Mỹ Nhàn post
 Vĩnh Bảo sưu tầm 7/8/2012

Ảnh bên hồ sen Tây hồ

Hàng ngày đi tập thể dục cạnh công viên nước Hồ Tây tôi thấy đầm sen rất đẹp. Một cháu phóng viên chụp vài kiểu kỷ niệm cho tôi:





Vĩnh Bảo 7/8/2012


Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

BUỒN VUI, THẤY và THẦY


Cái thấy

1. Buồn Vui

Một nhà thông thái ngồi giữa đám đông và kể 1câu chuyện cười.
Mọi người phá lên cười.
Một lúc sau, Ông kể đi kể lại câu chuyện đó.
Đến lúc không còn ai trong đám đông cười nữa, ông mỉm cười và nói:
- "Một câu chuyện vui không thể làm cho ta cười nhiều lần, vậy tại sao chúng ta lại buồn mãi vì một chuyện không vui."

2/ Cái THẤY của chúng ta 

Nếu mắt của bạn nhìn đảo theo sự chuyển động của dấu chấm màu hồng luân phiên, các dấu chấm sẽ vẫn chỉ có một màu, màu hồng.
                                        
Tuy nhiên nếu bạn nhìn chằm chằm vào "+" màu đen trong trung tâm, các dấu chấm chuyển động quay sang màu xanh lá cây.

Bây giờ, tập trung vào "+" màu đen ở trung tâm của hình ảnh. Sau một thời gian ngắn, tất cả các dấu chấm màu hồng sẽ từ từ biến mất, và bạn sẽ chỉ nhìn thấy chỉ là một dấu chấm màu xanh lá cây duy nhất quay.

Thật ngạc nhiên là bộ não của chúng ta hoạt động như thế nào. Có thực sự là không có dấu chấm màu xanh lá cây, và màu hồng thực sự không biến mất. Điều này chứng minh rằng, chúng ta không bao giờ nhìn thấy được những gì mà chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta nhìn thấy. ? Nếu không có người nói ra điều đó và chỉ dẫn cho chúng ta điều đó.
Nếu chúng ta chịu DỪNG LẠI chúng ta sẽ thấy được tất cả. Nhưng nếu chúng ta cứ mãi mê lao theo, nhìn theo, chạy theo những chấm màu hồng đó thì chúng ta sẽ không thấy được những chấm xanh đang ẩn mình trong đó.

Quý anh chị ngạc nhiên chưa ?


3/ Ai là thày của Ngài?
Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"

Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm."

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"

Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?"

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.
Nguồn: Thư K.V
Bài gốc: http://longbachblog.blogspot.com/2012/08/mot-nha-thong-th-ai-ngoi-giua-am-ong-va.html#more
(Vĩnh Thuận sưu tầm - 4/8/2012 - Ngọc hà)

CHÚC MỪNG SINH NHẬT BÁC PHÁT





Hôm nay ngày 3 tháng 8 là Sinh Nhật của Lão Giáo sư Vĩnh Phát, con cụ Vĩnh Sinh - nhà giáo có công lập trường học đầu tiên của xã Nam Phong trong những ngày đầu tiên của nước VNDCCH non trẻ năm 1945, cháu cụ đồ Thiệu Đường - người có công khôi phục và lập Gia phả của dòng họ Nguyễn Văn ở làng Nam Phú, Hà Tây cũ.

Bác Phát là người đầu tiên đi học đại học và có bằng cử nhân trong nhà mình, vì lúc đó bác Bảo đang đi làm ở Cao Bằng và bác Mệnh đã đi xa. Bác Phát là "ông nghè" đầu tiên của dòng họ Nguyễn Văn và chắc cũng là tiến sĩ đầu tiên của làng Nam Phú.

Trong lịch sử, họ Nguyễn Văn chỉ có 2 cụ cử và dăm cụ tú. Ông nội Thiệu Đường đi thi nhiều lần cũng chỉ đỗ nhị trường, nản chí cụ về làng làm ông đồ dạy trẻ và bốc thuốc cho bà con thôn xóm. Sau Cách mạng tháng Tám, người đầu tiên có bằng kỹ sư là  chú Ng. Vân Tiếp (con ông Nhiếp), nay ở Sài Gòn, và có lẽ bác Phát là người thứ hai của dòng họ Nguyễn Văn có trình độ cử nhân rồi kỹ sư (ĐH Tổng hợp HN 1969 và ĐH Hàng hải VN 1976) trong thời đại Hồ Chí Minh. Đến bây giờ tính trong họ nội tộc, cũng chỉ ở nhà ta mới có 3 tiến sĩ là bác Phát với chú Hùng và cháu Minh. Nói thế để thấy tội của tôi rất to, làm cụ Sinh và cụ Hỷ buồn phiền vì đã không làm xong nghiên cứu sinh để thêm rạng danh họ Nguyễn Văn của xứ Nam Phong Hà Tây.

Bác Phát đã là Nhà giáo ưu tú năm 1998 (có bài viết trong bộ sách "Chân dung các nhà giáo ưu tú Việt Nam", NXB Thanh niên, HN 1999) và được nhà nước phong Phó Giáo sư năm 2002. Lúc đó, cụ Sinh vui lắm. Trong nhà, cụ ưng ý nhất là bác Phát (còn chán nhất, không biết cụ chọn tôi hay chú Hùng đây nhỉ, hi hi?).



Bác Phát là người rất có ý chí, có lẽ chỉ sau cụ Sinh. Năm 1980, đang học để thi NCS ở Kim Liên nhà chú Rôm cô Bình, mẹ Kim mất, bác vẫn vững lòng ôn luyện để 1 tuần sau khi mẹ từ trần, bác vẫn thi đỗ đi Ba Lan làm tiến sĩ. Năm 2005, bị bệnh nặng, Bác kiên trì tập luyện cùng chế độ ăn kiêng, đến bây giờ sau 7 năm sức khỏe bác vẫn còn hơn ối người trong nhà mình (tuy năm nay vừa phải đặt thêm 2 stend ở tim). Tôi thì chịu, nếu bị như Bác chắc "lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân" từ lâu rồi.

Bác là người phát triển toàn diện. Tiếng Tàu tiếng Tây làu làu, gần đây sung mãn về thư pháp, cho mọi người nhiều chữ chơi Tết rất đẹp. Là dân kỹ thuật và toán, mà vẽ tranh phong cảnh ngang ngửa với các họa sỹ chính thống. Ngày học cấp 3 ở Trường Chu Văn An, Bác học đều các môn, luôn chỉ dẫn chị Đạt và tôi về cách học môn văn và làm văn. Sổ liên lạc của Bác tôi còn giữ, toàn điểm 5 chi chít (ngày xưa cấp 3 cho điểm cao nhất là điểm 5). Thể thao thì khỏi nói, Bác chịu khó tập tạ, tôi chỉ học mót tập ké theo Bác mà có "phom", sau này  các em mê tít. Thêu thì thôi rồi siêu thủ, suýt nữa cụ Hỷ bắt bác đi học Trường Mỹ thuật để sau này tiếp nối bàn tay vàng "nghệ nhân thêu" của cụ.

Thôi iem chẳng kể nữa, kẻo Bác lại bẩu "thằng iem cho bác lên mây".

Đặc biệt nhất, nhà Bác là "nhà giáo toàn tòng" (mượn từ của bên theo đạo Chúa): Ông nội và Ông ngoại cháu Minh là nhà giáo (nhà giáo làng tiểu học và nhà giáo sáng lập ngành Địa sư phạm VN) - Bác và bác Đoàn, người bạn đời lãng mạn cùng dạy 1 khoa 1 trường - Cháu Minh, tiến sĩ ở Ba Lan về đã công tác ở Trường Đại học Đại Nam. Đối với dòng họ, Bác đã "cung cấp" 1 tiến sĩ thế hệ nối tiếp là cháu Ng. Nguyên Minh, nối dài truyền thống hiếu học họ ta. 


Ngày sinh của lão giáo sư, cầu chúc Bác ung dung tự tại, vui khỏe cùng anh em và con cháu, lãng mạn tình già cùng Bác gái, hưởng phúc dài lâu.






Em: Vĩnh Thuận


(Ngọc hà - 3/8/2012)

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

CHIẾT TỰ CHỮ "Y"


Y khoa trong Chiết tự chữ Hán 
 Lê Quang Thông
Chữ Hán là một linh tự ai cũng đã biết.Trong những lúc trà dư tửu hậu chiết tự cũng là một cách học hỏi triết lý người xưa gởi gắm trong từng chữ…
Tác giả thực sự chỉ biết dăm chữ, mục đích phiếm luận vui về các Hán tự có liên quan đến ngành Y và các đức tính cần thiết của người thầy thuốc với quan điểm của cụ Nguyễn Du “mua vui cũng được một vài trống canh”…
Chữ Y theo BS Nguyễn Văn Kha có ý nghĩa qua ba thời kỳ:
Thời kỳthứ nhất: thế kỷ 50-28 trước Công nguyên: chữ y gồm chữ khuông có nghĩa là túi, bên trong có chữ thỉ nghĩa là cung tên, bên phải là chữ thù nghĩa giáo mác, phía dưới hình mặt nạ . Có nghĩa là thời xa xưa thầy phù thủy đeo mặt nạ cầmkhí giới (tên và kích) để xua đuổi ma quỷ. Thời kỳ này người ta còn miệt thịngành Y, nghề này chỉ dành cho phù thủy, thày pháp, thi rớt và còn tin nghề nàybịp bợm thất đức nên có câu Nhất thế ytam thế suy (một đời làm thuốc ba đời suy).
Ngày nay ý nghĩa này vẫn còn áp dụng cho các ông Đạo rờ, Đạo vuốt… nhập đồng kiểu cô Ba, ông Hoàng Bảy cho tàn nhang nuớc lã vẫn có người tin… và chúng ta để ý con cháu của các thầy pháp, thầy cúng, lang băm… thất đức… đều suy vi cả…
Thời kỳthứ hai: từ thế kỷ 28 trước Công nguyên đến 1949: Bắt đầu từ khi có các tác phẩm Hoàng đế Nội kinh, Châm cứu và hệ thống lý luận âm dươngngũ hành hòan chỉnh, ngành Y được trọng vọng cho nên đây là nghề chuyên nghiệp, chữ Y được hiểu là chữ khuông cái túi chứa chữ Thỉ là kim châm cứu, chữ Thùhiểu là dao giải phẩu (như Hoa Đà mổ cho Quan Vân Trường), mặt nạ hiểu là chữ Dậu là lọ thuốc có nghĩa thầy thuốc đa khoa(châm cứu - phẩu thuật) kiêm dược sư cho thuốc luôn - (ngày nay tại Việt namnhiều BS còn bán thuốc trong phòng mạch  tức thực hành y dược song hànhnhư người xưa?) - thời này nghề Y được đề cao và nhiều nhân vật nổi tiếng như Hoa Đà, Biển Thước, Trương Trọng Cảnh… và đây là nghề cứu nhân độ thế nên có câu Nhất thế y tam đại công khanh (một đời làm nghề y ba đời làm khanh tướng) cho nên ta không lấy gì làm lạ có dòng họ ba bốn đời là bác sĩ quan lại tiếng thơm muôn thưở như các dòng họ Tôn Thất, Hồ Đắc, Lê Khắc… tam đại đều phú qúy vinh hiển…
Thời kỳtừ 1949 đến nay:  chữ Y giản luợc còn chữ khuông và chữ thỉ, tathấy chữ thỉ không còn nghĩa trong túi chứa cung tên hay kim châm cứu mà còn ý nghĩa như “tang bồng hồ thỉ”, theo nghĩa bóng người thầy thuốc chứa trong mình những khát vọng cao hơn nữa, bay cao bay xa trong biển y học mênh mông… nghĩa đen là người thầy thuốc đi đây đi đó… đi du lịch, dự nhiều Hội nghị khắp năm châu… cho thỏa mộng hải hồ… tung hoành ngang dọc (xem giải thích chữ Sĩ dưới đây).
Trong các ngành nghề BS có nhiều cơ hội dự nhiều hội nghị khắp nơi hơn các ngành khác, nếu có nhiều tài năng và tài… lộc.
Chữ Sĩ gồm chữ nhất phía dưới chỉ người đứng đầu trong sĩ nông công thương và chữ Thập gồm nét sổ ngang tuợng trưng trục hòanh (tứ phương tám hướng), sổ dọc là trục tung, ý nói sĩ là người học rộng hiểu nhiều mọi chuyện trong trời đất (trên thông thiên văn, dưới thạo địa lý), hiểu biết sự vận hành trong vũ trụ … Thiên Địa Nhân (người nối trời và đất – sổ dọc nối haigạch ngang). Học giả Vương Sung đời Hán đã từng nói: “Cố trí năng chi Sĩ, bấthọc bất thành, bất vấn bất tri” (Cho nên kẻ Sĩ có trí tuệ, có năng lực, khônghọc không thành, không hỏi không biết).
Ngày nay chữThập còn tượng trưng 10 ngón tay khéo léo của sĩ (kinh tế tri thức) trong mọingành nghề nhất là 10 ngón tay gõ vi tính lướt internet thông hiểu mọi tri thứccủa nhân loại.
Cho nên cóchữ Cát là điều tốtlành gồm chữ khẩu chữ Sĩ có nghĩa miệng kẻ sĩ luôn nói chuyện tốt lành, lờihay ý đẹp, tri thức sâu sắc đáng tin cậy.
Bác là ngườihọc rộng, hiểu nhiều, uyên bác
Bác sĩ phảicó lòng nhân ái, thương người, chữ nhân ái  gồmchữ nhị nhân (người) có ý nghĩa hai người mới có lòng nhân ái,người thầy thuốc có bệnh nhân mới có lòng nhân, và người bệnh nhân quý mếnngười thầy thuốc cũng là nhân, thương yêu nhau. Nếu chỉ có một vế thì sẽ là“tình đơn phương” hay “lương y như dì ghẻ”?.
Chữ Ái gồm chữ Trảo phía trên tiếp đến là chữ Mịch là che đậy che chở, phía dưới là chữ tâm  và dưới nữa là biến thể của chữ Tòng   tượng hình hai nguời đi với nhau(hai chữ nhân) nghĩa là móng vuốt (trảo) hay các điều xấu phủ xuống, hay lànhững gian khó trong cuộc đời (vợ chồng) thì ta lấy cái lòng che chở cho ngườitheo ta đó là yêu thương, bác ái, ái tình… “ngộ ái nị”…
Người thầythuốc lấy tấm lòng che chở người theo ta để chữa bệnh, bệnh tật là tai ương nhưmóng vuốt (trảo) của thú trùng (vi trùng), của nội thương ngọai cảm… Ái đây là áinhân… tấm lòng cao quý như soeur Theresa hay BS Albert Sweitzer từ bỏ tiện nghivăn minh vào Châu Phi đem tấm lòng bác ái cho những bệnh nhân xa xôi hẻo lánh…
Ngành y khoacòn có một chữ Huệ , có nghĩalà lòng nhân ái tấm lòng bao la không biên giới gồm chữ Xa  và chữ Tâm người xưaám chỉ đem tấm lòng chuyên chở rộng khắp bao la đó là Huệ, ân huệ như nhữngThầy thuốc không biên giới (Medecins sans Frontières) đem tấm lòng trải khắpcõi nhân gian, nguời thấy thuốc đem tấm lòng đi về những nơi xa cứu người giúpngười trong các công việc từ thiện dù có thể chết vì dịch tả Ebola, hay Cúm gà…Người thầy thuốc ban ân huệ nhưng… bất cầu báo mà vẫn có lộc, vì Khổng Tử đãnói: “Học giả lộc kỳ trung”, trong sự học của kẻ Sĩ đã mầm mống cái lộc rồi…
Chữ Lộc 鹿 trong Hán tự là chữ tượng hình vẽ hìnhcon Hươu, lộc có nghĩa là lợi lộc do trong cổ xưa người ta hay ‘trục lộc”(đuổihươu), “hoạch lộc” (săn bắt hươu) nhất là thời kỳ Ân Thương  hay đến thờiĐường Tống. Hươu là động vật hoang dã thường gặp nên có nghĩa là lợi lộc, bỗnglộc hay Lộc Đỉnh ký của Kim Dung là truyện miếng mồi của đỉnh chung… Thầy thuốcngày nay có lộc cũng từ bệnh nhân, lộc hươu đó chẳng phải là bệnh nhân đấy sao?Những bệnh nhân ngoan ngõan như hươu nai (lộc), nguời thầy thuốc bảo gì nghe nấychỉ một xét nghiệm máu bất thường chẳng hiểu mô tê gì hết đã gây biết bao sợhãi, huống chi những bệnh hiểm nghèo mổ xẻ… khác chi “con nai vàng ngơ ngác”?
Người thầythuốc có nhiều bệnh nhân tín nhiệm ắt có nhiều lộc, nhiều lộc chứ không phải làgiàu (phú). Vì nhiều thầy thuốc danh tiếng nhưng không giàu tiền, nhưng giàu(lộc) về đức độ và tài năng.
Chữ Phú gồm chữMiên (nóc nhà) và dưới là chữ Nhất, chữ khẩu, chữ điền tượng hình 4 lô đất ruộng (tuyệt nhất là 4 lô Phú MỹHưng hay khu biệt thự nào đấy?)  tức là trong nhà: một (nhất) (hộ) khẩu sởhữu  nhiều đất ruộng (điền-bất động sản) là giàu. Chữ Điền ngày nay tathấy không còn 4 lô đất mà tuợng hình là stock (kho hàng gồm 4 container-cổphiếu), ai sở hữu nhiều cổ phiếu là giàu như Bill Gate chẳng hạn.
Người thầythuốc phải nhẫn nại nhẫn nhịn chịu khó lắng nghe bệnh nhân trình bày nỗi khổđau của bệnh tật. Chữ Nhẫn gồm chữ Tâm  và chữ Đao , ta có daomổ, hay kim châm cứu… (vũ khí quyền lực) nhưng không áp đảo nguời khác mà phảilắng nghe, ta có uy quyền người thầy thuốc, nhưng không la mắng nộ nạt bệnhnhân mà phải dịu dàng mềm mỏng yêu thương nỗi khổ đau của họ, giải thích bệnhtật, tâm lý tiếp xúc tốt, người thầy thuốc như mẹ hiền đó là Nhẫn.
Khó thay chữNhẫn của các bậc hiền triết phương Đông  gởi gắm biết bao điều khi chế tácmột linh tự như chữ Hán…
Người thầythuốc cần biết một chữ nữa là Hòa . Chữ Hòa gồm chữ Khẩu là miệng ănvà  biến thể chữ Mễ là lúa gạo theo xã hội nông nghịêp Trung Hoa ngàyxưa. Nhân loại có đầy đủ lúa gạo, không tranh dành miếng ăn là có hòa bình, nhàvăn Lâm Ngữ Đường Trung Hoa cho rằng nguồn gốc mọi cuộc Chiến tranh là do cáidạ dày, con người tranh quyền đoạt lợi cũng vì Dạ dày, hay miếng ăn, miếng đỉnhchung, “lộc đỉnh ký”.
Nguời thầythuốc phải “hòa” với các đồng nghiệp, không tranh dành đoạt bệnh, hạ bệ lẫnnhau để “trục lộc” về mình. Biết san sẻ và bớt lộc cho các đồng nghiệp khácbằng cách nâng đỡ tạo mọi điều kiện cho đàn em kế thừa vươn lên không sợ hơnmình mà
nên nghĩ “con hơn cha là nhà có phúc”, thế hệ đàn em giỏi hơn ta thìmừng
DS Vĩnh Bảo sưu tâm 2/8/2012

CHIT T 折字 LÀ GÌ?

Chiết Tự (chứ Hán) là    折字
Phải làm sao để nhớ nó
-
Chiết: Bẻ gãy. Tự: chữ, ý nói chữ Nho.
Chiết tự là phân tách một chữ Nho ra làm nhiều thành phần, giải thích ý nghĩa của mỗi thành phần, và sau rốt giải thích ý nghĩa của toàn chữ.

Ðây là điểm đặc biệt của chữ Nho, vì khởi đầu chữ Nho là loại chữ tượng hình.

Thí dụ 1: Giải thích chữ Ðại Ðạo bằng cách chiết tự.
 Chữ ÐẠI
 do chữ Nhơn  và chữ Nhứt  hiệp lại.

Nhơn là người, viết hai nét tượng trưng Âm Dương. Do đó chữ Ðại là Âm Dương hiệp nhứt, mà Âm Dương hiệp nhứt thì phát khởi Càn Khôn, hóa sanh vạn vật.

Nhơn là người, mà người biết tu luyện đoạt đặng cơ mầu nhiệm của Ðức Chí Tôn thì đắc nhứt. Nhơn mà đắc nhứt thì vĩnh kiếp trường tồn, diên niên bất hoại.

Ðắc nhứt là gì? nghĩa là đặng một, tức là đặng cái pháp độc nhứt vô nhị, cái pháp huyền vi của Tiên, Phật, khẩu truyền tâm thọ, để cổi xác phi thăng, siêu phàm nhập Thánh.

Có câu:
Thiên đắc nhứt: Thanh. Ðịa đắc nhứt: Ninh. Nhơn đắc nhứt: Thành.

Trời đặng một, ấy là khinh thanh. Ðất đặng một, ấy là bền vững. Người đặng một, ấy là trường tồn.

 Chữ ÐẠO:

Viết chữ Ðạo  bắt đầu bằng 2 phết  tượng trưng Âm Dương, gạch dưới một gạch  là chữ Nhứt tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa CKVT. Kế bên dưới là chữ Tự  nghĩa là chính mình, tự tri tự giác, tự giải thoát, chớ không ai làm giùm cho mình được.

Trên và dưới ráp lại thành chữ Thủ  nghĩa là đứng đầu, là trên hết, là nguồn gốc của CKVT và vạn vật.

Bên hông có bộ xước tức là chữ Tẩu  nghĩa là chạy, tức là vận chuyển biến hóa.

Vậy trong chữ Ðạo có hàm ý Âm Dương, động tịnh, động thì sanh hóa, tịnh thì vô hình vô ảnh.

Và chúng ta cũng thấy rằng, nhứt Âm nhứt Dương chi vị Ðạo. Âm Dương ấy chính là Lưỡng Nghi do Thái Cực hóa thành. Khi Âm Dương hiệp nhứt tức là trở về Thái Cực, vô hình vô ảnh. Nho gia Chu Liêm Khê nói rằng: Vô Cực nhi Thái Cực, nghĩa là: Vô Cực mà Thái Cực vì Thái Cực ở trong Vô Cực mà ra. Vô Cực chính là Ðạo.

Kinh Dịch cũng viết rằng: Nhứt hạp nhứt tịch vị chi biến hóa, vãng lai bất cùng vị chi Ðạo. Một đóng một mở gọi là biến hóa, qua lại không cùng gọi là Ðạo.

Một đóng một mở, đó là máy huyền vi, là nơi xuất sanh nhập tử của muôn loài sanh vật, ấy là Ðạo. Ðạo mầu nhiệm, sâu kín, cao siêu. Trước khi chưa có Trời Ðất thì đã có Ðạo. Ðạo là Hư Vô chi Khí. Ðạo tạo dựng CKVT, hóa sanh vạn vật. Muôn loài vạn vật phải thọ bẩm Khí Hư Vô mà sanh hóa mãi.

Thí dụ 2: Giải thích chữ Âm Dương bằng chiết tự.

 Chữ DƯƠNG  gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ  là núi đất, bên phải có chữ Nhựt  là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống.

Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa.

 Chữ ÂM  bên trái có bộ Phụ  là núi đất, bên phải, phía trên là chữ Kim  có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân , ý nói bị che khuất nên tối tăm.

Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất.

Phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển.

Do đó, chữ Âm Dương, nghĩa khởi đầu của nó là Tối Sáng, suy thành các nghĩa khác là hai cái tương phản nhau mà có cùng nguồn gốc như: lạnh nóng, đêm ngày, nữ nam, ác thiện, xấu tốt, đục trong, vv... Và hai Khí do Thái Cực biến hóa sanh ra cũng được gọi là hai Khí Âm Dương vì hai Khí nầy có đặc tính trái ngược nhau mà không tương hại.

Vĩnh Bảo sưu tầm 2/8/2012