Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Bạch quả

Bạch quả - Ginkgo

Ginkgo - Abricotier d'argent
Bạch quả
Ginkgo biloba L.
Ginkgoaceae
Đại cương :
Cây Bạch quả Ginkgo (Ginkgo biloba(银杏 yínxìng tiếng Tàu ) là một loài của Cây và duy nhất đại diện ngày nay của họ Ginkgoaceae. Đây là một loài duy nhất hiện nay của ngành ginkgophyta.
Nó được xem như một loài hóa thạch sống espèce panchronique. Đây là một Cây lâu đời nhất được biết, bởi vì nó đã xuất hiện hơn 270 triệu năm.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được xem như một cây địa khai fossile, nó đã xuất hiện 40 triệu năm trước khi xuất hiện loài khủng long dinosaures.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba có nguồn gốc ở Đông Nam nước Tàu, thường được trồng như một cây cho bóng mát, ít khi thấy ở những khu vực canh tác.
Nó có đời sống lâu dài, hơn 4000 năm mọc giữa thiên nhiên trong nước Tàu. Là một cây có sức đề kháng cao đối với bệnh  tật và ký sinh, với ô nhiễm và với nấm mốc.
Nó cũng là một cây duy nhất còn sống sót trải qua một biến cố bom nguyên tử Hiroshima, những lá của nó chưa đốt cháy nổi.
Ngày nay, người ta tìm thấy trên nhiều đường phố, quảng trường lớn vì sức đề kháng cao của nó và vì  để làm cây cảnh.
Cây được trồng rộng rãi (đặc biệt đối với công dụng làm thuốc của nó ) ở Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và ở Mỹ.
Do mùi hôi của trái ( màng bên ngoài của trứng ovule, khi phân hủy cho một mùi hôi của acide butyrique. Nên Cây Bạch quả Ginkgo biloba có xu hướng trồng Cây đực.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
▪ Bộ máy dinh dưởng :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một Cây đại mộc có kích thước trung bình đến lớn, có thể đạt đến khoảng 20 đến 30 m.
Thời gian sống rất quan trọng, Cây tìm thấy ở vườn thực vật của Đại học Sendai có tuổi thọ 1250 năm. Cây ginkgo là một vật thể có tiềm năng bất tử immortel, nó không có kẻ thù tự nhiên, cũng không ký sinh hoặc bệnh tật.
Chỉ có những yếu tố bất lợi bên ngoài bất lợi như loài người, mối nguy hiểm chất hóa học và khí hậu.
Vỏ của Cây Ginkgo còn trẻ, lúc đầu trơn mịn, kế sau đó trở nên nứt và nứt nẻ theo thời gian. Màu sắc thay đổi từ màu nâu đến màu xám.
Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba là duy nhất trong ngành Tử thực vật spermatophytes, bởi vì hình thành 2 thùy dưới dạng lá cọ palme hay hình cái quạt và không hiện diện gân chánh trung tâm như tất cả những cây hiện đại.
Với một cuống lá, được chèn trên những nhánh cành thành từng nhóm nhỏ 3 hoặc 4 và đạt đến khoảng 5 đến 15 cm dài. Có lá rụng caduques.
▪ Bộ máy sinh dục :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được phân loại trong ngành Ginkgophytes hoặc Préspermaphytes, gần với những loài cây có hạt. Như vậy, Ginkgo biloba không có hạt,
Những Cây đực mang những gié đuôi chồn chatons dưới dạng hình trụ, và những cây cái mang những gié lớn hơn, cho ra những trứng ovules ( cây đơn phái biệt chu dioïques ).
▪ Một noãn thụ tinh fécondé bởi hạt phấn pollen của một Cây ginkgo đực, trứng ovule nẩy mầm ngay lập tức, nảy sanh một cây mới, thường ở dưới chân của  Cây mẹ.
Những trứng ovules của Cây Bạch quả Ginkgo biloba thường được gọi, gọi tên sai lầm, tên gọi hạt graine hoặctráifruit  ( Những hạt chỉ xuất hiện với những loài khỏa tử gymnospermes ( hoặc conifères) và những trái duy nhất ở những loài bí tử angiospermes ).
Ở Ginkgo không hạt cũng không trái, trứng ovule của ginkgo nẩy mầm ngay khi những điều kiện thuận lợi.
Trứng ovule được bao bọc một lớp vỏ tégument màu vàng nâu, nạt bên ngoài và dai như da  bên trong, do đó người thường nhầm lẫn trứng ( noãn ) này với trái, đặc biệt với những trái hạt cứng drupe.
Trứng ovule hình cầu đo được từ 2 đến 3 cm đường kính. Trước mùa thư, trứng láng mịn và hấp dẫn nhưng độc hại toxique, đặc biệt phần nạt của lớp vỏ tégument, bởi vì nó chứa acide butanoïque.
Chất này là nguồn gốc mùi của bơ có mùi hôi hoặc mùi ói mữa, Cây Bạch quả Ginkgo biloba phóng thích trứng, vào mùa thu trứng bắt đầu nhăn.
Bộ phận sử dụng :
Lá và nhân trứng.
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
Những thành phần chánh của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Thành phần hóa học chánh :
● Terpénoïdes
- Diterpènes: ginkgolides A, B, C, J ( M tìm thấy trong rễ )
- Sesquiterpéniques: bilobalide
- triterpènes: stérols
● Những flavonoïdes ( flavones, glycosides flavonol, và aglycones )
- kaempférol,
- quercétine,
- isorhamnétine,
- rutine,
- lutéoline,
- delphidenon,
- myricétine
Biflavonoïdes :
- sciadopitysin,
- ginkgetin,
- isoginkgetin,
- amentoflavone,
- bilobetin,
- 5'-methoxybilobetin
● những acides hữu cơ :
dẫn xuất của acide benzoïque ( acide ginkgolique ),
- N-acides contenant
▪ polyprénols:
- Di-trans-poly-cis-octadecaprenol
▪ Những thành phần hợp chất khác hiện diện là :
- acide Amino Acid-6hydrozykynurenic Acide,
- flavones dimères ( bilobetin, ginkgetin, isoginkgetin, scieadopitysin ),
- proanthocyanidines,
- acides ginkgoliques,
- acide ascorbique,
- caroténoïdes,
- và bilobalide.
- chất sáp cires,
- stéroïdes,
- 2-hexénal,
- cardanols,
- những chất đường sucres,
- catéchines,
- phénols,
- aliphatiques
- rhamnose
▪ Bốn (4) hợp chất đã được phân lập từ trích xuất acétate éthyle của những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Những hợp chất II, III, IV đả được xác định như :
- ginkgolides A, B và C, tương ứng,
hợp chất I, thu được từ những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho lần đầu tiên, đã được xác định như :
- 3,3'-diméthoxy-4,4'- dihydroxy-stilbène bằng phương pháp quang phổ spectroscopiques.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa nhiều chất khác nhau, bao gồm :
- những flavonoïdes,
- terpènes,
- lactones sesquiterpènes,
- ginkgolides,
- và những bilobalides.
Hầu hết những nghiên cứu ảnh hưởng trên những hiệu quả cửa ginkgo được thực hiện với trích xuất mang tênEGb 761, chứa :
- 24 % tối thiểu m/m của glycosides flavone,
- và 6 % m/m terpènes de lactone.
Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng chứa những :
▪ Những vitamines :
- vit B1
- vit C,
- niacine vitamine B3.
▪ và những nguyên tố khoáng, như :
- potassium K,
- phosphore P,
- calcium Ca,
- fer Fe,
- cuivre Cu,
- magnésium Mg,
- manganèse Mn,
- sodium Na,
- zinc Zn,
▪ Những acides amine như :
- arginine,
- méthionine,
- cystéine,
- cystine,
- leucine,
- isoleucine,
- lysine,
- tryptophane,
- sérine,
và những đường glucides như :
- saccharose,
- fructose,
và cũng có :
- những chất đạm protéines.
• Hai (2) thành phần chủ yếu trách nhiệm của những hiệu quả y học là :
- lactones terpéniques,
- và glycosides ginkgo flavone.
▪ Trong năm 1932, Furukawa phân lập lần đầu tiên thành phần terpènes của Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Chúng bao gồm :
- những triterpènes,
- caroténoïdes,
- những polyprenols,
- những mono-
- sesquiterpènes,
- và terpènes trilactones.
Thành phần cuối bao gồm :
- những ginkgolides,
- và bilobalide.
Elias James Corey, giải Nobem Chimie, thực hiện tổng hợp :
ginkgolide B.
► Cơ chế hoạt động hoá học của Ginkgo :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa nhiều thành phần chất hóa học khác nhau. Hầu hết giữa những chất rơi vào trong 2 nhóm loại :
Flavnoids,
- và Terpénoïdes hay terpéniques lactoids.
● Flavnoids là những chất, hành động như :
- chống oxy hóa anti-oxydants :
- ( làm sạch những gốc tự do, làm tổn thương trong cơ thể,
- làm thay đổi những màng tế bào membranes cellulaires,
- làm xáo trộn ADN,
- và thậm chí gây ra cái chết tế bào mort cellulaire)
cũng hiện diện trong những trái và rau cải tự nhiên.
- tăng cường hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể système immunitaire dans le corps,
- và can thiệp vào sự hình thành ung bướu khối u tumeurs.
Loại flavonoïdes trong Cây Bạch quả Ginkgo biloba được gọi tên là :
▪ Ginkgolide. Ginkgolides là những hợp chất độc đáo độc quyền của Cây Bạch quả Ginkgo biloba và chia nhỏ thành những :
- ginkgolides riêng biệt A, B, C, J, và M.
Mỗi Ginkgolide có một mức độ hiệu năng khác nhau :
Ginkgolide B được xem như hoạt động nhất .
Những flavnoids khác cũng hiện diện như :
▪ quercétine ( là một trong những flavnoids nghiên cứu nhiều nhất và là một chất chống oxy hóa mạnh hơn vitamine E),
▪ và kaempférol.
● lactones terpéniques là những thành phần hoạt động đem lại cho Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
- một hương vị đắng mạnh mẽ saveur amère,
- và giúp sự lưu thông máu circulation sanguine gia tăng.
▪ Nhân trứng Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa :
- một dầu thiết yếu huiles essentielles,
- acide béo,
- chất chát tannins,
- và chất nhựa résine.
• Terpénoïdes (ginkgolides) :
- cải thiện tuần hoàn máu améliorer la circulation.
• bilobalides có những đặc tính :
- bảo vệ thần kinh neuroprotectrices.
• Nó làm thay đổi :
- điều chỉnh sự co mạch vasorégulation,
- điều biến sự dẫn truyền thần kinh module neurotransmetteur,
- và hoạt động của thụ thể récepteur,
- và ức chế PAF platelet activating factor ( yếu tố kích hoạt những tiểu cầu activation des plaquettes ).
Đặc tính trị liệu :
► Đặc tính tổng quát của Ginkgo :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng trong y học truyền thống Tàu từ thời cổ đại.
Những kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy rằng những tiềm năng áp dụng y học của loài này là đa dạng :
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa những thành phần chất khác nhau, bao gồm :
- những flavonoïdes,
- terpénoïdes,
- lactones sesquiterpènes,
- ginkgolides,
- và những bilobalides.
Những hiệu quả của Cây Bạch quả Ginkgo biloba trên cơ thể là nhiều, nhưng một số nhất định được tin là liên quan đến những hiệu năng chữa bệnh thérapeutiques cho đến nay vẫn còn không có cơ sở.
Trong số những hiệu quả quan sát, được lưu ý :
- một hoạt động chống oxy hóa antioxydante,
- gia tăng lưu lượng máu débit sanguin đặc biệt ở não cérébral,
- một tiểm lực của những dẫn truyền thần kinh neurotransmetteurs,
- và một điều biến của trao đổi chất biến dưởng của đường glucose métabolisme du glucose.
▪ Hạt ( nhân trứng ) Ginkgo
Những nhân trứng ( gọi là hạt để dễ nhớ ) được nấu chín và được sử dụng để chữa trị :
- bệnh phổi pulmonaires,
trong y học truyền thống Tàu.
▪ Lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba
▪ Dùng bên ngoài cơ thể, để loại trừ :
- những vết tàn nhan taches de rousseur,
- và giảm những vết thương plaies.
▪ Trong nồng độ cao của trích xuất của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba, cho vào cơ thể để :
- cải thiện sự lưu thông máu lên não cerveau,
- và như một chất chống oxy hóa antioxydant.
▪ đã được chứng minh để làm giảm :
- mất trí nhớ perte de mémoire,
- và cải thiện tâm trạng,
trong giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer.
▪ Giàu chất flavonoïdes, trích xuất  Cây Bạch quả Ginkgo biloba là :
- một chống oxy hóa mạnh antioxydant,
- với những đặc tính bảo vệ thần kinh neuroprotectrices.
Đây là lý do, người ta nghĩ rằng có thể có lợi ích để :
- giảm những tổn thất của chức năng liên quan đến sự lão hoá vieillissement.
Tương tự không có hiệu quả được chứng minh trên :
- những rối loạn nhận thức cognitive của những đối tượng lớn tuổi âgés.
▪ Sự sử dụng dược phẩm của Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã được đề xuất cho khả năng của Cây :
- làm giản mạch vaso-dilatatrices
có thể cho phép sử dụng để chữa trị một số vấn đề nhất định liên quan đến sự lão hóa vieillissement như :
- mất trí nhớ perte de la mémoire,
cũng như của những vấn đề của :
- da peau,
- giản tĩnh mạch varices,
- bệnh trĩ hémorroïdes,
- và chân nặng jambes lourdes.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho phép những người mắc phải hội chứng Raynaud chịu được lạnh..
▪ Trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một thuốc :
- chống kết tập tiểu cầu antiagrégant plaquettaire, ( là một chất làm giảm kết tập tiểu cầu và ức chế sự hình thành huyết khối )
- và có thể là nguyên nhân của một số trường hợp nhất định của tai nạn mạch máu accidents vasculaires.
► Sự sử dụng và chỉ định thuốc :
Dựa trên những nghiên cứu được tiến hành trong phòng những thí nghiệm, những động vật, những người, Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng với mục đích như sau :
● Mất trí démence và bệnh Alzheimer
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng rộng rãi trong Châu Âu Europe để chữa trị :
- bệnh mất trí démence.
Lúc đầu, những Y sỉ nghĩ rằng điều này đã giúp,  bởi vì :
- nó cải thiện tuần hoàn máu circulation sanguine đi vào não cerveau.
Bây giờ nghiên cứu thêm thấy rằng nó có thể bảo vệ :
- những tế bào thần kinh cellules nerveuses
tế bào đã bị tổn thương hư hại trong bệnh Alzheimer.
Một số nghiên cứu nhất định cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có một hiệu quả tích cực trên :
- trí nhớ mémoire,
- và sự suy nghĩ pensée
ở những người mắc bệnh Alzheimer hoặc bệnh mất trí démence hoặc sa sút trí tuệ mạch máu démence vasculaire, một hình thức mất trí nhớ gây ra bởi sự suy giảm nguồn máu cung cấp cho não có thể gây ra một số đột quỵ nhỏ.
● Bệnh Alzheimer :
Những nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp những người mắc bệnh Alzheimer :
▪ Cải thiện :
- sự phản xạ, suy tư réflexion,
- học tập apprentissage,
- và trí nhớ mémoire ( chức năng nhận thức cognitive )
▪ Có một thời gian dễ dàng hơn để hoạt động hằng ngày.
▪ cải thiện hành vi tâm tánh xã hội comportement social
▪ Có ít cảm giác với bệnh trầm cảm sentiments de dépression
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể :
- có chức năng tốt của một toa thuốc bệnh Alzheimer để trì hoản những triệu chứng xảy ra của bệnh mất trídémence.
● Chứng khập khểnh từng hồi ( không liên tục ) Claudication Intermittente :
Bởi vì Cây Bạch quả Ginkgo biloba cải thiện sự tuần hoàn máu circulation sanguine, Cây đã được nghiên cứu ở những người mắc phải :
- chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente,
- hoặc đau nhức có nguyên nhân bởi sự lưu thông máu circulation sanguine giảm ở chân.
Những người mắc chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente có một thời gian khó khăn đi mà không cảm thấy một sự đau đớn cùng cực.
Một phân tích của 8 nghiên cứu cho thấy rằng những người dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba, có xu hưiớng đi trong vòng 34 m xa hơn so với những người dùng giả dược placebo.
Trong thực tế, Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã  được chứng minh với sự làm việc cũng như của một thuốc ghi toa cải thiện sự đi bộ không đau đớn.
Tuy nhiên, những bài tập đi bộ thường xuyên đều đặn tốt hơn so với Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong sự cải thiện khoảng cách đi bộ.
● Lo âu Anxiété :
Một nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp :
- giảm bớt lo lắng anxiété.
Những người mắc phải :
- rối loạn lan tỏa rộng anxiété généralisée,
- và rối loạn điều chỉnh trouble d'adaptation
dùng uống trích xuất đặc biệt Cây Bạch quả Ginkgo biloba có ít triệu chứng lo âu hơn những người dùng uống giả dược placebo.
● Tăng nhãn áp Glaucome :
Một nghiên cứu nhỏ cho thấy những người mắc bệnh tăng nhãn áp glaucome, dùng uống 120 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba / ngày trong vòng 8 tuần, thể hiện một sự cải thiện trong tầm nhìn của họ vision.
● Trí nhớ mémoire và suy nghĩ pensée :
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được tự hào rộng rãi như một « Thảo dược của não ».
▪ Một số nghiên cứu cho thấy rằng Cây sẽ giúp cải thiện trí nhớ ở những người mắc bệnh :
- mất trí démence.
Cây không phải cũng rõ ràng Cây Bạch quả Ginkgo biloba giúp trí nhớ mémoire ở những người có sức khỏe tốt, bình thường, mất trí nhớ mémoire liên quan đến tuổi âge.
▪ Một số nghiên cứu đã tìm thấy lợi ích nhỏ, trong khi nghiên cứu khác đã chứng minh :
- không giúp gì cả.
▪ Một số nghiên cứu cho thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba có :
- cải thìện trí nhớ mémoire,
- và sự suy nghĩ ở những thanh niên trẻ và tuổi trung bình của những người có sức khỏe tốt.
Liều dùng tốt nhất, hình như vào khoảng 240 mg / ngày.
▪ Không có bằng chứng nào uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba giúp bảo vệ chống lại :
- bệnh mất trí démence.
▪▪▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba thường thêm vào :
- những thành phần dinh dưởng,
- thức uống có hoi gaz,
- và những sinh tố trái cây để tăng cường trí nhớ,
- và nâng cao hiệu năng tâm thần,
mặc dù, một số lượng nhỏ có lẽ không giúp ích gì.
● Thoái hóa điểm vàng Dégénérescence Maculaire :
Những flavonoïdes tìm thấy trong Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giúp :
- ngăn chận arrêter,
- hoặc giảm réduire
một số vấn đề của võng mạc rétine, bộ phận phía sau mắt œil.
Sự thoái hóa điểm vàng dégénérescence maculaire, thường gọi là :
- « Thoái hoá điểm vàng  dégénérescence maculaire liên quan đến tuổi âge »,
- hoặc viết tắc  AMD age-related macular degeneration,
● Hột chứng tiền kinh nguyệt Syndrome prémenstruel (SPM)
Hai (2) nghiên cứu với lập trình của liều dùng hơi phức tạp tìm thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba gíúp :
- giảm những triệu chứng của Hội chứng tiền kinh nguyệt SPM.
Những phụ nữ trong những nghiên cứu được cho uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba, bắt đầu ngày thứ 16 của chu kỳ kinh nguyệt cycle menstruel và ngưng dùng sau ngày thứ 5 của chu kỳ tiếp theo sau, sau đó dùng lần mới nữa vào ngày 16.
● Hiện tượng Raynaud
Một nghiên cứu được thiết kế tốt, tìm thấy rằng những người với :
- hiện tượng Raynaud,
được cho dùng uống Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong khoảng thời gian 10 tuần, có ít triệu chứng hơn so với những người cho uống với giả dược placebo.
Những nghiên cứu khác là cần thiết.
Chủ trị : indications
Cây Bạch quả Ginkgo biloba là một cây thuốc rất được sử dụng trong y học truyền thống Tàu, Nhật Bản, và Đại Hàn từ ngàn năm qua.
Nói chung dược thảo này được dung nạp tốt bởi hầu hết những người lớn khỏe mạnh với liều khuyến cáo.
Dược thảo này rất được sử dụng để cải thiện :
- tuần hoàn máu circulation sanguine,
có thể cải thiện :
- trí nhớ mémoire,
- sự tập trung concentration,
- và những chức năng tâm thần nói chung mentales en général.
Theo nhiều nghiên cứu, Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng hình như làm chậm lại sự tiến triển của :
- bệnh Alzheimer.
Cây Bạch quả Ginkgo biloba được xem như một phương thuốc tự nhiên có thể thúc đẩy :
- vi tuần hoàn micro circulation,
- và do đó mang dưởng khí oxigène đến những mô tế bào như là não cerveau.
Nếu người ta có tiền sử bệnh lý antécédents médicaux hoặc dùng thuốc, nên tham vấn Bác sỉ trước khi dùng chữa trị với Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
▪ Giảm :
- những triệu chứng của bệnh Alzheimer,
- và bệnh mất trí nhớ người già yếu démence sénile,
giảm những triệu chứng của :
- chứng đi khập khểnh từng hồi claudication intermittente.
▪ Cải thiện :
- những chức năng nhận thức fonctions cognitives,
- và làm chậm lại sự suy giảm với tuổi déclin avec l’âge,
- ngăn ngừa những bệnh tim mạch cardiovasculaires,
- chữa trị bệnh Raynaud,
- chữa trị bệnh bạch biến hay lang trắng vitiligo,
- làm dịu bởi những hội chứng tiền kinh nguyệt syndrome prémenstruel,
- ngăn ngừa bệnh tật của núi mal des montagnes.
▪ Chữa trị những rối loạn :
- chứng bệnh ù tai acouphènes,
- những rối loạn chức năng tình dục dysfonctions sexuelles.
- chữa trị bệnh chóng mặt vertiges,
- sự tuần hoàn ngoại vi circulation périphérique ( claudication intermittentemaladie de Raynaud),
▪ Giảm những triệu chứng liên quan đến :
- bệnh mất trí nhớ có nguồn gốc mạch máu démence d’origine vasculaire,
- hoặc thoái hóa dégénérative,
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Y học truyền thống Tàu đã sử dụng  và hạt Cây Bạch quả Ginkgo biloba từ nhiều thế kỷ. Sử dụng cho :
- bệnh suyễn asthme,
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs.
▪ Trong thời đại mới này những chống oxy hóa antioxydants, những glycosides và những flavonoïdes, Cây Bạch quả Ginkgo biloba được phát huy để chữa trị :
- những bệnh Alzheimer,
- bệnh mất trí démence,
- cải thiện trí nhớ mémoire,
- và chức năng nhận thức fonction cognitive,
- tuần hoàn máu não circulation sanguine cérébrale,
- và ngoại vi périphérique ( chứng đi khập khểnh claudication ),
- ù tai acouphènes,
- và chóng mặt vertiges.
▪ Rối loạn cương dương dysfonction érectile :
Do ảnh hưởng trên tuần hoàn máu, nó trở thành một thành phần trong nhiều phương cách pha chế thảo dược Viagra để gia tăng lưu lượng máu dẫn đến những cơ quan sinh dục dương vật.
▪ Cải thiện trí nhớ mémoire :
Thử nghiệm lâm sàng clinique lớn nhất và dài nhất, kết luận, nó không cung một lợi ích nào có thể đo lường trong trí nhớ mémoire hoặc chức năng nhận thức fonction cognitive liên quan đến người lớn với chức năng nhận thức lành mạnh.
Nghiên cứu :
● Ginkgo triloba và chữa trị bệnh Alzheimer :
▪ Đôi khi người ta gán cho nó những hiệu năng bảo vệ chống lại :
- bệnh Alzheimer,
- hoặc bệnh mất trí démence,
nhưng không có gì khác biệt đáng kể được tìm thấy để chứng minh giữa hiệu quả chữa trị của trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba và một giả dược placebo.
▪ Tuy nhiên, một trong những nghiên cứu thực hiện tốt nhất tìm thấy ở Cây Bạch quả Ginkgo biloba không tốt hơn giả dược placebo trong sự giảm những triệu chứng của :
- bệnh Alzheimer.
Trong một nghiên cứu năm 2008, 176 người ở Royaume-Uni với bệnh Alzheimer được cho uống hoặc là Cây Bạch quả Ginkgo biloba hoặc một giả dược placebo trong vòng 6 tháng.
Vào cuối nghiên cứu, người ta quan sát không có sự khác biệt nào trong chức năng tâm thần mentale hoặc phẩm chất qualité của đời sống giữa những nhóm.
▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba đôi khi cho thấy để :
- ngăn ngừa bệnh Alzheimer,
- và bệnh mất trí démence,
cũng như một số nghiên cứu đã cho thấy rằng điều này có thể giúp.
▪ Nhưng vào năm 2008, một nghiên cứu được thiết kế tốt ( nghuiên cứu GEM ) với hơn 3.000 người lớn tuổi, tìm thấy rằng Cây Bạch quả Ginkgo biloba không có giá trị tốt hơn giả dược placebo trong sự ngăn ngừa :
- bệnh mất trí démence,
- hoặc bệnh Alzheimer.
● Hiệu quả huyết học hématologiques / yếu tố kích hoạt tiểu cầu activation plaquettaire ức chế của sự liên hệ / giảm chất sinh  sợi huyết fibrinogène Descente :
▪ Lactones terpéniques ức chế cầu nối của PAF ( platelet-activating factor ) với thụ thể màng tế bào récepteurs membranaires.
▪ trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giảm nồng độ chất sinh sợi huyết trong huyết thanhfibrinogène sérum.
● Chống oxy hóa Antioxydant :
Trong những nghiên cứu trên thỏ, trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã chứng minh những đặc tính chống oxy hóa antioxydantes với giảm sự phóng thích của superoxyde.
● Bệnh Raynaud :
Sự sử dụng Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong bệnh Raynaud, một thử nghiệm kiểm soát bởi giả dược placebobằng cách mù đôi double aveugle : Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể là hiệu quả trong sự giảm số lượng những tấn công của Raynaud mỗi tuần.
● Nghiên cứ bệnh mất trí démence / không hiệu quả pas efficace :
Trong nghiên cứu này, Cây Bạch quả Ginkgo biloba với 120 mg, 2 lần mỗi ngày là không có hiệu quả để giảm hoặc nồng độ tác động tổng thể của :
- bệnh mất trí nhớ démence,
- hoặc tác động của bệng mất trí nhớ của Alzheimer,
ở những người lớn tuổi với sự nhận thức bình thường cignition hoặc với rối loạn nhận thức nhẹ trouble cognitif léger MCI. Mild Cognitive Impairment.
Nghiên cứu trên Cây Bạch quả Ginkgo biloba :
▪ Đa số những nghiên cứu kết luận rằng hiệu quả của Cây Bạch quả Ginkgo biloba đã được tiến hành với 2 trích xuất tiêu chuẩn hóa :
- EGb 761 ( thường sử dụng nhất ),
- và Li 1370, trong đó có chứa 24 % và 25 % glucoflavonoïdes ( hoặc flavoglycosides) và 6 % terpéno-lactones tương ứng.
Phương cách hành động :
Mặc dù vẫn biết rằng trích xuất Cây Bạch quả Ginkgo biloba cải thiện tuần hoàn máu circulation sanguine bằng cách thức đẩy giữa sự giản mạch máu khác ( gia tăng đường kính mạch máu ), người ta không biết chính xác cơ chế hành động của nó. Nhiều hoạt chất có thể tham gia, trong số bao gồm :
- quercétine,
- những bilobalides,
- và những ginkgolides.
Những chất này cũng :
- giảm độ nhớt của máu viscosité du sang,
- và có thể bảo vệ những tế bào thần kinh,
nhờ những hiệu quả chống oxy hóa antioxydants.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Tính độc Toxicité :
▪ Hạt của Cây Bạch quả Ginkgo biloba chứa vài chất hoạt động có thể :
- chứng tỏ độc hại toxiques.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng có thể có chứa, nhưng nồng độ được coi là không đáng kểnégligeables.
▪ Nếu một nghiên cứu năm 2006 đã kết luận rằng trích xuất của  Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể giảm sự lan rộng của :
- một số nhất định bệnh ung thư cancers ( ở chuột trong phòng thí nghiệm ).
Năm 2013, một nghiên cứu khác, chương trình độc học ở Mỹ « Américaine du National Toxicology Programme » ( chương trình NTP, đánh giá độc tính của Bộ Y tế và dịch vụ Xã hội Hoa Kỳ ) đã kết luận, dựa trên cơ sở những thí nghiệm ở những chuột của phòng thí nghiệm phát triển dễ dàng những ung thư cancers, dùng những thực phẩm bổ sung, Cây Bạch quả Ginkgo biloba cũng có thể gia tăng nguy cơ của :
- mắc bệnh ung thư gan cancer du foie,
- và ung thư tuyến giáp trạng cancer de la thyroïde
▪ Michael Jacobson, giám đốc điều hành của Hiệp hội người tiêu dùng Center for Science in the Public Interest(CSPI), cũng tin rằng những bằng chứng của những cáo buộc :
« Lợi ích cho :
- năng lượng énergie,
- và sự tập trung concentration,
- hay trí nhớ mémoire
là, tốt nhất, hơi nghi ngờ assez douteuses »
Chống chỉ định :
▪ Như Cây Bạch quả Ginkgo biloba, làm loãng máu fluidifie le sang, những trường hợp như :
- những bệnh rối loạn của sự đông máu, bệnh hay chảy máu hémophiles,
- những phụ nữ mang thai femmes enceintes, và cho con bú allaitement.
- khi đang dùng thuốc chống đông máu anticoagulants hoặc những loại thuốc chống kết tập tiểu cấuantiagrégants plaquettaires.
- những trường hợp có vấn đề nghiêm trọng của gan foie (hépatite).
- và những người sắp phải trải qua cuộc giải phẩu intervention chirurgicale, có thể gây ra xuất huyết.
tránh không nên dùng .
▪ Một số nguồn cảnh báo, những phụ nữ mang thai chống lại sự hiện diện của colchicine, một chất rất độc hạitoxique, trong những trích xuất của Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
Một phân tích cẫn thận của nghiên cứu trong đó người ta công bố, đã tìm thấy trong những viên thuốc ginkgo, tiết lộ rằng, đã rõ ràng một sự sai lầm một phần của những nhà nghiên cứu.
▪ Ở một vài người mắc phải :
- bệnh động kinh épilepsie,
phát khởi một cơn khủng hoảng kết hợp với việc dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba.
▪ Liều trên 240 mg mỗi ngày, Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể gây ra những bệnh như :
- đau nữa đầu migraines,
- và gia tăng nhạy cảm da gây ra dị ứng allergies.
đó là do đặc tính giản mạch của những mạch máu dilater les vaisseaux sanguins.
Trước khi dùng, một thực phẩm bổ sung ginkgo nên tư vấn Bác sỉ, những người chuyên môn lo về sức khỏe có khả năng thật sự.
● Phản ứng phụ :
▪ Rất hiếm,
- rối loạn tiêu hóa nhẹ gastro-intestinaux légers;
còn hiếm hơn nữa :
- đau đầu maux de tête,
- chóng mặt étourdissements,
- dị ứng da allergies cutanées.
▪ Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể làm :
- giảm huyết áp động mạch pression artérielle.
Ứng dụng :
● Ginkgo, liều dùng và liều lượng posologie :
Trong phạm vi bài này, những liều chỉ áp dụng cho những thuốc được bào chế với trích xuất và công thức của những nhà bào chế và được ghi lại liều dụng trong bản chỉ dẫn thuốc.
Trên nguyên tắc, như sau :
▪ Cho những người có sức khỏe tốt, dùng với liều 60 mg và dùng mỗi ngày.
▪ Phân chia thành 3 liều từ 120 đến 240 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho mỗi ngày, để chữa trị :
- bệnh mất trí démence và trí nhớ mémoire.
Dùng Cây Bạch quả Ginkgo biloba trong thời gian từ 8 đến 12 tuần, trước khi nhìn thấy kết quả đầu tiên.
▪ Liều dùng từ 120 đến 160 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba cho những vấn đề :
- tuần hoàn máu circulation,
phân chia 3 liều / ngày .
▪ 100 mg Cây Bạch quả Ginkgo biloba để chữa trị những vấn đề :
- rối loạn tình dục dysfonctionnements sexuels.
Trên đây chỉ là nguyên tắc tổng quát, tất cả mọi trường hợp phải tư vấn Bác sỉ gia đình hoặc thầy thuốc Y học truyền thống dược thảo phytothérapeute là cần thiết để ấn định liều dùng chính xác và điều này đáp ứng với chức năng chữa bệnh của bệnh nhân.
● Trà Ginkgo biloba Tisane de Ginkgo biloba :
▪ Trong ngâm trong nước đun sôi infusion :
Những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể được sử dụng , tươi hoặc khô.
 được thu hoạch thường vào tháng 6 đến tháng 7 ( thời gian mà những nồng độ hoạt tính cao nhất ) cho đến khi những lá đổi màu vàng của mùa thu.
Khi những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba tươi, người ta phải ngâm trong nước đun sôi infuser liền ngay từ 20 đến 40 grammes lá cho 1 lít nước.
Trà này có thể làm ngọt với mật ong miel.
▪ Khi những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba sấy khô, 2 hoặc 3 muỗng cà phê  nghiền nát, thống nhất cho 1 lít nước sôi.
Để ngâm infuser trong 20 phút, trước khi uống, có thể hay không làm ngọt với mật ong miel .
▪▪▪ Dùng uống trà  Ginkgo phải tiếp tục thường xuyên trong thời gian dài, bởi vì nếu dùng thỉnh thoảng sẽ không có hiệu quả nào.
Khi người ta sử dụng  Cây Bạch quả Ginkgo biloba bằng cách ngâm trong nước đun sôi infusion, người ta đã để một bên một số nhất định những nguyên hoạt chất ( những ginkgolides ) mà trong nguyên liệu  chứa, bởi vì những chất này không hòa tan trong nước.
Để có những hiệu quả cao hơn, tốt nhất dùng những chế phẩm dược liệu, đáp ứng tiêu chuẩn được chứng nhận chính xác.
▪ Dung dịch trong alcool teinture Cây Bạch quả Ginkgo biloba, kết quả của trích xuất chưng cất hydro-alcooliquecủa những nguyên hoạt chất chưa trong  .
Người ta dùng cho đến 750 grammes  cho 1 lít teinture.
▪ Những chế phẩm của bột theo phương pháp cryo-broyées, ( phương pháp phun các thành phần hoạt động của cây sấy khô bằng cách nghiền lạnh (ở nitơ lỏng dưới nhiệt độ lạnh ─ 196° ) của lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba được thể hiện dưới dạng viên nang gélules hoặc thuốc viên comprimés.
Ở Pháp những trích xuất tiêu chuẩn hóa, chuẩn độ :
- đến 24 % hétérosides của Cây Bạch quả Ginkgo biloba,
- và đến 6 % ginkgolides bilobalide.
▪ những hétérosides chứa những flavonoïdes :
- chống oxy hóa antioxydants,
▪ những ginkgolides :
- chống sự kết tập những tiểu cầu máu agrégations plaquettaires sanguines.
Vì vậy, sự sử dụng của những chế phẩm tăng chuẩn độ cho phép cải thiện vi tuần hoàn máu microcirculation sanguine trong những vi tiểu quản rất nhỏ.
● Sử dụng khác :
▪ Ở Nhật Bản, nước ngâm trong nước đun sôi được phun trên những tác phẩm văn hóa cultures để bảo vệ chúng khỏi bị những côn trùng.
▪ Những  Cây Bạch quả Ginkgo biloba được sử dụng như để đánh dấu trang sách trong một cuốn sách, thêm vào bản gốc, nó bảo vệ cuốn sách lâu dài để khỏi bị những mối mọt ăn sách.
Trong mục đích này, những lá Cây Bạch quả Ginkgo biloba được đặt trong những tác phẩm, thậm chí trong những thư viện.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những hạt ginkgo đi vào trong thành phần của Chawanmushi Nhật Bản.
▪ Những hạt Cây Bạch quả Ginkgo biloba được so sánh với những hạt pistaches, là một món ăn truyền thống trong Tàu, thường phục vụ trong những tiệc đám cưới.
▪ Hạt đôi khi cũng được xem như là những thức ăn kích thích tình dục aphrodisiaques.

Nguyễn thanh Vân

PHỞ SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

PHỞ SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

– Phan-Nghị
Nạc mỡ nữa làm chi, em nghĩ đã chín rồi, đừng nói với em câu tái giá !
Muối tiêu không đáng ngại, lão thấy còn gân chán, hãy vui cùng lão miếng gầu dai !!!
Cũng như thịt chó, phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng nó chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952, cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng.
Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó. Kiếm được một quan viên biết cầm trống chầu không phải chuyện dễ. Cho nên họ chỉ cầm cự được một hai năm rồi dẹp tiệm, mặc dù họ đã biến nó thành một hình thức như ”kem sờ” ở Bờ Hồ (Hà nội) vào những năm 30 hoặc như ”bia ôm” của Saigon hôm nay. Và phở cũng chịu chung một số phận với nó. Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước… Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là ”Phở Tuyệc”, nằm trên đường Turc (nay thuộc khu vực Đồng Khởi) là kiên trì bám trụ.
Phải đợi tới sau năm 1954, phở mới thực sự thực hiện một bước nhảy vọt từ Bắc vào Nam. Phở khởi đầu sự bành trướng của nó vào giữa thập niên 50 tới giữa thập niên 60. Có cả một dãy phố phở nằm trên hai con đường Pasteur và Hiền Vương.
6 Pho 1THƠ PHỞ…
Những nhà hàng phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Trong cái ngõ cụt ấy, ê hề các hàng quà : phở, bún ốc, bún ốc sườn… Từ đầu ngõ, người ta đã chạm trán với khách ẩm thực, kẻ ra người vô tấp nập. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Nó không giống như kẹo kéo “ăn một lại muốn ăn hai, ăn ba ăn bốn lại nài ăn năm”. Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa ! Có một người nghiện phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Ông vừa ăn phở vừa theo dõi cuộc tình của Triệu Minh – Vô Kỵ, hoặc của Doanh Doanh – Lệnh Hồ Xung trên mặt báo. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ phở vì đọc lên nghe thấy… toàn mùi phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, người viết chỉ còn nhớ được có bốn câu :
Nổi tiếng gần xa khắp thị thành
Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề : tái, chín, gầu, gân, sách
Gia vị : hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…
Sau đó, ”mông xừ” Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.
… VÀ CÂU ĐỐI PHỞ
Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu, có món tái sách tương gừng và phở tái sách : tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Phú quí sinh… máu văn nghệ, ông bắt đầu giao du thân mật với cánh nhà văn, nhà báo.
Sau cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, trong làng báo có hiện tượng “trăm hoa đua nở”, hễ có tiền là có quyền làm chủ một tờ báo. Thế là ông chủ tiệm phở Y bèn ra báo. Từ tái, chín, nạm, gầu, sụn, nhảy sang địa hạt chữ nghĩa, ông hoàn toàn bỡ ngỡ. Cho nên báo của ông chỉ có thể đến với độc giả bằng con đường ve chai. Dĩ nhiên nó phải chết. Và ít lâu sau ông cũng chết theo nó. Người vợ góa trẻ đẹp kế tục ”sự nghiệp” của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là… ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thức thiên hạ rằng : “Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng”
“Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá ”
Câu đối sặc sụa mùi phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ ”tái giá”, nó vừa có nghĩa là ”đi bước nữa” lại vừa có nghĩa là ”phở tái giá”. Cũng như ”da trắng vỗ bì bạch” của bà Điểm đố Trạng Quỳnh vậy. Hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ cómột vế.
PHỞ GÀ TRỐNG THIẾN
Ngay cả Hà Nội – quê hương của phở – từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở gà trống thiến, cho dù ở phố Huyền Trân Công Chúa, vào đầu những năm 50, đã có một hàng phở gà ngon nổi tiếng khắp Hà thành, đến nổi cụ Nguyễn Tuân khi theo đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, ăn xong đã phải khen rằng ”tuyệt phở !”. Người bán phở tên là Chí. Ông ta mới hồi cư, không có đủ tiền để mướn mặt bằng, phải làm phở gánh. Con đường mang tên vị công chúa nhà Trần bé bằng cái lỗ mũi, với cái vỉa hè rộng hơn một mét, khách ăn kẻ đứng, người ngồi, húp xì xụp.
Phở gà trống thiến xuất hiện ở Saigon vào những năm 60, ở phía chợ Vườn Chuối – tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ : thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác : người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay ‘bông rua’ người nọ, tự nhiên như một cô đầm non.
Đó là nữ ca sĩ Y.V, một giọng ca lả lướt của các phòng trà. Ban ngày, nàng giao thiệp với phao câu, đầu cánh, thịt đùi; ban đêm, chìm đắm trong ánh đèn màu. Thế rồi, không kèn không trống, nàng tuyệt tích giang hồ. Người ta bảo rằng nàng đi Tây. Đi Tây thật chứ không phải Tây Ninh. Tiệm phở vắng khách dần và ít lâu sau thì phải dẹp.
PHỞ KHÔNG RAU KHÔNG GIÁ
Tiệm này nằm trên đường Công Lý- cách ngã tư Công Lý – Yên Đỗ (nay là ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Lý Chính Thắng) khoảng 100m – trong một cái hẻm rộng. Người ta gọi là phở Bà Dậu. Nó có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào : không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó.
Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu sau vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa. Có thêm một món mới : tái bắp, thịt mềm và nhai sần sật như sụn. Giá cả cũng tăng, từ 10đ/ bát trong những năm 60 đến 10.000đ/ bát, năm 1996. Nhưng khách ăn vẫn nườm nượp.
TỪ PHỐ PHỞ ĐẾN… BẮC HUỲNH
Hà Nội, quê hương của phở, và thời bao cấp đã sản sinh biết bao thứ phở : phở vịt, phở ngan, phở lợn (thậm chí có cả phở chó), vậy mà chưa có một phố nào chuyên bán phở, trong khi ấy Saigon lại có cả một dãy phố phở. Đó là khu Hiền Vương (Võ Thị Sáu – Pasteur). Hiền Vương chuyên bán phở gà, còn Pasteur, phở bò. 9 Pho 1Nhưng dù gà hay bò, các tiệm phở ở khu này chưa có một tiệm nào – nếu nói về phở bò – có thể so với phở Tàu Bay ở Lý Thái Tổ, còn nếu nói về phở gà, thì thua xa phở Vọng Các (đường Võ Văn Tần) và phở Bưu Điện hôm nay.
Những tiệm phở bò nổi tiếng thời ấy còn có phở Tàu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật, phở Quyền và phở Bắc Huỳnh ở miệt Phú Nhuận. Sau khi ông Tàu Thủy qua đời, người con trai không có đủ khả năng kế nghiệp ông bố, bèn dẹp tiệm để chuyển sang nghề khác. Còn phở Bắc Huỳnh nguyên là phở Ga Đà Lạt một thời nổi tiếng; Sau 75 ông mò về Saigon, mở tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh góc Trương Tấn Bửu đối xéo góc với nhà thờ Nam. Chỉ mấy tháng sau, Bắc Huỳnh lại nổi tiếng như cồn. Hàng ngày, từ 6 giờ sáng khách mộ điệu phở đã nườm nượp nối đuối kéo vào. Và chỉ tới 10 giờ là bánh, thịt, nước phở đã láng cóong. Phải công nhận phở Bắc Huỳnh hết chỗ chê. Nuớc trong vắt thơm lừng; Miếng thịt chín mùi thơm như pa-tê, thái tay vừa đủ dầy để cắn ngập răng. Miếng gầu sữa trắng toát mịn như miếng thạch, vừa thơm vừa bùi lại ròn tan; Không một chút hoi. Đặc biệt tiệm BH không bán phở toàn tái. Thế mới là chính thống. Phở bò mà lại ăn phở tái thì đúng là nhà quéo.
Đang phát đạt như thế, chẳng biết sao khoảng năm 1982 bỗng dưng ông dẹp tiệm. Dân ghiền phở cứ tiếc hùi hụi.Trong số này có ông cao thủ bóng lông Trần K., khi đó đang chủ trì sân quần vợt đuờng Lê Duẩn. Ông này ghiền phở BH không thua gì mấy anh ghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sau khi dợt cho đệ tử mà không được bồi dưỡng hai tô phở BH là ông ngáp lên ngáp xuống. Ông bèn gạ một người bạn ông để người bạn này yêu cầu cô con gái ông BH mượn nồi niêu soong chảo bát đũa của ông già ra sân quần vợt mở một tiệm phở xe. Dân ghiền phở lại kéo tới ăn đông như chẩy hội. Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tâm Vấn ở tít trong Chợ Lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt – không phải để đánh banh lông – mà là để đớp phở.
Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đich cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông BH. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K. anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời. Phở chính thống là thế : bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái. Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này :
Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vưỡn cứ trả tiền như thường. Ấy thế mà, chỉ được hơn năm, chả biết lý do gì, tiệm phở xe này cũng bỗng mất tích. It lâu sau thấy tiệm Bắc Huỳnh lại tái xuất giang hồ. Được ít năm rồi lại dẹp không kèn không trống. Ngày nay nghe đâu ông Bắc Huỳnh và cô con gái đẹp như mơ đã mở hai tiệm phở bên Calgary, Canada. 9 Pho 2Chả biết còn giữ tên Bắc Huỳnh nữa không.
…PHỞ NGẦU PÍN
Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư Hà Nội cũng không dám tới ăn.
Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm khá gì hơn. Vẫn cái tiệm xập xệ tối thui, như ở phố Huế. Khách tới ăn toàn những ông râu ria xồm xoàm hoặc lún phún râu dê hoặc nhẵn nhụi bảnh bao chẳng có một sợi râu nào. Nhưng tuyệt nhiên không hề có bóng dáng đàn bà.
PHỞ SAU 75 VÀ CƠN SỐT PHỞ BẮC HẢI
Phở leo lên tới tột đỉnh vinh quang bắt đầu từ cuối thập niên 80. Phở tràn ngập thành phố, ngoại trừ khu vực Chợ Lớn, bởi nó không thể địch lại được với hủ tíu, hoành thánh, bánh bao, xíu mại. Nhưng đặc biệt nhất là cơn sốt phở Bắc Hải. Ở thành phố có chí ít vài ba chục tiệm mang cái tên ấy. Tại sao người ta lại không chọn một bảng hiệu khác ? Cũng có nguyên nhân đấy.
Số là vào thời bao cấp, ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội có một tiệm phở chui mà ông chủ tên là Bắc Hải. Đó là bí danh, biệt hiệu hay tên thật của ông ? Chả có ai rỗi hơi tìm hiểu. Chỉ biết cứ thế mà gọi. Tiệm của ông dĩ nhiên là đông khách, nhưng toàn khách quen. Những cái mặt lạ hoắc đừng có hòng bước vào. Trong khi phở quốc doanh “chạy qua hàng thịt”, thì phở Bắc Hải cả bánh lẫn thịt đều có chất lượng. Ngoài ra lại còn cái thú uống rượu quốc lủi nhắm với món “bốc mả” (xíu quách). Thịt do dân”bờ lờ” (buôn lậu) từ Phú Xuyên, Thường Tín hoặc ngả Gia Lâm đi theo xe khách thành, đưa vào bán cho các mối. Còn quốc lủi do ngoại thành cung cấp.
Ông Bắc Hải đựng quốc lủi trong cái bong bóng trâu, giấu ở trước bụng, cái áo phủ bên ngoài. Khách nào muốn uống, giơ cái ly xây chừng ra, ông cởi khuy áo, tháo cái nút vòi bong bóng rồi xịt một phát vào ly. Rượu vừa đúng tới mép ly, không tràn ra một giọt nào. Ông bảo đó là cả một nghệ thuật, phải tập mất một tháng mới thực hiện thành công thao tác ấy. Nói cũng đáng tội, phở của ông cũng chả ngon lành gì. Chẳng qua là vì ”trong xứ mù thằng chột làm vua”. Vả lại, nó có đầy đủ chất béo, chất cay. Với một người ”thích đủ thứ”, như vậy là đúng tiêu chuẩn. Từ đó, anh hùng nhất khoảnh, phở Bắc Hải danh trấn giang hồ.
Sau 75, một số đệ tử của ông Bắc Hải vào Nam. Họ kiếm một đầu hẻm, dựng một quán phở lộ thiên. Một trong những đệ tử nổi bật nhất của ”mông xừ” Bắc Hải là Ch. Râu. Gọi như thế là vì trên mặt anh có cả một rừng râu. Trẻ con trong khu phố, mỗi khi thấy anh xuất hiện lại chạy theo trêu chọc : ”Ơ cái râu lồm xồm, ơ cái râu loàm xoàm, cái râu mọc quanh cái mồm”.
Lại vừa may mắn lại vừa có sẵn ít vốn, Ch. Râu kiếm được một mặt bằng ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Phở Bắc Hải của anh ra đời, trội hơn các tiệm Bắc Hải khác với món áp chảo nước, áp chảo khô, và đặc biệt là rượu rắn-bìm bịp, tráng dương bổ thận. Hiện nay, phở Bắc Hải không những bành trướng trong thành phố mà còn xuất hiện tại các vùng ngoại ô, nhất là khu Tân Sơn Nhất.
Khoảng giữa thập niên 80, tại Bến Sỏi, mé trái cầu Điện Biên Phủ, có một tiệm phở đuôi bò và ngầu pín do một người đàn bà đứng bán. Quán hàng thiết lập trên một vùng đất lổn nhổn sỏi đá. Khách ăn, kẻ đứng người ngồi. Đôi khi cái ghế lùn tịt được dùng thay cho bàn. Và lần đầu tiên trong lịch sử của ỀpínỂ, ngầu pín được các bà các cô chiếu cố. Họ tỉnh queo cắn từng miếng một và nhai sần sật. Đuôi bò của Bến Sỏi cũng tuyệt trần. Mỗi miếng bằng cái nắm tay của trẻ con. Thịt được ninh nhừ nên khi ăn cũng không đến nỗi vất vả.
Phở Bến Sỏi chỉ bán đến 9g30 sáng là hết. Nhưng thông thường, người ta đến sớm hơn. Để tránh cái nắng như đổ lửa xuống đầu. Trông các bà vừa ăn vừa thấm mồ hôi, phấn son nhòe nhẹt, thấy mà thương !
Vài năm sau khấm khá, bà chủ tiệm tậu được một miếng đất rộng lớn ở phía xa lộ rồi chuyển cửa hàng ra đó. Bây giờ gọi là quán phở N., vừa bán phở vừa bán lẩu ngầu pín đuôi bò. Một cái lẩu 20.000đ hai người ăn căng bụng.
PHỞ THẦY CÔ
Bởi lương nhà giáo không đủ sống nên 5 cô và một thầy đã hùn nhau mở một tiệm phở ở vỉa hè đường X., phía sau cổng trường M.C.
Phở thầy cô ra đời khoảng gần hai năm nay. Có một dạo nhà nước dẹp lòng lề đường, có lúc họ phải di chuyển vào mé sân sau trường. Tiệm này chuyên bán phở gà và chỉ bán vào buổi sáng. Dĩ nhiên phở của họ không thể nào ngon bằng các tiệm nhà nghề như phở gà Bưu Điện hoặc Vọng Các hay các tiệm ở đường Võ Thị Sáu, nhưng nó lại có một hương vị đặc biệt – hương vị gia đình. Khách ăn có cảm tưởng như người nhà mình nấu cho mình ăn vậy. Phở ở đây rất có ”chất lượng” và rẻ – rất rẻ là khác : 4.000đ/ tô đầy tú ụ cả thịt lẫn bánh.
Giữa họ đã có sự phân công : mỗi người nấu phở rồi coi phở một ngày. Không có ai trong số họ có sẵn tay nghề. Thoạt đầu thì lúng túng như thợ vụng mất kim, ít lâu mới thành thạo. Nhưng dù sao đối với họ nghề phở cũng là một cái nghề bất đắc dĩ. Đứngtrên bục giảng vẫn tốt hơn.
Ở thành phố, ngoài nhóm thầy cô kể trên, còn có một cô giáo nữa cũng đang đứng bán phở, nhưng lại giã từ hẳn cái nghề kỹ sư tâm hồn. Cô nguyên là giảng nghiệm viên của Đại học khoa học, nhà lại sẵn có mặt bằng nằm trên một trục lộ đông đảo người qua lại, bèn quyết định từ bỏ ống nghiệm và các công thức hóa học để ”giao thiệp” với phở. Vốn là một nội trợ giỏi nên từ nấu thức ăn đến làm phở cũng không đến nỗi khó khăn. Cửa tiệm nằm ở phía chân cầu Bông, khách ăn sẽ dễ dàng nhận ra khi thấy trước cửa đậu một dãy xe gắn máy.
Phở Cầu Bông ngoài các món thường lệ như tái, chín, nạm, còn có món đuôi bò. Phở rất ngon nhưng giá một tô có 5.000đ, chỉ bằng một nửa tiền nếu so với phở Hòa ở đường Pasteur, tục gọi là phở Việt kiều, với giá chém treo ngành 12.000đ/ tô. Sở dĩ gọi thế là vì khách ăn đa số là Việt kiều. Họ quen ăn phở với giá 8 đôla/ tô, chưa kể tiền ”bo” 10%, nên với họ, đó là một giá rẻ mạt.
Phở Cầu Bông cũng không làm theo kiểu đại trà với thịt thái sẵn chất đầy một cái khay. Khách ăn tới đâu làm tới đó. Thịt thái mỏng bốc mùi thơm phức. Mỗi miếng thịt mang hình kỷ hà, màu nâu gụ của nó dính với màu mỡ gàu đặt trên nền trắng của bánh trông giống như một bức tranh tĩnh vật.
Cô giáo của trường Khoa học đã đưa cả khoa học lẫn nghệ thuật vào phở.
PHỞ T.D. Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ
Phở có bảng hiệu mang tên số nhà, nhưng người ta cứ quen miệng gọi là phở T. D., tên ông chủ, mặc dù anh không đứng bán. Căn nhà đó, xưa kia, anh mở tiệm cơm Tây với hai món đặc sản : chateaubriand và chân giò nấu đậu trắng. Các bằng hữu của anh đa số là những người làm văn nghệ. Anh cũng được liệt vào số đó, bởi giọng ca tuyệt diệu của anh. Nhưng mỗi năm anh chỉ hát có một lần và chỉ hát có một bài vào đêm Giáng sinh : “Đêm thánh vô cùng” (Silent Night). 9 Pho 4Một điệu nhạc tắt đèn. Trong lúc tiếng ca thánh thiện của anh vang lên, người ta ôm nhau đi một đường slow.
Sau khi thưởng thức phở Quyền, phở Tàu Bay, phở bà Dậu, nếu muốn đổi hương vị, người ta có thể đến T.D để nếm món ”vú sữa”, tức là khoảng thịt bụng có những núm vú, ăn béo ngậy, thơm và sần sật, nhưng không giống như sụn hoặc nậm của thịt chó. Nhà hàng có mặt bằng rộng, quạt máy quay vù vù, khách ăn không phải chịu cái cảnh mồ hôi mẹ mồ hôi con cùng chảy.
PHỞ CÔNG TỬ SÀI GÒN
Đó là tiệm phở gà H. B. ở đường Võ Thị Sáu. Ông chủ tiệm tên là Q., một người thuộc giới giang hồ mà cả hai đạo hắc bạch đều biết… tiếng từ khi Q. ở địa vị một ông chủ.
Nghề phở đến với anh một cách tình cờ. Trong một cuộc đọ tài cao thấp với một tay anh chị, anh bị hắn thưa về tội đả thương, và sau đó bị đưa đi cải tạo. Thời gian chém tre đẵn gỗ trên ngàn, anh thường hay giúp đỡ một anh bạn đồng cảnh ngộ. Thấy bạn bị bắt nạt là anh can thiệp ngay. Không phải bằng vũ lực, mà chỉ với một chiêu số thôi : bấm vào huyệt nội quan ở cổ tay và huyệt khúc trì ở khuỷu tay, là địch thủ phải thổi bài kèn ”ô rơ lui” ngay. Q. lại còn thường giúp anh ta trong các công tác lao động. Để đáp lại ân tình ấy, người bạn kia đã truyền cho anh nghề nấu phở. Anh ta dạy Q. từ cách lựa chọn gà – phải là gà được nuôi ở nông thôn – đến cách pha chế gia vị cho thùng nước lèo, và cách nấu nướng làm sao cho gà khỏi bị vỡ da.
Sau thời gian cải tạo, Q. về đường Võ Thị Sáu mở tiệm phở H.B. – tiệm phở ngon nhất trong khu phố ấy. C9 Pho 3hỉ trong vòng ba năm, anh đã phất lên như diều. Và bây giờ, với 8 năm trong nghề phở, anh chỉ giữ vai trò chuyên viên, và để cho một số đệ tử đứng bán. Còn một chàng nữa cũng phất lên như Q., nhờ phở. Đó là anh D., chủ một tiệm phở ở trong một con hẻm đường Nguyễn Thị Minh Khai, cách nhà thương Từ Dũ khoảng 500m. Từ Hà Nội vô thành phố Sài Gòn, anh chỉ có đủ tiền để làm một gánh phở ở đầu ngõ. Mới đầu, anh chả biết một tí gì về cái nghề này. Toàn đi học mót. Hỏi người này, học người kia, rồi tới ăn ở các tiệm phở danh tiếng để thử nghiệm. Phải mất gần một năm anh mới thành thạo.
Phở D. hôm nay nổi tiếng ngang với phở Quyền ở Phú Nhuận. Tiệm của anh có một món đặc biệt : tái bắp. Muốn ăn món này phải đi sớm, bởi 8 giờ sáng là hết. Có một điều ly kỳ là phở D. ăn vào buổi chiều bao giờ cũng ngon hơn buổi sáng. Cả chủ lẫn khách đều công nhận chuyện đó. Hỏi nguyên nhân tại sao ? Anh lắc đầu vì không giải thích được. ”Sáng và chiều cùng một thùng nước lèo. Nửa thùng buổi sáng còn lại, buổi chiều chỉ việc đun sôi, không pha thêm một chút gia vị nào, thế mà nó lại ngon hơn buổi sáng”, anh mỉm cười nói.
Bây giờ thì phở có bề thế lắm rồi. Anh mới tậu thêm một ngôi nhà ở đầu hẻm. Phở là một đặc sản của Việt Nam. Đó là điều ”quốc tế phải công nhận”. Nhưng ông Tây lại bảo nó là “soupe chinoise”, còn ông Tàu thì lại bảo nó là “ngầu phấn” chỉ là tiếng Quảng Đông, phiên âm ra tiếng Hán Việt là “ngưu” (bò hoặc trâu), ”phấn” (bột gạo). Một điều nữa, hỏi ông tổ của nghề phở là ai ? Các ông chủ tiệm phở đều lắc, mặc dù nhờ phở, họ đã có của ăn của để. (theo thuyvi, nguồn cafévannghe – 8/11/2010)
Vĩnh Bảo sưu tầm 14/7/2015