Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

AN TOÀN KHI ĐITẮM BIỂN





9 Tam bien AAN TOÀN KHI ĐITẮM BIỂN 



Moa đã từng kinh nghiệm tắm biển, thoát chết vài lần do may mắn. Moa thấy tài liệu nầy đúng với những kinh nghiệm mình trãi. Tài liệu nầy còn có cái hay ở phần trắc nghiệm : very practical !
Nó đúng với những bãi biễn dài như bãi sau; còn những bãi biễn ngắn như bãi dứa thì dòng chảy vô là trên mặt biễn, trên các con sóng bạc đầu; dòng chảy ra nằm ngầm dưới đáy biễn. Người không biết bơi, đứng chân chạm đáy biễn, sau mỗi lần sóng đánh vô là sẽ có đợt kéo ra rất mạnh. Nếu hoảng sợ cố bơi vào lúc đó thì thua. Phải đợi đúng con sóng bạc đầu sau, lướt vào giống như chơi surfing vậy. Tất nhiên không phải dể, phải có thói quen.
oOo
Khi đi biển có những mối hiểm họa gây chết người. Điều quan trọng đầu tiên là chúng ta nên tắm biền ở những bãi tắm có lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp và tắm trong những khu vực được báo hiệu an toàn. Ngoài ra, trước khi cho con em mình xuống biển, chúng ta cần quan sát bãi biển để tìm dòng chảy xa bờ (rip current) cũng như ước lượng độ dốc và độ sâu của bãi biển.
9 Tam bien 1Dòng chảy xa bờ : Dòng chảy xa bờ là danh từ tôi tạm dịch từ “rip” hay “rip current”. Đây là một dòng nước mạnh chảy từ bờ hướng ra biển. Chúng ta biết là sóng sẽ đánh và đưa nước biển vào bờ, nhưng khi nước biển được liên tục đưa vào bờ thì chúng tập hợp lại thành một dòng đi ngược ra biển. Dòng nước biển đi từ bờ ra biển này được gọi là rip (hay rip current). (Ghi chú : tôi rất cám ơn nếu có anh chị nào cho biết danh từ chính xác hơn để dịch từ rip current).
Hình 1 cho chúng ta thấy một dòng chảy xa bờ. Trong thí nghiệm này, người ta rắc chất màu sát bờ biển. Người ta quan sát thấy chất màu bị kéo ra xa bờ, chứng tỏ nơi đó dòng nước đi ngược từ bờ ra biển. Chúng ta cũng thấy nơi dòng nước đi từ bờ ra biển là vùng nước lặng, hầu như không có sóng.
Dòng nước ngược này có thể ổn định không thay đổi trong suốt cả tháng hoặc cả năm, tuy nhiên chúng cũng có thể liên tục thay đổi mỗi vài giờ. Ở một số bãi biển, dòng nước ngược này không đi hướng ta biển mà chạy dọc theo bờ biển.
9 Tam bien BVì sao chúng ta phải nhận ra dòng chảy xa bờ trước khi xuống biển ? Vì chúng rất nguy hiểm.
Tại sao dòng chảy xa bờ nguy hiểm ?
Dòng chảy xa bờ (rip current) được xem là một trong những nguy hiểm hàng đầu trên bờ biển. Nó cũng là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp cứu nạn và chết đuối khi tắm biển. Dòng chảy xa bờ được ví như một dòng sông nhỏ sẽ cuốn tất cả những gì rơi vào nó ra khỏi bờ và đưa thẳng ra biển. Vận tốc trung bình dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m/giây đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic ! Dòng chảy xa bờ thường hẹp, có chiều ngang khoảng từ 1-3 mét. Tuy nhiên, có khi dòng chảy xa bờ rộng đến cả chục mét.
Dòng chảy xa bờ có thể cực kỳ nguy hiểm vì nó kéo người biết bơi ra xa bờ làm cho người biết bơi kiệt sức hoảng loạn rồi chết đuối do kiệt sức khi cố bơi ngược dòng chảy xa bờ.
Đối với người không biết bơi, dòng chảy xa bờ có thể kéo người đó ra chỗ sâu hơn dù người đó đang đứng ở mực nước ngang hông. Khi đó người không biết bơi sẽ hoảng loạn và có thể chết đuối.
Mặt nước nơi có dòng chảy xa bờ thường lặng, ít sóng nên thường làm cho người ta hiểu lầm đó là nơi an toàn. Người ta sẽ di chuyển sang tắm nơi đó thay vì tắm nơi có biển báo an toàn. Khi người tắm biển bơi vào dòng chảy xa bờ đó, ngay lập tức họ sẽ có thể bị cuốn trôi ra biển. Do đó, khi tắm biển, chúng ta cần nhớ rằng vùng nước lặng không có nghĩa là vùng nước an toàn.
9 Tam bien 2Trong hình 2, nơi có sóng bạc đầu là nơi dòng nước đi từ biển vào gần bờ. Nếu chúng ta tắm biển nơi có sóng bạc đầu (breaking waves) thì chúng ta sẽ được sóng đánh đưa vào bờ. Tuy nhiên nếu chúng ta di chuyển vào tắm chỗ lặng sóng (giữa hai mũi tên) là chúng ta rơi vào dòng chảy xa bờ. Dòng sông nhỏ này sẽ lập tức kéo phăng chúng ta ra xa khỏi bờ và đưa thẳng chúng ta ra biển. Như vậy, vùng có sóng không phải là vùng nguy hiểm mà vùng lặng sóng mới chính là vùng nguy hiểm.
Một ví dụ khác như hình 3. Vùng không có sóng bạc đầu chính là dòng chảy xa bờ. Vùng này rất nguy hiểm dù chúng lặng sóng. Khi chúng ta đi vào vùng này, chúng ta có thể bị bị dòng chảy xa bờ cuốn trôi ra biển.
Làm thế nào để nhận ra dòng chảy xa bờ ?
Trước khi xuống biển, bạn nên dành khoảng 5-10 phút để nhận dạng dòng chảy xa bờ trên bờ biển mà bạn sắp xuống tắm.
Bạn có thể nhận ra dòng chảy xa bờ nhờ những đặc điểm sau đây :
1/- Dòng chảy xa bờ có màu sậm hơn vì nơi đó nước sâu hơn.
2/- Dòng chảy xa bờ có mặt nước lặng hơn, thường có sóng nhỏ hơn
3/- Đôi khi chúng ta có thể thấy các mảnh vỡ hay bọt nước nổi trên mặt dòng chảy xa bờ và trôi ra biển
9 Tam bien 3Cách thoát ra khỏi dòng chảy xa bờ
Các khảo sát cho thấy dòng chảy xa bờ không kéo người ta xuống nước. Dòng chảy xa bờ chỉ kéo người bơi ra xa bờ và thường sẽ đưa người bơi vào vùng có sóng bạc đầu (breaking waves) và sóng sẽ đưa người đó lại vào bờ. Tuy nhiên người ta thường chết đuối khi rơi vào dòng chảy xa bờ vì bản năng tự nhiên khiến người biết bơi hay bơi ngược dòng chảy xa bờ để vào bờ khiến người đó mau chóng kiệt sức rồi chết đuối. Bên cạnh đó, sự hoảng loạn khiến người bơi không còn khả năng phán đoán chính xác.
Dòng chảy xa bờ có thể gây nguy hiểm bất cứ lúc nào, không phải chỉ khi có sóng lớn. Khi sóng to thì vận tốc dòng chảy xa bờ cũng nhanh hơn gây nguy hiểm hơn cho người bơi. Tuy nhiên, khi đó thường ít có người xuống biển tắm vì e ngại sóng to. Vào những ngày sóng không lớn, trái lại, người ta thường chết đuối nhiều hơn vì có nhiều người xuống biển tắm. Khi thấy sóng không quá to người ta thường chủ quan và không quan tâm đến dòng chảy xa bờ.
Điều quan trọng khi bị rơi vào dòng chảy ra bờ là tuyệt đối không được cố bơi ngược dòng chảy xa bờ để vào bờ. Lời khuyên của chuyên gia khi chúng ta bị rơi vào dòng chảy xa bờ :
9 Tam bien 41/- Bình tĩnh. Không hoảng loạn
2/- Không cố bơi ngược dòng chảy xa bờ
3/- Đối với người bơi giỏi : nếu bạn tự tin, hãy bơi song song với bờ biển, thường sẽ hướng đến chỗ vùng có sóng bạc đầu và nhờ sóng đưa bạn trở lại vào bờ
4/- Đối với người bơi yếu : bất cứ khi nào bạn thấy không thể chạm bờ biển hoặc thấy đuối sức, hãy giơ tay lên ra hiệu, bình tĩnh, thả nổi để giữ sức và gọi trợ giúp.
5/- Nếu dòng chảy xa bờ yếu đi, cố gắng bơi song song với bờ biển để đến chỗ có sóng bạc đầu nhờ sóng đưa bạn vào bờ.
9 Tam bien 5Một lần nữa, bất cứ khi nào bạn thấy không thể chạm bờ biển hoặc thấy đuối sức, hãy giơ tay lên ra hiệu, bình tĩnh, thả nổi để giữ sức và gọi trợ giúp. Để giảm nguy cơ rơi vào dòng chảy xa bờ, bạn cần phải có những hiểu biết về chúng, biết cách nhận dạng và không nên bơi trong hoặc gần dòng chảy xa bờ.
Bạn nên tắm biển ở những bờ biển có lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp và bơi ở vùng an toàn (ở Úc là vùng giữa cờ đỏ và cờ vàng). Bạn cần quan sát các chỉ báo an toàn và nếu cần thì nên trao đổi với nhân viên cứu hộ để biết đặc điểm bờ biển mà bạn sắp xuống tắm. Ngoài ra bạn cũng cần biết bơi và không nên bơi một mình. Nếu bạn không chắc thì không nên xuống biển tắm.
(Bài này copy từ bài dịch của BS Linh và BS Vũ (BVCR)… Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn trong những dịp đi biển)
Phan Tất Đại post (NK56/ Vũng Tàu)
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/5/2013

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNGVÀ BỆNH GÚT


BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ

BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNGVÀ BỆNH GÚT



Bài thuốc nam điều trị được 2 bệnh đái tháo đường và bệnh gút (thống phong) cùng lúc gồm có 3 thứ : lá sa kê vàng tự rụng, lá ổi non, trái đậu bắp.
1/. Sa kê : Còn có tên gọi là cây bánh mì, tên khoa học: Artocarpus incisa L, thuộc họ dâu tằm Moraceae. Cây thân gỗ cao 10 – 12m, có thể cao tới 15 – 20m; tán lá rất đẹp; phiến lá to, dài 30 – 50 cm, rộng 10 – 12 cm, chia thùy lông chim nhưng cũng có những lá nguyên hoặc chỉ chia thùy ít nhiều màu xanh lục, thẫm bóng. Cụm hoa đực có hình chùy và chỉ có 1 nhụy, cũng có khi hoa đực tụ họp trông như đuôi con sóc dài 20 cm. Cụm hoa cái hình cầu, có khi hình ống.
Quả sa kê rất to, giống như quả mít tố nữ, gần như tròn hoặc như hình trứng, có đường kính 10 – 20 cm, vỏ màu xanh lục nhạt hay vàng nhạt, thịt quả rất nạc, trắng và chứa nhiều bột. 6 Sa keQuả sa kê mọc thành từng chùm vài ba quả không có hạt, nhưng cũng có những quả có hạt chìm trong thịt quả.
Cây sa kê chịu đất khô ẩm, các tỉnh phía Nam nước ta trồng nhiều sa kê vừa thu quả để ăn, vừa là cây cảnh đẹp che mát trong vườn. Quả sa kê được chế biến ra nhiều món ăn ngon. Thường thái mỏng từng lát nhỏ rán với mỡ, bơ ăn ngon như ăn bánh mì rán thơm ngon, còn dùng hầm nấu cà ri. Xay thành bột chế biến nhiều món ăn thường ngày, làm thành pho mát, bánh ngọt, nấu với tôm, cá trộn, nấu với gạo có giá trị dinh dưỡng cao. Thành phần hóa học: sa kê có 2 – 6% nước; 3,2% muối; 0,2 – 1,17% lipit; 1,1 – 4,09% profit; 64 – 85% tinh bột, đường, dextrin; 2 – 3% độ tro. Theo Tài liệu cây thuốc Việt Nam, thì ăn sa kê có tác dụng bồi dưỡng cơ thể.
2/. Ổi : còn có tên ủi, phan thạch lưu, guajava; tên khoa học: Psidum guyjava L (P.pomiferum L.Psidium Pyriferum L); họ sim Myrtaceae. Trồng ổi chọn đất khô, cát sỏi, đồi nứt; ổi mọc hoang ở đồi núi, nhân dân trồng ổi để ăn, bán và làm thuốc. Ổi có tác dụng tốt trong làm thuốc, như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân cây. Nhưng thường dùng nhất là búp non và lá non. 6 Trai oiCó thể dùng tươi hoặc phơi khô. Thành phần hóa học:
Ổi có Pecftin và vitamin C tùy từng loại ổi. Trong lá và búp non 10%: Taninpyrogalic, axit Psiditanic, chừng 3% nhựa và rất ít tinh dầu (0,36%). Trong thân và lá có Tritecpeinic. Trong hạt có 14% dầu, mùi thơm, 15% Protein và 13% tinh bột; ổi còn xanh, chát, điều trị rất tốt tiêu lỏng; ổi chín có tác dụng nhuận trường. Từ xa xưa trong dân gian thường dùng lá ổi non, búp ổi non chữa đau bụng, tiêu lỏng rất tốt; liều lượng 15 – 20g búp ổi, rễ ổi non phối hợp với một ít chè xanh và gừng sắc uống. Rễ vỏ thân cây còn dùng rửa vết thương, vết loét…; sắc uống 15g rễ và vỏ thân cây sắc 200 ml nước còn 100 ml uống.
3/. Đậu bắp : Trái đậu bắp thường dùng nấu canh chua với cá, canh chua ngọt, luộc đậu bắp thay rau muống, rau cải ăn rất ngon (chưa có tư liệu nói về đậu bắp).
6 Dau bapBa thứ thuốc nam kể trên điều trị bệnh đái tháo đường và bệnh gút (thống phong) mang lại kết quả tốt. Qua theo dõi điều trị, bệnh nhân Hoàng Thanh L., 53 tuổi, quê TP Quy Nhơn (Bình Định) bị bệnh gút mãn tính; củ gút đã lồi, to, u, cục gồ ghề, ở các ngón bàn tay, chân, khuỷu…;  lại có thêm đái tháo đường rất nặng, đường trong máu 18mmnol/L (bình thường 3,9 – 6,1mmol/L hoặc 70 – 110mg/100ml); đã điều trị nhiều thứ thuốc nhưng không giảm bệnh. Bệnh nhân đã uống kết hợp 3 thứ: sa kê, búp ổi và đậu bắp, theo công thức : đậu bắp 100g, búp ổi non 20g, sa kê 100g (theo kinh nghiệm dân gian phải là lá sa kê úa vàng tự rụng mới tốt, không dùng lá tươi), 3 thứ sắc uống liên tục. Nay đường máu trở về dưới bình thường, bệnh gút cũng đã giảm nhiều. (Bài thuốc nam này do giáo sư Mai Thế Trạch, Bệnh viện Y – Dược TP.Saigon hướng dẫn cho bệnh nhân L. điều trị). (theo Bác sĩ Trang Xuân Chi)
Yên Huỳnh post
Vinh Bảo sưu tầm 11/5/2013

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

CÂN BẰNGLƯỢNG ĐƯỜNGTRONG MÁU





5 Luong duong 1CÂN BẰNGLƯỢNG ĐƯỜNGTRONG MÁU



Cho dù bạn đã mắc bệnh tiểu đường, bị thừa cân hoặc muốn ngừa một số rắc rối về sức khỏe trong tương lai, hãy thực hiện theo một số gợi ý sau từ các chuyên gia Canada, qua đó giúp bạn duy trì lượng đường, insulin trong máu khỏe mạnh.
1/- Uống sữa : Uống ít nhất 2 ly sữa không béo mỗi ngày (1 ly chứa 250 ml). Một cuộc khảo sát trên 3.000 người cho thấy, những ai thừa cân nhưng ăn nhiều các chế phẩm từ sữa giảm được 70% nguy cơ bị kháng insulin so với những người không uống sữa. Đó là nhờ lactose, protein, chất béo có trong các chế phẩm từ sữa giúp cải thiện lượng đường trong máu.
5 Luong duong 22/- Bổ sung chất xơ : Mua bánh mì với một khẩu phần gồm ít nhất 3g chất xơ và 3g protein. Loại carbohydrate phức hợp này giúp làm chậm quá trình hấp thụ glucose cũng như giảm khả năng kháng insulin. Ngoài ra, bổ sung chất xơ và protein giúp bao tử no lâu hơn.
3/- Rau xanh : Bạn nên ăn thêm cải bó xôi vào buổi tối. Cải bó xôi có hàm lượng ma-giê cao. Theo cuộc nghiên cứu mới đây, cải bó xôi có thể giúp ngừa phát bệnh tiểu đường típ 2. Một cuộc khảo sát ở phụ nữ cho thấy, hàm lượng cao ma-giê (còn có trong cá, quả bơ và rau xanh rậm lá) giảm 10-20% nguy cơ bị tiểu đường.
4/- Ăn quế : Các nhà nghiên cứu tại Pakistan (nơi thường ăn nhiều quế) đã yêu cầu các tình nguyện viên bị tiểu đường típ 2 dùng 1g, 3g hoặc 6g quế hoặc giả dược trong 40 ngày. 5 Luong duong 3Kết quả là những ai dùng một lượng quế đáng kể, hàm lượng glucose trong máu giảm từ 18-29% tùy lượng quế họ dùng.
5/- Giảm chất béo : Bạn nên giảm ăn lượng chất béo đã bão hòa. Vì theo các nhà khoa học Mỹ, vốn đã khảo sát ở 3.000 người, những ai có hàm lượng chất béo bão hòa cao nhất trong máu, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tăng gấp đôi.
6/- Luôn vận động : Bạn chịu khó đi bộ khoảng 2 km mỗi ngày. Một cuộc khảo sát lớn tại Mỹ cho kết quả, đi bộ thường xuyên giúp giảm khoảng 30% nguy cơ tử vong vì bệnh tiểu đường. Nguyên do là đi bộ nhiều giúp tế bào trong cơ thể dễ tiếp nhận insulin, qua đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn. Đi bộ cũng giúp cải thiện hàm lượng cholesterol tốt HDL trong máu.
Yên Huỳnh post (theo Nhất Linh)
Vĩnh Bảo sưu tầm 10/5/2013

GIỖ NGHỆ NHÂN SONG HỶ 30-3 âm lịch

 
Cụ Hỷ năm 1985

Hôm nay 30 tháng Ba năm Quý Tỵ là ngày giỗ cụ nghệ nhân SONG HỶ, xin gửi vài hình ảnh về Cụ để tưởng nhớ con người tài hoa nổi tiếng của đất Ba Đình - Hà Nội và của quê hương Nam Phong - Phú Xuyên - Hà Đông cũ. 








BÁCH KHOA THƯ HÀ NỘI
TẬP 6: KHOA HOC và CÔNG NGHỆ
-----------------------
MỤC LỤC

Phần IV: Hoạt động khoa học công nghệ của Thủ đô từ sau cách mạng Tháng tám đến nay.

Chương VI: Khoa học công nghệ trong các lĩnh vực công nghiệp khác.

Phần V: Một số nhà khoa học tự nhiên và công nghệ một số Tổ và Nghệ nhân làng nghề tiêu biểu của thủ đô Hà Nội.


(Vĩnh Thuận - Ngọc Hà - 9/5/2013)

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

TẬP THỞ ĐỂ TỰ TRỊ BỆNH


TẬP THỞ ĐỂ TỰ TRỊ BỆNH

KHÍ CÔNG VÀ BỆNH UNG THƯ

Khoảng 10 năm trước đây, một bài báo trên Nhật Báo Việt Báo tại California đã làm nhiều người vui mừng. Cụ ông gần 80 tuổi đã mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, và bệnh viện đã cho về nhà vì các tế bào ung thư đã lan khắp cơ thể. Bác sĩ điều trị đã báo cho gia đình hay là sự sống của cụ không kéo dài quá 6 tháng. Đang trong lúc cụ rất buồn, và tuyệt vọng, thì có một người quen mách cho cụ đến tập khí công và Thiền tại một địa điểm gần nhà. Vì không còn hy vọng vào thuốc men, và cũng vì chẳng có chọn lựa nào khác, cụ đã đi tập tại lớp vài lần, rồi áp dụng các phương pháp Thở Khí Công đó tại nhà vào mỗi buổi sáng.
Sau vài tuần tập liên tục, cụ thấy tinh thần phấn chấn hơn trước. Do đó, cụ đã dồn hết ý chí vào việc tập Thở, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 tiếng đồng hồ. Kết quả thật lạ lung : sức khỏe cụ đã trở lại hồi nào không rõ, và không thấy căn bệnh nguy hiểm kia phát triển. Một năm sau, cụ trở lại khám bệnh và điều bất ngờ đã xẩy ra :9 Khi cong 1 Bác Sĩ điều trị cho biết các tế bào ung thư đã bị co cụm, và chỉ qua vài lần xạ trị nữa, là căn bệnh đã hoàn toàn biến mất. Khi cụ viết bài này đăng báo, thì cụ đã sống khỏe được hơn 5 năm, sau ngày mà Bác Sĩ thông báo là cụ không thọ được quá 6 tháng.
Tại một lớp huấn luyện Dưỡng Sinh tại khu Mobile Home gần Bolsa, thành phố Westminster, trong các cuộc họp mặt Tân Niên, quan khách đều thấy một phụ nữ cao niên trông thật nhanh nhẹn, đến tiếp đón. Trong chương trình văn nghệ và trò chuyện, với giọng nói trong trẻo, bà đã kể lại chuyện đời mình. Cũng như cụ ông kể trên, bà đã bị ung thư giai đoạn cuối và cũng được thông báo là bà sẽ không sống trên 6 tháng.Nhưng như người sắp bị chìm tầu cố tìm quanh một miếng ván để cứu mạng, bà đã dò hỏi khắp nơi và khi biết có lớp Dưỡng Sinh do một võ sư trẻ huấn luyện tại Bolsa, bà đã nhờ con cháu lái xe đưa bà từ Los Angeles xuống và ghi tên học cuối tuần rồi về nhà cố tập lại những thế mà “Thầy” đã dậy. Chỉ trong một thời gian vài tháng, bà đã thấy sức khỏe hồi phục như trước khi mắc bệnh. Do đó, bà đã di chuyển xuống định cư gần lớp học để có cơ hội tập luyện nhiều hơn. Rồi thời gian qua nhanh, đã mấy năm rồi, bà vẫn trẻ trung và khỏe mạnh, Tinh tamRất bất ngờ, bà đã lột chiếc mũ vải đội trên đầu và khoe mái tóc bà nửa phần trắng nửa phần đen. Bà cho biết khi bà còn mắc bệnh ung thư, tóc bà đã bạc trắng toàn bộ, nhưng sau vài năm chăm chỉ tập luyện, tóc bà đã dần dần đổi màu đen trở lại.
Một người bạn của ông anh cả người viết bài này, bị ung thư gan. Trong thời gian điều trị bằng Chemo, anh rất đau đớn, không đi đứng được. Anh cho biết vì đau quá, nên anh đã từ chối không cho làm Chemo nữa vì mỗi lần làm Chemo, anh có cảm giác như có người dùng súng bắn thẳng vào đầu, vào tim.. chịu không nổi. Người viết đã chỉ anh cách tập Thở theo Thiền, khi nằm, cũng như khi đi và ngồi. Anh đã chịu khó tập theo vài lần. Sau vài tuần lễ, gặp lại, anh đã cười rất vui và cho hay là vì tập thở đều đặn, anh không còn cảm giác đau đớn như trước nữa, và đã chấp nhận cho tiếp tục điều trị bằng Chemo. Khi vừa chớm đau, anh lập tức nhắm mắt và thở Thiền, thì mọi chuyện qua nhanh, thanh thản. Sau đó môt thời gian, anh đã trở lại phòng tập Spa, và tập luyện bình thường như không có chuyện gì xẩy ra.
Đó là những chuyện khó tin nhưng có thật. Người ta không tin vì chưa tìm ra các phương pháp khoa học để chứng minh sự liên hệ giữa việc khỏi căn bệnh giết người này và sự hít thở. Chúng ta, ai cũng biết rằng, cơ thể con người được cấu tạo bằng các tế bào, mà tế bào sống được là nhờ khí Oxy (O2).Theo một vị Tiến Sĩ về dinh dưỡng, một khi cơ thể thiếu Oxy, thì các tế bào hoạt động giới hạn cho nên khi vi khuẩn hay vi trùng xâm nhập vào, 9 Khi cong 3các tế bào không đủ sức kháng cự và từ đó, con người mắc bệnh.
Nếu có thể tiếp trợ thêm Oxy vào cho tế bào, bằng cách hít vào và ép hơi để cho Oxygien được giữ lại trong cơ thể, thì cơ thể lại được tăng cường khả năng kháng cự và đẩy vi khuẩn hay vi trùng ra ngoài. Đó cũng là lý do tại sao với vài căn bệnh, bệnh nhân phải mang máy trợ khí Oxy suốt ngày. Nếu bệnh nhân không thở bằng máy trợ khí khi ngủ thì có thể sẽ không tỉnh lại vào sáng hôm sau nữa.
Vì thế, với kinh nghiệm nhiều năm hướng dẫn Khí công, Tài Chi, và Thiền, người viết xin gộp lại các thế tập Thiền, Khí Công thành một phương pháp gọn và dễ hiểu, dễ tập cho những ai không có cơ hội đến lớp. Có 4 loại Thở : Thở đứng, thở đi, thở ngồi, và thở nằm.
1/- Thở đứng  Có 4 thế :
Thế thượng: Đứng thoải mái, hai chân thẳng, hít vào, hai tay từ từ đưa ra hai bên, vòng lên tới đỉnh đầu thì chắp hai bàn tay lại, nín hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra, từ từ hạ tay xuống. Làm tối thiểu 20 lần.
Thế xoay lưng: Đứng thoải mái, hai tay buông thỏng, hít vào, từ từ “quăng” tay sang bên trái đến hết cỡ thì thở ra, “quăng” hai tay về bên phải, rồi trở lại bên trái, hít vào. Khi “quăng” sang bên nào thì “nhấc” ngón chân bên đó lên để cho đà “quăng” được dài thêm…(“Quăng” có nghĩa là để tay văng tự do theo sự xoay của lưng, không “đưa” tay cứng ngắc như que củi sang bên. Thế này không có nén hơi, để cơ thể xoay liên tục, nhẹ nhàng, xoay bắp thịt lưng tối đa, hết bên này thì chuyển sang bên kia, mỗi lần “quăng” thì thở ra hay hít vào). Làm tối thiểu 20 lần.
9 Khi cong 4- Thế nghiêng: Để hai tay lên cao “hết cỡ” trên đầu, hai bàn tay chạm nhau, nhưng lòng bàn tay lại ngửa lên trời (hướng về trần nhà). Từ từ nghiêng về bên trái, mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước, hít vào, khi không còn nghiêng được nữa, thì thở ra và từ từ trở lại bên phải. Tiếp tục 20 lần. (Hai tay phải thẳng hết cỡ, không được rùn lại, để cho bắp thịt lưng căng ra.)
- “Văng” hai bàn tay: Hai tay để ngang trước mặt, giữ yên cổ tay, để hai bàn tay “văng” cùng một nhịp, ra trước, ra sau và hai bên, trong khi hít vào và thở ra thật chậm. Thế này kích thích máu lưu thông ở cổ tay và cánh tay. Đếm theo nhịp thở, tối thiểu 20 lần.
2/- Thở đi: Đứng thẳng, hai tay buông thõng. Hít vào, từ từ nhấc chân trái lên cao rồi đặt nhẹ chân xuống, nhưng không đặt cả bàn chân cùng lúc, mà chỉ đặt ngón chân xuống trước rồi mới đặt gót chân xuống sau, và đặt bàn chân chéo, hướng về phía trái. Thở ra và giữ nguyên bộ dạng. Khi thở ra hết rồi, thì từ từ nhấc chân phải lên, đặt xuống bên phải, cũng đặt ngón trước, gót sau, và hướng chéo về phía phải. 9 Khi cong 5Tiếp tục hít vào và nhấc chân trái lên.. Đi vòng hết chung quanh nhà. Thế này, thật ra cũng là một biến thế của phương pháp Hành Thiền.
3/- Thở ngồi: Phương pháp này cũng là Tọa Thiền, rất đơn giản và dễ dàng. Ngồi đâu cũng được, trên ghế, trên giường, ngồi dưới đất, chỉ với điều kiện lưng phải thẳng góc với mông, không cong người về phía trước, vì sẽ gây đau lưng. Nhắm mắt, (vẫn nhìn thẳng về phía trước),tập trung tư tưởng, hít vào tới đan điền thì nén hơi, đếm 1,2,3 rồi thở ra. Cố làm chậm chừng nào hay chừng ấy. Tối thiểu 50 lần.
4/- Thở nằm: Nằm thẳng, hai tay xuôi theo thân mình, gối đầu cao vừa phải. Nhắm mắt, tập trung tư tưởng, hít vào, nén hơi, và thở ra như thế thở ngồi. Thường thì người thực hiện chỉ làm được chừng 20 lần thì đã ngủ say rồi.
Thật ra, cho đến ngày nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng Hít Thở phối hợp với chuyển động nhẹ nhàng mà lại chữa được bệnh, nhất là bệnh nặng. 9 Khi cong 2Nhưng với kinh nghiệm của hàng tỷ người trên khắp thế giới đang tập Tài Chi, Thái Cực Quyền, Khí Công, Yoga mỗi buổi sáng, chắc chắn phương pháp Hít Thở này có công dụng lạ lùng.
Trong một số Health Magazine của Mỹ, cũng có nhiều bài viết về các tập thở này. (Người Mỹ tập Tài Chi lại mặc đồng phục rất đẹp). Riêng với người viết, qua bao lần đau nặng tưởng không qua khỏi, đã nhờ Hít Thở mà khỏe mạnh đến bây giờ, thiết tưởng là việc phổ biến cách Hít Thở này đến với mọi người là việc cần làm. Mong được chia xẻ và hy vọng giúp được những ai đang trong tình trạng gần như tuyệt vọng. “Còn nước, còn tát”. Biết đâu, chỉ với phương pháp đơn giản “sử dụng sản vật của thiên nhiên để điều trị con người” này lại cứu được nhiều sự sống đang muốn tắt.
Mai Trung Tín post (theo Chu Tất Tiến)
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/5/2013

CÁI PHẸC-MƠ-TUYA


CÁI PHẸC-MƠ-TUYA

- Trần Văn Giang
Nội cái tựa đề cũng là nhiều quý vị phải nhăn mặt ?! Chuyện nhảm ? Bộ hết chuyện nói rồi sao mà cha này rớ vô cái vật tầm thường, vô duyên lảng xẹc này ?
Tôi lại không nghĩ như vậy. Chúng ta thường có thói quen không để ý đến những cái tầm thường, những cái nhỏ bé mà chính chúng ta cần phải dùng mỗi ngày vài lần; chẳng hạn như : Đôi đũa, giấy vệ sinh, cái phẹc-mơ-tuya… Cho đến khi chúng ta cần mà không có nó trong tầm tay. Khi đó mới trắng mắt ra.
Trước tiên, xin nói vài dòng qua loa về giấy vệ sinh. Sáng nay sau khi ăn một tô bún ốc với mắm tôm, bụng cứ kêu rào rào phát ra âm thanh rung rợn như như quân Pháp bắn súng mút-cà-tông vào thành Hà Nội… Quýnh quáng, chạy vội vào một cái phòng tắm của một tiệm ăn nhanh bên đường. Sau khi thi hành phận sự công dân xong mới phát giác ra là cuộn giấy vệ sinh trong cái hộp gắn trên tường chỉ còn trơ cái lõi “carton” (Má ơi ! No paper ?)… không cần nói dài dòng cũng biết là quân ta phải chịu trận (suffered) như thế nào. Đó là vấn đề của ngày hôm nay, thế kỷ 21. Nhìn lại lịch sử thì Giấy mặc dù được Trung Hoa phát minh từ năm 105 thời Đông Hán; nhưng giấy chỉ được mấy chú Ba dùng chút ít đại khái trong cung đình. 9 Phec mo tuya 1Chưa có ai biết cách để sản xuất quy mô với số lượng lớn cho đại chúng cùng sử dụng. Cho mãi đến thế kỷ thứ 7, giấy mới được Nhật Bản biết đến và cũng chỉ dùng rất giới hạn cho kinh điển Phật giáo.
Vào thế kỷ thứ 8 thì giấy truyền đến Trung đông (Middle East). Thế kỷ thứ 10, văn minh Tây phương mới biết là trên quả đất này có người đã phát minh một thứ khác rất to tát, quan trong cho nhân loại chỉ sau cái phát minh ra Bánh xe; Đó là giấy. Phải đợi đến thế kỷ 13 giấy mới được dùng rộng rãi ở Âu châu (trên văn kiện, sách báo và giấy vệ sinh…)
Nói dài dòng văn tự như vậy để thấy giấy vệ sinh không hề bao giờ, và không thể coi là chuyện nhỏ… Chẳng hạn, các chiến sĩ anh hùng của “Huyện Giao chỉ” ta theo Hai bà Trưng đánh quân Mã viện, thì sau bữa ăn phải dùng lá cây khô (?) Chứ moi đâu ra giấy cuộn lúc bấy giờ ? Dân quân ta vẫn tiếp tục hàng ngày dùng lá cây dài dài cho đến khi Tây đến đánh thành Hà Nội ở thế kỷ 19…
Trở lại cái phẹc-mơ-tuya (trước khi bị lạc đề !) Nó không có cái lịch sử huy hoàng tráng lệ xuất phát từ cung đình, hoàng gia như giấy; nhưng nó cũng có lịch sử đoàng hoàng. Điểm đặc biệt là nó chỉ mới có mặt trên hành tinh này trong vòng 100 năm nay thôi ạ. Có lẽ đã có nhiều nhà bác học đã nghĩ ra nó từ năm Ất Dậu nào đó; nhưng chỉ có Ông Whitcom Judson, một kỹ sư cơ khí ở Chicago, cầu chứng lấy bằng sáng chế (“Patent”) cái phẹc-mơ-tuya ngày 29/8/1893.
9 Phec mo tuya 3Lúc đầu, trong văn bản tài liệu nộp cho tòa sáng chế để lấy “Patent” ông gọi tên nó một cách rất tượng hình là “Fastener” (vật dùng để cột). Phẹc-mơ-tuya gồm có hai hàng móc, dài ngắn tùy ý, khóa lại với nhau (và mở rời nhau ra) bằng một cái khóa trượt theo chiều dọc của hai hàng khóa này. Mục đích sơ khởi của cái phẹc-mơ-tuya là dùng để cột, để đóng cái giầy “boot” lại, không cần dùng dây giầy…
Ông Judson đem cái sang chế phẹc-mơ-tuya ra trình diện ở Hội chợ Thế giới tại Chicago năm 1893. Với số người tham dự hội chợ khá đông đảo, có đến hàng triệu… vậy mà chẳng có ma nào thèm để ý cái “sáng chế thần kỳ” này (nên biết thêm ông Judson còn có khoảng trên 30 sáng chế khác tất cả đều được dùng trong kỹ nghệ xe hơi. Sau này con cháu ông lãnh hàng triệu dollards tiền royalties). Thử hỏi với số đông người đi thăm hội chợ như vậy, ông Judson đã bán được bao nhiêu cái phẹc-mơ-tuya ? Có bao nhiêu người mua ? Con số không biết nói dối. Ông Judson bán được vỏn vẹn 20 cái phẹc-mơ-tuya cho duy nhất một khách hàng: Một sở Bưu Điện địa phương ở Chicago mua để là làm khóa / đóng các bao chứa thơ. Sau đó không bao giờ thấy sở Bưu điện này mua thêm lần thứ hai ! Rõ ràng sở Bưu điện này cũng không bằng lòng về 20 cái phẹc-mơ-tuya quá mới mẻ này…
Trong 5 năm kế tiếp, ông Judson nhận thấy rằng không thề trông cậy vào cái sáng chế phẹc-mơ-tuya này để hốt đủ tiền và xin về hưu non. Ông Judson đành bỏ cái chuyện phẹc-mơ-tuya vào một xó; chú tâm vào các sáng chế khác cho kỹ nghệ Auto. Năm 1905, ông Judson có sáng kiến đưa cái phát minh phẹc-mơ-tuya vào kỹ nghệ sản xuất quần áo. Ông Judson mở một công ty sản xuất tên là “Universal Fastener” chuyên chế tạo loại phẹc-mơ-tuya dùng cho quần áo tên là “C-Curity Fastener.” Tên gọi là “security” mà phẩm chất chẳng có gì là “security” hết ráo trọi :9 Phec mo tuya 2 Phụ nữ mặc áo, quần có phẹc-mơ-tuya của hãng “Universal Fastener” mà cúi xuống một cái là nó bung ra cái “phẹc,” mở toang ra phơi trọn bộ hàng độc, đôi khi còn có thể làm hàng độc bị trúng gió nữa không chừng…
Đó là chưa kể phẹc-mơ-tuya bị rỉ sét khi sau vài lần đem giặt và mắc kẹt (“jammed”) vĩnh viễn ? Cũng nên biết, quần áo mới có dùng phẹc-mơ-tuya của Universal Fastener đem ra bán trên thị trường thời đó còn có kèm theo một cái “chỉ dẫn” (instruction) rất tượng hình là : “Nhớ là nhét chim vào chỗ an toàn trước khi đóng phẹc-mơ-tuya” (nguyên văn : “Make sure your private parts are NOT hanging out before pulling up.”
Chời đất ! Phẹc-mơ-tuya còn ảnh hưởng đến cả vấn đề truyền giống nữa ạ ! Xin xem phần “Kẹt phẹc-mơ-tuya” ở phía dưới).
Điểm đáng chú ý là không hề thấy hãng Universal Fastener có kèm thêm chỉ dẫn nào về “sự cố kéo phẹc-mơ-tuya xuống (pulling down !) Riêng cá nhân tôi, tôi thấy còn thiếu một cái “nhắc nhở” (reminder) quan trọng khác là : “Nhớ đừng quên đóng phẹc-mơ-tuya nghe cha nội” (“Remember to zip up;”) bởi vì người viết thường bị vợ con nhắc nhở hà rầm là : “Bố đóng cái fly lại.” Chẳng những vậy, tại sở làm, tôi thấy nhiều đồng nghiệp nam cũng như nữ cứ “vô tư” đi diễn hành vòng vòng trong sở mà vẫn để cửa sổ quần mở tang hoác, nhìn liếc thấy cả đủ các loại “cartoons” người lớn cũng như trẻ con. Hãi thật !
Dường như chuyện ngắn Phẹc-mơ-tuya sắp “phẹc-mê” (đóng / fermer) ở đây rồi…
9 Phec mo tuya 4Nhưng chuyện không phải đơn giản như vậy… bởi vì thực tế hôm nay, thế kỷ 21, chỗ nào cũng có Phẹc-mơ-tuya mới chết người : Quần áo, ví xách, bao, bị, bịch, giầy dép…. Câu chuyện diễn biến như thế này…
1906, công ty “Universal Fastener” mướn anh chàng Kỹ sư tài hoa gốc Đức sinh ở Thụy sĩ tên là Gideon Sundback vừa mới di cư đến Hoa kỳ vài năm trời. Vài Bác biết chuyện sẽ có théc méc là tại sao Gideon Sundback bỏ một cái “job” rất thơm tại một công ty lớn, vững vàng là Westinghouse để đến làm việc cho hãng Universial Fastener đang trên con đường xập tiệm ? Câu trả lời là Gideon chạy theo tiếng gọi của con tim (!) Anh chàng ta yêu mê mệt cô con gái của một kỹ sư thiết kế trưởng (Main Design Engineer) của hãng “Universial Fastener.” Hèn gì !!!
“Project” sáng chế đầu tiên của Gideon Sundback tại Universal Fastener có tên là “Plako” ra đời năm 1908. Gideon Sundback đã sửa chữa và làm cho hoàn hảo hơn (improved) cái mẫu “design model”cũ của Judson : Giải quyết ngay tức thì là vấn đề rỉ sét mà Judson đã gặp phải. Gideon Sundback đặt tên cho cái “design” mới là “Hookless #2 Fastener” (cái Phẹc-mơ-tuya nguyên thủy của Judson có “code name” tên là “Hookless Fatener !”) Đây là cái Zipper (công ty B.F. Goodrich gọi cái “fastener” là Zipper; và cái tên Zipper giữ cho đến bây giờ. Xin phép được gọi Phẹc-mơ-tuya là Zipper bắt đầu từ chỗ này trong bài viết) mà chúng ta thấy hôm nay, hay sáng hôm nay cho rõ hơn… Câu chuyên Zipper xem như đã tạm ổn ? Lại thêm một lần nữa, không phải như vậy
Vì sự bất tín nhiệm của khách hàng về cái zipper nguyên thủy (khách hàng vẫn còn nhớ những trở ngại mà họ đã gặp phải), và giá cả khá cao của cái zipper mới – Cho nên Zipper mới bán không chạy. Công ty Universal Fastener phải đổi tên là “Hookless Fastener Company” để xem phong thủy có hên hơn không !
9 Phec mo tuya 5Đến Đệ nhất Thế chiến, một nhà vẽ kiểu quần áo thời trang (Fashion dersigner) ở New York City tên là Robert J. Ewig vẽ ra cái Áo da Phi công (Airmen Waistcoat) và đặt tên là “Zip.” Áo có nhiều hàng zippers; từ đây số bán zippers mới bắt đầu khấm khá (có lẽ chữ Zipper bắt nguồn từ tên cái Áo da Phi công này mà ra !)… Sau thế chiến số Áo da Phi công này bán chậm hẳn lại.
Năm 1919, hãng thuốc lá Locktite sản xuất cái túi (pouch) đựng thuốc lá rời (thuốc lá dùng cho ống vố và thuốc vấn) có một cái zipper để đóng miệng túi lại. Không rõ vì lý do nào đó, cái túi đựng thuốc lá này bán chạy như tôm tươi. Bắt đầu vào giữa năm 1920, hãng Locktite sản xuất 200,000 túi đựng thuốc lá có zipper mỗi năm. Sau đó zipper mở rộng thị trường sang nhiều lãnh vực khác nhau… Nghĩa là sau 30 năm, zipper mới có được chỗ đứng mạnh mẽ trên thị trường như ngày hôm nay.
Năm 1921 có một thay đổi lớn. Một kỹ sư từ hãng cao su, vỏ xe hơi B.F. Goodrich tên là Frederick H. Martin sáng chế ra đôi giầy cao su tên là “Mystic Boot” có dùng cái “fastener” mà B.F. Goodrich goi là “Zipper” (Oái oăm ! Chữ “Zipper” được B.F. Goodrich cầu chứng tại tòa cho cái giầy “boot,” chứ không phải cho cái đồ để cột – fastener). Loại giầy “boot” này bán rất chạy. Đến năm 1930 thì nhu cầu cho lại “boot” này không còn nữa; nhưng chữ “Zipper” tồn tại cho đến hôm nay.
Con số sản xuất zipper gia tăng thật ngoạn mục. Năm 1920 chỉ có độ 110,000 cái zipper được làm ra. Đến năm 1929, con số sản xuất là 17 triệu cái mỗi năm (?) Thế giới dù đang bị khủng hoảng kinh tế nặng nề (năm 1929) nhưng việc sản xuất zippers vẫn gia tăng vùn vụt như không có chuyện gì xẩy ra.
Một khi zippers ăn khách rồi, mọi người nhào vô làm hàng nhái, hàng cạnh tranh như nấm dại mọc sau cơn mưa. 9 Phec mo tuya 6Ngày nay không thể biết có bao nhiêu công ty làm zipper trên thế giới ?
YKK ?
Nhìn mỗi cái khóa của zipper là thấy ngay 3 mẫu tự “YKK.” YKK là cái quái gì vậy ?
Năm 1934, một ông Nhật lùn tên là Tadao Yashida mở hãng làm zippers ở Nhật. Cơ xưởng của ông ta bị máy bay đồng minh phá hủy trong các cuộc oanh kích năm 1945. Năm 1948, ông Yashida dựng lại cơ xưởng làm zipper từ đống tro tàn. Ông gọi sản phẩm của ông ta là “Zippers YKK,” chữ viết ngắn của “Yoshida Kygyo Kabushiki Kaisha” (dịch sang Anh Ngữ là Yoshida Company Limited). Ông ta chỉ có đủ chỗ được 3 chữa tắt “YKK” in khắc trên cái khoá zipper nhỏ xíu. YKK là công ty làm zipper lớn nhất trên thế giới.
Kẹt zipper !
Chuyện đời thật. Người viết không hề dám giỡn mặt quý vị, bà con cao niên, phịa chuyên nhảm nhí nói láo. Vả lại ngay chính người viết bài này cũng bị kẹt zippers vài lần; tuy có kêu trời, nhưng không có gì nghiêm trọng quá đáng… (Thành thật mà nói, ngay chính quý vị có lẽ cũng đã có vài lần kẹt / dập chim vì zippers rồi không chừng !)
Theo Báo cáo Y tế xuất bản trong “British Journal of Urology International” từ University Of California San Francisco (UCSF) Urology ký tên Herman Singh Bagga tháng 3/2013 đã có khoảng 17,616 người ở Hoa kỳ phải vào ER (Emergency Rooms) trong vòng 10 năm (2002 cho đến 2012) vì bị “dập chim” gây ra bởi Zippers (!) Tức là tính trung bình có 1700 người kẹt zipper trầm trọng mỗi năm – một con số đáng kể !
9 Phec mo tuya 7Mr. Bagga nhấn mạnh là “dập chim” (Chim xanh / blue birds) là trường hợp tiêu biểu nhất cho người lớn thuộc nam giới phải đến phòng cấp cứu vì “kẹt zippers” (nguyên văn : single most common cause of penile injury in adult men reporting to emergency rooms). Mr. Bagga khuyên là nếu có lỡ bị kẹt chim giữa hai hàng khóa của zipper thì hãy từ từ mà gỡ ra, không nên vội vàng làm gì… Nếu thấy tình thế không ổn thì nhờ vợ (hay 911/xe ambulance) chở thẳng vào ER của bệnh viện gần nhất. Đừng có dại cố gắng gỡ ra (vì sợ quê) làm tình huống sẽ thê thảm hơn.
Riêng trẻ con dập chim phần lớn vì ngã xe đạp và đi tiểu không đúng cách – Thiệt tình ! Mấy đấng nhi đồng lười biếng, tiện tay cứ kê súng nước ngay trên miệng / riềm của cái “toilet…” Rồi chẳng may cái nắp toilet rơi xập xuống ! Ối giời đất thiên địa ơi!  Ouchie!
Lời cuối
Chúng ta đã lần lượt ôn qua lịch sử của Phẹc-mơ-tuya / Zipper. Phẹc-mơ-tuya / Zipper quả là một phần căn bản không thể thiếu của quần áo / y phục thời trang hiện đai mà chúng ta mặc hàng ngày. Chẳng những vậy, Phẹc-mơ-tuya / Zipper còn là một danh từ phồ thông được dùng trong nhiều hoàn cảnh của đời sống.
Thực vậy. Bây giờ đã đến lúc “đóng (zipper) lại.” Nội dung bài viết này có bàn chuyện nhảm hay không ? Câu trả lời xin để dành cho quý vị thẩm định.
Yên Huỳnh post (theo Trần Văn Giang Orange County)
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/5/2013

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo

Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo
Tràng hạt khởi nguồn từ Ấn Độ và đã trở thành một vật quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, văn hóa của tín đồ các tôn giáo và trong xã hội Ấn Độ cổ. Với Phật giáo, tràng hạt là vật tùy thân giúp cho hành giả dễ dàng chú tâm vào đối tượng trì niệm, là một sợi dây xâu suốt các ý tưởng thành một trật tự, từ đó hành giả có thể đi sâu hơn vào các trạng thái của định để làm phát khởi tuệ giác.
Cũng như chuông, mõ, tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện tu tập của Phật giáo. Trong Phật giáo, mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.

Nguồn gốc của tràng hạt


 Không chỉ Phật giáo mới đề cập đến chuỗi hạt và hướng dẫn việc sử dụng chuỗi hạt để đạt được những giá trị trên con đường tu tập. Người ta có thể thấy, pháp môn lần tràng hạt niệm Phật của Phật giáo rất gần gũi với phương pháp lần tràng hạt trong lúc cầu nguyện của Bà la môn giáo, một lối cầu nguyện rất thịnh hành của những vị Bà la môn. Bên cạnh đó, người Ấn giáo theo phái thờ thần Siva cũng dùng một loại hạt gọi là rudrāka để xâu thành tràng hạt. Truyền thuyết kể rằng, có lần vị thần này ngắm nhìn thế gian, thấy chúng sinh sống trong nỗi khổ cực không sao nói hết nên đã đau lòng nhỏ xuống những giọt nước mắt, những giọt nước mắt này mọc thành cây rồi cho ra những hạt đỏ thẫm. Người ta đã lấy những hạt ấy làm thành tràng hạt để cầu nguyện trong sự tưởng nhớ đến tấm lòng từ bi của thần Siva. Hạt đó chính là hạt kim cương mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để làm tràng hạt. Trong quan niệm của người Ấn Độ, vô hoạn tử và rudrāka đều là những loại hạt thiêng, có khả năng trừ ma chướng. Điều này có lẽ một phần do dược tính của chúng, như vô hoạn tử, còn có tên là bồ đề tử, là một vị thuốc chủ trị nhiệt, đàm, sát trùng…

Tuy nhiên, trong Kinh điển Phật Giáo, cái khởi nguyên của tràng hạt và lần chuỗi hạt khi niệm Phật, hầu hết đều căn cứ vào sự khai thị của Đức Phật đối với Vua Ba Lưu Ly đã được ghi chép lại trong Kinh Mộc Hoạn Tử. Kinh Mộc Hoạn Tử, chép rằng: Một thời Đức Phật cùng giáo đoàn của ngài du hóa trong núi Kỳ Xà Quật (Grdhrakùta), nước La Duệ Kỳ (Ràjagrha) quốc vương trong thời nạn ấy tên là Ba Lưu Ly, sai sứ giả đến chốn Phật để xin Thế Tôn đặc biệt rủ lòng thương xót, cho pháp yếu để có thể tu hành được dễ dàng và trong đời mai sau xa lìa được mọi khổ não. Đức Phật bảo sứ giả về thưa với nhà vua rằng: nếu nhà vua muốn diệt được phiền não chướng, báo chướng nên xâu một chuỗi tràng 108 hạt bằng hạt cây tra (mộc hoạn tử) và thường đem theo mình; khi đi, khi ngồi, khi nằm thường nên chí tâm, không phân tán ý, xưng danh hiệu: Phật, Pháp, Tăng mỗi lần, lần qua một hạt cây tra. Cứ như thế, lần lượt qua hạt này đến hạt khác, như: mười hạt, hai mươi hạt, trăm hạt, nghìn hạt, cho đến trăm nghìn vạn hạt. Nếu lần được đủ hai mươi vạn lượt, mà thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc, thời khi xả thân này được sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba. Lên đấy, y, thực tự nhiên, thường an lạc hạnh. Nếu lại lần đủ được một trăm vạn lượt, sẽ dứt hẳn được một trăm tám kết nghiệp, mới gọi là vị chứng được quả Tu-Đà-Hoàn (ngược dòng sinh tử), hướng đến đạo Niết bàn, dứt hẳn cội gốc phiền não và chức được quả vô thượng. Tràng hạt trong Phật giáo ra đời từ đấy. Các tăng sỹ thường mang theo bên mình tràng hạt như là một bảo bối, một pháp khí quan trọng để hỗ trợ họ trên con đường tu học Phật pháp.

Như vậy, có thể thấy, dù trong truyền thống văn hóa cổ xưa của Ấn Độ và trong các nền văn minh khác của nhân loại, chuỗi hạt đã có từ lâu và gắn với mỗi cộng đồng xã hội nó có một ý nghĩa biểu trưng hay giá trị thẩm mỹ khác nhau. Nhưng với Phật giáo, tràng hạt được đề cập với vai trò của pháp phương tiện, là pháp khí, là công cụ để hỗ trợ việc tu hành đạt giác ngộ.

Số lượng của chuỗi hạt

Theo Kinh Mộc Hoạn Tử nêu ở trên, tràng hạt của Phật giáo gồm có 108 hạt, con số này cũng giống với các giáo phái khác ở Ấn Độ. Tuy nhiên, về sau, để tiện lợi cho các nghi thức hành lễ, tràng hạt được xâu bởi chuỗi hạt với những số lượng ít hơn, như 54, 27 hạt hoặc 36, 18 hạt. Con số 108 này tượng trưng cho 108 phiền não gồm 88 kiến hoặc, 10 tư hoặc và 10 triền. Ngoài ra, con số 108 còn được giải thích theo nhiều cách khác nữa. Người ta nhận thấy rằng số hạt thường là tương đương với số lượng của đối tượng được niệm, trong niệm danh hiệu Phật thì có 108 danh hiệu, trong Ấn giáo thì có 108 bộ Áo nghĩa thư. 108 = 6x3x2x3, đó là 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) x 3 thời (quá khứ, hiện tại và vị lại) x 2 trạng thái của tâm (nhiễm và tịnh) x 3 trạng thái của thọ (ưa, không ưa và trung lập). 108 còn là con số 11 x 22 x 33 = 1 x 4 x 27. Đây có lẽ là những quan niệm liên quan đến vấn đề số học của người Ấn Độ xưa. Trong hình ngôi sao năm cánh, góc bù được tạo nên bởi 2 cạnh cắt nhau là 1080. Người ta nói rằng ở Ấn Độ có 108 điệu múa. Trong thân thể chúng ta có 108 luân xa. Các nhà chiêm tinh cho rằng đường kính mặt trời lớn bằng 108 lần đường kính trái đất. Trong con số 108, số 1 biểu trưng cho sự hợp nhất, tức là nhất; số 8 là vô cùng, tức là dị; số 0 là trung gian, là trung đạo với nghĩa không, tánh không. Tựu trung, con số 108 được giải thích dưới nhiều góc độ khác nhau, và rõ ràng nó mang ý nghĩa tượng trưng rất quan trọng trong quan niệm người Ấn Độ. Ở chừng mực nào đó, có thể nói rằng con số 108 này cũng kỳ diệu như chỉ số PHI (φ) 1.618 trong truyền thống Hi Lạp.
Theo Kinh Giảo Lượng Sổ Châu Công Đức, và theo Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu có sự ghi chép bất đồng, tràng hạt có các loại như sau:  - Căn cứ Kinh Mộc Hoạn Tử dạy làm chuỗi 108 hạt.  - Kinh Đà Ra Ni Tập quyển 2 phẩm Tác Châu Pháp Tướng, thì nêu ra có 4 loại chuỗi: 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 21 hạt.  - Kinh Sổ Châu Công Đức, cũng nêu ra 4 loại chuỗi, tức là loại 108 hạt, loại 54 hạt, loại 27 hạt, và loại 14 hạt.  - Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu thì lấy 1.080 hạt làm chuỗi bậc thượng, xâu 108 hạt làm chuỗi tối thắng, xâu 54 hạt làm chuỗi bậc trung, xâu 27 hạt làm chuỗi bậc hạ.  - Phẩm Sổ Châu Nghi Tắc trong Kinh Văn Thù Nghi Quỹ bảo rằng: Chuỗi bậc thượng là 108 hạt, chuỗi bậc trung là 54 hạt, chuỗi bậc hạ là 27 hạt, chuỗi tối thượng là 1.080 hạt. Trong những tràng hạt với số lượng hạt như trên thì xâu chuỗi 108 hạt là phổ biến hơn hết.

Trong tràng hạt có một hạt gọi là hạt Sumeru hay Meru, chúng ta thường gọi là hạt Tu di hoặc hạt Di đà, đó là hạt thứ 109, là chỗ giáp nối của vòng tròn. Theo nghi thức, khi lần tràng, không được vượt qua hạt này, lần đến hạt này thì lần ngược trở lại, như trong kinh Kim cương đỉnh du già niệm châu có câu: “Hạt giữa tiêu biểu Phật Di đà, chớ lần qua, phạm tội việt pháp”. Tuy nhiên, trong việc xâu chuỗi hạt, tùy cách xâu mà có thể có hoặc không có hạt thứ 109 này.

Ý nghĩa của tràng hạt


Căn cứ vào những pháp số tổng thành mà nó biểu trưng theo quan niệm của phật giáo, việc sử dụng tràng hạt có số hạt khác nhau, thì ý nghĩa biểu trưng của nó cũng có những khác biệt:
- Chuỗi 108 hạt là biểu thị cho cầu chứng 108 pháp Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não.
- Chuỗi 54 hạt là biểu thị cho 54 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Tín, Thập Trú, Thập Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.
- Chuỗi 42 hạt là biểu thị cho 42 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác.
- Chuỗi 27 hạt là biểu thị cho 27 cấp vị của Tiểu Thừa tu hành Tứ Hướng Quả, tức là 18 bậc Hữu Học của Tứ Hướng Tam Quả trước, với 9 bậc Vô Học của Đệ Tứ Quả A La Hán.
- Chuỗi 21 hạt là biểu thị cho 21 vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.
- Chuỗi 14 hạt là biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm.
- Chuỗi 1.080 hạt là biểu thị cho 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có 108, cho nên cộng thành 1.080.
Ý nghĩa của chuỗi 36 hạt và 18 hạt có nhiều người cho là không biểu trưng cho pháp số nào trong Phật giáo, và cho rằng nó tương đồng với chuỗi 108 hạt. Theo đó, để tiện cho sự mang đeo, bèn chia chuỗi 108 hạt ra thành 3 chuỗi, mỗi chuỗi có 36 hạt, hoặc chia chuỗi 108 hạt ra làm 6 xâu, mỗi xâu có 18 hạt, mà không phải có thâm nghĩa nào cả.
Tuy vậy, chúng ta cần biết rằng, sự khác biệt của số hạt với những ý nghĩa biểu trưng khác nhau trên đây, là do các vị Bồ tát, hiền thánh tăng, sau khi đức Phật nhập diệt, đã tùy duyên giao phó làm phương tiện giáo hóa, mà không phải bắt nguồn từ văn của Kinh điển gốc đã nêu. Nghĩa là số lượng các hạt trên tràng hạt là không cố định và bắt buộc.

Công dụng của tràng hạt

 

Tràng hạt là một vật dụng phổ biến trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Nó được dùng như một thứ trang sức hoặc như một pháp khí tùy theo đối tượng sử dụng. Trong tôn giáo, tràng hạt được dùng để liên kết và thiết lập trật tự cho các lời cầu nguyện, các bài kinh, các kệ tán, các danh hiệu hoặc những thần chú trong khi hành trì.

Với Phật giáo, tràng hạt là một pháp khí quen thuộc, việc sử dụng tràng hạt dường như đã trở thành nét đặc thù của Tịnh độ tông. Theo lịch sử truyền thừa của Tịnh độ tông, người chế ra tràng hạt để niệm danh hiệu Phật chính là ngài Đạo Xước (562-645), người được tôn là tổ thứ 2 của Tịnh độ tông Trung Quốc. Còn với Phật giáo Nam tông, từ lâu tràng hạt cũng đã dần dần trở thành một vật tùy thân ngoài 8 vật (3 y, kim chỉ, bình bát, dây lưng, dao cạo và túi lọc nước) đã được Phật chế định.

Không phải ai niệm Phật cũng lần tràng hạt. Điều này, còn tùy theo căn tính và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những tín đồ, Phật tử tu theo Tịnh Độ tông, thì nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng, tâm chưa thuần nhất, còn đầy vọng tưởng tạp loạn, thì việc dùng tràng hạt khi niệm Phật để dễ định tâm hơn. Hơn nữa, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Kinh Phật dậy: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”, nghĩa là ba nghiệp đều thanh tịnh thì cùng Phật vãng sinh về Tây phương cực lạc. Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là cách ghi nhớ số, để không nhầm lẫn vậy.

Công dụng của chuỗi hạt chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, tán loạn, luôn nghĩ tà vạy, thì dù miệng có niệm Phật, tay lần tràng hạt, cũng không thể nào có kết quả định tâm được./.

Yên Sơn

Vĩnh Bảo sưu tầm 8/5/2013