Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Phát hiện mới về mỡ trắng gây thừa cân, béo phì

Phát hiện mới về mỡ trắng gây thừa cân, béo phì


Các công trình nghiên cứu cho thấy, tế bào mỡ trắng là tế bào chứa một hạt mỡ lớn với 90 - 99% là a xít béo và glycerol (triglyceride).

Phát hiện mới về mỡ trắng gây thừa cân, béo phì
ảnh minh họa
Những kết quả nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thuộc ĐH Harvard (Mỹ) về mỡ trắng, mỡ nâu được công bố gần đây trên tập san New England Journal of Medicine đã đưa đến cho giới khoa học một cách nhìn toàn diện về mỡ trong cơ thể. Theo đó, sự gia tăng quá mức khối lượng mỡ trắng trong cơ thể là thủ phạm chính gây nên thừa cân, béo phì - một “đại dịch” toàn cầu với 2,1 tỷ người mắc và 3,4 triệu ca tử vong mỗi năm.
Mỡ trắng là gì?


Tế bào mỡ trắng
Các công trình nghiên cứu cho thấy, tế bào mỡ trắng là tế bào chứa một hạt mỡ lớn với 90 - 99% là a xít béo và glycerol (triglyceride), kích thước một tế bào mỡ trắng dao động từ 25-200 micron. Các nhà khoa học còn chỉ rõ, mỡ trắng chiếm tỷ lệ “áp đảo” với 93 - 97% tổng lượng mỡ cơ thể. Trong khi loại mỡ thứ hai là mỡ nâu có chức năng sinh nhiệt, được coi là loại “mỡ tốt” lại chỉ chiếm 3-7% và rất ít khả năng tăng lên.
Trong khi đó, tế bào mỡ trắng lại có thể tăng về kích thước lên gấp 20 lần so với ban đầu song song với sự gia tăng số lượng. Một người trung bình có tới 10 - 30 tỷ tế bào mỡ trắng, chúng được ví như vô số “chiếc túi cao su” có thể co giãn để hấp thụ và “giữ” đầy các hạt mỡ bên trong làm tăng sinh bất thường kích thước khối mỡ trắng. Điều này lý giải tại sao một người có trọng lượng 50-70kg nhưng khi  “phát  phì” có thể lên tới hơn 100kg, thậm chí là 200-400kg.
Mặc dù có vai trò dự trữ năng lượng cho cơ thể nhưng khi tích tụ quá mức mỡ trắng sẽ gây ra tác động xấu lên các chức năng của cơ thể. Bởi vậy, mỡ trắng bị xem là “mỡ xấu”.
Thủ phạm chính gây thừa cân, béo phì
Theo các nhà khoa học, chính những thói quen hàng ngày trong ăn uống như: lạm dụng thức ăn nhanh giàu năng lượng, ăn quá nhiều chất béo, ngọt... cùng với lối sống ít vận động khiến năng lượng đưa vào cơ thể cao hơn năng lượng tiêu hao. Nguồn năng lượng dư thừa này được tích tụ quá mức dưới dạng mỡ trắng, đặc biệt tại vùng eo, bụng, đùi và gây nên tình trạng thừa cân, béo phì
Nguy hiểm hơn, mỡ trắng gia tăng tại các cơ quan nội tạng cũng gây ra hàng loạt các rối loạn chuyển hóa glucid, protid, lipid, tình trạng đề kháng insuline, tình trạng viêm nội mạc...và hậu quả là dễ mắc các bệnh lý như: đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch, gan nhiễm mỡ... Thậm chí là ung thư.

Mỡ trắng tăng sinh quanh các nội tạng và vùng bụng là hiểm họa với sức khỏe
Bởi thế, mỡ trắng được xác định là thủ phạm chính gây tình trạng thừa cân, béo phì và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính nguy hiểm ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe.
Phát hiện mới về mỡ trắng giúp tìm ra giải pháp giảm cân an toàn
Khi nghiên cứu để “giải mã” tế bào mỡ trắng, bằng công nghệ sinh học phân tử, các nhà khoa học Mỹ đã có một phát hiện quan trọng về sự hiện diện của thụ thể PPARγ chính là yếu tố giúp tạo thành tế bào mỡ trắng mới. Khi PPARγ hoạt động mạnh, tế bào mỡ trắng càng tăng sinh và tích tụ nhiều hơn. Ngược lại nếu không có PPARγ thì không tạo thành tế bào mỡ trắng mới. Đồng thời, các nhà khoa học cũng phát hiện ra Perilipin, một loại protein có trên bề mặt tế bào mỡ, ngăn cản men lipase tiếp cận để ly giải mỡ.
Phát hiện trên đã tạo ra bước đột phá về phương pháp điều trị thừa cân, béo phì một cách an toàn. Đó chính là can thiệp sớm vào quá trình sinh trưởng và phát triển của mỡ trắng làm giảm sự tích tụ đồng thời thúc đẩy tăng ly giải mỡ trắng.
Từ kết quả này, Trung tâm nghiên cứu InterHealth Nutraceuticals (Mỹ) đã tìm và chọn lọc ra các hoạt chất thiên nhiên từ Belaunja và Mangastin có tác dụng giảm tích tụ và tăng ly giải mỡ trắng mà không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng về Belaunja và Mangastin mới đây đã được trường Đại học California - Davis Hoa Kỳ công bố cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm cân nặng, giảm số đo vòng eo, vòng hông và chỉ số BMI sau 2 đến 8 tuần sử dụng mà không gây ra các tác dụng phụ như: rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, mất nước, chán ăn hay ức chế thần kinh...

Dưới tác dụng của các hoạt chất từ Belaunja và Mangastin có trong LIC mỡ trắng bị giảm tích tụ và tăng ly giải
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính hai hoạt chất sinh học 7-Hydroxy-Frullanolide và Alpha-Mangostin trong Belaunja và Mangastin sẽ tác động cùng lúc, gây ức chế và làm giảm hoạt động của thụ thể PPARγ, ngăn không cho tế bào mỡ mới hình thành, nhằm giảm tích tụ mỡ trắng. Đồng thời hai hoạt chất này sẽ “tấn công” và làm “suy yếu” Perilipin, tạo điều kiện cho men lipase tiếp cận giọt mỡ để ly giải mỡ trắng, làm giảm kích thước tế bào mỡ trắng. Quá trình này sẽ làm giảm kích thước mô mỡ, đặc biệt ở các vùng tích tụ nhiều mỡ như eo, bụng, đùi...
Để hoạt chất Belaunja và Mangastin phát huy hiểu quả cao nhất, người thừa cân, béo phì cần áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp, tập thể dục đều đặn bởi đây là “3 nguyên tắc vàng” giúp giảm cân hiệu quả và bền vững


Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=978972#ixzz3Fz82xR9k
doc tin tuc www.xaluan.com

Đọc thêm

GIỚI THIỆU VỀ MÔ MỠ

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long – Nguyễn Thị Huyền Trang
Mô mỡ không chỉ đơn thuần là một cơ quan được thiết kế để dự trữ thụ động carbon dư thừa dưới dạng các acid béo glycerol ester (triacylglycerol). Những tế bào mỡ trưởng thành tổng hợp và tiết ra một số enzyme, các yếu tố tăng trưởng (growth factors), các cytokine và hormone có liên quan đến tổng cân bằng năng lượng nội môi. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tạo mỡ (adipogenesis) cũng liên quan đến các quá trình khác như cân bằng lipid nội môi và điều hòa phản ứng viêm. Ngoài ra, một lượng protein được tiết ra từ tế bào mỡ đóng vai trò quan trọng trong những quá trình tương tự. Thật vậy, những bằng chứng gần đây đã chứng minh rằng nhiều yếu tố được tiết ra từ tế bào mỡ là tiền chất trung gian của phản ứng viêm (pro-inflamlatory mediators) và những protein này được gọi là adipocytokines hay adipokines. Hiện có trên 50 adipokines khác nhau được  tiết ra từ mô mỡ. Những adipokines này liên quan đến sự điều khiển hàng loạt các phản ứng sinh lý bao gồm kiểm soát việc thèm ăn và cân bằng năng lượng. Quá trình trao đổi chất đặc biệt của mô mỡ bao gồm trao đổi lipid, cân bằng glucose nội môi , viêm nhiễm, hình thành mạch, cầm máu (theo quy định của đông máu) và huyết áp.
img3 GIỚI THIỆU VỀ MÔ MỠ
Hình 29.1: Tế bào mỡ và tình trạng bệnh lý
Dạng chủ yếu của mô mỡ ở động vật có vú (thường gọi là “mỡ”) là mỡ trắng, WAT (white adipose tissues). Mô mỡ biệt hóa có nhiệm vụ sinh nhiệt (thermogenesis), đặc biệt ở trẻ sơ sinh, là mỡ nâu, BAT (brown adipose tissues). BAT  được gọi như thế vì có màu đậm do mật độ ty thể cao trong cytochromes. BAT chuyên sản xuất nhiệt và oxy hóa lipid. WAT bao gồm các tế bào mỡ liên kết lỏng lẻo với nhau tập trung nhiều mạch máu vàcác dây thần kinh. Ngoài ra, WAT chứa các đại thực bàobạch cầu, nguyên bào sợi, tế bào mầm của mô mỡ  (adipocyte progenitor cells), và tế bào nội mô. Các nguyên bào sợi, các đại thực bào, bạch cầu hiện diện cùng với các tế bào mỡ, có rất nhiều loại protein được tiết ra từ WAT trong các điều kiện khác nhau. Nơi tích lũy WAT cao nhất ​​là các vùng dưới da của cơ thể, xung quanh các nội tạng (nội tạng của ngực và bụng).
img4 GIỚI THIỆU VỀ MÔ MỠ
Hình 29.2: Sự hình thành mô mỡ
WAT có thể được tìm thấy ở một số cơ quan, nó không chỉ có vai tròcách nhiệt mà còn là một kho dự trữ để sản xuất năng lượng mà còn có nhiều chức năng khác. Tùy thuộc vào vị trí của nó, WAT có chức năng chuyên biệt. WAT ở các cơ quan bụng và ngực (không bao gồm tim), gọi là mỡ nội tạng, tiết cytokine viêm và do đó liên quan đến các quá trình viêm khu trú và viêm hệ thống. WAT ở cơ xương tiết ra acid béo tự dointerleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tửu-α (tumor necrosis factor-α)(TNFα), đóng vai trò quan trọng trong sự đề kháng insulin.WAT ở mô tim tiết nhiều cytokine trong các phản ứng viêm khu trú và hóa hướng viêm, điều này có thể phát triển xơ vữa động mạch và tăng huyết áptâm thu. WAT ở thận đóng vai trò trong việc tái hấp thu natri và do đó có thể ảnh hưởng đến thể tích máu nội mạch và cao huyết áp.
Trọng tâm chính của bài viết này tập trung vào các hoạt động sinh học liên quan đến WAT, tuy nhiên, BAT cũng sẽ được đề cập. WAT có nhiều chức năng bao gồm cách nhiệt, dự trữ năng lượng carbon dư thừa dưới dạng triacylglycerol và là trung gian cân bằng glucose nội môi. WAT cũng đóng vai trò quan trọng như một cơ quan nội tiết/miễn dịch bằng cách tiết adipokines như các cytokine viêm, yếu tố bổ trợ, chemokine, và protein giai đoạn cấp tính. Chức năng nội tiết của WAT ​​điều khiển sự thèm ăn, chuyển hóa năng lượng, chuyển hóa glucose và lipid, quá trình viêm, hình thành mạch, và các chức năng sinh sản.
img6 GIỚI THIỆU VỀ MÔ MỠ
Hình 29.3: Cơ chế dự trữ và huy động lipid của tế bào mỡ. Triglycerides được vận chuyển trong máu và bạch huyết từ ruột non về gan nhờ chylomicrons và VLDLs. Ở tế bào nội mô mao mạch của mô mỡ, các phức hợp lipoprotein trên sẽ được phân hủy bởi tác dụng của lipoprotein lipase, giải phóng acid béo và glycerol. Acid béo tự do khuếch tán từ mao mạch vào tế bào mỡ. Sau đó, acid béo sẽ được gắn trở lại vào glycerol phosphate để tạo thành triglyceride. Norepinephrine từ đầu tận của dây thần kinh sẽ hoạt hóa hệ thống tín hiệu cAMP (thụ thể β3) và hoạt hóa lipase nhạy cảm hormone để thủy phân các triglyceride dự trữ trở lại thành acid béo và glycerol. Các phân tử này sẽ khuếch tán trở lại vào mao mạch và tại đó, acid béo tự do sẽ gắn kết với albumin để chuyển tới các vị trí cần sử dụng năng lượng.
Điều hoà sự tạo mỡ
Các quá trình biệt hoá tế bào mỡ từ các tiền tế bào (precursor preadipocyte) thành tế bào mỡ hoàn toàn trưởng thành là một loạt các trật tự chính xác các sự kiện sắp xảy ra. Các tiền tế bào mỡ xuất hiện từ tế bào gốc trung mô (MSCs) có nguồn gốc từ lớp trung bì của phôi thai. MSCs toàn năng (pluripotent) nhận được tín hiệu ngoại bào dẫn đến các thông tin chắc chắn đối với dòng preadipocyte. Những tiền tế bào mỡ không được phân biệt về mặt hình thái từ các MSCs tiền thân của chúng, nhưng chúng đã mất khả năng biệt hóa thành các loại tế bào khác. Sự biệt hoá hay sự xác định các tế bào mỡlà bước đầu tiên và dẫn đến sự tăng về số lượng nhưng ngừng tăng trưởng các tiền tế bào mỡ. Sự ngừng tăng trưởng ban đầu xảy ra trùng khớp với các biểu hiện của hai nhân tố sao chép chính, CCAAT / protein liên kết tăng cường α (C/EBPα) và thụ thể kích hoạt peroxisome proliferator-γ (Peroxisome proliferator-activated receptor,PPARγ). Kế tiếp sự cảm ứng của hai yếu tố phiên mã quan trọng đó là giai đoạn ngừng tăng trưởng, tiếp theo là biểu hiện của kiểu hình biệt hoá hoàn toàn tế bào mỡ. Giai đoạn sau của sự  tạo mỡ này là sự biệt hoá cuối cùng.
Mặc dù PPARγ và C / EBPα là những yếu tố quan trọng nhất điều hoà sự tạo mỡnhưng  yếu tố phiên mã bổ sung khác cũng được biết là có ảnh hưởng đến quá trình này. Những yếu tố bổ sung này bao gồm sterol-regulated element binding protein 1c (SREBP1c, còn được gọi là ADD1 for adipocyte differentiation -1), đầu dò tín hiệu,chất kích hoạt phiên mã 5 (STAT5), AP-1 và các thành phần giống như yếu tố Krüppel (Krüppel-like factor) (Klf4, KLF5, KLF15), C / EBPβ và C / EBPδ.  Mặc dù những yếu tố phiên mã này đã được chứng minh ảnh hưởng đến sự tạo mỡ, cách tích cực hay tiêu cực, PPARγ là yếu tố duy nhất cần thiết cho sự tạo mỡ diễn ra. Trong thực tế, nếu vắng mặt của PPARγ thì sự biệt hoá tế bào mỡ khôngxảy ra và không có yếu tố nào xác định có thể thay thế sự tạo mỡ trong sự vắng mặt của PPARγ. Mặc dù vậy nhưng PPARγ khôngphải là yếu tốbiểu hiện đầu tiên trong quá trình kích hoạt biệt hoá tế bào mỡ ,nó chỉ xảy ra sau khi đáp ứng bởisự tác dụng của STAT5, Klf4, KLF5, AP-1, SREBP1c, và C / EBPβ và C / EBPδ .
PPARγ ban đầu biểu hiện trong sự biệt hoá tế bào mỡ và bây giờ công nhận là hệ thống điều chỉnh sự tạo mỡ tổng thể. PPARγ được xác định là mục tiêu của các thiazolidinedione (TZD) lớp thuốc nhạy cảm insulin. Cơ chế hoạt động của các TZDs là kích hoạt các PPARγ và khởi phát chuyển kết quả cho các gen cần thiết cho sự biệt hoá tế bào mỡ. Gen PPARγ của người (biểu tượng PPARG) nằm trên nhiễm sắc thể 3p25 kéo dài hơn 100kb và bao gồm 9 exon mã hóa hai đồng dạng sinh học hoạt động như mRNA thay thế và sử dụng như một codon bắt đầu quá trình dịch mã. Các sản phẩm protein chủ yếu của gen PPARG được xác định là PPARγ1 và PPARγ2. PPARγ1 mã hóa bởi exon A1 và A2 exon chung từ 1 đến 6. PPARγ2mã hóa bởi exon B và exon chung từ 1 đến 6. PPARγ2 hầu như đặc biệt dành riêng cho các tế bào mỡ. Giống như tất cả các thụ thểnhân,các protein PPARγ chứa một DBD và LBD. Ngoài ra, như PPARα, các protein PPARγ chứa ligand-dependent activation function domain (được xác định là AF-2) và ligand-independent activation function domain (được xác định là AF-1). Vùng AF-2 nằm trong LBD và vùng AF-1 ở khu vực N-terminal của protein PPARγ.PPARγ2 protein chứa 30 acid amin ở N-terminal liên quan đến PPARγ1 và các acid amin bổ sung này tăng 5-6 lần trong quá trìnhkích hoạt sao mã (transcription-stimulating activity) của AF-1 khi so sánh với vùng tương tự trong protein PPARγ1. PPARγ1 hiện diện ở khắp nơi. PPARγ2 gần như dành riêng cho  mỡ trắng (WAT), liên quan đến dự trữ lipid và mỡ nâu (BAT), liên quan đến tiêu hao năng lượng.
img7 GIỚI THIỆU VỀ MÔ MỠ
Hình 29.4:  Minh họa một số quá trình tạo thành mô mỡ
Như đã nói ở trên, trong quá trình biệt hoá tế bào mỡ một số gen ngược dòng (upstream genes)  được yêu cầu để kích hoạt các gen PPARG. Chúng bao gồm C / EBPβ và C / EBPδ, SREBP-1c, KLF5, KLF15, proteinzinc-finger 423 (Zfp423), và các yếu tố tế bào B sớm (early B-cell factor)  (Ebf1). PPARγ kích hoạt hầu hết các gen cần thiết cho quá trình biệt hoá tế bào mỡ. Những gen này bao gồm aP2-cần thiết để vận chuyển các acid béo tự do (FFAs) và perilipin-một loại protein bao phủ bề mặt của các giọt lipid trưởng thành trong tế bào mỡ. Các gen quy định cho PPARγ có liên quan đến chuyển hóa lipid hay cân bằng glucose nội môi bao gồm lipoprotein lipase (LPL), acyl-CoA synthase (ACS), acetyl-CoA acetyltransferase (ACAT), vài gen phospholipase A  (PLA) , adiponectin, enzyme gluconeogenic PEPCK, và glycerol-3 phosphate dehydrogenase (GPDH). PPARγ cũng có chức năng trong quá trình chuyển hóa lipid ở đại thực bào bằng cách gây ra sự biểu hiện của các macrophage scavenger receptor, CD36. Thụ thể CD36 cũng được gọi là translocase acid béo (FAT) và nó là một trong các thụ thể chịu trách nhiệm cho sự hấp thu các acid béo của tế bào.
Vai trò của SREBP-1c trong việc kích thích sự biệt hoá tế bào mỡ được cho là kết quả của yếu tố phiên mã này bắt đầu biểu hiện của gen đó, như là một phần hoạt động của mình, tạo ra các chất gắn PPARγ. Thực tế, sự biểu hiện của SREBP trước PPARγ là cần thiết. Mặc dù vậy, người ta chứng minh rằng những con chuột thiếu SREBP-1 không cho thấy việc giảm đáng kể WAT. Tuy nhiên, mức SREBP-2 tăng lên ở những động vật chỉ ra rằng điều này có thể là một cơ chế đền bù. Mặc dù mất SREBP-1 không dẫn đến một mức  thiếu hụt đáng kể trong phát triển mô mỡ, sự biểu hiện quá mức của SREBP-1c tăng cường hoạt động adipogenic của PPARγ.
Các yếu tố phiên mã họ C/EBP đóng vai trò đầu tiên trong sự biệt hoá tế bào mỡ. Ba thành viên của họ (C / EBPα, C / EBPβ và C / EBPδ) được bảo tồn các yếu tố leucine-cơ bản nơi chứa các yếu tố phiên mã. Tầm quan trọng của các yếu tố này trong sự tạo mỡ đã được chứng minh trong các con chuột biến đổi gen. Ví dụ như toàn bộ cơ thể gián đoạn sự biểu hiện của C / EBPα trong toàn bộ cơ thể bị gián đoạn dẫn đến cái chết ngay sau khi sinh do khiếm khuyết gan, hạ đường huyết, và không tích luỹ WAT ​​hoặc BAT. Sử dụng chuột biến đổi gen, người ta xác định vai trò của C / EBPβ và C / EBPδ tác dụng sớm trong quá trình biệt hoá tế bào mỡtrong khi C / EBPα tác dụng sau. Trong thực tế,  C / EBPα biểu hiện trễ hơn trong sự tạo mỡ và phong phú nhất trong các tế bào mỡ trưởng thành. Biểu hiện của  C / EBPα và PPARγ một phần được điều hoà bởi nhữnghoạt động của C / EBPβ và C / EBPδ. Một trong những tác động chủ yếu của sự biểu hiện C / EBPα trong tế bào mỡ là tăng cường độ nhạy cảm insulin của các mô mỡ. Thực tế này sau đó được chứng minh rằng biến đổi gen C / EBPα không phá huỷ sự tạo mỡ nhưng WAT không nhạy cảm với các hoạt động của insulin.
Mô hình chung của yếu tố phiên mã hoạt hoá sự tạo mỡ cho thấy rằng AP-1, STAT5, Klf4, và KLF5 được kích hoạt sớm và dẫn đếnviệc tăng sự biểu hiện gen trung gian qua phiên mã (transactivation) của C / EBPβ và C / EBPδ. Hai yếu tố này lần lượt hoạt hoá sự biểu hiện của SREPB-1 và KLF15 dẫn đến hoạt hoá PPARγ và C / EBPα. Điều quan trọng là phải giữ quan điểm rằng nó không chỉ là yếu tố sao chép kích hoạt các tiền tế bào mỡ điều khiển sự tạo mỡ. Ngoài ra còn có một sự cân bằng tác dụng ở mức độ ức chế yếu tố sao chép trung gian của sự tạo mỡ. Một số trong những yếu tố đang chống tạo mỡ (anti-adipogeneic) bao gồm các thành viên của họ yếu tố giống Krüppel (Krüppel-like factor family) như, KLF2 và KLF3.GATA2 và GATA3 cũng tác động chống tạo mỡ. Gọi là yếu tố GATA bởi vì chúng kết hợp các phân tử DNA có chứa một chuỗi GATA cốt lõi. Hai yếu tố sao chép của họ yếu tố điều hoà interferon, IRF3 và IRF4, chống lại quá trình tạo mỡ.
Những thay đổi trong biểu hiện của các yếu tố phiên mã điều khiển quá trình tạo mỡ tổng thể liên quan với những thay đổi trong động lực học nhiễm sắc. Những thay đổi trong động lực học nhiễm sắc liên quan đến việcmethyl hóa protein histone và methyl hóa DNA. Nhiễm sắc thể trong tế bào gốc đa năng hiển thị một tính chất rất năng động với một mức độ cao của DNA linh động “DNA decondensed”. Sự biệt hoá được cảm ứng là do có sự thay đổi trong mô hình tổng thể của gen methyl hóa. Các gen Lineage chuyên biệt được demethylated trong khi các gen đa năng bị methyl hóa dẫn đến kích hoạt phiên mã và im lặng tương ứng. Khi quá trình biệt hoá mỡ tiến hành mã hóa gen PPARγ và C / EBPα được quan sát thay đổi vị trí vào bên trong hạt nhân trùng với tỷ lệ tăng phiên mã. Kể từ khi MSCs có thể được cảm ứng để biệt hóa thành xương và cơ bắp, cũng nhưmỡ,các gen biệt hoá mỡ như PPARγ và C / EBPα không cần thiết biểu hiện  nếu con đường gây ra là xương hay cơ bắp.
Liên quan với không biểu hiện phiên mã là phức hợp protein gọi là đồng kìm hãm (co-repressors) và phức hợp kích hoạt phiên mã được gọi là đồng-kích hoạt (co-activators). Khi MSCs là do xương dòng  protein histone3 trong khu vực promoter PPARγ là methyl hóa lysine 9 (xác định là H3K9) bởi một phức tạp đồng kìm hãm bao gồm SETDB1 histone methyltransferase và các protein liên quan NLK (Nemo-kinase) và CHD7 (chromodomain helicase DNA gắn protein-7). Ngoài việc không biểu hiện của các promoter PPARg, hoạt động của protein PPARγ về gen đích của nó cũng bị hạn chế bởi liên kết với các phức hợp đồng kìm hãm. Trongtiền tế bào mỡ, hoạt động của PPARγ được ngăn chặn bởi liên kết với PRB và HDAC3 (histone deacetylase 3). Sự cảm ứng của quá trình biệt hoá kéo theo phản ứngphosphoryl hóa PRB giải phóng từ phức hợp ức chế. Điều này dẫn đếntăng hoạt động acetyltransferases histone (HATs) và đồng hoạt hóa protein CBP/p300 (CBP CREB gắn protein, CREB là cAMP- response element-binding protein) đến phức hợp PPARγ kết quả làhoạt hoá phiên mãgen mục tiêu PPARγ.
Nhiều thí nghiệm đã bắt đầu xác định các mảng lớn của việc sửa đổi histone điều hoà sự biểu hiện của gen liên quan đến tổng thể sự tạo mỡ đặc biệt là biểu hiện của PPARγ. Những thay đổi phức histone bao gồm HATs, HDACs, methyltransferases histone (HMTs), và demethylases histone (HDMs). Hậu quả chung sự hoạt hóa của HATs và HMTs là kích hoạt PPARγ biểu hiện và / hoặc tăng cường các hoạt động PPARγ trong chất hoạt hoá gen mục tiêu của nó. Ngược lại, như mong đợi, hoạt hoá HDAC dẫn đến ức chế hoạt động PPARγ tại chất ức chế gen mục tiêu  của nó.
Điều hoà trao đổi lipid trong tế bào mỡ
Các triacylglycerol (TAG) được tìm thấy trong WAT là nguồn dự trữ năng lượng chính của cơ thể. Vùng chứa TAG là một vùng ổn định được điều hoà bởi lượng thức ăn vào, nhanh và bởi hậu quả của chế độ ăn uống trên mức hormon tuyến tuỵ. Ngoài ra, hồ chứa chất béo của mô mỡ thay đổi là kết quả của biến động hormon khác, quá trình viêm, vàsinh lý bệnh. tổng thể quá trình hóa sinh trong  trao đổi chất củaTAG của được trình bày trong trang tổng hợp lipid và trang oxy hóa acid béo. Mục đích của phần này là để thảo luận chi tiết hơn về các hoạt động enzyme điều hoà tổng cân bằng TAG nội môi của mô mỡ cũng như sự điều hoà hormon và các quá trình sinh lý
Ban đầu người ta tin rằng việc giải phóng các acid béo từ nơi dự trữ TAG của mô mỡ được kích hoạt riêng biệt thông qua hoạt hoá hormone nhạy cảm lipase (hormone-sensitive lipase) (HSL). Tuy nhiên, khi HSL-null của chuột được tạo ra người ta đã phát hiện ra rằng quá trình này liên quan đến việc thêm adipocyte HSL-independent TAG lipase. Nghiên cứu sau đó đã dẫn đến việc xác định ít nhất là năm lipases TAG của mô mỡ ngoài HSL ra. HSL là chất xúc tác hoạt động đa dạng bao gồm TAG, diacylglycerols (DAG), và este cholesterol (CES). Khi khảo nghiệm  in vitro hoạt động của HSL ít nhất là 10 lần cao hơn so với DAG hơn TAG. Khi tác động trên TAG hoặc DAG, HSL có hoạt động mạnh nhất chống lại các acid béo có trong vị trí sn-1 hoặc sn-3 của xương sống glycerol. Cho đến khi những thí nghiệm trên chuột biến đổi gen gần đây đã chứng minh rằng, HSL được cho là enzyme cơ bản liên quan đến TAG mỡvà thủy phân DAG cũng như hoạt động chính của  neutral cholesteryl ester hydrolase (NCEH) .
Mặc dù chuột HSL-null vẫn còn biểu hiện hoạt động hydrolase TAG, kết quả từ các nghiên cứu ở những con chuột này cho thấy rằng sự phân giải lipid qua trung gian HSL có đóng góp đáng kể cho tổng thể giải phóng acid béo từ các tế bào mỡ. Ở những con chuột thiếu HSL có thấy giảm mức độ lưu thông acid béo tự do và TAG cũng như giảm lưu trữ TAG trong gan. Những kết quả này chỉ ra rằng nếu thiếu HSL thì sẽ không đủ phân giải lipid từ  mô mỡ để hỗ trợ các nhu cầu năng lượng của tế bào từ các acid béo và cũng không để tổng hợp VLDL đầy đủ trong gan. Kết quả các nghiên cứu về vai trò của HSL trong phân giải lipid tổng thể ở mô mỡ chứng minh rằng nó không hoàn toàn cần thiết cho sự thủy phân TAG như suy nghĩ ban đầu. Tuy nhiên, những con chuột HSL-null có tích luỹ DAG chỉ ra rằng vai trò quan trọng đối với HSL là giải phóng acid béo từ DAG lần lượt tạo ra monoacylglycerols (MAGs). Tỷ lệ giải phóng acid béo từ DAG là khoảng 10 – 30 lần so với tỷ lệ giải phóng từ TAG. Cho đến nay chỉ DAG lipase được xác định trong mô mỡ là HSL.
Vĩnh Bảo sưu tầm 13/10/2014

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

HOA XƯA TRÁI CŨ TÌM LẠI TRÊN ĐẤT MỸ

 HOA XƯA TRÁI CŨ TÌM LẠI TRÊN ĐẤT MỸ

BS Lê Văn Lân –

hoaxuatraicu-6Trong kho tàng ca dao của miền Nam nước Việt, một trong những câu mà tôi thích nhất là câu:
Chim khuyên ăn trái nhãn lồng,
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
            Lý do ưa thích vì từ ngữ rất nôm na, trực diện, bầy tỏ một cách chơn chất nhưng không kém phần quyến rũ  như bản tính của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh, điển hình nhất là hình ảnh của bà xã của tôi. Nhưng tìm hiểu nó không dễ chút nào vì nó dẫn dắt chúng ta qua rất nhiều  điều lỉnh kỉnh bất ngờ, chứ không đơn thuần dễ dàng nếu chúng ta muốn đi sâu về sự tra cứu cặn kẽ.
            Cũng như phần lớn ca dao VN, câu Lục“ Chim khuyên ăn trái nhãn lồng” là theo thể hứng, nghĩa là lấy một sự vật hay hiện tượng nào đó trong thiên nhiên để làm cái cớ hay một vần điệu mà bắt qua câu Bát “ Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi! Tỉ như câu: “Quạ kêu nam đáo nữ phòng, Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương”. Người ta khó mà nắm bắt sự liên hệ từ nhân đến quả từ câu Lục sang câu Bát, nhưng nếu có chăng cũng là xa xôi như giải thích là con chim khuyên vì  tình cờ ăn trái nhãn lồng rồi quen mui  bén vị đã tìm đến để ăn hoài, như cá thia thia nuôi chung chậu thì ưa nhau, vợ chồng ở riết với nhau “bén mùi” nhau để rồi nhung nhớ như câu thơ tương truyền của  vua Tự Đức nhớ bà Bằng phi sau khi bà này khuất bóng: Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại để dành hơi!
            Phân tách cái cơ cấu luyến ái hay “ ghiền nhớ ” mùi hơi từ cơ thể  có thể khiến ta dài dòng nhắc đến  cái chất “pheromome” của mỗi sinh vật. ( Tôi tạm dịch chữ này là “luyến tình hương”!). Nhưng chủ đích của tôi  trong bài này không phải phân tách cái ý vị luyến ái của câu Bát, mà muốn tra cứu về gốc gác mấy  chữ “chim khuyên” và “nhãn lồng” trong câu Lục mà thôi. Tôi vốn theo nghề thuốc nay vui thú điền viên nhưng lại mù tịt kiến thức về chim chóc, cỏ cây. Có thể nói tôi là một phàm nhân tục tử về điểu học và thảo mộc học nhưng rất đam mê về thi văn và  lại có y thích tìm kiếm cái giây liên hệ thực tế cách vật trí tri .
            Câu ca dao này phát xuất từ miền Nam nên chúng ta cần hiểu theo từ ngữ của miền Nam. “Chim khuyên” ở đây là tên của lọai chim gì trong tiếng Nam?
            hoaxuatraicu-1Theo nhà văn lão thành Xuân Tước từng viết rất nhiều về chuyện thôn quê cùng người vật hoa cỏ của miền Nam thì chim khuyên là con chim nhỏ thuộc giống sáo sẻ còn có một cái tên bình dân khác là chim “chè chiệng”, chứ không phải là chim quyên hay chim đỗ quyên tức một lọai gà cuốc hay kêu vào mùa hè.  Chim chè-chiệng là thứ chim đồng nhỏ con cùng hay kêu theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Hùinh-Tịnh Paulus Của – Saigon 1895. Tôi có trong tay cuốn Birds of South ViệtNam của Philip Wildash- Xuất bản Tuttle 1968, vì không có tên khoa học của chim “chè chiệng” nên không biết nó có phải nằm trong gia đình chim với Warbler hay Flycatchers.
            Đến Trái Nhãn Lồng, thì vì tôi từng sống ngoài Huế tôi dứt khóat chỉ nghĩ đến lọai Long Nhãn , trái mọc từ chùm đến mùa  trái được người ta lấy mo cau làm lồng che bọc kẻo dơi và chim chóc ăn. Nhưng tôi còn nhớ thuở bé lang thang ngòai lùm bụi từng hái lọai trái gọi là trái  Mắm nêm mà ăn. Hình dáng của trái màu vàng nằm trong cái bọc tua như cái lồng đèn. Trong trái có những hột nhỏ có cơm trăng trắng. Lấy tay vò lá và trái, ngửi có mùi ngái ngái. Cái tên Mắm Nêm chỉ nghe được ở Huế.  Kỷ niệm về cây mắm nêm thời thơ ấu ở Huế chỉ vỏn vẹn từng ấy thôi cọng với vị  rốt rốt chua ở đầu luỡi khi ăn thử những hạt của nó.
Khi vô Nam học thuốc vào đầu thập niên 50 thì tôi mới nghe câu ca dao với chữ Nhãn Lồng và tôi khám phá là cây Nhãn Lồng trong Nam là cây Mắm Nêm ngoài Huế, và trong Nam thì Nhãn lồng còn gọi là Cây Chùm Bao, cây Lồng Đèn. Tôi lại có kỷ niệm nghe ru em những buổi trưa hè với câu ca dao này, khiến tôi về sau thỉnh thỏang tủm tỉm cười trong cuộc sống phối ngẫu với bà vợ gốc Cái Nhum miền Nam của tôi. Mãi sau này tôi tra cứu sách Cây Cỏ Việt nam của Phạm Hòang Hộ, tôi  mới biết những cây Nhãn Lồng thuộc Passifloraceaceae. Và thời đó, vì chứng tim hồi hộp và khó ngủ, tôi được bác sĩ cho uống thuốc nước gọi là Passiflorine của nhà bào chế PDĐ ( duợc sĩ Phạm Dõan Điền ở Huế) chế bằng rễ  và lá của cây Lạc Tiên  có những tên bình dân là Nhãn Lồng, Lổng Đèn, Chùm Bao.
Giòng đời trôi chảy gần 30 năm mãi đến gần đây, khi về hưu ở Austin Texas, tôi mới trồng ở vườn sau một lọai giây có  hoa gọi là hoa Passion rất đẹp.
hoaxuatraicu-2Nguồn gốc của tên gọi là Hoa Khổ Nạn  là do các giáo sĩ Tây Ban Nha lần đầu tiên đến Nam Mỹ mà đặt ra vì nó tượng trưng cho Mùa Thương Khó của Chúa Giêsu trên khổ giá với chi tiết sau: tua hoa xòe ra là vương miện đầy gai hay hào quang trên đầu Chúa, 5 dây nhụy đực là 5 vết thương, 10 cánh hoa là 10 tông đồ theo Chúa ( không kể Thánh Phê rô và tên Giuđa phản nghịch)
Tra cứu tên khoa học thì có tên Passiflora edulis và có trái ăn là trái Passion thường bán tại chợ Mỹ.
Tôi có cảm tưởng bối rối như chim chích lạc vô rừng  với qua nhiều tên gọi cho những cây trong họ Passifloraceae hay Nhãn Lồng .Tôi bèn hỏi giáo sư Tôn Thất Trình thì  được cung cấp  nhiều  thông tin phong phú được hệ thống hóa rành mạch như sau:
Họ thực vật Passifloraceae đã được GS Phạm hòang Hộ gọi tên là họ Nhãn lồng ở sách cây cỏ Việt Nam. Tên này thường dùng để gọi các lòai Passiflora hoang dại. Còn các  lòai Passiflora spp. trồng ít nhiều ở vài nơi ăn trái thì :
           _ khi gọi là chùm bao trứng như Passiflora edulis Sims , 
           _  khi thì gọi là nhãn lồng như Passiflora coerulea
a)      Lọai .nhãn lồng lam, hoa trắng, trái khá lớn 4-6cm, nhiều hột,  trồng ở Quảng Nam-  Đà Nẳng,
b)      Lọai nhãn lồng Suber đôi khi trồng ăn trái ở vùng Sài gòn Passiflora suberosa L. , hoa không cánh hoa màu xanh , trái nhỏ 1cm,
_  khi thì là gọi là guồi tây Passiflora laurifolia L. , trái to bằng quả trứng gà , có 3 sóng dọc, thịt trắng , hột cũng to  , thấy trồng ở Thảo cầm viên Sài gòn,
_  khi thì gọi là lạc tiên hay mắc mát  Passiflora incarnata , hoa màu sim  trắng lợt,  tràng hoa màu tía trái vàng khá to3.5 – 7cm, hột nâu đậm, nguồn gốc Phi châu , đem về trồng ở vùng Hà Nội , Đà Lạt.
_ khi thì gọi là dưa gang tây , chùm bao dưa Passiflora quadrangularis L. , gốc Nam Mỹ như các loài giống thứ P. edulis, mặt trong hoa đỏ , cánh hoa đỏ, trái to dài đến 30cm , thịt vàng ,hột đen , trồng từ đồng bằng thấp đến cao độ 1000m, hay thấy ở thung lũng gần thành phố Kontum.
_ Tên mới của một giống tông chi  Passiflora mới nhập từ Brasil trồng ở Lâm đồng nay đem bán ở Sài gòn có tên là chanh dây, trái Thương Khó ( hay Khổ Nạn- passion fruit,  rất có thể là một thứ giống của lòai P. edulis , lòai phụ  var. edulis .
Trái Thương Khó có hai loại là tím và vàng:
hoaxuatraicu-3        _ Lọai tím tên Anh là purple pasion fruit, tên Pháp là grenadille pourpre, tên Việt là nhãn lồng tím (da trái tím , nhưng thịt màu vàng cam, ăn chua chua ngọt ngot.
_ Lọai vàng là lòai phụ P. edulis var flavicarpa , da trái vàng , trái nhỏ hơn và chua hơn , trồng tốt hơn  ở  vùng thấp đồng bằng.  Lọai này còn được gọi là Chanh dây vì trái mọc ở dây.
 [Về cách thức gọi tên các lòai chanh thì chúng thường gọi :
chanh tây có da vàng và nước chua, citron theo tiếng Pháp ( citron theo tiếng Mỹ bên ta gọi là bòng ), lemon theo tiếng Anh,
_ Còn chanh da ( vỏ ) xanh  thì tên Anh gọi là lime , tên Pháp  là limette, tên Việt là chanh giấy, chanh ta ).]
     
Hoa Nhãn Lồng hay Hoa Khổ Nạn (Thương Khó) tùy theo lọai có nhiều sắc vẻ rực rỡ vô cùng cũng như chúng có nhiều tên gọi khác nhau bằng tiếng latinh cũng như tên Việt.
hoaxuatraicu-6Hiện nay người ta khám phá ra gần 400 lọai Nhãn Lồng, có lọai mọc ngòai hoang dã, có lọai được trồng trong vườn cảnh trong khi có rất nhiều lọai trồng lấy trái để ăn hay lấy rễ lá làm thuốc. Nguyên thủy môi trường của các lọai Nhãn Lồng là vùng đất từ phía bắc xứ Mexico cho đến vùng Brazol miền Nam, nói chung Nhãn Lồng mọc khỏe ỡ vùng nhiệt đới.
Sau đây là lịch trồng Nhãn Lồng bằng chậu trong nội thất:
_ Từ January đến March là mùa yên nghĩ: Để chậu nhãn lồng ở chỗ mát, hướng về phía bắc. Đừng để đất khô mà giữ cho uớt, nhưng không bón phân. Cắt giây nhãn lồng còn khỏang 8 in để nó phục hồi lại hằng năm.
_ Tháng April là tháng tăng trưởng. Chậu cần nhiều ánh sáng, đất dùng lọai compost có fertilizer
_ Từ May cho đến September: Mùa nỡ rộ, có thể để chậu ở ban-công. Mỗi tuần tưới một lần thì hoa lá đẹp
_ October đến December là mùa bắt đầu tàn rụng. Bớt tưới và cho phân nhưng giữ cho bầu rễ có độ ẩm mà hồi sinh năm tới.

Câu chuyện kể của tôi về hoa trái của  cây Nhãn Lồng đã đưa các bạn từ một câu ca dao mộc mạc chơn chất của quê hương Việt Nam qua những hình ảnh hoa trái rực rỡ ngon lành trên đất Mỹ, kể ra như đã phiêu du theo buớc chân của đoàn người tỵ nạn lữ thứ VN đi nửa vòng trái đất.
Cây Nhãn Lồng gốc tại Mỹ Châu  trên giòng thời gian đã lan tràn  khắp nẻo trên địa cầu. Tôi từng hái những hoa chùm bao, nếm những trái mắm nêm hoang dại ở Huế vào tuổi ấu thơ, rồi thổn thức vẩn vơ khi nghe câu ru em tình tứ vào tuổi hoa niên với chuyện chim khuyên ăn trái nhãn lồng để rồi vào tuổi vãn niên tìm hiểu rõ  thấy chân tướng và gốc gác của nó trên đất Mỹ Châu. Câu chuyên nghe chừng xa xôi, diệu vợi nhưng e phải có một cái duyên nào đó nhỉ!
Trong cuốn Kiều, vào khúc kết tái hồi có câu :
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình
Thì câu chuyện của tôi có thể đặt cho một tựa đề là “ Hoa xưa trái cũ nay tìm lại trên đất Mỹ Châu” và được thực hiện bằng một bụi Nhãn Lồng ở vườn sau.
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/10/2014

ĐỐ AI BÒ XẺO MẤY NƠI?


 ĐỐ AI BÒ XẺO MẤY NƠI?

image002 Một chút thơ làm duyên khởi
Ngày nay có gần 3 triệu người Việt Nam sống ngoài quê hương nên gọi là “Dân Việt Nam Hải Ngọai”. Một món nổi tiếng mà họ đã phổ biến khắp nơi theo buớc chân lưu vong của họ là “Phở”. Ở vùng Bắc Mỹ, nơi nào có cọng đồng Việt kể như là có ít nhất một tiệm phở. để không những dân Việt đến ăn mà còn thu hút khách Mỹ địa phương. Trước vài tiệm phở mở ra có thời, vào giờ ăn trưa, khách Mỹ phải xếp hàng dài đợi ăn.
Tuy nhiên, có một vấn đề khá ngộ là món phở là món quốc hồn quốc túy của Việt Nam, nhưng có thể nói danh từ về thịt bò của phở thì người mình chỉ ăn mà ít để tâm tìm hiểu. Do đó, tôi có làm một bài thơ cảm hoài sau theo ngẩu hứng:
Dăm vần Lục Bát :
Đố Ai !
Đố ai bò xẻo mấy nơi
Để ta gọi phở đãi chơi bạn bè!
Đố ai nhớ kể đủ nghe,
Để ta thưởng thức phủ phê cuộc đời!
Chín, tái, gân, nạm ai ơi,
Sách giòn, gầu béo muốn thôi hay ngừng?
Vè, vú, ngầu pín tưng bừng,
Hành dấm, nước béo em cưng nhớ dùm!
Ngò gai, húng quế tùm lum,
Tương đen, ớt đỏ bỏ chung tuyệt vời!
Giá sống tươi mát gọi chơi,
Ngọt thơm bùi béo kêu trời đã ghê!
Yêu nhau lạc nẻo sông Mê,
Việt Nam bát phở  mọi bề nhớ thương.
Đôi ta cách nẻo sông Tương,
Cùng húp  nước phở như dường bên nhau!
Chữ rằng: Quân tử hảo cầu
Bò ngon, phở béo ở đâu cũng tìm!
Phương trời lưu lạc cánh chim,
Việt Nam bằng hữu trong tim dạt dào
Tình quê lưu luyến làm sao,
Cùng ăn tô phở nôn nao giải bầy!
Cùng nhau ước hẹn một ngày
Ôm nhau vồn vã vòng tay nồng nàn!
Lê văn Lân

Sành ăn và tận dụng của trời cho!
Có người thắc mắc về nét ăn cầu kỳ của dân Việt trên miếng thịt bò: Tại sao phải đòi hỏi tỉ mỉ về những chi tiết trong một tô phở trong khi tô mì hay hủ tiếu của Tàu không như vậy, nào là chín, tái, gầu, nạm, gân , sách… nào là húng quế, ngò gai, giá sống, nào là  tương đen, ớt đỏ, chanh dấm …tùm lum.
Trong bài Luận về Phở đăng trên báo Quốc Gia số 52, tháng 7, năm 1996, ông Phạm Hồng Hà đã viết:
Theo những người lớn tuổi kể lại thì buổi đầu ở miền Bắc chỉ có phở bò chín. Nghĩa là cả xương và thịt đều được cho vào nồi ninh. Thịt bò làm phở chín cũng không cần chọn lọc gì cả. Gân cốt, bạc nhạc cho vào ninh nhừ vừa phải vớt ra đúng lúc để ráo nước, rồi thái mỏng xếp lên trên mặt trên của bát phở.
Làm bạn với quán phở không phải chỉ có những người cần ăn cho no để có sức “kéo cầy” hoặc trẻ em thì ấm bụng tới trường, mà còn có nhiều đệ tử lưu-linh. Những vị này vào quán phở thường gọithêm vài ly rượu trắng. Uống rượu mà không có cái gì sậm sựt thì cũng nhạt nhẽo. Thành thử mấy vị kêu chủ quán chọn cho miếng sụn, miếng thịt bắp có gân cốt để nhâm nhi. Lần  lần những bộ phận của con bò  như gân, gầu,sách được ooi như đặc sản của từng quán phở bò.
Đây cũng gọi là một sự giải thích đáng chú ý. Như vậy, về phương diện tuổi tác, miếng “chín” là miếng thịt hàng thủy  tổ trong bát phở thuở ban đầu thời còn mồ ma nhà văn Thạch Lam tác giả Ba mươi sáu phố phường, còn bao nhiêu “tái, nạm, gân, gầu v.v…” đóng vai vệ tinh châu tuần thì thuộc thế hệ hậu duệ trẻ trung mới được phát kiến về sau trong nghệ thuật ăn phở bò…
Theo tôi thì sự tình phát kiến đã bắt nguồn từ tinh thần tận dụng kiệm uớc của Á Đông… đi cùng với sự sành ăn. Vỏ quít, cùi bưởi còn biến chế thành trần bì nấu lục tầu xá, thành mứt!  Tim, lòng, gan, phèo phổi heo còn chế thành phá lấu. Ngay cả đống xương phở “xí quách” (còn gọi là món “cải mả”) cũng không đến nỗi quăng cho chó gặm trước khi cho bợm nhậu nhâm nhi. Do đó, bao nhiêu thứ bạc nhạc sao lại không thành món kỳ trân khoái khẩu nhĩ?
Việt Nam mình há chẳng có câu: Hết nạc vạc tới xương!  Gặm xương quả là môt cái thú đối với nhiều người Á Đông trong tinh thần “ tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”  và khi ăn vật thực của trời cho hay do công lao bàn tay kiếm ra thì luôn giữ tinh thần tận dụng : Ăn hết đánh đòn, ăn còn đánh chết!  Mẹ tôi thường răn dạy tôi trên mâm cơm nếu mà tôi vì tham ăn hóc uống không giữ ý tứ mà gắp lấy một miếng ngon thì cái tội là “bị đòn” vì vô lễ và không biết nhường nhịn, nhưng lỡ đã gắp ăn thì ăn cho hết, chớ có bỏ mứa thì phãi tội với trời đất, tội đó nặng vô cùng, kiếp sau đầu thai làm con vịt bòn ăn đồ thừa thãi bỏ đi.
Và một điều khác cũng cần biết là trong nét sành ăn vật ngon là  biết thưởng thức “ cấu trúc sơ thớ”(texture) của thực phẩm! Ăn một miếng Sandwich Mỹ bổ béo nhưng ỉu xèo, một miếng bít-tết  “tender loin”nhũn mềm như môi phụ nữ,  ngon thì có ngon nhưng cái ngon  đâu sánh bằng cái thú “nhai” và thưởng thức cái cứng giòn, cái dai dai, sừn- sựt“miệng nhai, tai nghe” của ổ bánh mì kẹp thịt VN hay gặm một khúc xương còn dính gân, nạm nhỉ? Do đó, ăn một tô phỡ Việt Nam đúng điệu  khác hẳn một tô súp Tây phương ăn khai vị chỉ dùng muỗng mà “húp”, vì bao nhiêu cơ bắp của hàm nhai ( masticator) trên mặt của người ăn tha hồ có dịp khai triển thi thố làm lông tóc thái dưong tưng bừng mở hội! Cái ngon phải đến từ răng nhai!

Một cục gân bằng mười cân thuốc bổ!
Nói đến kỳ trân thì trong tô phỡ Việt Nam, bên cạnh thịt thì có thêm thứ là “Vú sữa” và  “ Ngầu Pín” gọi là ăn theo kiểu tạng phũ liệu pháp (organotherapy), ăn gì thì bổ nấy hay chủ trương “ăn nên thuốc”
Vú bò cái là một kỳ trân của Phở Hòa  Pasteur trước 1975, ăn rất thơm và ngầy ngậy , nhưng hình như không sẵn vì lấy đâu ra đồ trân phẩm của bò cái đang nuôi cho con bú  cho những người phàm tục.  Tuy nhiên thì món ngầu- pín thì luôn luôn sẵn. ( Ở Hoa Kỳ, vô chợ Mỹ thì đôi khi có thể kiếm ra ngầu pín gọi là bull  pizzles, còn hòn dái bò gọi làbull fryes, giá rẻ khá hấp dẫn nhưng phải quen mặt và dặn trước)
Ngầu- pín tức là chữ Ngưu Tiên đọc theo âm Quảng Đông  (牛鞭), danh từ này còn gọi là Âm Hành khi nói đến trong sách thuốc ( 陰莖) tức chỉ cái chuôi, cái cán , cái chầy (hành) ở chỗ kín như thơ của Hồ Xuân Hương nói bóng bẩy là cán cân Tạo Hóa trong bài Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường:
Cán cân Tạo Hóa rơi đâu mất,
Miệng túi Càn Khôn khép lại rồi.
Theo sách thuốc Bản Thảo Cang Mục của Lý Thời Trân, thức ăn gì cũng là vị thuốc cả: lá sách bò hay Ngưu Bách Diệp trị chứng say rượu, ngầu-pín trị chứng bạch đái nơi phụ nữ hiếm muộn, khỏi cần bàn đến cái công hiệu của ngầu pín, trứng dái và vú sữa nơi nam giới không bổ chiều ngang thì cũng tăng chiều dọc! “ Một cục gân bằng mười cân thuốc bổ” mà!

Đông và Tây đã gặp nhau chưa?
Hiện nay, dân Việt hải ngoại có dịp sống tại Tây phương, đông nhất là tại Hoa Kỳ nơi mà không bị nạn “đói thịt” (meat hunger) như phần lớn các quốc gia khác trên thế giới!. Đây là cơ hội bằng vàng để Đông và Tây gặp gỡ  và tìm hiểu nhau trong sự … ăn,  mà điển hình nhứt là qua miếng thịt bò!
Vì quá quen ăn thịt, dân Mỹ luôn luôn ngoác miệng ra “ Where’s the beef” mà lại đòi hỏi thứ thịt thượng-phẩm (high-quality)  và lại lười nhai nên cái món hẩu xực của họ là thịt bò xay (ground beef), cái món mà dân Giao chỉ VN không thích lắm vì “ Ngon thì ngon gượng kẻo là, Ai tri âm đó, mặn mà với ai! [ Miếng thịt Mỹ ăn không được đậm vì không được ướp gia vị kỹ ( marinating) như của Á Đông. Người ta nói rằng trong những thế kỷ trước, miếng thịt Âu châu của hàng quí tộc còn quá nhạt, quá hoi nên mới có nhu cầu hàng hải đi về phía Đông để đến đảo Gia Vị (Molucca Island)!  Người ta lại bảo Kha-luân-bố sở dĩ  khám phá ra châu Mỹ cũng vì nuôi mộng đi đến phương Đông bằng hướng Đại Tây Dương để kiếm tiêu, quế, đinh hương v.v…]
Dân Âu Tây là con cháu của dân du mục cổ thời  nay đã định cư lập quốc nên  có truyền thống chăn nuôi gia súc nên thích  ăn thịt, bàn ăn dọn ra phải có dao nỉa để cắt xẻ thịt. Còn dân Á Đông là dân nông nghiệp, trâu bò dùng để cầy cấy và kéo xe nên thức ăn phần lớn là  lúa gạo nông phẩm là chính mà thịt thì thứ yếu vì thịt quá quí…Nhu cầu về đản-chất chỉ cung cấp chính yếu qua cá và những thủy sản hoặc gia cầm hay chim chóc thú hoang…. Một miếng thịt đâu có dám ăn một mình cả tảng, cả khối như dân Tây mà phải cắt nhỏ để xào với rau đậu để cả nhà cùng ăn. Do đó, Á Đông mới dùng đôi đũa để gắp trái với dao nỉa của Âu Tây.  Mà thịt cá cũng không ai ăn một mình một dĩa mà phải “chém to, kho mặn” để cả nhà cùng chia xẻ để mặn miệng nuốt cơm.  Miếng thịt bò bít-tết là một sự du nhập mới vào Việt Nam vào thời Pháp thuộc, sang lắm, quí lắm. Nhà văn Vũ Trọng Phụng nếu mỗi ngày ăn được miếng tết bằng hai lóng tay thì chưa đến nỗi chết sớm vì lao phổi.
Do truyền thống ăn thịt từ nhiều thế kỷ, miếng thịt của gia súc – điển hình là thịt bò ở Âu Mỹ được chia theo cấp độ ngon, dở, mềm dai của chúng… Thăn lưng thịt mềm thì mau chín, còn thịt bắp, thịt nạm, sườn vì dai thì ninh nấu kỹ. Đó là lý đương nhiên như Đồ hình trong Tự Điển Larousse vể  những Thịt đồ tể ( Morceaux de boucherie) của con bò được chia ra nơi nào Miếng chín chóng ( morceaux à cuisson rapide), nơi nào Miếng chín lâu ( morceaux à cuisson lent)
image001
Dân Hoa Kỳ thì vì truyền thống ăn thịt lâu đời nên trong ngành đồ tể họ cũng có nhiều ngữ vựng chi tiết về sự xẻ thịt như chuck, rib, loin, round, short plate, flank, fore flank, brisket v.v…Thử làm một sự so sánh giữa hai đồ hình  đồ tể Việt Nam và Hoa Kỳ lấy thịt bò làm thí dụ thì nếu  chúng ta đừng đi vô chi tiết quá  chính xác thì chúng ta chỉ có thể tìm thấy một sự tương đương đại thể khá tương đối như chuck tương đương với thịt vai, rib là sườn,  brisket là bắp đùi, frank là nạm…
Nhưng quả là có một sự phân chia khá tỉ mỉ khác biệt về những ngữ vựng Mỹ về những phần thịt nạc ít mỡ gọi là “lean cuts”:
_  về miếng Thăn lưng (loin) thì họ lại chia theo cấp độ như tenderloin, top loin, sirloin;
_  về miếng Mông (round) thì chia theo cấp độ là round tip, top round, eye of round, bottom round v.v…và v.v… mà tôi không biết phải chuyển dịch làm sao cho sát  trong khi ngữ vựng Việt thì có vài chữ như tấm tết, đùi bít-tết,  lá cờ, trái thăn, ốc táo v.v…
image002
Dân Việt Nam có danh từ bít –tết sau khi tiếp xúc với văn hóa ẩm thực của Pháp như những chữ bơ, phó-mát, súc cu la.  Dân Pháp trước đây đi dến đâu là nhớ nhung và mang cách ăn bít-tết còn máu tươi đỏ lói của họ đến đấy, đến đỗi họ coi đó là “biểu tượng của uy tín Pháp trên thế giới” (Symbol of French prestige in the world). Món bít-tết Châteaubriand được sáng chế do người đầu bếp của ông Nam tước Francois René Vicomte de Châteaubriand (1768-1848). Thịt bò phải được cắt thành lát dầy cui từ thăn lưng của bò (beef tenderloin hay “filet).
Uy tín  của món bit-tết … bắt nguồn từ cái tính chất gần như tươi sống của nó. Miếng thịt với máu còn trông rõ tự nhiên, sền sệt, ngồn ngộn và cắt đứt gọn bằng dao. Ta có thể tưởng tượng rằng“ món trường-sinh bất- lão nhục” (ambrosia) của các vị thần Hy lạp cũng chỉ sánh bằng miếng thịt chắc nịch này  mà thôi !  Khi nhai dưới răng thì thịt từ từ tan biến và đồng thời khiến ta tự nhiên sâu sắc cảm nhận cái nguồn mãnh lực độc đáo của nó và cái khả năng tuôn chẩy vào giòng huyết quản của ta”
Lời ca tụng trên về món Châteaubriand là của ông Roland Barthes trong cuốn Mythologies NY 1971 nói lên  rằng cái mềm thượng đỉnh nhất ở chốn  trần gian chỉ có thể so sánh với cái mềm của miếng beef tender loin hay cái mềm của môi phụ nữ mà thôi!  Truớc đây, miếng bít-tết của dân Việt mình dù giầu có  không thể nào sang như vậy vì đó là món thượng-phẩm. [Tuy nhiên từ hồi qua Mỹ, ngành chăn nuôi bò của họ quá phát triển nên có nhiều steak houses nên dân Giao chỉ ta cũng phè phỡn hưởng thụ đâu có kém ai (và bị bệnh Gout - Thống Phong cũng lắm]
Miếng thịt bò của ta ta trong cách bếp núc thông thường không dám thường xuyên chọn thứ thượng-phẩm mà  quanh quẩn vào những thứ thịt bò trung phẩm và hạ phẩm . Nhưng chính nhờ tinh thần tận dụng, sành ăn và sáng tạo mà ta dọn ra một tô phở thập cẩm gồm đủ chín, tái, gân, gầu, nạm, sách, v.v… vừa thích khẩu, vừa no, vừa khoan khoái dồi dàng bổ dưỡng.

Bí quyết chọn thịt cho tô phở
TÊN VIỆTTÊN ANHHÁN VIỆTHOA NGỮ
TáiEye of Round SteakSinh Ngưu Nhục    
ChínWell-done BrisketThục Ngưu Nhục    
GầuFat BrisketVõng Du  
NạmWell-done FlankThục Nạm  
Vè giònSkirt FlankSảng thúy ngưu nạm      
Lá SáchBible tripeBách Diệp  
GânTendonNgưu Lặc  

Tôi đã sưu tập nhiều thực đơn cũa các tiệm phở VN tại Mỹ và  tôi gia công hệ thống hóa để làm thành một biểu đồ so sánh  về từ ngữ  như trên. Bây giờ ta hãy  coi cách chọn thịt cho tô phở ra sao?
Riêng về món Tái tôi có nhận xét sau:
Thịt bò tái đương nhiên phải chọn nơi mềm nên các tiệm phở Việt đã dùng vùng thịt gọi là Đùi Bít-tết ( số 8 theo sơ đồ Việt) hay Eye od Round (sơ đồ Mỹ) nằm chính giữ vùng Round ( thịt mông đùi sau hay Ngưu Cổ Nhục) hay Cuisse ( sơ đồ Larousse cùa Pháp). Đùi này là đùi sau vì Đùi sau của bò thường mềm hơn và nhiều thịt hơn đùi trước (Việt Nam ta có câu: Cho đùi trước, lấy đùi sau!) Gọi là Đùi sau nhưng đúng ra phải nói Mông Đùi.  Ta cũng nên biết vùng Mông Đùi sau (Round) theo sơ đồ Mỹ có thể chia thành 4 miếng:
Round tip nạc và mềm nhất
Top Round : mềm thứ hai
Eye of Round và Bottom Round thì ngang nhau là mềm thứ ba. (Eye là nhãn điểm hồng tâm trên bia bắn)
Tôi thiết nghĩ thịt ăn tái cũng có thể lấy từ “Tấm tết” của sơ đồ Việt, tương đương với các vùng thăn lưng (Loin) của bò. Về phần thăn (Loin), chúng ta thấy có những danh từ phân biệt như : Loin, tenderloin, short loin, sirloin  theo sơ đồ Mỹ khó mà kiếm danh từ Việt tương đương.
.Tại sao các tiệm phở VN lại cắt thịt tái từ  vùng Mông Đùi ( Eye of Round) mà không lấy từ phần Thăn (Loin)?  Tôi thử dọ hỏi với dân hàng phở thì họ úp mở nói rằng thớ thịt của vùng Eye of Round tuy không mềm bằng nơi khác nhưng “ ăn đúng điệu VN” , có thể hơi dai chút đĩnh nên cần nhai dưới răng lâu lâu để thưởng thức vị ngọt, còn các nơi thịt khác quá mềm để ăn bít tết tươi sống thì tuyệt nhưng xắt cho tái phở vừa đắt, vừa không ngon, lát thịt khi chín thì teo quắt lại. Tra sách Mỹ, thấy vùng giữa của thịt đùi bít-tết hay Eye of Round không mỡ, chắc và có thớ sợi li ti, cần phải lấu nỉa mà chần cho mềm (fork tendering). Khi xào lúc lắc thì phải chần cho các thơ sớ liên kết mềm.  Nấu chín bằng hơi nóng ẩm như lối khìa (braising) cũng làm thịt mềm hơn (Tuy nói vậy, tôi xin nhường thẩm quyền phán xét cho các đầu bếp chuyên môn, không dám lạm bàn) . Thịt tái thì thích hợp cho món nhúng, nuớng vỉ (thiết bản) và thịt bò vắt chanh hay bóp thấu.
Về tiếng “Nạm” (beef flank) thì tôi thấy đây là một vùng thịt bò có thơ sớ đặc biệt lớn trong bát phở, nhưng viết theo chữ nho thì theo Tự điển Thiều Chửu, chữ Nạm ( quen dùng viết trên thực đơn Phở VN) có nghĩa là “thịt trâu non”. Nạm và gân và bạc nhạc vốn thích hợp cho món Bò kho…
Trên thực đơn, “chín” dịch là “thục” , nhưng “tái” dịch là “sanh” nghĩa là sống, kỳ thực phải dịch sát từ ngữ là “bán sanh bán thục” [ Nhưng trên thực tế, tôi thấy các tiệm phở xắt thịt tươi sống thật mỏng rồi  trải trên mặt tô phở nên dịch là “sanh” là đúng!]
Chữ “Giòn” thì Hoa ngữ dịch là “sảng thúy” (âm Quãng Đông: xoỏng xui – âm “xoỏng” nghe cũng rổn rảng lắm đấy, âm xui thì nghe như xừng xựt như lúc nhai lá sách bò thật vui tai đáo để).
Một thắc mắc của tôi khi coi Sơ đồ Thịt Bò của bà Triệu thị Chơi có mấy chữ sau: Trái thăn, Lá cờ thì không biết tương đương với tiếng Mỹ gì: Loin hay Tenderloin?  Còn chữ “Ốc Táo có phải là vùng quanh cái rốn (navel) của bò không?

Sự tra cứu lẩn thẩn của tôi về những miếng thịt bò rất cần quí vị cao minh chỉ giáo nhất là quí vị từng quan sát thực tế trong ngành nấu bếp, ngành Thú Y, ngành súc khoa v.v… Như vây thì bổ ích cho kho ngữ vựng Việt Nam và văn hóa VN nhường bao.
Từ một câu thơ năm xưa của thi sĩ Thanh Tinh tôi đã miên man lôi kéo quí bạn trên nhiều chuyện từ chuyện nhai lại của lòai trâu bò qua chuyện tìm hiểu những lát thịt bò trên tô phở VN v.v…Đa ngôn, đa quá, càng nói nhiều thì càng lỗi lầm… Thôi đến đây, tôi đành chấm dứt bài bút khảo thập cẩm “chín, tái, nạm, gân, giòn, gân, sách” kẻ quí bạn lại quở là nói : Dài, Dai, Dở và Dốt!

Một chút thơ thay lời kết!
            Mở bài tôi có một bài thơ làm duyên khởi thì đóng bài tôi cũng mạo muội làm một bài thơ tổng kết  hay gói ghém. Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Hãy cười cho vui vẻ cuộc đời và tươi mát tâm hồn chứ, phải không bạn?
Phở Phượng Cầu Hoàng
Phở em: Phở Phượng Cầu Hoàng
Tỉ tê giới thiệu xem chàng chịu không?

Miếng tái vốn thiệt Thịt Mông (Round)
Tươi…mềm…mát miệng khiến lòng yêu nhau!
Gầu giòn…nạm béo…nhai lâu
Vốn từ lườn Ngực (Flank) Phượng cầu duyên loan
Lá sách từ Bụng em ngoan
Vừa trắng, vừa mịn nhai giòn dưới răng!
Miếng gân ăn dẻo thêm hăng
Lại thêm Ngầu pín hỏi rằng đã chưa?
Miếng chín ai cũng khen ưa,
Đậm đà hương liệu, nêm vừa miệng xơi.
Hỡi chàng quân tử …cưng ơi!
Nếm thử vú sữa, em mời dâng cho
Ớt , tiêu, giá sống thêm vô
Hành chần, nước béo, lá ngò tự nhiên!

Phở ngon dọn cốt làm duyên
Ấy chàng thỏa mãn, em nguyền sánh đôi.

LÊ VĂN LÂN
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/10/2014