Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Nếu chỉ chọn một cây thảo dược, thì hãy chọn ớt!”

b
Các nhà khoa học tìm thấy trong ớt Cayenne ít nhất 26 loại chất dinh dưỡng khác nhau. Nó chứa nhiều khoáng chất như kẽm, selen, canxi, magiê và rất giàu các vitamin A và vitamin C…
Tiến sĩ Schulze: Nếu chỉ chọn một cây thảo dược, thì hãy chọn ớt!
Các bác sĩ nổi tiếng chuyên sử dụng phương pháp trị liệu tự nhiên thấy rằng ớt xứng danh là Vua của các cây thảo dược vì những tính năng tuyệt vời đối với sức khỏe mà nó mang lại.
Cấp cứu nhồi máu cơ tim bằng ớt
Theo Naturalnews, bạn thực sự có thể ngăn chặn cơn đau tim bằng một cách rất gọn nhẹ là sử dụng ớt Cayenne. Đúng vậy! Ớt Cayenne có thể ngăn chặn cơn đau tim trong khoảng 60 giây!
Các bác sĩ nổi tiếng như John Christopher, Richard Schulze (Mỹ) đều ca ngợi ớt Cayenne. Ví dụ TS John Christopher cho biết: “Trong 35 năm chữa bệnh, làm việc với người dân và dạy học, tôi chưa bao giờ để mất một bệnh nhân tim nào khi được gọi đến cấp cứu tại nhà. Lý do là, bất cứ khi nào tôi đi vào nhà bệnh nhân, nếu họ vẫn còn thở, tôi cho họ uống trọn một lý trà ớt (một muỗng cà phê bột ớt Cayenne trong một ly nước nóng), trong vài phút là họ đứng lên và đi lại được”.
Đây là những kinh nghiệm quý giá của các bác sĩ qua thực tế cá nhân, chứ không phải là suy luận dựa trên những đặc tính của loại thảo dược này.
Trước hết, để có thể ngăn chặn cơn đau tim, ớt Cayenne phải là loại có ít nhất 90.000 đơn vị nhiệt (HU, heat units – thước đo độ cay nóng của ớt). Nếu người đó vẫn còn ý thức, khuyến cáo là trộn 01 muỗng cà phê bột Cayenne vào một ly nước ấm, làm thành loại trà ớt và đưa cho người bệnh uống.
Nếu người đó bất tỉnh, hãy dùng chiết xuất ớt Cayenne, cũng phải là ít nhất 90.000 HU, cho một vài giọt lớn vào vị trí bên dưới lưỡi.
Một ly trà ớt nóng đem đến tức thời cho trái tim một lượng dưỡng chất mạnh mẽ mà tim cần thiết để vực người bệnh dậy trong cơn nguy cấp của bệnh tim.
2a
Trà ớt
26 dưỡng chất quý giá từ ớt
Các nhà khoa học tìm thấy trong ớt Cayenne ít nhất 26 loại chất dinh dưỡng khác nhau. Nó chứa nhiều khoáng chất như kẽm, selen, canxi, magiê và rất giàu các vitamin A và vitamin C. Đồng thời trong ớt cũng có nhiều hoạt chất quý cho sức khỏe, đặc biệt là nitroglycerin, được ví như món quà của Thiên Chúa dành cho những người có vấn đề tim mạch.
Một trong những ứng dụng có lợi nhất là dùng ớt Cayenne như một chất xúc tác khi kết hợp cùng các thảo dược. Do có tác dụng kích thích trên cơ thể, nó đẩy nhanh tốc độ lưu thông, tăng cường tiêu hóa cũng như sự hấp thụ. Vì vậy nó có thể nâng cao hoặc làm tăng hiệu quả của bất kỳ công thức thảo dược nào.
Trong thực tế, nó thường được sử dụng theo cách này trong công thức cho viêm khớp, các vấn đề phụ khoa khác nhau, nhiễm trùng, bệnh tim hoặc tuần hoàn, thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu, viêm loét, điều trị tuyến giáp v.v.
Ớt giúp thuyên giảm các chứng bệnh như:
  • Cục máu đông (blood clots): Ớt rất hiệu quả trong việc phòng ngừa và làm tan cục máu đông.
  • Xơ vữa động mạch hay xơ cứng động mạch (Atheroslerosis or Arteriosclerosis): Ớt làm mềm thành mạch, mở rộng các mạch máu, tăng sức mạnh cho tim, và làm sạch bên trong thành mạch của hệ tuần hoàn.
  • Suy tim sung huyết (Congestive heart failure): Ớt giúp tim được thư giãn và khỏe mạnh, mở rộng các mạch máu, dọn sạch những chất bẩn. Về lâu dài căn bệnh tim trầm trọng có thể hồi phục lại gần như bình thường với việc đều đặn dùng ớt.
  • Triglycerides cao: Ớt giúp giảm lượng triglycerides là chất béo trung tính tổng hợp từ các carbohydrat và được lưu trữ trong các tế bào mỡ.
  • Loạn nhịp tim (Heart arrhythmias): Ớt giúp giảm nhịp tim đập nhanh, tăng cường máu đến tim, ngăn ngừa máu đóng calcium.
  • Hỗ trợ tim mạch, lọc máu và kích thích toàn bộ các hệ thống trong cơ thể. Giúp thông các tắc nghẽn trong động mạch, tĩnh mạch và hệ bạch huyết.
  • Gia tăng chức năng não bộ, một trong những hiệu qủa tốt nhất là gia tăng lưu thông máu đến vùng đầu và não. Hiệu nghiệm trong việc chống lại chứng đau nhức nửa đầu (migraine headache) và nhức đầu chùm (cluster headache).
  • Có thể cầm máu rất nhanh bằng cách dội rửa vết thương với 1 đến 5 ống nhỏ giọt đầy (1-5 full droppers), sau đó đắp bột ớt Cayenne lên vết thương.
  • Tăng cường lưu thông máu và giảm hay cầm máu từ vết loét dạ dầy. Khi uống trà ớt, nó sẽ kích thích lưu thông máu. Dùng để trị chứng khó tiêu (indigestion) và ợ nóng (heartburn).
  • Giúp tan đờm và nhanh chóng chữa lành các chứng cảm lạnh, cúm. Được dùng như thảo dược làm toát mồ hôi (diaphoretic).
  • Giúp hạ cholesterol và ngăn ngừa cục máu đông thành hình bằng cách làm loãng máu và giúp chữa lành trái tim sau cơn nhồi máu cơ tim (heart attack).
  • Gúp giảm viêm họng và viêm amidan.
3a
Ớt giúp thuyên giảm các bệnh tật, đặt biệt là bệnh về tim mạch
  • Một số cách dùng ớtMột số chuyên gia về sức khỏe khuyên rằng bạn nên mang bên mình rượu ớt để dùng trong những trường hợp cấp cứu cho người bị nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Bạn cũng có thể làm và thưởng thức món trà ớt hàng ngày, tăng cường sức khỏe và đề phòng các vấn đề bệnh tật.
    • Khi cảm thấy cơn nhồi máu cơ tim sắp xảy ra, hãy uống ly trà ớt nóng cứ 15 phút một lần cho đến lúc các triệu chứng qua đi.
    • Nếu bệnh nhân đã bất tỉnh vì nhồi máu cơ tim, bắt đầu cho hai muỗng cà phê rượu ớt vào miệng, sau đó tăng thêm khi bệnh nhân bắt đầu có phản ứng.
    • Chảy máu, xuất huyết (bên trong hay bên ngoài cơ thể): pha ly trà ớt nóng (dùng một muỗng cà phê ớt bột hay 30 giọt rượu ớt) để nguội bớt rồi uống, uống luôn cả bã bột ớt nếu có thể. Máu sẽ nhanh chóng cầm lại.
    • Vết thương: rắc bột ớt lên vết thương, hoặc rửa vết thương bằng rượu ớt, máu sẽ cầm lại trong vài giây.
    • Trẻ sơ sinh bị ngạt thở: dùng vài giọt rượu ớt hòa với vài giọt nước (nửa này nửa kia) nhỏ vào lưỡi bé.
    Trường hợp cấp cứu, khi có sẵn ớt cay tươi trong nhà, giã nhuyễn ớt rồi pha với nước nóng để làm trà ớt cho bệnh nhân uống (1 trái ớt cay to dài bằng ngón tay trỏ pha trong 200-250 ml nước nóng).
  • Dùng ớt hàng ngàyRượu ớt: bắt đầu bằng 5 giọt trong nước uống hay nước trái cây, ngày ba lần. Tăng dần lên đến 1 ống nhỏ giọt đầy (khoảng 30 giọt), ngày 3 lần.
    Bột ớt: Bắt đầu bằng 1/4 muỗng cà phê ớt bột ngày 3 lần, và tăng dần lên 1 muỗng cà phê, ngày 3 lần. Cho ớt (bột ớt hay rượu ớt, giấm ớt) vào ly nước nóng, để 5 phút như pha trà rồi uống. Uống nóng càng tốt.
    Cách làm rượu ớt Cayenne
    Bạn có thể chiết xuất ớt với nước giống như pha trà. Tuy nhiên cách này không để được lâu, nên tốt nhất là ngâm rượu, dùng loại trên 40 độ. Rượu giúp trích rút ra được một số chất mà nước khó lấy ra. Ngoài ra có thể dùng giấm táo thay vì dùng rượu.
    Từ ớt tươi: Lấy khoảng 200 g ớt tươi, loại càng cay càng tốt, có thể dùng nhiều loại ớt cùng lúc, rửa sạch để thật ráo nước, cắt bỏ cuống, cho vào máy xay, đổ rượu cho ngập bên trên mặt ớt. Xay khoảng một phút hay đến khi ớt nhuyễn đều. Đổ vào chai thủy tinh 1 lít, đổ thêm rượu cho đầy chai. Ớt tươi cho hiệu lực mạnh mẽ. Bạn có thể dùng tươi ngay khi vừa xay. Bảo quản nơi tối không có ánh sáng, mỗi ngày lắc đều vài lần. Sau 14 ngày, lọc bỏ bã. Bạn sẽ được chai rượu ớt có thể giữ được qua nhiều năm.
    Từ bột ớt khô: lấy khoảng 120 g, chọn loại có độ HU (heat unit) cao 70.000 – 90.000 HU hoặc hơn, ngâm trong một lít rượu 45 độ (vodka, rượu gạo) trong 14 ngày. Người mới bắt đầu dùng ớt, có thể dùng loại 35.000 HU trước.
    Khi mới bắt đầu thì nên dùng một lượng ít, sau đó tăng liều dần dần. Nếu ban đầu chưa quen độ cay, bạn có thể dùng trong bữa ăn cùng với thực phẩm khác.
    4a
    Rượu ớt
    Dùng ớt hàng ngày
    Rượu ớt: bắt đầu bằng 5 giọt trong nước uống hay nước trái cây, ngày ba lần. Tăng dần lên đến 1 ống nhỏ giọt đầy (khoảng 30 giọt), ngày 3 lần.
    Bột ớt: Bắt đầu bằng 1/4 muỗng cà phê ớt bột ngày 3 lần, và tăng dần lên 1 muỗng cà phê, ngày 3 lần. Cho ớt (bột ớt hay rượu ớt, giấm ớt) vào ly nước nóng, để 5 phút như pha trà rồi uống. Uống nóng càng tốt.
    Cách làm rượu ớt Cayenne
    Bạn có thể chiết xuất ớt với nước giống như pha trà. Tuy nhiên cách này không để được lâu, nên tốt nhất là ngâm rượu, dùng loại trên 40 độ. Rượu giúp trích rút ra được một số chất mà nước khó lấy ra. Ngoài ra có thể dùng giấm táo thay vì dùng rượu.
    Từ ớt tươi: Lấy khoảng 200 g ớt tươi, loại càng cay càng tốt, có thể dùng nhiều loại ớt cùng lúc, rửa sạch để thật ráo nước, cắt bỏ cuống, cho vào máy xay, đổ rượu cho ngập bên trên mặt ớt. Xay khoảng một phút hay đến khi ớt nhuyễn đều. Đổ vào chai thủy tinh 1 lít, đổ thêm rượu cho đầy chai. Ớt tươi cho hiệu lực mạnh mẽ. Bạn có thể dùng tươi ngay khi vừa xay. Bảo quản nơi tối không có ánh sáng, mỗi ngày lắc đều vài lần. Sau 14 ngày, lọc bỏ bã. Bạn sẽ được chai rượu ớt có thể giữ được qua nhiều năm.
    Từ bột ớt khô: lấy khoảng 120 g, chọn loại có độ HU (heat unit) cao 70.000 – 90.000 HU hoặc hơn, ngâm trong một lít rượu 45 độ (vodka, rượu gạo) trong 14 ngày. Người mới bắt đầu dùng ớt, có thể dùng loại 35.000 HU trước.
    5a
    Bột ớt
    Khi mới bắt đầu thì nên dùng một lượng ít, sau đó tăng liều dần dần. Nếu ban đầu chưa quen độ cay, bạn có thể dùng trong bữa ăn cùng với thực phẩm khác.
  • Cách làm trà ớt
    Xắt mỏng trái ớt cay, nhiều hay ít tùy theo độ cay cho vừa với mình, cho vào ly, chế nước sôi để 10 phút như pha trà bình thường, là được ly trà ớt. Sau mỗi ba ngày khi đã quen với độ cay, hãy tăng liều lượng ớt lên.
    Nếu bạn có kinh nghiệm nào với ớt, thì hãy chia sẻ để mọi người cùng biết nhé!
    Theo daikynguyenvn.com
https://daikynguyenvn.com/suc-khoe/tien-si-schulze-neu-chi-chon-mot-cay-thao-duoc-thi-hay-chon-ot.html
Vĩnh Bảo sưu tầm 7/11/2015

Bí quyết dưỡng mắt của người xưa

Tuy không phải tiếp xúc với các loại phản quang phát ra từ thiết bị hiện đại nhưng nhu cầu bảo vệ và nuôi dưỡng đôi mắt của người xưa cũng đã được quan tâm.
Vậy người xưa dưỡng mắt như thế nào?
1.

Thời nay, chúng ta hàng ngày phải tiếp xúc với các loại màn hình phản quang độc hại cho mắt như máy tính, điện thoại, truyền hình vì thế rất cần chú ý đến cách bảo vệ thị lực. Người xưa tuy không có các thiết bị điện tử, nhưng đã có nhu cầu bảo dưỡng đôi mắt.
1. Dùng hoa cúc sắc nóng làm thuốc bổ sáng mắt
 Ví như vua Ung Chính nhà Thanh (1678 – 1735), công việc bận rộn, thường phải thức khuya phê duyệt tấu chương, ảnh hưởng không tốt cho xương cổ và đôi mắt, ông phải dùng liệu pháp thảo dược là hoa cúc để mắt bớt mỏi mệt. Nghe nói loại hoa cúc dùng cho hoàng gia này sinh trưởng ở các khe núi đá. Hoa cúc khi đưa vào hoàng cung được làm thành cái gối hoa cúc, lúc vua Ung Chính thấy mắt khô mỏi thì nằm lên gối dưỡng thần, rất có hiệu nghiệm.
Ăn hoa cúc cũng rất tốt cho mắt, đặc biệt là hoa cúc vàng, lấy cánh hoa rửa sạch, trần qua nước cam thảo nóng, khi cơm kê chín thì cho vào, người xưa gọi là cơm vàng, có mùi hòa trộn mùi gạo và mùi hoa cúc, không chỉ dùng để ăn no bụng mà còn là thuốc hỗ trợ bổ mắt, sáng mắt.
Cao Liêm (1573 – 1620), người nổi tiếng về thuật dưỡng sinh thời Minh từng ghi lại trong «Tuân sinh bát tiên»: “Dùng hoa cúc sắc nóng làm thuốc bổ sáng mắt”.
2.

Ngoài cây hoa cúc người ta còn dùng cây kỷ tử, là loại cây có công dụng “sáng mắt trường thọ”, rất tốt cho bảo dưỡng thị lực. Cách làm thì ngoài ngâm nước nấu cháo, còn dùng cho công việc. «Chí nha đường tạp sao» ghi lại: “Cây khởi tử dùng ép lấy dầu đốt đèn, giúp trợ mắt khi đọc sách”. Dùng dầu ép từ cây khởi tử đốt đèn đọc sách tốt cho thị lực, không giống như đèn cầy và loại dầu đốt thông thường.
Nhưng nghĩ kỹ thì việc này có vẻ không hợp lý. Cây kỷ tử vốn không lớn, lấy đâu ra nhiều để ép dầu đủ cung cấp cho nhu cầu đọc sách? Nếu tính vào chi phí trồng loại cây này thì ép dầu đọc sách là vô cùng xa xỉ, đa số người bình thường không thể đủ khả năng. Ngay cả những tinh anh trong xã hội như Âu Dương Tu (1007 – 1072), làm đến chức Tể tướng, nhưng cũng chưa từng dùng đèn bằng dầu cây kỷ tử. Trong một tác phẩm thơ ca của ông là «Hô đáp thánh du trì chúc chi câu», ông than thở về tác hại của cây nến với mắt: “Bệnh mắt tự tăng hồng lạp chúc, hà nhân khẳng bạn bạch tu ông”.
2. Muốn mắt sáng, lại tiết kiệm chi phí thì dùng củ từ là cách hay nhất
Củ từ vừa bổ thận lại bổ mắt, là thứ danh y Lý Thời Trân (1518–1593) rất ưa thích. Trong «Thần nông bản thảo kinh» viết: “Củ từ giúp cho tai mắt nhạy bén, cơ thể nhẹ nhàng, tuổi thọ kéo dài”.

3.
Người xưa cũng thường cho rằng uống rượu hại mắt, nhưng rượu cây xương bồ dùng phổ biến vào thời nhà Minh là loại rượu dùng bổ mắt. Trong «Bản thảo cương mục» có ghi lại loại rượu này “giúp tai thính mắt sáng”. Rượu hoa cúc không chỉ có công dụng tương tự, còn là thuốc trị đau đầu.
Ngoài ra, sản phẩm quý bổ mắt còn có hải sâm, đây là thứ mà nhân sĩ nổi tiếng Lâm Tắc Từ (1785 – 1850) rất ưa thích. Một lần Lâm Tắc Từ bị điều đi Tân Cương, vì nhớ phu nhân bị bệnh về mắt nên đã dặn dò: một là phải mang kính, hai là hàng ngày phải dùng canh hải sâm.
Thời Lý Dục (937 – 978) triều Nam Đường, để bảo vệ mắt người ta hay dùng bình phong màu đen, các cơ quan đều dùng bình phong bằng “tạo la” (皂罗) . Tạo la là sản phẩm bằng tơ tằm mỏng và nhẹ có màu đen, loại vải thường dùng làm khăn chít đầu và áo choàng. «Tống triều sự thực loại uyển» có ghi: “Phàm là những màu sắc rực rỡ đều hại cho mắt, chỉ có màu đen với mắt là vô hại”.
Cho đến thời nhà Tống, người nổi tiếng học vấn uyên bác là Vương An Thạch (1021 – 1086) cũng đã dùng “tạo la” (皂罗) cho tất cả các bức che trong quan sở. Cách làm phổ biến trong xã hội thời đó là người ta hay nhờ họa sĩ nổi tiếng vẽ lên tranh sơn thủy, nhân vật, giúp tinh thần thêm hứng khởi.
Theo daikynguyenvn.com
https://daikynguyenvn.com/suc-khoe/nguoi-xua-duong-mat-nhu-the-nao.htm
Vĩnh Bảo sưu tầm 7/11/2015

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Lợi ích của Lá sen, hoa sen đối với sức khỏe

Rất ít người biết đến công dụng tuyệt vời của hoa sen và lá sen đối với sức khỏe của con người.
Lá sen, hoa sen và những công dụng bất ngờ đối với sức khỏe.
Lá sen và hoa sen là một trong những loại thảo dược quý hiếm được nhiều người sử dụng để chữa bệnh.
Báo Sức khỏe và Đời sống dẫn lại công bố mới đây của tiến sĩ thảo dược Paul Haider cho biết lá sen và hoa sen có nhiều công dụng đối với sức khỏe.

Giảm cholesterol

Hình ảnh Lá sen, hoa sen và những công dụng bất ngờ đối với sức khỏe số 1
Trà và lá hoa sen có công dụng rất tốt cho việc giảm lượng cholesterol. Ảnh nguồn: Internet
Trà lá sen và trà hoa sen có công dụng rất tốt cho việc giảm lượng cholesterol trong máu nhờ việc ngăn chặn hấp thu chất béo hiệu quả.
Giảm mỡ trong máu
Trong lá sen có chứa nhiều chất có tác dụng loại bỏ được lượng mỡ trng máy như tanin, vitamin C…có công dụng giảm được lượng mỡ trong máu một cách hiệu quả.

Giảm căng thẳng

Hình ảnh Lá sen, hoa sen và những công dụng bất ngờ đối với sức khỏe số 2
Lá sen và hoa sen có công dụng giúp làm giảm căng thẳng. Ảnh nguồn: Internet
Khi bị căng thẳng, việc uống mỗi ngày vài tách trà hoa sen là một trong những cách tốt nhất giúp bạn có thể thư giãn và an thần,đem lại cảm giác thư thái cho cơ thể.
Hạ huyết áp
Khi bị cao huyết áp, thay vì dùng thuốc hạ huyết áp, bạn nên dùng trà lá sen để thấy hiệu quả và an toàn hơn.
 Giải nhiệt
Trong y học Trung Hoa, trà sen giúp giải nhiệt và trị bệnh mùa hè hiệu quả, giúp giảm nhiệt và làm mát các cơ quan nội tạng.
Ngừa bệnh tim
Hình ảnh Lá sen, hoa sen và những công dụng bất ngờ đối với sức khỏe số 4
Lá sen và hoa sen làm tăng lưu lượng máu và giảm huyết áp. Ảnh nguồn: Internet
Trong lá sen có chứa chất oxy hóa có công dụng làm tăng lưu lượng máu đến tim và giảm huyết áp.
Tăng cường miễn dịch
Trong hoa sen có chứa nhiều acid linoleic-  đây là một trong những chất quan trọng giúp ngăn ngừa bệnh tim và tiểu đường, ung thư, giúp tăng cường hệ miễn dịch hiệu quả.
Tốt cho làn da
Báo VietQ cho biết hoa sen được coi là vị thuốc tốt dành cho phái nữ. Hoa sen có công dụng làm đẹp và làm da trở nên mịn màng hơn.
Minh Di (tổng hợp)
Vĩnh  Bảo sưu tầm 3/11/2015

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015

Bài tập 1 phút - Thư giãn cả ngày và sống thọ thêm 20 năm

Bài tập 1 phút - Thư giãn cả ngày và sống thọ thêm 20 năm


(SKGĐ-KHỎE24H) Bạn có thể thử tập các bài tập sau theo Y học cổ truyền chỉ mất 1 phút này. Những bài tập ngắn này được cho là giúp bạn thoải mái cả ngày và sống thọ được thêm 20 năm.

1. Bài tập xoa bàn tay
Bài tập này sẽ giúp bạn giảm cơn đau vai và đỡ mỏi mắt.
Chà 2 lòng bàn tay của bạn với nhau thật nhanh khoảng 300 lần để kích thích tất cả 6 kinh mạch trong lòng bàn tay, từ đó giúp tăng cường chức năng của các cơ quan nội tạng và cân bằng hệ Âm Dương.
2. Bài tập tự massage đầu bằng các ngón tay
Bằng cách dùng các ngón tay để xoa bóp da đầu của bạn từ trán xuống phía sau đầu, với tốc độ 2-4 lần/ giây, sẽ giúp tăng cường tuần hoàn máu não và đưa chất dinh dưỡng đến chân tóc của bạn. Vì thế tóc của bạn sẽ trông bồng bềnh và bóng mượt hơn.
3. Bài tập xoa bóp mũi
Xoa bóp mũi bằng ngón tay cái có thể giúp tăng cường lưu thông máu, dưỡng ẩm cho phổi và giúp bạn phòng tránh bệnh cảm lạnh.
Chà hai bên mặt của ngón tay cái với nhau cho đến khi chúng ấm và sau đó chà lên chóp mũi 24 lần, sử dụng các ngón tay của bạn để chà hai bên cánh mũi 12 lần và cào nhẹ lên xuống sóng mũi 10 lần.
4. Bài tập đảo mắt
Đảo đôi mắt của bạn theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ 30 lần sẽ giúp tăng cường cơ mắt và cũng là biện pháp hữa hiệu để phòng ngừa các bệnh về mắt như viêm giác mạc mãn tính và bệnh cận thị.
5. Bài tập massage rốn nhẹ nhàng
Dùng hai lòng bàn tay massage nhẹ nhàng rốn của bạn theo chiều kim đồng hồ. Bài ập này có thể tăng cường sự tiêu hóa và bài tiết.
6. Bài tập massage lòng bàn chân
Sử dụng gót chân bên này để xoa bóp lòng bàn chân bên kia khi bạn nằm ngửa mình ra. Động tác này rất có lợi cho gan, mắt, suy nhược thần kinh, bệnh mất ngủ và ù tai.
Phóng to
Bình Nguyên (ST)
Vĩnh Bảo sưu tầm 2//11/2015

Vào dịp 100 năm trường trung học Bưởi-Chu Văn An.

Vào dịp 100 năm trường trung học Bưởi-Chu Văn An.

Vietsciences-Bùi Trọng Liễu             20/08/2008







Vào dịp 100 năm trường trung học Bưởi- Chu Văn An, tôi cũng muốn được góp một lời chứng về trường này tuy tôi chỉ là học sinh cũ của trường Chu Văn An ở Hà Nội non 3 tháng, vào mùa thu năm 1946, trước khi trường đóng cửa tản cư, vì Toàn quốc kháng chiến. Việc này tôi sẽ kể dưới đây. Nhưng trước hết, xin tóm tắt đôi lời về gốc gác của trường này. Tôi ghi trong chú thích (1) một số mốc thời gian, vì có liên quan đến sự thăng trầm của trường Bưởi- Chu Văn An.
Khởi thủy, dưới thời thuộc Pháp bảo hộ, ngày 9/12/1908, viên Toàn quyền Đông Dương A. Klobukowski ký nghị định thành lập “trường Thành Chung Bảo hộ” – tên Pháp là “Collège du Protectorat” – đặt tại Hà Nội, từ sự hợp nhất của trường Thông ngôn Hà Nội, trường Sư phạm Hà Nội, và trường Jules Ferry ở Nam Định. Theo văn bản này, trường gồm 2 cấp :  một  cấp tiểu học 4 năm, và một cấp cao hơn – tiếng Pháp trong văn bản gọi bằng một tên khá mơ hồ là “Grand Collège”, tiếng Việt Nam (không có trong văn bản chính thức) gọi là “Thành chung” (?) –  cấp này 5 năm, gồm 3 năm học chung, và 2 năm cuối được chia thành 4 ban :  sư phạm, hành chính, kỹ thuật, thương mại, tùy theo hướng nghề nghiệp của học sinh. Vì trụ sở  của trường được xây dựng ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây, nên được quen gọi là trường Bưởi. Đến năm 1917 (?) , khóa học Thành chung rút lại còn 4 năm (2). Có lẽ vào khoảng năm 1924 (?), bãi bỏ cấp Tiểu học trong trường, và mở lớp cao hơn Thành chung (thêm 3 năm ?) để thi bằng Tú tài bản xứ (tương đương với tú tài Pháp) , và từ đó được gọi là “Lycée du Protectorat” (trường Trung học Bảo hộ).
Năm 1943, Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, do quân Nhật đang chiếm đóng Đông Dương, máy bay Đồng Minh (thực chất là Mỹ) ném bom Hà Nội và một số thành phố. Các trường học sơ tán; các lớp cấp Thành chung của trường dọn về Phúc Nhạc (ở Ninh Bình), và các lớp cấp Tú tài dọn vào Thanh Hóa, và một bộ phận nhỏ vào Hà Đông.
Sau cuộc đảo chính 9/3/1945 (quân đội Nhật lật chính quyền Pháp ở Đông Dương, và sau khi thành lập chính phủ Trần Trọng Kim), ngày 12/6/1945, Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại ra quyết định đổi trên trường Trung học Bảo hộ thành “Quốc lập trung học hiệu Chu Văn An”, hoàn toàn dạy theo chương trình và chuyên ngữ tiếng Việt. Tên trường Chu Văn An bắt đầu từ đó. Ngôn ngữ thời ấy : “quốc lập” đây nghĩa là trường công lập; “trung học hiệu” nghĩa là trường trung học
Sau Cách mạng tháng 8/1945, trường mang tên Trường trung học Chu Văn An.  Giữa tháng 9/1945, bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe ký nghị định cho phép trường Chu Văn An hoạt động trở lại;  các bộ phận tản cư vào Ninh Bình và Thanh Hóa, cùng với bộ phận ở Hà Đông hợp lại, cơ sở ở Hà Đông, và cử ông Nguyễn Gia Tường làm quyền hiệu trưởng thay ông Hoàng Cơ Nghị (ông Nghị là hiệu trưởng từ thời Chính phủ Trần Trọng Kim). Nhưng mãi đầu năm 1946, trường mới chuyển về Hà Nội, và tạm đóng ở Việt Nam học xá (Đông Dương học xá cũ, nay là khu Bách Khoa ở Hà Nội). Và vào mùa thu năm 1946, trường dọn về trụ sở của trường nữ trung học Félix Faure cũ ở Hà Nội.
Lúc đó, trường được tổ chức gồm 2 cấp học: 
1/ Cấp “Trung học phổ thông” 4 năm cho học sinh đã có bằng Tiểu học (“Trung học phổ thông”  là tên gọi thời đó, các lớp này từ thấp lên cao gọi là : đệ nhất phổ thông, đệ nhị phổ thông, đệ tam phổ thông và đệ tứ phổ thông, tương đương với lớp 6, 7, 8, 9 ngày nay ; bằng tốt nghiệp cấp học này mang tên là “bằng Trung học phổ thông”, na ná như bằng Thành chung thuở trước).
2/  Cấp “Trung học chuyên khoa” 3 năm cho học sinh đã có bằng “Trung học phổ thông” (“Trung học chuyên khoa”  là tên gọi thời đó, các lớp này từ thấp lên cao gọi là : đệ nhất chuyên khoa, đệ nhị chuyên khoa, và đệ tam chuyên khoa, tương đương với lớp 10, 11, 12 ngày nay; bằng tốt nghiệp cấp học này mang tên là “bằng Trung học chuyên khoa”, cũng như bằng Tú tài trước đó).
Học sinh muốn vào học, tùy theo cấp học, phải thi tuyển vào đệ nhất phổ thông, hay đệ nhất chuyên khoa, (thi viết theo kiểu ra đầu bài, học sinh giải bằng bài viết; chấm điểm theo cao thấp, vì số chỗ học sinh giới hạn, ai được xếp cao trên số chỗ, thì đỗ). Thí sinh không trúng tuyển, thì học trường tư hay tự lo liệu cách nào đó.
Chính vào thời điểm này, mà tôi vào học trường Chu Văn An, trong một tình huống khá đặc biệt. Vốn là cuối năm học 1946 ở Hà Nội, tôi thi đỗ bằng Tiểu học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Giữa lúc sửa soạn học hè để tháng 9 thi tuyển vào lớp đệ nhất Trung học phổ thông, chợt một cậu bạn đến rủ : có tin trường Chu Văn An mở một loại lớp thí điểm mới, gọi là “ Tuyển trạch hướng dẫn” , tuyển học sinh theo hồ sơ/học bạ, và với hai điều kiện là : đỗ bằng Tiểu học có “hạng” (mention) và chịu trong hai (?) tháng hè mỗi ngày một buổi có mặt tại giảng đường trường Đại học Hà Nội để làm “cử toạ” (đúng hơn là làm một thứ  “vật thí điểm”) cho lớp các thày cô giáo viên toàn quốc được gọi về học sư phạm đặc biệt ở trường Đại học – lúc đó trụ sở đóng ở đường Lê Thánh Tông ngày nay. Lại được “tuyên truyền” là đây là lớp chuyên tuyển, cách học và cách dạy sẽ theo kiểu mới. Tôi nghĩ bụng : đằng nào cũng phải học hè, mà đi thi tuyển làm bài thi vào lớp phổ thông  “thường”, chắc quái gì đã làm hay hơn người khác; kinh nghiệm bản thân lại cho thấy là mấy anh chị em họ và bạn bè trạc cùng lứa tuổi, người nào cũng học giỏi cả;  họ học bài còn thuộc nhanh hơn mình, cạnh tranh làm chi cho mệt. Mình lại ưa cái mới. Vì vậy, nên tôi xin phép bố mẹ, rồi nộp đơn ghi tên vào loại lớp “Tuyển trạch hướng dẫn”  này.
Thế là mùa hè năm đó, tôi cùng một số bạn, lê la trong giảng đường trường đại học nghe các thày cô tập giảng dạy dưới sự chỉ dẫn của ông Dương Quảng Hàm (3). Chả phải chú ý gì, nhưng có những bài văn bị giảng đi giảng lại nhiều lần cũng lọt vào tai đến ngán... (4).
Rồi hết hè thì vào học. Học sinh “Tuyển trạch hướng dẫn”, (tương đương với đệ nhất phổ thông “thường”), chia làm bốn lớp “Xuân, Hạ, Thu, Đông”  trung bình theo tuổi, trẻ nhất là Xuân. Tôi ở lớp Hạ. Bốn lớp học ở một khu riêng, gần “nhà chơi lớn” (préau), không học chung với học sinh phổ thông “thường”. Trên nguyên tắc, dạy theo kiểu “mới”, với những hứa hẹn như về môn sử, sẽ được dẫn đi thăm Cổ Loa,..., về phương pháp giảng dạy sẽ tạo điều kiện phát huy “khiếu nhận xét” của học sinh,  sinh ngữ như tiếng Anh thì vừa học viết vừa học nghe (tất nhiên thuở ấy chỉ có một cái “máy hát” phonographe thỉnh thoảng quay đĩa  cho học sinh cả lớp cùng nghe; nhưng đó cũng là lần đầu tiên mà tôi được nghe tiếng Anh phát âm bởi người Anh;  và được biết là tùy theo đĩa quay chậm hay nhanh mà tiếng phát ra trầm hay bổng), vv. Nhưng tình hình Việt-Pháp đang căng thẳng; giả thử có muốn thực hiện phương pháp giảng dạy mới, cũng chẳng có thì giờ và phương tiện (5).  (Khi ấy, quân Tàu Tưởng, đã rút hết khỏi Việt Nam, chỉ còn quân Pháp đang tìm cách lấn ta). Học chưa đầy  3 tháng, thì đầu tháng 12 trường đóng cửa (đêm 19/12/1946, Kháng chiến toàn quốc bùng nổ). Trước đó vài ngày, tôi theo gia đình tản cư về quê nội ở Ninh Bình. Tôi theo học trường Trung học Nguyễn Khuyến ở Yên Mô. Đến năm 1950, tôi trở lại Hà Nội hơn một tháng rồi đi Pháp. Tôi không còn có dịp tiếp xúc với trường Chu Văn An nữa.
Sau này, đọc tài liệu, và nghe kể, tôi mới biết là :
Tại vùng kháng chiến, ngày 29-5-1947, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục  Nguyễn Văn Huyên ký nghị định số 143/NĐ mở tại vùng Việt Bắc một trường trung học lấy tên Trường trung học Việt Bắc. Đây chính là ngôi trường mà nhiều người gọi là “trường Chu Văn An kháng chiến”, còn gọi là trường trung học Đào Giã (Phú Thọ); sau vài năm nghe đâu chuyển sang  khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) một thời gian
Ở Hà Nội khi đó, trong vùng quân đội Pháp tạm chiếm, một trường trung học Chu Văn An được mở lại, nhưng không ở địa điểm trường Bưởi cũ, vì Pháp lấy nơi này làm trại lính. Năm 1954, sau Hiệp định Genève, một bộ phận trường này chuyển vào Sài Gòn, vẫn mang tên là trường Chu Văn An, và tồn tại đến 1975 (6).
Ở Hà Nội, sau ngày giải phóng Thủ đô, trường Chu Văn An mở lại ở Hà Nội, nhưng tới đầu năm học 1956, trường Chu Văn An ở Hà Nội mới trở về địa điểm trường Bưởi cũ, cho đến ngày nay (7).
Như vậy, tôi chỉ là học sinh trường Chu Văn An có non 3 tháng, cũng vào khoảng mùa thu cách đây đã 62 năm. Lớp “ Tuyển trạch hướng dẫn”  hình như hoàn toàn chìm vào lãng quên của mọi người (trừ tôi ?), và trường Chu Văn An đối với tôi chỉ còn là một kỷ niệm ngắn ngủi và xa xăm (8). Tuy nay định cư ở nơi xa, tôi vẫn mong mỏi trường Chu Văn An giữ được truyền thống một trường công lập tổ chức giảng dạy và học hành nghiêm túc, như lịch sử của trường đã cho thấy mặc dù những thăng trầm, những khó khăn, những giới hạn, trong 100 năm trải qua. Hơn thế nữa tôi mong rằng với những phương tiện ngày nay, trường phát triển trong hướng tốt đẹp, góp phần vào việc chấn hưng giáo dục trong thời đại mới.
                                                                           Tháng 8/2008.
                                                                           Bùi Trọng Liễu

Chú thích:

(1) Vài mốc thời gian lịch sử, ảnh hưởng tới trường Bưởi-Chu Văn An:
-1883 va` 1884, triều đình Huế ký hiệp ước nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, và nhường Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Đông Dương thuộc Pháp dần dần được tổ chức dưới hình thức 4 xứ bảo hộ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Cao Mên, Lào) và một xứ thuộc địa (Nam kỳ), dưới quyền một viên Toàn quyền.
-1939. Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu ở Âu châu.
-1940. Pháp thua, xin đình chiến với Đức. Chính quyền Pháp ở Đông Dương thuộc chính phủ Pháp của thống chế Pétain theo Đức.
-1941. Nhật thình lình tấn công Pearl Harbour.  Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai ở Thái Bình Dương. Nhật đem quân vào Đông Dương, ép Pháp một số điều kiện, nhưng vẫn giữ bộ máy cai trị của Pháp.
-1943. Máy bay Đồng Minh (Mỹ) ném bom Hà Nội và một số thành phố. Một số trường học sơ tán.
-9/3/1945. Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương
-10/3/1945. Nhật tuyên bố giúp Việt Nam thực hiện độc lập (kỳ thật Nhật vẫn nắm thực quyền, và chỉ nhả những gì họ muốn nhả).
-11/3/1945. Triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ hiệp ước 1884 (hiệp ước nhận nền bảo hộ của Pháp) và khôi phục chủ quyền Việt Nam.
-17/4/1945.  Thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật là ông Hoàng Xuân Hãn. Tổng đốc Phan Kế Toại được cử làm Khâm sai Bắc Bộ.
-14/8/1945: Nhật đầu hàng Đồng Minh. Theo quyết định của Hội nghị Potsdam của tam cuờng (Mỹ, Anh, Liên Xô), thì (ở Việt Nam) nửa trên vĩ tuyến 16 sẽ do quân Trung Quốc (lúc đó còn dưới chế độ của Tưởng Giới Thạch; gọi tắt là Tàu Tưởng) kéo sang, và nửa dưới vĩ tuyến 16 sẽ do quân Anh kéo vào, trên nguyên tắc là để giải giáp quân Nhật.
-19/8/1945, Cách mạng Tháng tám: Mặt trận Việt Minh giành chính quyền.
-23/8/1945. Chính phủ lâm thời được thành lập. Cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch; ông Vũ Đình Hòe làm bộ trưởng Quốc gia Giáo dục.
-30/8/1945. Vua Bảo Đại thoái vị, và trở thành Cố vấn tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
-2/9/1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.
-Đầu tháng 9/1945 quân Tàu Tưởng bắt đầu tới Hà Nội. 
-28/2/1946: Pháp và Tàu Tưởng ký một hiệp ước (một thứ thoả thuận « trên lưng » Việt Nam): Tàu Tưởng nhận để cho quân đội Pháp kéo vào trên vĩ tuyến 16, để thay thế quân Tàu Tưởng đang đóng trên đó.
-2/3/1946: Thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến ở Hà Nội. Chủ tịch: Hồ Chí Minh, bộ trưởng Quốc gia Giáo dục là ông Đặng Thai Mai.
-6/3/1946: Quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng. Cùng ngày ấy, ký Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp.
- Từ tháng 5 cho đến tháng 9, các cuộc đàm phán Việt-Pháp, (hội nghị Đà Lạt chấm dứt vào tháng 5, và hội nghị Fontainebleau chấm dứt vào tháng 9) đều thất bại, vì Pháp muốn chi phối tất cả, và không muốn nhả cho Việt Nam ngay cả những điều tối thiểu.
-Cuối tháng 6/1946, quân Tàu Tưởng rút hết khỏi Việt Nam.
-19/12/1946:  Khoảng 20 giờ, nổ súng ở Hà Nội. Toàn quốc Kháng chiến bắt đầu...
-8/5/1954: Chiến thắng Điện Biên phủ.
-21/7/1954: Hội nghị Genève chấm dứt. Trên thực tế, Việt Nam bị chia cắt làm 2 (theo vĩ tuyến 17).
-15/10/1954, Hồ chủ tịch và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở về thủ đô Hà Nội.
-30/4/1975: Chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

(2) Trong  bản nghị định tiếng Pháp, điều 3, có ghi là “chương trình học [của cấp Thành chung]  sẽ được ấn định sau” (le programme sera ultérieurement fixé). Sau, có nguồn lại cho rằng, mặc dù quyết định ghi trong văn bản 9/12/1908, chương trình cấp học “cao” kia, trên thực tế khi thực hiện, gồm 4 năm, thi lấy bằng  “Cao đẳng tiểu học” (hình như tên Pháp là “ Diplôme d’Etudes Primaires Supérieures”, thuở  ấy người mình gọi tắt là “Đíp-lôm”, đại khái như  Brevet élémentaire của Pháp, ngày nay gọi là Brevet des Collèges), và sang năm thứ 5 (?), mới chia thành 4 ban “nhiệm ý” : sư phạm, hành chính, kỹ thuật, thương mại. Hình như năm thứ 5 này, sau đó cũng bỏ, khi Pháp mở trường Cao đẳng ở Hà Nội (có lẽ là vào năm 1917 ?) để tuyển học sinh đã có bằng Thành Chung vào học 3 năm trong các ngành chuyên môn. Sau này, Pháp mới chuyển Cao đẳng thành Đại học (Université de Hanoi), lấy sinh viên có bằng tú tài Pháp vào học. (Tôi không có thì giờ tìm mọi tài liệu, nên viết có thể không chính xác về mọi thời điểm). Hiệu trưởng đầu tiên của trường Bưởi năm 1908, và trong 10 năm, là ông Paul Mus.

Một chi tiết vụn vặt bên lề : Bản nghị định tiếng Pháp mở đầu bằng câu “Le Gouverneur Général de l’Indo-Chine, Officier de la Légion d’Honneur ...”, có tài liệu Việt Nam ngày nay dịch là “Toàn quyền Đông Dương, Huân chương hạng nhất Bắc Đẩu Bội Tinh ...” là dịch sai. Đáng lẽ phải dịch là “Huân chương hạng tư Bắc Đẩu Bội Tinh” mới đúng, vì Légion d’Honneur của Pháp thành lập từ năm 1802 do đề nghị của tướng cộng hòa Bonaparte (Hoàng đế Napoléon I sau này), có 5 hạng, từ thấp lên cao là (3 ordres) Chevalier, Officier, Commandeur, và (2 dignités) Grand Officier, Grand Croix.  (Không kể “Grand Maître” là Tổng thống Pháp trong nhiệm kỳ, là người chủ quản; và “Grand Chancelier” giúp “Grand Maître” trong việc “quản lý” huân chương này).

(3) Hình như lúc đó, ông Dương Quảng Hàm chưa là hiệu trưởng Chu Văn An, bởi vì theohttp://www.hanoinews.com.vn/vn/53/130610/  , có nghị định của bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Đặng Thai Mai ký ngày 3-8-1946 bổ nhiệm ông Dương Quảng Hàm giữ chức quyền hiệu trưởng.

(4) Sau này, năm 1970, được mời về nước làm việc thí điểm cho việc Việt kiều về nước làm việc ngắn hạn, tôi có làm mấy buổi thuyết trình xê-mi-na tại giảng đường này ; khung cảnh lúc ấy vẫn còn như xưa. Buổi đầu trở lại nơi này, tôi không tránh được bùi ngùi nhớ lại kỷ niệm hai mươi bốn năm trước đó. Tôi có kể chi tiết trong chương 4 của cuốn sách của tôi : “Tự sự của người xa quê hương”, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004, và cũng có trên trang mạng của tôi http://www.buitronglieu.net .

(5) Cũng trong chương 4 của cuốn “Tự sự” nói trên, tôi có kể lại vài chi tiết, kèm theo lời bình của tôi,  về cách giảng dạy ở lớp “Tuyển trạch hướng dẫn” thời đó, và liên tưởng đến phương pháp giáo dục ngày nay.

(6) Trong vùng Pháp tạm chiếm, cách gọi các lớp thay đổi ngược lại, thí dụ như từ thấp lên cao thì gọi là đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam , vv. như kiểu Pháp gọi các lớp 6ème, 5ème, 4ème, 3ème , vv.

(7) Ngày nay, tên gọi  “ Trung học phổ thông” được “nâng cấp”,  bao gồm các lớp 10, 11, 12,  trong khi  “Trung học phổ thông” thời trước tương đương với “Trung học cơ sở” bây giờ bao gồm các lớp 6, 7, 8, 9.

(8) Nhân dịp kỷ niệm 100 năm trường Bưởi-Chu Văn An, vào mùa Xuân năm 2008 này, tôi có được rủ viết bài tham gia cuốn “Kỷ yếu 100 trường Bưởi-Chu Văn An”, nxb Giáo dục 2008. Vì lý do nào đó, Ban biên tập đã không đăng bài đó của tôi (bài viết về mấy tháng học lớp “Tuyển trạch hướng dẫn” của tôi như một lời chứng của một học sinh cũ). Lẽ ra không đăng cũng chẳng sao; nhưng mấy vị đã thay vào đó bằng một bài đầu đề là “Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc : nhà tình báo xuất sắc, nhà khoa học uyên thâm”, và ghi tên tôi là tác giả. Bài này không do tôi viết;  nửa sau của bài lại có một đoạn viết là tôi dẫn nguồn từ tên một nhà chuyên môn về công nghệ thông tin (mà thực ra tôi chưa từng biết) viết về anh Nguyễn Đình Ngọc. Nói cho kỹ hơn, quả là tôi có viết bài “Cố nhân” về  anh Nguyễn Đình Ngọc, in trong chương 6 của cuốn sách của tôi “Học một sàng khôn”, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, (cũng có trên trang mạng của tôi : http://www.buitronglieu.net), nhưng bài “Cố nhân” không liên quan gì đến cái bài gán cho tôi và đăng trong cuốn Kỷ yếu kể trên. Có thể có một khuynh hướng trọng sự tôn vinh danh nhân ít nhiều liên quan đến trường Chu Văn An, hơn là những lời chứng về cách tổ chức và những sự kiện về trường này? Sự chính xác là một điểm son khó đạt.
Đã đăng trên Diễn Đàn Forum


            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org Bùi Trọng Liễu
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/11/2015

MỖI NGÀY 1 PHÚT GIẢI ĐỘC THẬN

MI NGÀY 1 PHÚT

GIẢI ĐC THN

1/. Vai trò của thận : Thận giữ một vai trò quan trọng trong các cơ quan nội tạng. Nhiệm vụ chính của thận là lọc máu và chất lỏng để duy trì cân bằng nước trong cơ thể. Mỗi ngày, thận lọc khoảng 200l máu và chất lỏng sau đó thải ra ngoài khoảng 1,5l nước.
Trong quá trình làm việc, thận sẽ đào thải các chất độc hại ra ngoài cơ thể thông qua đường tiết niệu.
Đồng thời, thận cũng giữ trọng trách cân bằng độ pH, duy trì sẽ cân bằng điện giải trong cơ thể, sinh ra một số hormone có lợi cho việc hình thành tế bào máu.
Nếu thận của bạn khỏe mạnh để đảm nhiệm tốt vai trò của mình, thận sẽ đào thải hết các chất cặn bã và chất thải ra khỏi cơ thể.
3 Giai doc 1Hoạt động thanh lọc thận chính là làm sạch các chất cặn bã bám bẩn trong thận, giúp các đơn vị cầu thận hoạt động tốt hơn. Thận có khỏe thì các cơ quan nội tạng khác và sức khỏe cơ thể nói chung mới được đảm bảo.
2/. Những cách thanh lọc thận đơn giản:
a/. Bấm huyệt giải độc thận : BS. Nogier, trong quyển “Acupuncture by Acupressure” xuất bản tại New York, Mỹ năm 1978 hướng dẫn một phương pháp rất đơn giản để kiểm tra thận có bị nhiễm độc hay không như sau :
Dùng ngón cái của tay phải ấn vào huyệt thái khê (vùng giữa đỉnh cao nhất của mắt cá chân trong và gân gót). Nếu ấn vào thấy đau tức là chức năng thận không được tốt, càng đau nhiều chức năng giải độc của thận càng kém.
3 Giai doc 2Cách giải quyết : Dùng ngón tay day trên huyệt thái khê khoảng 1 phút, ngày 2 lần vào sáng lúc ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.
Duy trì day huyệt thái khê đều đặn trong thời gian dài sẽ thấy sự tiến bộ rõ rệt của chức năng thận, biểu hiện: Đi tiểu tốt, không bị đau lưng, mỏi gối, ngủ ngon hơn, khả năng sinh hoạt tình dục tốt hơn…
b/. Giải độc thận bằng giấm táo : Giấm táo là loại giấm có giá trị rất tốt trong việc giúp thanh lọc, giải độc thận. Trong quá trình lên men, giấm táo sản sinh ra acid acetic – một loại acid giúp lau sạch những mảng bám bẩn gây tắc nghẽn ống thận.
Khi dùng giấm táo để thanh lọc thận, không nên uống trực tiếp mà nên dùng 1,2 thìa nhỏ cho vào những món ăn phù hợp.3 Giai doc 3Duy trì tần suất ngày 3 lần để có tác dụng thanh lọc tốt nhất.
c/. Giải độc thận bằng chanh : Chanh là loại thực phẩm tốt nhất trong việc thanh lọc giải độc cơ thể. Những hàm lượng dinh dưỡng trong chanh như vitamin C, chất flavonoit – chất chống oxy hóa… có thể giúp làm sạch gan, thận, bàng quang, hệ tiêu hóa và phổi.
Mỗi ngày một cốc nước chanh vào buổi sáng khi vừa ngủ dậy và chưa ăn sáng là cách mà bạn có thể áp dụng để thanh lọc cơ thể. Có thể thêm 1,2 thìa mật ong nhỏ cũng rất tốt.
Chú ý nên pha nước chanh với nước ở nhiệt độ thường, vì nếu pha bằng nước nóng sẽ làm mất hết chất dinh dưỡng ở trong chanh.
Nếu thận của bạn khỏe mạnh để đảm nhiệm tốt vai trò của mình, thận sẽ đào thải hết các chất cặn bã và chất thải ra khỏi cơ thể.
Hoạt động thanh lọc thận chính là làm sạch các chất cặn bã bám bẩn trong thận, giúp các đơn vị cầu thận hoạt động tốt hơn. Thận có khỏe thì các cơ quan nội tạng khác và sức khỏe cơ thể nói chung mới được đảm bảo.
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tâm 2/11/2015

GIÒ, CHẢ, DỒI CÓ XUẤT XỨ TỪ PHÁP ?



3 Gio cha 1

GIÒ, CHẢ, DỒI

CÓ XUẤT XỨ TỪ PHÁP ?

Giò, chả, dồi đều là những món khoái khẩu của người Việt. Trước kia chỉ những ngày lễ, giỗ, Tết mới được thưởng thức những món ăn này. Thiên hạ cứ nghĩ những món này là thuần Việt, nhưng theo nhiều tài liệu và quan sát, suy luận riêng của tôi (Trần Thu Dung) – đó là những món ăn xuất hiện từ thời thuộc địa.
Xúc xích Tây mang sang thời thuộc địa thực chất là một loại giò. Ở Pháp, có nhiều loại xúc xích giống hệt giò Việt Nam, nhưng hương vị khác. Loại nhỏ tiếng Pháp gọi saucisse (người Việt đọc là xúc xích) hình dáng dài và thon nhỏ. Loại to như giò Việt tiếng Pháp tạm dịch là xúc xích bự (saucisson – từ chữ saucisse mà ra). Xúc xích, trước kia nguyên liệu chủ yếu làm từ thịt lợn. Ở Pháp có hàng trăm loại xúc xích khác nhau. Có hai loại khô và mềm. Loại khô hay mềm cũng nhiều loại khác nhau do mỗi tỉnh có một đặc sản tự chế biến. Loại khô để lâu được, giống như lạp xường. Loại mềm giống như giò Việt.
Pháp nổi tiếng về công nghệ làm xúc xích. Khí hậu châu Âu lạnh, mùa đông tuyết đóng băng, việc cất trữ thực phẩm như xúc xích là một công nghệ có từ lâu đời phục vụ cho người đi săn, đi tàu viễn dương. Trong các tu viện, các thầy tu đã làm các loại giăm bông, xúc xích để cất trữ. Họ có những hầm lạnh sâu dưới lòng đất, 3 Gio cha 2sâu trong hang núi, đồng thời tuyết đóng băng như một tủ lạnh thiên nhiên.
Việt Nam là xứ nóng, thời xưa không có tủ lạnh, việc cất giữ thức ăn không thể để bên ngoài. Thức ăn chỉ một hai ngày  là thiu, ngay cả mùa đông. Hơn nữa Việt Nam là xứ nghèo. Hai ba cân thịt mới được cân giò. Thời xưa đi rừng săn bắn, thợ săn chỉ mang ít cơm nắm, gạo theo, đi đến đâu nấu cơm trong ống bương, săn được con gì, hay bắt cá dưới suối, sông là thêm thức ăn. Ngày lễ lớn cả làng mới mổ một vài con lợn để ăn cỗ. Ngày giỗ, cả nhà mới có được con gà. Thịt là thực phẩm quý. Thịt không đủ ăn thì không thể nghĩ đến giò, chả.
Việt Nam xưa nghèo, nên có câu “coi miếng ăn to bằng cái đình”. Qua những câu thành ngữ Việt cũng đủ biết cái nghèo khổ của người Việt trước kia: “ăn bữa giỗ lỗ bữa cày”; “ăn bữa nay lo bữa mai”.  Cỗ cưới, giỗ Tết là cả một vấn đề nan giải, làm gì cần phải làm giò chả cất giữ. Hơn nữa khí hậu Việt Nam thời xưa làm gì có tủ lạnh, nên công nghệ cất giữ là rất khó.
Chính người Pháp đã đem công nghệ xúc xích, pa tê đến VN, nên tiếng Việt còn gọi là xúc xích, pa tê.  Hàng năm người Pháp tiêu thụ khoảng hơn trăm ngàn tấn xúc xích, pa tê, dồi các loại. Khi sang Đông Dương, người Pháp thèm ăn món ăn dân tộc của họ, nên đã tìm cách bày các đầu bếp Việt làm. Giò, chả, dồi đều là món Việt xuất phát từ ảnh hưởng công nghệ làm xúc xích, pa tê, boudin của Pháp.
Từ điển Alexandre de Rhrodes. Xuất bản tại Roma năm 1651 không ghi món giò, chả, dồi. Đây là căn cứ để suy đoán lúc đó không có dấu tích của những món ăn này tại Việt Nam. Xúc xích là thịt giã nhồi vào lòng rửa sạch. Tùy độ nhuyễn của thịt, và các gia 3 Gio cha 3vị phụ tạo nên sản phẩm khác nhau.
Dồi cũng giống xúc xích nhưng làm từ tiết cộng thêm gia vị và gan, tim nhồi vào lòng. Dồi xuất xứ nhiều ở vùng Midi-Pyrénées, Languedoc, Béarn. Dồi có từ thời Hy lạp và được Homère kể trong Odysée và dần dần lan khắp châu Âu. Ở Pháp dồi có nhiều loại: có loại nhồi tiết đơn giản, có loại nhồi rau thơm như dồi Việt, dồi nhồi hành, nhồi hạt dẻ, nhồi nho, nhồi hạt óc chó…  Mỗi loại có một hương vị khác nhau.
Việt Nam gọi là dồi vì lấy từ động tác nhồi (có địa phương gọi là dồi) tiết, rau, mỡ băm, gan nhồi vào trong. Dồi lợn Việt Nam chính là món boudin của Pháp (tiết gan nhồi lòng).
Giò thủ Việt cũng là món bắt chước giò thủ Pháp (paté de tête)
Chả cũng là một hình thức thịt giã nhuyễn như giò nhưng nướng hoặc chiên. Món chả trộn rau thịt ở Pháp còn gọi là  “Farcou thịt lợn”  là món ăn truyền thống nổi tiếng lâu đời của vùng Aveyron (Bretagne) thường dùng trong các lễ hội . Thời thuộc địa nhiều thủy thủ vùng này qua Đông Dương vì Bretagne là vùng biển phía Tây Bắc nước Pháp. Món ăn này nhân như nhân xúc xích, thêm bột và hành, rau thơm trộn vào đem chiên hoặc bỏ lò, nướng than…
Ảnh hưởng văn hóa là chuyện bình thường khi hai nền văn hóa gặp nhau. Bắt chước một cách sáng tạo đó chính là tài của người đầu bếp Việt. Họ dùng nguyên vật liệu bản địa, và sáng tạo bằng cách thổi hồn quê hương vào những món ăn như phở Việt có từ đầu thế kỷ 20 cũng ảnh hưởng của món súp (pot au feu) 3 Gio cha 4của Pháp nay trở thành món ăn dân tộc Việt nổi tiếng thế giới được nhiều người biết đến.
Giò (saucisson) Pháp gói bằng chính ruột già hay giấy bóng, dùng dây bó tròn chắc. Người đầu bếp Việt đã sử dụng lá chuối, lạt tre để bọc và dùng gia vị Việt tạo nên món giò, chả, dồi mang hoàn toàn hương vị Việt đầy hấp dẫn. Giò Việt thơm thơm mùi lá chuối làng quê. Dồi Việt Nam thơm nồng, cay cay hương vị rau răm mọc dại đầy đồng. Giò thủ Việt thơm mùi mộc nhĩ nấm hương rừng. Chả đượm hương vị quế. Đặc biệt chả cốm thơm mùi lúa non. Tất cả các món này còn có thơm hương vị đặc biệt Việt đó là nước mắm ướp với thịt xay. Giò, chả, dồi chấm với nước mắm nhĩ pha chút chanh đường ớt thật là tuyệt.
Người Pháp đâu chấm xúc xích với nước mắm. Nước mắm là sản phẩm hoàn toàn của người Việt.  Đầu thế kỷ 20, khi hơn 100 ngàn lính Đông Dương bị tuyển mộ sang Pháp để phục vụ cho Đại chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đại đa số lính là xuất phát từ làng quê nghèo ở Đông Dương. Chính phủ Pháp để lấy lòng binh sỹ lê dương, đã tìm cách đáp ứng nguyện vọng của họ. Chính quyền bản địa rất ngạc nhiên là nguyện vọng đầu tiên của đại đa số binh sỹ Việt là nước mắm, không phải giò chả, cao lương mỹ vị. Chứng tỏ họ chưa hề được nếm giò chả thời đó, dù mỗi năm làng quê thường có cỗ, hay lễ cưới mời cả làng tham dự. Điều này càng khẳng định thêm giò, chả, dồi là món ăn ảnh hưởng của Pháp. Tr an uong 6Chính phủ Pháp đã phải cấp tốc dùng chuyến máy bay chở nước mắm qua để đáp ứng nhu cầu lính Việt.
Dù xa quê hương, giò Pháp hàng 100 loại nhưng không thể thay thế được giò lụa, chả quế, giò thủ, dồi Việt Nam. Xứ nóng, gia vị Việt nồng và thơm đậm. Hương vị dân dã đồng quê đã quện vào thịt nhuyễn làm người ăn mãi mãi không quên món ăn mang đượm hồn quê, thơm mùi tần tảo của người dân nghèo chắt chiu. Người Việt xa xứ cũng làm giò, chả, dồi. Lá chuối đắt, nhiều người đã dùng giấy in giả lá chuối cho hấp dẫn thị giác nhưng không lừa được khứu giác. Nên người Việt vẫn mãi mãi mong trở về quê hương để thỏa thích nếm những món ăn mang hồn dân tộc. Giò, chả, dồi Việt là những công trình ẩm thực thông minh sáng tạo của đầu bếp Việt trong quá trình giao lưu văn hóa ẩm thực thời thuộc địa.
Yên Huỳnh chuyển tiếp
Vinh Bảo sưu tầm 2/11/2015