Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

14 lý do nên ăn khoai lang

14 lý do nên ăn khoai lang
3
Khoai lang được trồng rất nhiều ở nước ta, ngoài việc là một món ăn ngon dân dã, khoai lang còn được biết đến với những công dụng chữa bệnh tuyệt vời.
14 lý do nên ăn khoai lang
14 lý do nên ăn khoai lang
Khoai lang có vị ngọt nhưng không làm tăng đường huyết hay tăng cân. Protein trong khoai lang rất đặc biệt do khả năng ức chế ung thư ruột kết và trực tràng.
Khoai lang là thực phẩm phổ biến, hữu ích cho sức khỏe con người do chứa nhiều chất xơ, carotene, các vitamin và chất chống oxy hóa...
Dưới đây là những lý do các bà nội trợ không nên bỏ qua loại củ tuyệt vời này trong chế độ ăn của gia đình (theo Care2).
1. Khoai lang có vị ngọt nhưng không làm tăng lượng đường huyết, mệt mỏi hay tăng cân. Đường tự nhiên trong khoai lang sẽ từ từ thẩm thấu vào máu, giúp cân bằng nguồn năng lượng cho cơ thể.
2. Khoai lang là nguồn cung cấp chất xơ rất tốt, giúp duy trì đường huyết ở mức cân bằng.
3. Cứ 100 g khoai lang nghiền cung cấp 86 calo, thấp hơn nhiều so với mức 118 calo trong 100g củ từ.
4. Khoai lang là thực phẩm giàu protein. Protein trong khoai lang rất đặc biệt do khả năng ức chế ung thư ruột kết và trực tràng ở người. Hàm lượng protein trong khoai lang càng cao thì khả năng ức chế hoạt động của tế bào ung thư càng lớn.
5. Hàm lượng vitamin B6 cao chứa trong khoai lang làm giảm homocysteine trong cơ thể. Homocysteine có liên quan đến các bệnh lý thoái hóa và tim mạch. Nồng độ homocysteine trong máu cao làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.
6. Khoai lang là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, giúp ngăn ngừa cảm lạnh và virus cúm. Đồng thời, vitamin C cũng rất cần thiết cho xương và răng, tốt cho hệ tiêu hóa và quá trình hình thành các tế bào máu. Ngoài ra, vitamin C còn góp phần chữa lành vết thương, tạo ra collagen giữ cho làn da luôn tươi trẻ, giảm stress và bảo vệ cơ thể khỏi những độc tố có nguy cơ gây ung thư cao.
7. Vitamin D trong khoai lang có tác dụng hỗ trợ hệ miễn dịch và tăng cường sức khoẻ tổng quát. Vitamin D góp phần giữ cho hệ xương, tim mạch, thần kinh, răng, da và tuyến giáp khỏe mạnh.
8. Vi chất sắt trong khoai lang cung cấp năng lượng cho cơ thể, giảm stress, thúc đẩy sản xuất hồng cầu, bạch cầu, tăng cường miễn dịch và chuyển hoá protein.
9. Khoai lang cũng là nguồn cung cấp magie rất tốt. Magie không những là khoáng chất quan trọng chống căng thẳng mà còn có ý nghĩa then chốt cho sự phát triển khỏe mạnh của cơ xương, tim mạch và các chức năng thần kinh.
10. Kali là chất điện ly quan trọng giúp kiểm soát nhịp tim và các tín hiệu thần kinh. Cũng như các chất điện ly khác, kali đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu trong đó có thư giãn co thắt cơ, giảm sưng, bảo vệ và kiểm soát hoạt động của thận. Khoai lang chính là nguồn cung cấp kali tuyệt vời mà bạn không thể bỏ qua.
11. Màu cam trên vỏ khoai lang là dấu hiệu cho thấy mức carotene rất cao của loại củ này. Nhóm chất carotene giúp tăng thị lực, thúc đẩy hệ miễn dịch, chống oxy hóa và ngăn ngừa lão hóa. Một nghiên cứu do ĐH Harvard (Mỹ) thực hiện trên 124.000 người cho thấy, những người tiêu thụ thức ăn giàu carotene trong chế độ ăn uống thường xuyên của mình giảm tới hơn 32% nguy cơ ung thư phổi.
Ngoài ra, những phụ nữ có nồng độ carotene cao nhất có nguy cơ ung thư vú thấp nhất. Đây là kết luận được các nhà khoa học từ WHEL (Women’s Healthy Eating and Living) đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ hoàn tất giai đoạn đầu điều trị căn bệnh này.
12. Beta carotene là tiền chất của vitamin A trong cơ thể người. Vitamin A duy trì đôi mắt sáng và làn da khỏe mạnh. Đồng thời, beta caroten được chứng minh là có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi những tác nhân gây ung thư. Đây cũng là một dưỡng chất dồi dào trong khoai lang.
13. Mới đây, các nhà khoa học đã khám phá ra nhóm chất dinh dưỡng trong khoai lang có tên là batatoside có khả năng chống lại các đặc tính của vi khuẩn và nấm.
14. Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chất cyanidins và peonidins trong khoai lang có khả năng giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của kim loại nặng tới sức khỏe con người.
Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang:
- Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón, phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.
- Không ăn thường xuyên rau lang vì nó chứa nhiều canxi, có thể gây sỏi thận.
- Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.
- Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này, khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa.
- Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Do đó phải bảo vệ phần vỏ không bị sây sát, không gọt vỏ nếu không cần thiết. Vỏ còn giúp bảo vệ dưỡng chất bên trong, vì vậy khi luộc khoai nên để cả vỏ (đã rửa sạch).
- Bảo quản khoai ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, không có chuột bọ và chỉ nên dùng trong vòng một tuần.
- Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc.
- Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.
Thu Hiền
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/10/2015

CÁCH HÍT THỞ

CÁCH HÍT THỞ

Bạn vẫn thở đều chứ? 90% năng lượng của bạn nên đến từ hít thở. Thở là cách quản lý căng thẳng tốt nhất, tốt hơn cả đi nghỉ dưỡng theo phong cách Robinson trên đảo hoang. Trên thế giới có những chuyên gia dạy về cách hít thở. Yoga cũng là một cách tập hít thở siêu hiệu quả. Cách hít thở trong bài viết nầy là cách đơn giản nhất cho mọi người để mau chóng cải thiện sức khỏe...
CÁCH HÍT THỞ
CÁCH HÍT THỞ
Câu hỏi thường gặp: Làm thế nào để giảm cân? Làm thế nào để khỏe mạnh hơn?
Câu trả lời thường gặp:
- Ăn kiêng đi : ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước…
- Tập thể dục đi: chạy bộ, bơi, tập tạ, aerobic, nhảy… 
Những lời khuyên trên có thể đúng, có thể sai. Nhưng chúng rõ ràng là không hiệu quả với 90% người. Lần cuối cùng bạn đọc một bài báo về sức khỏe rồi đứng dậy tập thể dục ngay là khi nào? Bởi chúng là bài dịch và không trả lời những điều bạn quan tâm: Cách này có hiệu quả không? Khi nào thì hiệu quả? Tốn kém bao nhiêu? Đa số thời gian, các bài viết dịch ra từ một nguồn dễ kiếm trên mạng này không đưa được hướng dẫn rõ ràng và hiệu quả cụ thể cũng như nguyên lý khoa học để bạn hiểu và có cảm hứng hành động.
Có một cách để khỏe mạnh hơn. Ngay lập tức. Miễn phí. Bạn không cần bắt đầu ăn trái cây thay cơm hoặc đi sắm giày chạy bộ để thực hiện cách này. Cách bạn sắp đọc sau đây đơn giản đến mức 90% người thường bỏ qua. Trong khi chỉ cần 10 phút học kỹ năng này cũng đủ để tạo sự khác biệt trong chất lượng sức khỏe của mình cả đời.

Bí quyết đơn giản: Hít thở.
Trong khi bạn trẻ vì nhiều lý do chưa thể kiểm soát chế độ dinh dưỡng , nhưng bạn có thể kiểm soát được hơi thở của mình. Ai cũng có thể làm được. Chúng ta đều hít 4-20 lần một phút mỗi ngày. Bạn có thể học điều gì về hít thở để cải thiện sức khỏe của mình?
Hít Thở: Khỏe Mạnh 
Ai thở sâu sống lâu. - Elizabeth Barrett Browning
Hít thở là sự sống. Bạn có thể nhịn ăn trong vài ngày nhưng không thể nhịn thở trong vài phút. Chỉ nhịn thở trong vài phút thôi cũng sẽ giết chết bạn. Đức Phật trong chuỗi hành xác để đạt đến sự minh triết, đã…chơi dại nhịn thở. Đạt kỷ lục là 3 phút. Sau 5 phút thì là cả một địa ngục! Mắt hoa. Tai gào rú. Đầu đau thắt như bị kim cô xiết. Bụng quặn lên từng đợt. Toàn thân bỏng rát.
Có lẽ bạn không cần phải thử nhịn thở đâu. Ngay cả ảo thuật gia cũng chỉ chơi trò này khi có người sẵn sàng chi tiền triệu và có ống kính quay phim…
1-   Điều khoa học đã chứng minh:
Đủ lượng oxy trong cơ thể sẽ giết TẤT CẢ vi trùng, vi khuẩn và vi-rút. Tiến sĩ Otto Warburg đoạt giải Nobel năm 1931 nhờ chứng minh được ung thư sẽ không phát triển trong môi trường giàu oxy. Hiện nay, giới y khoa đều biết hầu hết bệnh đau tim đều do thiếu oxy. Giới kinh doanh như tôi thì còn biết bệnh tim hôm nay hiếm khi nào do thất tình mà do thiếu vitamin Tiền, bị phát hiện có vợ bé hay ăn hối lộ bị lộ.
Các bạn nữ nên chú ý về hít thở nếu muốn trẻ lâu. Lão hóa là do cơ thể bị nhiễm độc do hấp thu phải chất độc và sự hư hỏng các tế bào. Những người trẻ lâu nhờ vận động nhiều và tống chất độc ra hiệu quả.
Và điều đầu tiên cơ thể bạn làm để tống chất độc là kết hợp chúng với oxy.
2- Chức năng của hít thở: Cung cấp oxy vào máu cho máu tuần hoàn đến não / Kiểm soát năng lượng sống, từ đó kiểm soát tâm trí của bạn
3- Kiểu hít thở:  Nông -  Trung -  Sâu
4- Công dụng của hít thở: Tăng năng suất - Tăng sinh lực - Tăng sáng tạo - Vui vẻ hơn - Nhận biết bản thân - Hoạt động thể dục thể thao - Nhiều nhiệt huyết -Thoải mái với chính mình - Ra quyết định tốt hơn - Bình yên tâm hồn - Tập trung - Phát triển tâm linh - Ngăn chặn lão hóa...
Cách Hít Thở Tối Ưu
Hầu hết vùng phổi của bạn nằm ở lưng. Ngạc nhiên chưa!

Đây là cách 90% người hít thở. Họ hít thở nông bằng miệng, ít sử dụng cơ hoành. Cách hít thở này khiến cơ thể chỉ sử dụng phần trên cùng của phổi nên hấp thu được một lượng nhỏ oxygen. Dẫn đến bạn thiếu năng lượng sống và dễ có nguy cơ bệnh tật. Chưa kể thở bằng miệng dễ khiến hơi thở có mùi. Hơi thở hôi ngăn cản chúng ta “tự tin đến gần nhau hơn”.
Đây là cách hít thở đúng: Một nhịp thở bao gồm ba phần: Hít – Giữ – Thở . Bạn hít thở bằng mũi. Miệng đóng lại. Hít theo nhịp 1-4-2. Hít vào 1. Giữ trong 4. Thở ra 2. Khi hít vào phần bụng phồng ra để cơ hoành di chuyển xuống dưới mát xa các cơ quan nội tạng. Tưởng tượng một quả bong bóng căng phình ra.
Khi thở ra phần bụng thóp vào để cơ hoành di chuyển lên trên mát xa trái tim nhỏ bé của bạn. Tưởng tượng bụng như máy hút bụi co rút lại.
Bài tập: Hít vào trong 5 giây. Giữ trong vòng 20 giây. Thở ra trong 10 giây.
Hít: 1…2…3…4…5
Giữ:1…2…3…4…5…6…7…8…9…10…11…12…13…14…15…16…17…18…19,20
Thở: 1…2…3…4…5…6…7…8…9…10
Bạn có thể nâng số lần lên dần dần. Đạt được đến nhịp 10-40-20 là bạn đã đặt chân vào thế giới hít thở của các thiền sư thông tuệ Ấn Độ . Đừng cố gắng quá sức. Ngạt thở chết luôn không tăng cho bạn thêm 1 điểm IQ đâu. Thử mỗi ngày hít thở như vậy 3 lần. Mỗi lần tập trung 10 phút. Bạn sẽ cảm thấy nguồn năng lượng của mình cuộn chảy và tâm hồn bình an.
Tôi thường tập vào sáng tinh mơ khi mới thức dậy. Buổi trưa khi lặng lẽ nghỉ ngơi. Buổi tối sau khi thực hiện các nhu cầu tất yếu và trước khi bắt đầu hoạt động giải trí hoặc làm đêm. Chỉ 10 phút mỗi lần. Sau 7 ngày đây là một trong những khoảng đầu tư thời gian đáng giá nhất. Lần đầu tiên tập hít thở, tôi cảm thấy năng lượng tràn dậy, muốn động tay động chân dọn dẹp nhà cửa ngay. Bạn cảm thấy như có một nguồn suối lạch chảy thông khắp cơ thể. Sắc diện hồng hào. Phong độ dịu dàng...
Hơi Thở và Tâm Trí
Bạn có để ý khi mình sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi, hơi thở của bạn gấp gáp và rất nông không? Bạn có để ý khi mình thư giãn , bình tâm, bạn thở chậm và sâu hơn không? Hít thở ảnh hưởng đến tâm trí của bạn.
Thở có thể thay đổi cuộc sống của bạn. Nếu bạn cảm thấy căng thẳng, thở sẽ làm bạn bình tâm và làm dịu những nỗi đau. Nếu bạn lo lắng về điều gì sắp xảy ra, hoặc vướng vào một điều đã qua, thở sẽ mang bạn trở lại hiện tại.
Nếu bạn thiếu dũng cảm và quên đi mục đích sống của mình, thở sẽ nhắc bạn cuộc đời đáng giá biết bao, và mỗi hơi thở trong đời này là một món quà bạn nên biết ơn. Hãy sử dụng món quà hết cỡ. Nếu bạn có quá nhiều việc phải làm, hoặc bị xao lãng trong ngày làm việc, thở sẽ giúp bạn tập trung vào điều quan trọng nhất bạn cần làm ngay bây giờ. Nếu bạn đang dành thời gian với một người bạn yêu thương, thở sẽ giúp bạn cảm nhận giây phút hiện tại với người ấy, thay vì nghĩ lan man về những việc khác bạn cần làm. Nếu bạn đang tập thể dục, thở sẽ giúp bạn tận hưởng bài tập, và nhờ vậy bạn sẽ tập được lâu hơn.
Nếu bạn đang di chuyển quá nhanh, thở sẽ nhắc nhở bạn đi chậm lại và thưởng thức đời nhiều hơn. Vậy hãy thở đi. Và tận hưởng từng giây phút của đời này.
Bạn vẫn thở đều chứ? 90% năng lượng của bạn nên đến từ hít thở. Thở là cách quản lý căng thẳng tốt nhất, tốt hơn cả đi nghỉ dưỡng theo phong cách Robinson trên đảo hoang. Trên thế giới có những chuyên gia dạy về cách hít thở. Yoga cũng là một cách tập hít thở siêu hiệu quả. Cách hít thở trong bài viết nầy là cách đơn giản nhất cho mọi người để mau chóng cải thiện sức khỏe.
Sưu tầm
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/10/2015

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Quan niệm về hôn nhân của người xưa

Quan niệm về hôn nhân của người xưa (Phần 1: Tín)

Tin Đa Chiều -


Ngày xưa con người cởi mở, khoáng đạt với tấm lòng thành thật, nên họ dễ dàng có đươc cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn so với ngày nay.
Ngày nay, người ta chẳng còn nhớ tới câu nói này: cầm tay nhau, cùng nhau từ từ đi tới những năm tháng già yếu.
Ngày nay, người ta chẳng còn nhớ tới câu nói này: cầm tay nhau, cùng nhau từ từ đi tới những năm tháng già yếu.
Thời Bắc Tống có một Nho sinh, tên anh ta là Lưu Đình Thức, tự Đức Chi. Anh ta là người Tề Châu (Tề Châu cũng chính là Sơn Đông ngày nay). Sau khi thi đậu tiến sĩ được phái đến Mật Châu làm phán quan, ngay lúc đại văn hào Tô Đông Pha làm huyện lệnh vùng này. Tô Đông Pha rất quý trọng nhân phẩm của Lưu Đình Thức.
Trước đây, khi Lưu Đình Thức chưa thi đậu tiến sĩ, từng đính hôn với một cô gái ở quê nhà, chỉ là chưa đưa sính lễ.
Thế rồi Lưu Đình Thức thi đậu tiến sĩ và làm quan, lại được một người nổi tiếng như Tô Đông Pha mến mộ, tiền đồ tươi sáng vô lượng. Nhưng lúc này cô gái kia lại lâm trọng bệnh, dẫn đến hai mắt bị mù. Cha mẹ cô gái là nông dân, chỉ làm ruộng, gia cảnh khốn khó, vì thế không còn dám nhắc đến chuyện hôn nhân với Lưu Đình Thức.
Trong bạn bè, có người khuyên Lưu Đình Thức: “Cô gái kia đã bị mù lòa, vì thế muốn tương lai sau này hạnh phúc thì hãy lấy người khác đi! Nếu như nhất định phải có hôn ước với nhà đó thì lấy em gái của cô ta cũng được”.
Lưu Đình Thức trả lời: “Năm đó tôi đính ước với người ta cũng đã thể hiện lòng chân thành sẽ lấy người ta làm vợ. Nay tuy họ bị mù nhưng cái tâm của họ vẫn tốt. Giờ nếu tôi làm trái lại với tâm nguyện trước đây, nghĩa là cái tâm của tôi bị biến chất thành xấu xa. Hơn nữa ai rồi cũng đến tuổi già, khi vợ già hương sắc tàn phai, chúng ta cũng không thể nào bỏ đi lấy cô gái trẻ đẹp đúng không? Con người cần biết giữ chữ tín, không được thay lòng đổi dạ”.
chu tin
Vậy là họ đã kết hôn. Khi chung sống với nhau, Lưu Đình Thức luôn hết lòng chăm sóc người vợ mù lòa của mình, vợ chồng sống hòa thuận vui vẻ, tình cảm đằm thắm, trước sau sinh hạ được mấy người con.
Sau khi Tô Đông Pha biết việc này, trong lòng vô cùng cảm phục Lưu Đình Thức, ông nói: “Lưu Đình Thức thật là người có tình cảm cao thượng!”
Tại sao Lưu Đình Thức làm được như thế? Thực ra, quan điểm về hôn nhân của người xưa khác xa người hiện đại.
Trong “Kinh Thi” có câu nổi tiếng: “Cùng nắm tay cho tới bạc đầu” (chấp tử chi thủ, dữ tử giai lão -执子之手,与子偕老). Câu nói này hiện được nhiều bạn trẻ yêu thích và nhắc đến, đặc biệt khi mới kết hôn, tình cảm còn ngọt ngào, đều có nguyện vọng tốt đẹp như thế. Nhưng thường mọi người chỉ tiếp thu ý tứ ngọt ngào lãng mạn của câu chữ, ít người lĩnh hội được hàm ý sâu sắc đằng sau câu nói này: cầm tay nhau, cùng nhau từ từ đi tới những năm tháng già yếu.
Câu này là cả một hành trình cuộc đời dài dằng dặc! 2 năm, 3 năm, 5 năm, 60 năm, trong những tháng năm dài đằng đẵng này hai người sẽ cùng nhau trải qua như thế nào? Vinh hoa, phú quý, nghèo khổ, loạn lạc, ly biệt?… Liệu có thể cầm mãi tay nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào hay không?
Thực ra, trước câu thơ này còn có một câu, ý là: “Dù chết sống hay chia xa, xin cùng thề nguyện” (Tử sinh khế khoát. Dữ tử thành thuyết -死生契阔,与子成说). “Khế” ở đây là “khế” trong “khế ước” (); “khoát” là khoát trong “khoát biệt” (chia xa); “thành thuyết” ở đây là chỉ “ký kết”. Như vậy toàn ý câu là:
Chúng ta cùng nhau ký kết, chỉ có khi trong hai người chúng ta một người không còn sống nữa, mới có thể chia tách hai ta. Như thế, hôn ước có sức nặng vô cùng! Đó là sự phó thác cả cuộc đời, chấp nhận cả cuộc đời và trách nhiệm cả cuộc đời.
Trong xã hội Tây phương, người ta cũng xem trọng hôn nhân như thế, lễ cưới trong giáo đường cũng thề nguyện trước Chúa: Tuân theo sự sắp đặt của Chúa, bất kể hoàn cảnh nào cũng quan tâm yêu thương nhau, chung thủy bên nhau không chia lìa. Hôn nhân được xem là chuyện vô cùng thiêng liêng và trang nghiêm.
le cuoi
Vì thế mà từ cổ chí kim, bất kể dân tộc nào, tiền đề của hôn nhân là thề ước, bảo đảm tính hợp pháp của hôn nhân, vì thế mà có sức ràng buộc giữa hai bên. Ở phương Tây có Chúa làm chứng, còn ở phương Đông có trời đất làm chứng.
Ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục bàn về hôn nhân, như chung thân đại sự, một vợ một chồng… đại khái đều xuất phát từ quan niệm về hôn nhân như trên. Do quan niệm về hôn nhân như thế, Lưu Đình Thức trong câu chuyện trên mới một lòng tuân theo hôn ước, không thay lòng đổi dạ vì sự thay đổi của hoàn cảnh khách quan bên ngoài.
Có lẽ người hiện đại thật khó hiểu cách làm của Lưu Đình Thức, cảm thấy anh ta đúng là ngu ngốc. Vì người hiện đại không xem trọng hôn ước, có hay không có hôn ước cũng không sao. Không có hôn ước thì hai người vẫn yêu nhau và sống cùng nhau; có hôn ước nhưng hai người không yêu nhau thì chia tay. Không ai nợ ai, không cần suy nghĩ về cảm giác của đối phương, càng không nói đến chuyện con cái, tình cảm khi về già.
Mấy năm trước, một bạn học hơn chục năm không gặp liên hệ với tôi, ai nấy đều vô cùng vui mừng, sau khi hàn huyên một lúc bỗng cô ấy hỏi: “Chồng cậu vẫn là người đó người đó chứ?” Sau khi khiến tôi sững sờ, cô ấy lại hỏi: “Chưa đổi à? Đang là mốt hiện nay cơ mà!”
Nhìn xung quanh chúng tôi, hôm nay người này ly hôn, ngày mai người kia ly hôn. Trong cung điện hôn nhân, mọi người ai nấy đều bận rộn tấp nập, thậm chí có người không muốn phí sức cho việc kết hôn hay ly hôn, hai người thích thì ở với nhau, không thích thì chia tay; thay người yêu như thay áo, còn dùng cách nói mỹ miều là “tìm hạnh phúc đích thực cho mình”. Thử hỏi, những người như thế có tìm được không?
Một người không giữ chữ tín với người khác, người khác cũng không giữ chữ tín với họ; một người không biết tôn trọng người khác, người khác cũng không tôn trọng họ; một người chỉ biết đến cảm giác, nhu cầu, sở thích, lợi ích cá nhân làm đầu, người khác không thể lúc nào cũng sẵn lòng chiều theo họ.
Liệu một lòng dạ nhỏ nhen có thể tìm được tấm chân tình làm bầu bạn không? Vậy cái gọi là “chung sống tự do” liệu có đáng vững bền đáng tin cậy được chăng? Vì thế, kẻ ngốc thật sự chính là con người “hiện đại”!
Lưu Đình Thức lấy vợ mù, giữ gìn hẹn ước hôn nhân để hai trái tim không bị tổn thương, sự kết hợp của hai tâm hồn như thế sẽ ngày càng hòa hợp, bền chặt theo năm tháng. Họ thật sự làm được như câu “cùng nắm tay nhau cho tới bạc đầu”. Hạnh phúc của họ không lời nào có thể diễn tả được, chẳng phải họ là người thông minh nhất sao?
doi chim
Đoàn Thanh biên dịch
Theo daikynguyenvn.com

Quan niệm về hôn nhân của người xưa (Phần 2: Duyên)

Tin Đa Chiều - 


Ngày xưa con người cởi mở, khoáng đạt với tấm lòng thành thật, nên họ dễ dàng có đươc cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn so với ngày nay.
hon nhan
Thành ngữ cổ “ông già dưới trăng” (nguyệt hạ lão nhân -月下老人), “hữu duyên ngàn dặm dây cột lại” (thiên lý nhân duyên nhất tuyến khiên -千里姻缘一线牵), là có ý muốn nhắc nhở chuyện hôn nhân đại sự là do ông trời đã sớm định từ trước.
Thời nhà Đường có người tên là Vi Cố (韦固) cha mẹ sớm qua đời từ khi còn nhỏ, muốn lập gia thất sớm nhưng không thể làm được như ý muốn. Trinh Quán [*] năm thứ hai, anh ta đến Thanh Hà dạo chơi, giữa đường trú lại một lữ quán ở mặt nam Tống Thành. Thế rồi bỗng có người mai mối, nói đó là con gái của quan Tư mã họ Phan ở Thanh Hà, yêu cầu sáng sớm ngày mai mời Vi Cố đến trước cổng miếu Long Hưng gặp mặt người nhà họ Phan.
co xua
Vi Cố suốt đêm vui mừng phấn chấn, hôm sau tờ mờ sáng đã vội đến trước cổng miếu, lúc đó ánh trăng lung linh vẫn còn treo lơ lửng trên nền trời! Bỗng anh ta thấy một ông lão ngồi tọa trên bậc thềm, bên cạnh để một cái túi vải, đang đọc sách dưới ánh trăng. Vi Cố tiến lên trước xem thử nhưng không hiểu những chữ trong sách, bèn hỏi ông lão: “Lão tiên sinh xem sách gì thế? Cháu khổ học từ nhỏ, tại sao chưa từng thấy những chữ trong sách này?” Ông lão mỉm cười hiền từ, đáp: “Đây không phải sách của thế gian, sao cậu có thể thấy qua được”.
Vi Cố lại hỏi: “Thưa ông, vậy sách này có từ đâu?” Ông lão đáp: “Sách của âm phủ”. Vi Cố ngạc nhiên: “Sao người dưới âm phủ lại đến đây được?” Ông lão trả lời: “Là do cậu đến quá sớm chứ không phải đây là nơi ta không thể đến. Phàm là quan viên cõi âm không chỉ cai quản việc dưới cõi âm mà còn coi sóc việc nhân gian, vậy sao không thể hành tẩu ở nhân gian?”
Vi Cố lại hỏi: “Vậy cụ cai quản việc gì?” Ông lão đáp: “Chuyện hôn nhân đại sự của mọi người”. Vi Cố phấn chấn hỏi: “Từ nhỏ cháu đã không còn cha mẹ nên muốn lập gia thất sớm một chút để sinh con cái, nhưng mười mấy năm qua cháu đã cầu thân nhiều nơi đều không thành. Hôm nay có người mai mối cho con gái của quan Tư mã họ Phan, nhờ cụ xem giúp liệu chuyện hôn sự lần này có thành công được không?”
Ông lão trả lời: “Không thành, nàng dâu của cậu mới vừa 3 tuổi, phải chờ đến năm 17 tuổi mới vào nhà cậu ở được”. Vi Cố lại hỏi: “Trong cái túi của cụ mang gì thế?
Ông lão đáp: “Dây tơ hồng! Dùng để cột vào chân của hai người. Chờ khi họ an định, ta sẽ lặng lẽ cột vào chân của họ. Bất kể hai nhà họ là thù địch hay giàu nghèo cách biệt, hoặc cách xa muôn sông ngàn núi, chỉ cần buộc dây tơ hồng vào rồi thì không thể nào thoát khỏi nhau được. Chân của cậu với cô gái kia cũng được buộc rồi, cậu tìm người khác có ích gì?”
Vi Cố hỏi tiếp: “Vậy nàng dâu của con là ai? Nhà ở đâu?” Ông lão trả lời: “Con gái nhà bán rau ở mặt bắc lữ quán”. Vi Cố hỏi: “Con muốn đi xem thử được không?” Ông lão đáp: “Bà cụ luôn bế cô bé theo khi đi bán rau, lát nữa cậu đi theo ta sẽ chỉ cho”.
Đến khi trời sáng, Vi Cố không thấy có ai đến như lời hẹn.
Ông lão cuốn sách lại rồi đeo cái túi vào và lên đường, Vi Cố theo ông lão đến chợ, thấy có bà lão bị mù một mắt đang ẵm một bé gái 3 tuổi, trông vô cùng bẩn thỉu khó coi. Ông lão chỉ vào bé gái và nói với Vi Cố: “Đó là vợ của cậu”.
Vi Cố hỏi giọng bực tức: “Cháu giết chết bé gái này được không?” Ông lão nói: “Số mạng bé gái này được ấn định đại phú quý, sẽ cùng cậu chung hưởng hạnh phúc, sao có thể giết được?” Dứt lời ông lão biến mất.
Vi Cố trở về nhà mài sẵn một con dao rồi đưa cho người nô bộc, nói: “Nếu ngươi giúp ta giết chết đứa bé đó, ta sẽ cho ngươi một vạn đồng tiền”. Người nô bộc kia nhận lời, giấu con dao trong tay áo rồi đi ra chợ, nhân lúc mọi người chen chúc lộn xộn liền thọc bé gái kia một dao rồi tháo chạy.
Khi trở về, Vi Cố hỏi nô bộc: “Đâm có trúng không?” Nô bộc đáp: “Tôi muốn đâm vào tim nhưng không trúng, trúng ngay giữa hai chân mày”.
Thế rồi sau đó Vi Cố trải qua nhiều lần cầu hôn đều không thành công.
Thấm thoắt 14 năm trôi qua, Vi Cố tòng quân trở thành thuộc hạ của quan Thích sử Vương Thái. Thấy Vi Cố có tài, Vương Thái liền gả con gái cho anh ta. Nàng dâu mới của Vi Cố vừa khoảng mười sáu, mười bẩy tuổi, dung nhan mỹ miều, Vi Cố tâm như ý nguyện, nhưng lại thấy giữa hai chân mày vợ mình luôn đính một bông hoa giấy nhỏ, cả khi tắm gội cũng không lấy ra.
hon nhan 2
Sau này khi Vi Cố hỏi, người vợ nước mắt ròng ròng nói: “Thiếp là cháu của quan Quận thủ đại nhân, không phải con đẻ của ông. Cha thiếp trước đây là quan Huyện lệnh của Tống Thành, chết lúc đương chức. Lúc đó thiếp còn đang quấn tã lót, thân mẫu và anh trai cũng lần lượt qua đời. Nhà chỉ còn lại cái chái ở mặt nam Tống Thành, thiếp sống ở đó với người nhũ mẫu Trần Thị, hàng ngày dựa vào nghề bán rau sống qua ngày”.
“Vú nuôi Trần Thị thương thiếp còn quá nhỏ nên lúc nào cũng bồng thiếp đi theo. Năm 3 tuổi, trong một lần ẵm thiếp ra chợ bán rau thì bị một tên côn đồ đâm trúng một dao vào giữa hai chân mày, để lại vết sẹo, vì thế thiếp phải dùng bông hoa giấy nhỏ đính vào để che đi. Thúc thúc đến nhận chức ở huyện Lư Long đã bảy, tám năm nay, thiếp may mắn được theo thúc thúc, nay lấy danh nghĩa là con gái của ông mà gả cho chàng”.
Vi Cố nói: “Người đâm nàng là do ta phái đi, đây quả là chuyện kỳ lạ!” Thế rồi Vi Cố đem toàn bộ câu chuyện kể lại cho vợ nghe. Từ đó hai vợ chồng ngày càng tương kính như tân, sau này sinh hạ một bé trai đặt tên là Vi Côn (韦鲲), lớn lên làm quan Thái thú tại Nhan Môn. Thân mẫu được phong Thái Nguyên quận Thái phu nhân.
Kể từ đó, người ta gọi người làm mai mối se duyên nam nữ là “ông lão dưới trăng”, cũng gọi là “bà nguyệt”. Cách nói “hữu duyên ngàn dặm dây cột lại” (thiên lý nhân duyên nhất tuyến khiên -千里姻缘一线牵) cũng xuất phát từ đây.
Như vậy, chuyện duyên phận do trời định là thế, có ý nói sức người khó lòng thay đổi được. Quan điểm này cũng phổ biến trong văn hóa phương Tây, gọi là “duyên phận do trời định” (nhân duyên thiên chú định -缘天注).
hon nhan 3
Nếu nói duyên phận do trời định, vậy chẳng lẽ cách thức mà người ta đưa hai người đến với nhau là không có chủ định? Vì dù là “trời” định, cũng cần qua cách thức nào đó để đến với nhau. Ví như ngày xưa thường là do ý nguyện của cha mẹ, hoặc nhờ người mai mối, có phải cũng là một thứ hình thức do “trời” thông qua một người nào đó thực hiện?
Đã là do số mệnh thì có cần gặp nhau trước khi kết hôn? Có cần tìm hiểu đối phương? Cũng không cần phải băn khoăn việc người đó mình có thích hay không, vì dù sao kết quả cũng không thể nào thay đổi được.
Do người xưa tin vào mệnh trời nên vui vẻ chấp nhận sự an bài của ông trời, nói theo kiểu thời nay đó là “thản nhiên đối diện với thực tế”, quan trọng là sau này hai người lấy lễ nghĩa đối đãi với nhau, mỗi người giữ bổn phận của mình, sống chân thành bao dung, vì không đơn giản tờ giấy kết hôn có thể ràng buộc được, mà tự nhiên phải làm như thế.
Vì thế, chuyện hôn nhân của người xưa đa số bền chặt, cam tâm tình nguyện với nhân duyên vợ chồng mà ông trời đã định, nếu tốt thì được hưởng mà không tốt cũng đành chịu, vì nghĩ đó là số mệnh của mình, không đòi hỏi gì nhiều, thuận theo tự nhiên, gặp ai thì yên phận với người đó.
Người hiện đại không tin vào thần thánh, số mệnh, họ tin vận mệnh nằm trong tay mình, hạnh phúc của mình do mình nắm bắt. Họ đi tìm trong biển người mênh mông mù mịt, điều kiện thường đều là đáp ứng yêu cầu cái tôi cá nhân của mình. Nhưng kết quả thường nhiều đổ vỡ, mất mát, thân tâm mệt mỏi, đến cuối cùng người họ tìm được e rằng cũng vẫn là người đã bị Nguyệt lão kết dây tơ hồng, vậy thì quá trình tìm kiếm gian khổ ấy cũng chỉ là một hình thức mà “ông trời” an bài cho người hiện đại.
Nếu phải so sánh, vậy cách chọn bạn đời kiểu nào hay hơn?
Đương nhiên, người hiện đại vì lo lắng vận mệnh của mình bị sắp đặt không tốt nên muốn mình được làm chủ, thế nhưng “ông trời” đã căn cứ vào đâu để sắp xếp duyên phận mỗi người? Có phải vào lẽ công bằng hợp lý không?
[*] Niên hiệu vua Đường Thái Tông, Lý Thế Dân (627 – 649)
Theo daikynguyenvn.com
https://daikynguyenvn.com/van-hoa-nghe-thuat/quan-niem-ve-hon-nhan-cua-nguoi-xua-phan-2-duyen.html
Vĩnh Bảo sưu tầm 5/10/2015

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Duyên và nợ

Duyên và nợ

(PGVN)

Trong thế gian người ta thường nói có nợ mới có duyên, đúng như vậy, duyên của thế gian đến như một sự nhân quả, đến để trả nợ cho nhau ở kiếp trước

Trong sự tái sinh luân hồi, duyên sẽ tồn tại, nhân - quả ân oán đời trước sẽ theo duyên này đến đời sau. Thời đức Phật còn tại thế có câu chuyện, hai mẹ con nhà nọ thất lạc nhau lúc đứa con còn rất bé vì chiến tranh nên họ lưu lạc nhau, đến khi họ gặp nhau thì họ không còn nhận ra nhau là mẹ - con nữa mà họ đem lòng yêu nhau vì họ thấy có cái gì đó quyến luyến giữa hai người?!
Đến ngày họ làm lễ thành hôn, lúc đó Phật đi qua và đức Phật khuyên ngăn cuộc tình đó, đức Phật gọi đó là Nghiệp DuyênNhưng bị họ chống đối quyết liệt, họ phải đến với nhau cho bằng được. Cuối cùng Ngài sử dụng Thiên nhãn thông giúp cho họ thấy quá khứ của chính mình, hai mẹ con đã nhận ra nhau.
Trong đạo Phật thì kiếp trước và kiếp này hay quá khứ của kiếp này không hoàn toàn khác nhau mà là một, một sự chuyển đổi, hoán đổi và liên tục từ cảnh giới này sang cảnh giới khác nhưng nghiệp lực không thay đổi.
Lấy ví dụ: Hai vợ chồng thương nhau sống với nhau hạnh phúc, nhưng bỗng nhiên người vợ hay người chồng lại có thêm người khác bên ngoài. Đó là nhân quả của duyên và nợ. Điều này bị xã hội vô cùng lên án đó là vi phạm đạo lý làm người, là tội lỗi nặng nề. Phật giáo thì xem đó như là món nợ mà người đó  phải trả, hoặc chính họ tạo ra một nghiệp mới (nợ). 

Đến với đạo Phật, phải biến chuyển đổi  tình cảm và nợ duyên đó thành phước lành giúp cho mình tinh tấn trong việc phụng sự đạo Pháp mới mong được  giải thoát được nợ duyên đó. Để hướng đến cuộc sống an lạc, hạnh phúc ngay tại đời này.
Còn đối với những người không thấm nhuần giáo lý cao siêu nhiệm mầu của đức Phật thì xem nó như là một trò chơi tình ái và dục vọng, vì vậy mà nghiệp vẫn còn, và tự chuốc lấy khổ đau, khi gia đình ly tán, ghen tuông, kiện tụng đeo đẳng đời sống của ta....Và do vậy, luân hồi duyên và nợ.

Trong cuộc sống thường ngày  có rất nhiều thắc mắc khó lý giải như:
                                                                         Ảnh minh họa
 “Vì sao ở  thế gian  có đôi vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng  chỉ một thời gian ngắn ngủi rồi chia tay?  
Vì sao có đôi bạn trẻ yêu nhau rất lâu khi sắp thành hôn lại bỏ nhau?

- Đó là duyên, nợ đã hết:
Vì sao hai người vừa gặp nhau trong giây lát đã tin tưởng và yêu say đắm?
Vì sao có đôi vợ chồng người vợ bị đánh đập, mắng chửi  tàn nhẫn nhưng vẫn tận tâm chăm sóc chồng  không bỏ được?
Vì sao có người luôn quan tâm  lo lắng và  hết mực  yêu thương  người bạn ngoài đời hơn cả chính mình?
Tất cả là vì  nợ - duyên vẫn còn, đó là nghiệp của mình tạo ra ở kiếp trước nên mình phải trả. Là người con Phật phải biết tu tập lấy tâm từ bi hóa giải nghiệp chướng đó mới mong thoát khỏi luân hồi duyên nợ, đó mới là trách nhiệm của người có hiểu đạo Phật!
Và cứ như thế ta tu tập từ đời kiếp này sang đời kiếp khác thì chúng ta tìm đến cái Duyên với Phật Pháp. Chúng ta sẽ hưởng Phước lành nếu biết tạo cái duyên nợ  của thế gian đến với  Phật  Pháp.
Có thể duyên đó đến trong giây lát rồi biến mất và cũng có thể duyên đó tồn tại mãi mãi đến kiếp sau vì trong duyên đó còn có nợ. Nhưng còn nợ của duyên thì phải trả, không trả thì còn nghiệp mà còn nghiệp thì không thể giải thoát.
Như vậy chúng ta phải  tu tập ngay từ kiếp này, giây phút này đừng để chậm hơn, để chúng ta có cuộc sống an lạc tương ứng.

Thiện Tâm
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/10/2015

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

NGÀY XƯA ẢI NAM QUAN


10 Nam quan 1NGÀY XƯA

ẢI NAM QUAN

Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan :
“Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là “Ðại Nam Quan”, phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề “Trấn Nam Quan”, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở.
Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có “Chiêu đức đài”, đằng sau đài có “Ðình tham đường” (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; 10 Nam quan 2phía nam có “Ngưỡng đức đài” của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ.”
Theo “Ðịa dư các tỉnh Bắc Kỳ” của Ngô Vi Liễn, Phạm Văn Thư và Ðỗ Ðình Nghiêm (Nhà in Lê Văn Tân xuất bản, Hà Nội, 1926): “Cửa Nam Quan ở ngay biên giới Trung Quốc và Việt Nam.
Kể từ Hà Nội lên đến tỉnh lỵ Lạng Sơn là 150 km; đến cây số 152 là chợ Kỳ Lừa; đến cây số 158 là Tam Lung; đến cây số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây số 167 là cửa Nam Quan đi sang Long Châu bên Tàu.
Như vậy từ Ðồng Ðăng lên cửa Nam Quan có 5 km; từ Kỳ Lừa lên Nam Quan mất 15 km [về phía tây nam chợ Kỳ Lừa có động Tam Thanh, trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng Sơn] và từ tỉnh lỵ Lạng Sơn lên Nam Quan là 17 km.”
Các bức ảnh trong entry này sắp xếp không theo trình tự thời gian, mà theo trình tự không gian của chuyến đi từ Đồng Đăng sang Long Châu – Trung Quốc.10 Nam quan 3 Trong số đó có các bức ảnh do vợ chồng Imbert chụp vào khoảng thời gian cuối năm 1906, trong chuyến đi tới vùng biên ải Trung Hoa.
Hình 1: Thị xã Đồng Đăng nhìn từ đỉnh cao của trạm quan trắc, nơi đóng quân của một đội trưởng bộ binh bản xứ và một trung úy Pháp. Ảnh: Imbert Edgard (cuối 1906 – trang Ecpad)
Hình 2: Ga Đồng Đăng, ga cuối trên biên giới của tuyến đường sắt đường sắt Hà Nội – Vân Nam. Ảnh: Imbert Edgard (cuối 1906).
Hình 3: Một trong những bức ảnh của tạp chí LIFE về Việt Nam thời thuộc Pháp. Hình ảnh chuột Mickey cầm súng đứng gác giúp ta ước đoán bức ảnh được chụp vào những năm 30, khi hình tượng chuột Mickey trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Bảng chỉ dẫn mang dáng hình cửa ải ghi rõ khoảng cách từ Đồng Đăng đến Nam Quan là 4 km. Hoạt động canh giữ cửa khẩu biên giới thể hiện qua số lượng binh sĩ và các xe quân sự
10 Nam quan 4
Hình 4: Chỉ dẫn ghi trên tường : Đường sang Trung Hoa qua cửa Nam Quan
Hình 5: Đường lên biên giới Việt – Trung đi qua những ngọn núi. Đường mòn quanh co, gập ghềnh qua những sườn dốc nguy hiểm. Hình 6: Đồng Đăng – Đồn canh của Pháp trên đường biên giới. Nhìn về phía Ải Nam Quan. Đã hiện ra vệt mờ của bức tưòng thành trên sườn dốc của ngọn núi bên phải dẫn tới điểm cao nơi đặt đồn canh của Pháp
10 Nam quan 5
Hình 7: Đồn Pháp nhìn từ Ải Nam Quan
Hình 8: Một bức trong loạt bưu ảnh “Đồn và lô cốt địa đầu Bắc Bộ” – Nam Quan: Cửa khẩu sang Trung Quốc. Đồn biên giới Trung quốc và lô cốt Pháp Hình 9: Hình chụp từ cao điểm thấy rất rõ hai cửa quan
Hình 10: Toàn cảnh Ải Nam Quan nhìn từ phía Đồng Đăng. Đã thấy rõ hai cửa quan: cửa của Việt Nam nhỏ bé, khiêm nhường, một tầng mái, cửa của Trung Hoa lớn hơn, hai tầng mái. Một dải tường thành chạy lên núi từ hai bên cửa quan Trung Hoa. Trên con đường chạy về cận cảnh bức ảnh có một số nhân vật đang di chuyển. Rõ ràng, mặc dù về mặt tự nhiên đây là vùng rừng núi, nhưng cả người Pháp và nhà Thanh đều chủ ý để khu vực cửa khẩu trơ trọc nhằm theo dõi mọi biến động.
10 Nam quan 6
Hình 11: Ải Nam Quan (trước) năm 1905. Dù hướng chụp chính diện làm cho cửa quan của Việt Nam lẫn vào công trình đồ sộ của nước lớn Trung Hoa, nhưng vẫn thấy rõ ba tầng mái của hai cửa quan. Hai phía Ải Nam Quan của Việt Nam cũng có hai bờ tường chạy về hai ngọn núi, nhưng ngắn hơn và có hình bậc thang. Khoảng cách chụp gần lại, phân biệt rất rõ hình dáng của hai cửa ải
Hình 12: Hướng chụp từ trên điểm cao cho thấy giữa hai cửa quan là một vùng đệm.Hình 13: Vị trí chụp từ đường đi.
10 Nam quan 7
Hình 14: Thấy rõ hai mái lầu cửa bên Trung Hoa giống như các bức ảnh chụp trước đó. Khoảng cách từ phía người chụp rút ngắn lại. Hình 15: Một bức bưu thiếp rất đẹp và có giá trị Hình 16: Một tốp lính và sĩ quan Pháp trước Ải Nam Quan
10 Nam quan 8
Hình 17: Cận cảnh cửa ải bên Việt Nam Hình 18: Hoạt động bang giao diễn ra nơi cửa khẩu có vẻ rất hòa hảo. Còn nhớ sau Công ước Thiên Tân 1885, người Pháp đã xúc tiến một dụ án rất tham vọng: xây dựng mạng lưới đường sắt từ phần lãnh thổ Đông Dương sang Vân Nam. Tuyến đường này khánh thành ngày 31 tháng Ba năm 1910.
Hình 19: Một bức ảnh vô cùng quý hiếm với cận cảnh hình trang trí trên cửa ải, các vòm cổng của hai bên, cũng như bức bình phong chắn ngang phía Trấn Nam Quan
10 Nam quan 9
Hình 20: Vùng đệm nằm giữa hai cửa quan. Hướng chụp vẫn từ phía Việt Nam. Người chụp đứng trên sườn núi, ngay sau phia bức tường đá. Quả là người Trung Hoa rào rậu rất kĩ. Trấn Nam Quan (cửa quan của Trung Hoa) xây liền sau bờ tường thành chạy từ trên ngọn núi đá vôi xuống. Chỗ cao nhất của bờ thành gần tới mái của cửa quan. Bên trái bức ảnh, ở lưng chừng núi có một công trình giống ngôi miếu (ở hình số 15 ta đã có thể nhìn thấy nó).
Hình 21: Hai viên quan nhà Thanh phụ trách Trấn Nam Quan Hình 22: Viên quan nhà Thanh cùng tùy tùng mang cờ phướn khi sang giao tế vùng đất thuộc Pháp
10 Nam quan 10
Hình 23: Sang địa phận Trung Hoa. Hoạt động ngoại giao nơi này diễn ra sôi động với chương trình khảo sát, hoạch định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh. Có thể phân biệt được quan chức Pháp trong bộ Âu phục trắng, cưỡi ngựa trắng Và quan chức nhà Thanh đội nón, cưỡi ngựa ô trong số các nhân vật trong ảnh. Hãy chú ý đến cụm nhà ngói có tường bao ở góc trái bức ảnh.
Hình 24: Những đứa trẻ Trung Hoa trên cửa ải. Ảnh: Imbert Edgard (cuối 1906) Hình 25: Thời gian trôi qua thể hiện qua chiều cao cây cối. Ta dễ dàng nhận thấy Trấn Nam Quan chỉ còn một mái lầu và xuất hiện hàng lan can. Có thể cuộc khởi nghĩa Trấn Nam Quan năm 1907 của Tôn Trung Sơn đã làm thay đổi diện mạo của cửa quan này.
10 Nam quan 11
Hãy để ý đến hai người đàn ông mặc Âu phục mầu trắng đứng gần bức tường bao của cụm nhà trước cổng quan. Vóc dáng, tư thế, và đồng phục cho biết họ có thể là những viên chức Pháp làm việc tại văn phòng quản lý biên giới. Cụm nhà nhỏ nơi họ đứng trước kia Quan Đế Miếu (miếu thờ Quan Công) và Đền Chiêu Trung. Năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 văn phòng được xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp, nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu”. Công trình vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, nhưng thông tin không rõ ràng, có phần mâu thuẫn về niên đại lịch sử khiến Pháp Quốc Lầu có một lai lịch mờ ám (Đọc thêm tại đây)
Hình 26: Trấn Nam Quan nhìn từ điểm cao phía Trung Hoa. Vẫn thấy rõ bức bình phong và cụm nhà ngói trước cổng quan. Trên đỉnh núi bên trái có một danh trại khá lớn.
10 Nam quan 12
Hình 27: Toàn cảnh Trấn Nam Quan bên phía Trung Hoa. Ngôi làng trong thung lũng nằm hai bên con đường nhỏ, phía trước là khu doanh trại. Cuối con đường chính dẫn về phía Trấn Nam Quan vẫn thấy cụm nhà nơi đặt văn phòng quản lý biên giới Pháp – Trung. Thời điểm này văn phòng chưa được xây lại thành toà nhà 2 tầng mà người ta quen gọi là Lầu Pháp Quốc.
Hình 28: Ngôi làng Trung Hoa ở Nam Quan. Hai dãy nhà lá nằm bên con đường lát đá. Đây có lẽ là khu dân cư, cuối đường có một khu nhà ngói khang trang hơn có lẽ là doanh trại hoặc khu gia binh
Hình 29: Xử trảm một người Hoa tại khu vực Ải Nam Quan. Xen vào loạt ảnh của Union Commerciale Indochinois, chụp cùng một thời gian, Hình 30: Con đường từ Ải Nam Quan sang Long Châu, Hình 31: Ngôi làng Loc Kan Thiap. Bên Trung Hoa
10 Nam quan 13
Hình 32. Một dinh thự trên đường đi Long Châu. Không rõ Loc Hang Thiap là địa danh gì? Hình 33: Vợ chồng Imbert chụp ảnh trước dinh thự của chỉ huy tên Sen ở Loc Hang Thiap. Cùng người đồng hương và chủ nhà Trung Hoa đến thăm một nhà hát ở Loc Hang Thiap Hình 34: Những ngôi miếu….
Hơn 100 năm đã trôi qua từ lúc người Pháp chụp những bức hình trên. Vạn vật đã đổi thay. Một mầm cây non có thể đã trở thành cổ thụ. Một con sông có thể đã cạn khô hay đổi dòng. Một ngọn núi có thể đã trở thành bình địa. Các triều đại cũng vậy. Ải Nam Quan xưa có phải là Hữu Nghị Quan ngày nay ? Người ta sẽ chẳng tranh cãi khi xung quanh nó không có những bức màn bí ẩn. Dù thế nào, trong tâm thức mỗi chúng ta dải đất hình chữ S bắt đầu từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau. (theo Thanh Nhân Trần)
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/10/2015

ĐI WC ĐÚNG CÁCH



7 WC 1ĐI WC ĐÚNG CÁCH

Khổ thiệt, đi WC suốt cả đời trên bàn cầu, đến giờ mới biết là sai cách. Hóa ra có tới 75% dân số thế giới không biết cách đại tiện “chuẩn” là như thế nào.
Đại tiện là một nhu cầu thường xuyên của con người. Nhờ sự phát triển của văn hóa phương Tây, phương pháp ngồi xí bệt đã du nhập vào nhiều nước trên thế giới.
Số liệu thống kê cho thấy, có khoảng 75% dân số thế giới “đi cầu” bằng cách này. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu, thì phương pháp “trút bỏ nỗi sầu” cùng anh bạn này lại không hề tốt cho sức khỏe của chúng ta.
Có phải bạn đang “đi cầu” theo cách này (H1) : Vậy là sai rồi đó !! Các khoa học gia khoa xương chậu tại ĐH Stanford (Mỹ) cho biết, khi giải quyết nỗi buồn bằng cách ngồi bệt,7 WC 2 ta sẽ phải dùng lực nhiều hơn để rặn, tạo ra áp lực lớn lên ruột.
Vách của đại tràng đôi khi không đồng đều về cấu tạo, có những chỗ vách bị yếu hơn so với phần xung quanh. Khi áp lực ruột gia tăng, niêm mạc của những chỗ yếu đó sẽ bị đẩy ra ngoài qua vách ruột yếu và tạo thành cái túi nhỏ, có kích thước từ 2 – 6cm.
Không chỉ ảnh hưởng đến đại tràng, việc ngồi “xí bệt” đôi khi có thể gây nguy hại tới cơ vòng hậu môn cũng do nguyên nhân cửa ruột không thể mở hoàn toàn (H2).
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cảnh báo việc ngồi bệt khi đi cầu có thể gây ra nhiều bệnh như viêm ruột, thoát vị, trĩ hay táo bón, thậm chí là cả ung thư ruột kết (H3).
7 WC 3Vậy cách đi cầu “chuẩn” nhất là gì ?  Để biết được điều này, các khoa học gia đã nghiên cứu 3 tư thế “đại tiện” phổ biến: ngồi trên bệ xí thấp, ngồi trên bệ xí cao, và ngồi xổm. Và kết quả cho thấy, việc ngồi xổm khi đi cầu đã đem lại lợi ích to lớn bất ngờ cho chúng ta (H4-5).
Cụ thể, việc đi cầu sẽ có hiệu quả hơn khi chúng ta ngồi xổm bởi cơ chế của cửa ruột được thiết kế để mở hoàn toàn khi ta “đi” trong tư thể này. Hơn nữa việc ngồi xổm còn giúp giảm áp lực xuống cho “bàn tọa” và tránh được khả năng xảy ra hiện tượng tê chân. Điều này cũng có nghĩa, so với ngồi xí bệt, xí xổm sẽ giúp chúng ta “đi cầu” dễ dàng hơn rất nhiều.
7 WC 4Theo một số thống kê, trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ người chọn phương pháp ngồi xổm khi đi cầu. Phương pháp này đã giúp họ tránh được bệnh viêm túi thừa đại tràng với tỷ lệ mắc bệnh là không đáng kể. Thế nhưng vấn đề lớn nhất hiện nay là phần lớn các gia đình trên thế giới đang sử dụng bồn cầu dạng bệt và họ đã quá quen thuộc với nó để có thể từ bỏ.
Đặt một chiếc ghế nhỏ ở phía chân, hơi nghiêng mình về phía trước sẽ giúp bạn đi vệ sinh đúng chuẩn và có lợi cho sức khỏe hơn (H6). Do đó, các chuyên gia cho biết, các bạn chỉ cần nghiêng mình ra phía trước một chút khi đang “đi vũ trụ” hoặc kê dưới chân một chiếc ghế nhỏ.
Phan Tất Đại chuyển tiếp 
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/10/2015