Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

DIÊM MẠCH, CƠM GẠO CỦA NGƯỜI INCA

DIÊM MẠCH,

CƠM GẠO CỦA NGƯỜI INCA

– Võ Quang Yến
Ngày xưa, thật ra chỉ cách đây khoảng ba mươi năm, một ngưới Pháp vùng Alsace, Jean-Marie Galliath, chuyên viên hóa học, nhân một chuyến công tác nhân đạo ở nước Bolivia, theo dấu một tu sĩ, ông kiếm cách tìm hiểu đời sống của người dân bản xứ.
Xúc động trước tình cảnh nghèo nàn của họ, ông quyết định làm một cái gì để giúp ích. Cùng với anh bạn Dodier Perréol, ông lập ra công ty Jataryi,theo ngôn ngữ Quechua (tiếng Inca xưa) có nghĩa “Đứng dậy’’ giúp người dân khai thác cây diêm mạch quinoa coi như là cơm gạo của họ.
Ông muốn xây dựng một ngành “thương mãi công bằng” (commerce équitable) trong khuôn khổ chuơng trình Tổ chức Quốc tế WFTO, nhắm mục đích điều hòa nền thương mãi thế giới, bảo vệ thị trường những nước nghèo hòng đáp ứng những nhu cầu cốt yếu của họ.
Sản xuất diêm mạch của công ty Jataryi đang trên đường phát triền : từ 40 tấn năm 1977 lên 600 tấn năm 2000. Tuy nhiên những con số nầy còn rất khiêm tốn….Và khai thác diêm mạch đang và sẽ gây thành vấn đề…
Ở nước Bolivia cũng như trong các dân tộc sống ở quanh núi Andes Nam Mỹ, diêm mạch đuợc xem quý hơn cả cơm gạo của ta. Tuy nhiên diêm mạch Chenopodium quinoa không phải như thường tưởng là một ngũ cốc như lúa, bắp, mà là một cây thuộc họ Kinh giới Chenopodiaceae gồm có một loạt các cây kinh giới (nhọn, chổi, trắng, lai, nhiều hột) cùng những cây diêm giác Anthrocnemum indicum, phi diệp biển Suaeda maritima, cải đường Beta vulgaris, êpina Spinaciaoleracea,…
Thường dân quê ở miền núi ăn diêm mạch nhiều hơn dân thành thị không những vì rẻ tiền mà còn vì trời lạnh hơn và họ nấu thành cháo ăn cho ấm bụng. Tôi nhớ những năm 45-46 ở miền Trung quê tôi, vì quá đói, nhà tôi nhờ mấy người anh làm công chức có được chút gạo, mẹ tôi đem nấu cháo mấy ngày Tết phát cho dân nghèo !
Lúc trước, diêm mạch được cho là món ăn của dân nghèo, của người bản xứ Indien, nói như quân chiếm đóng Tây Ban Nha, tương tự khoai, bắp của ta. Điều kiện sinh sống cúa những người nầy thật là lầm thang vì công việc nặng nhọc, ở cao độ, trèo đèo lặng suối xa xôi từ nhà ở đến nương ruộng,… Muốn bán chút ít diêm mạch cũng chẳng biết bán cho ai.
Ông Teodocio Huaylliani, ngày nay làm giám đốc một xí nghiệp 80 nhân công với một số mậu dịch hằng năm 4 triệu euro, còn nhớ hồi đó, lúc chỉ có diêm mạch để ăn, mang lên phố năn nỉ mà chẳng ai chịu mua. Nhiều ngưòi nản lòng di cư đi tìm nơi trồng cây cola, may ra dễ sống hơn nhưng nay chính quyền kiểm soát chặt chẽ nên phải trở lại trồng diêm mạch không thỉ đi ăn xin !
Tuy nhiên từ nhiều năm nay, bắt đầu từ những nước lân cận ở Nam Mỹ như Chile, Argentin, dần dần các nước ở trên thế giới ở Bắc Mỹ, Au châu, ngay cả Trung Quốc xa xăm cũng chú ý đến món ăn quí báu nầy.
Tổ chức Quốc tế Liên Hiệp Quốc về lương thực và canh nông FAO kê diêm mạch vào danh sách những thức ăn đầy hứa hẹn nhất trên thế giới như là một nguồn giải pháp trước những vấn đề trầm trọng về nuôi dưỡng nhân loại. Nhiều khám phá khảo cổ học cho biết diêm mạch có mặt trên mặt đất cách đây 5000 năm nhưng chỉ được dùng làm thức ăn khoảng 3000 năm.
Tiếng Tây Ban Nha có nhiều tên gọi quanh danh từ quinoa : quinua, quinqua, kinoa, kvinuo, jiwra hay triguillo, trigoinca, arrocillo, swell hay lúa xứ Peru. Thời đế quốc Inca, diêm mạch được xem như là một thức ăn thiêng liêng, “siêu thực phẩm”, một môn thuốc thần diệu.
Người Inca gọi diêm mạch là chisiya mama, theo ngôn ngữ Quechua có nghĩa “mẹ của các loài hột”. Ngày nay cây được trồng trong nhiều nước Bôlivia, Peru, Chile, Colombi, Argentin, Equatơ. Người ta sắp nó hoặc theo kích thước hột (lớn, vừa, nhỏ), hoặc theo màu hột (trắng, cà phê, vàng, xám, hồng, đỏ, đen). Trồng giữa hai cao độ 3000 và 4000m, nơi bắp không còn mọc được, trên các cánh đồng bậc thang, tưới nước khó khăn, diêm mạch là một cây gặt hái mỗi năm giữa 150 và 240 ngày.
Mặc dầu thời tiết, nó chịu đựng dễ dàng điều kiện môi sinh, đặc biệt đông giá. Nó chứa trong bao ngoài hột chất saponin, một chất diệt trùng có khả năng xua đuổi chim chóc sâu bọ, độc và có vị đắng nên cần phải chà xát rửa nước để loại đi mới ăn được tuy, thử trên động vật, nó có tính chất kháng viêm, chống dị ứng, phòng ngừa ung thư. Đáng biết là phụ nữ bản xứ dùng nước rửa để gội đầu !
Tuy được cho là thức ăn cốt yếu từ thời cổ đại, ngày nay diêm mạch phải qua các cuộc đo lường phân tích mới đánh giá được rõ ràng giá trị thực sự, khả năng dinh dưỡng cao cả của nó so với những ngũ cốc lúa, lúa mì, bắp, đại mạch. Lợi ích dinh dưởng của cây là độc nhất vô nhị : 13-14% protein nghĩa là nhiều hơn bất cứ ngũ cốc nào, nhiều glucid, ít lipid mà phần lớn là axit mỡ chưa bảo hòa.
Linolenic axit (mệnh danh oméga-3) chiếm 8% tổng số chất mỡ của hột ! Diêm mạch chứa đủ các amin acid cốt yếu (g)/10kg : (16) tryptophan, (18) methionin, (40) threonin, (41) tyrosin, 68 (isoleucin), (76) valin, (79) phenylalanin, (79) lysin, (104) leucin, không kém gì đậu nành. Lysin, một trong những amin acid hiếm trong những thức ăn thực vật, chỉ có trong bắp và lúa mì, hiện diện trong diêm mạch với một hàm lượng gấp đôi các ngũ cốc.
Diêm mạch cống hiến nhiều sinh tố : (mmg)/100g : (6,24) ascorbic acid tức vitamin C, (1,2) niacin tức vitamin PP, (0,51) thiamin tức vitamin B1, (0,39) riboflavin tức vitamin B2, (0,12-0,36 tùy loại) retinol tức vitamin A, một số lớn tocopherol tức vitamin E. Các tính chất nầy là một ưu điểm cho những người ăn trường chay. Diêm mạch chứa đựng nhiều thớ không tan hòa cần yếu cho sự vận chuyển tiêu hóa, duy trì một chức ruột thích đáng, đóng góp giảm hạ ung thư ruột già.
Đằng kia những thớ tan hòa giúp chữa những chứng tim mạch, tiểu đường loại 2 nhờ điều hòa tỷ lệ cholesterol, glucose và insulin trong máu. Ngoài ra, trong diêm mạch còn có nhiều kim loai như sắt, đồng, kẽm, mangan, khoáng chất, đặc biệt calci Ca, kali K, photpho P. Đáng chú ý là diêm mạch không chứa gluten, nên bột diêm mạch không dậy, một tin mừng cho những ai dị ứng với chất nầy.
Diêm mạch là một thức ăn dùng đủ cách, nấu mặn hay nấu ngọt. Là một thức ăn mang đăc tính, nó có thể dung hợp với các thức ăn khác cũng có vẻ riêng như cà phê, sô cô la, phó mát. Quê gốc Nam Mỹ, nó có thể hỗn hợp với các rau trái cùng vùng như bắp, khoai, đậu đỏ, cà chua. Khi nấu chín hột có phần dòn nên tốt nhất là cho vào thực đơn cùng với những thức ăn mềm như cá hấp, khoai nghiền hay lê tàu, nước xôt Béchamel (nước xốt trắng làm với kem).
Như các ngũ cốc, diêm mạch phối hợp đúng điệu với các hột có dầu như mè (vừng), hồ đào, hột phỉ, nhân hạnh, hột đào lộn hột. Ở Bolivia, hột được thêm vào cháo, nướng nghiền ra bột, thêm nước thành “sửa”, nấu thành “kem”, thổi phồng rồi lấp một lớp xirô bắp, lên men thành rượu bia hay chicha, thức uống của người Inca. Sản xuất bên các nước Bolivia, Peru, lắm khi bột bột diêm mạch được đem thay thế bột mì.
Có hương vị hạt dẻ, lẫn một chút mùi lúa mạch và mùi bắp non, có mùi thơm hột phỉ hay hồ đào, nó được cho chêm vào bánh mì, bánh ngọt, bích quy để tăng hương vị. Đem trộn với bắp, khoai, bột mì, yến mạch, diêm mạch là một thức ăn vừa ngon vừa bổ, đặc biệt cho con trẻ thiếu dinh dưỡng. Lá cây tuy chứa chút ít nitrat và oxalat cũng có thể ăn tươi hay nấu ăn như rau. Lá diêm mạch còn được dùng để nuôi súc vật như cừu, lừa, lama (lạc đà không bướu). Hột và rễ cây là thức ăn rất tốt cho heo gà.
Ngày nay, hai nước sản xuất diêm mạch còn được gọi “hột vàng núi Andes” nhiều nhất là Peru và Bolivia. Song những con số đưa ra không giống nhau. Theo Tổ chức Quốc tế FAO, từ 2004 đến 2010, Peru sản xuất 41079 tấn (58% tổng số), Bolivia 29.500 tấn (41%), Equatơ 641 tấn (1%) trong khi Hiệp đoàn quốc gia các nghiệp chủ ANAPQUI đưa ra những con số lớn hơn.
Tuy nhiên sản xuất của Bolivia có thể còn lớn hơn nữa vì từ 2005 đến 2012, diện tích trồng diêm mạch đã tăng gấp đôi, đạt đến khoảng 70.000 hecta, xuất cảng tăng 20 lần. Vì thiếu con số xuất cảng diêm mạch của Peru, hiện nay Bolivia là nước được biết xuất cảng nhiều nhất, mỗi năm trên 60 triệu đôla, chiếm 70% thị trường, trước Equatơ.
Một phần nửa được gởi qua Hoa Kỳ, khoảng một phần ba qua Au châu, 6% qua Canađa, tổng cộng 94% số lượng xuất cảng diêm mạch Bolivia. Giá diêm mạch từ 3 euro mỗi tạ (50kg) cách đây 30 năm bây giờ tăng lên 70 euro. Người dân bắt đầu kêu la vì bao nhiêu sản xuất dành cho xuất khẩu, giá lại quá cao, họ không còn mua được.Tôi nhớ một hồi ở nước ta, người dân cũng kêu la vì chỉ mua được đầu cá, thân cá dành để xuất khầu.
Bắt đầu từ 2009, nước Pháp trồng diêm mạch ở các vùng từ Anjou đến Poitou : giữa 2009 và 2010, diện tích trồng tăng từ 100 lên 200 hecta. Bây giờ, Hoa Kỳ, Brasil, Canađa cũng bắt đầu trồng diêm mạch.
Nhu cầu diêm mạch ngày càng tăng, mới thấy như là một mối lợi bất ngờ cho nông dân các nước vùng núi Andes. Nhưng nhu cầu càng tăng cường thì phải sản xuất cũng phái nối gót tăng gia. Rút cuộc diêm mạch trở thành độc canh, chiếm chỗ những cây lương thực ở hoang mạc hay đồng bằng và ngay cả ở đồi núi.Nhiều hậu quả mọi mặt. Về môi trường : hưu canh giảm hạ, đất đai xấu thêm.
Về xã hội : đảo ngược di dân. Những người nghèo bỏ đồi núi đi tìm việc làm ở thành thị bây giờ trở về lại quê sinh sống, nếu không mua được thì muốn chiếm lại đất đai cho là của mình lúc trước (tuy không có giấy tờ) mặc dầu đã có người khác ra công khai thác.
Và từ đây sinh ra tranh chấp ! Cuộc xung đột quyền sở hữu đất trồng giữa hai vùng Quillacas và Coroma đã làm tám người bị thương và ông tỉnh trưởng Potosi phải yêu cầu quân đội can thiệp Theo báo La Razon, không phải tám người bị thương mà hằng chục người vì ném đá và nổ mìn.
Trong một diện tích 250 km2 đã có tranh chấp vì nhiều mỏ uran giữa hai tỉnh Potosi và Oruro, rồi đây còn thêm xung đột vì diêm mạch trong thời kỳ gặt hái. Một hiểm họa nữa là vì giá diêm mạch tăng, muốn gặt hái mau và nhiều, các điền chủ thực hiện thâm canh, quên bỏ kỹ thuật truyền thống giảm hạ thời gian để cho đất nghỉ ! Người dân miền núi nước ta rất am hiểu lợi ích của cuộc luân chuyển thời gian trồng trọt nầy.Thảm hại nay thấy rõ không những ở nước ta mà còn ở những quốc gia lớn như Hoa Kỳ hay Mộng Cổ, để chỉ kể những nơi dễ thấy.
Một thảm họa khác nữa là tương lai những con lama (lạc đà không bướu) ở đồi núi mà phân bón cũng là một sản phẩm thiên nhiên, rẽ tiền, còn tốt hơn những hoá chất nhân tạo mà không làm hư hại đất đai. Con lama sống trên một vùng thu hẹp cao nguyên 4000m dãy núi Andes có tiếng là một nơi khô cằn, thiếu nước, gió mạnh, khi khô hạn, khi đông giá, lại thêm ánh nắng mặt trời gay gắt vì ở cao độ.
Như diêm mạch, nó có một sức chịu đựng khí hậu cực độ, và nếu diêm mạch được cho là “hột vàng núi Andes” nó được xem là “nhà băng có chân”. Một đằng càng ngày nó càng bị diêm mạch chiếm đoạt không gian sống, đằng kia vì suy nghĩ kém diêm mạch đem lại hoa lợi nhiều hơn, dân núi dần dần đem bán nó lấy tiền mua phân hóa học.
Rõ ràng hệ thống mất thăng bằng vì chính lama cống biến phân bón diêm mạch rất tốt ! Trên bờ biển muối Uyuni, ngắm làng Jiria cống hiến một phong cảnh ngoạn mục với dưới chân đồi đỏ rực hoa bông, xanh rờn xương rồng, những cây diêm mạch vàng lục lay theo chiều gió trông như một bức tranh trường phái ấn tượng, ông Faustina Moralès, 60 tuổi, than phiền làng của ông nay giống như một làng ma !Thật vậy, trong số 50 gia đình sống ở đây ba mươi năm trước, bây giờ chỉ còn vỏn vẹn 5. Làng đang suy tàn mà không ai chịu bỏ tiền ra trùng tu : ai cũng chỉ muốn mua hay chiếm cho bằng được nhiều đồng diêm mạch, ngay cả những người trước đây đã từng bỏ làng ra đi…
Sự tích bắt đầu với ông Jean-Marie Galliath, xin kết thúc với ông.Ông không có óc làm giàu, trái lại muốn làm cho và làm với người dân Bolivia. Ông nuôi mộng lớn mua máy bơm nước, máy kéo, máy gieo,..lập phòng thông tin, xây nhà thương, nhà trường, nhà con trẻ,…Nhưng ông gấp phải những chướng ngại tuy nhỏ nhưng rầy rà. Ví dụ : có sắc lệnh bánh mì phải chứa đựng 5% bột diêm mạch vì có bệnh thiếu dinh dưỡng trong dân chúng, nhất là ở trẻ con, thấy rõ ở hàm răng đen.
Diêm mạch rất cần thiết và lại sản xuất ở ngay Bolivia. Vậy mà 14 năm sau ở Bolivia vẫn không có diêm mạch trong bánh mì vì bột diêm mạch quá đắt !Ông không thể thương lượng với người dân.Lúc đầu, ông nghĩ là vì ngôn ngữ bất đồng, kiến thức tiếng Tây Ban Nha của ông còn kém.Sau nhờ thông ngôn, ông mới phát giác ra hai tâm tính, hai văn hóa khác nhau trên cao nguyên núi Andes.
Nếu người Quechua (Inca xưa) nghĩ “khi cộng đồng phát triển, ta cùng phát triển”, người Aymara (quê gốc cạnh hồ Titicaca, trung tâm miền Andes) lý luận “tôi lo trước cho gia đình tôi, sau mới đến cộng đồng”.
Cách lập luận nầy không xa lạ ở nước ta.Hậu quả là có nhiều người Bôlivia đang làm giàu trong khi vô số dân đen vẫn còn nghèo. Đáng tiếc là Bolivia cũng như vài nước lân cận có được một cây diêm mạch quí báu, một “hột vàng núi Andes” như họ thường nói mà không ngững đầu lên được.
Liên Hiệp Quốc tuyên bố năm 2013 là “Năm quốc tế diêm mạch” để tỏ lòng cảm phục dân chúng vùng Andes biết giữ gìn một thức ăn trồng từ hằng ngàn năm nay, cơ sở thực phẩm những nền văn minh xưa cổ như văn hóa Inca. Liệu lời biết ơn nầy tác dụng ra sao lên đời sống người dân vùng núi Andes ?

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp


Vĩnh Bảo sưu tầm 2/12/2017

TÍA TÔ : GIA VỊ GIẢI ĐỘC CỨU NGƯỜI KỲ DIỆU

TÍA TÔ : GIA VỊ GIẢI ĐỘC

CỨU NGƯỜI KỲ DIỆU

Rất đỗi bình dị đời thường, nhưng tía tô lại có thể ra tay cứu người khỏi lưỡi hái của tử thần vào những khoảnh khắc rất cam go. Tía tô có tên khoa học là Perilla frutescens, còn có tên gọi khác là tử tô, tử tô ngạnh… là một trong số 8 loài cây tía tô thuộc họ hoa môi, giống như húng.
Đây là loại cây thảo, cao 0.5 – 1m, lá mọc đối, mép khía răng, mặt dưới tím tía, có khi 2 mặt đều tía, nâu hay màu xanh lục có lông nhám. Hoa tía tô nhỏ mọc thành chuỗi dài ở đầu cành, màu trắng hay tím, mọc đối, 4 tiểu nhị không thò ra ngoài hoa. Quả tía tô là dạng quả bế, hình cầu. Toàn cây có tinh dầu thơm và có lông.
1/. Gặp duyên may, thần y Hoa Đà phát hiện thuốc quý :Chuyện ghi lại rằng, một hôm Hoa Đà đi hái thuốc, ngồi nghỉ bên bờ sông tại một địa phương ở Giang Nam, tình cờ ông nhìn thấy một con rái cá đang ăn ngấu nghiến những con cua. Một lát sau, con rái cá đó ngã xuống, quằn quại trên mặt đất trông hết sức đau đớn vì ngộ độc cua.
Lặng lẽ theo dõi, Hoa Đà thấy con rái cá cố lê lết bò men theo bãi sông, tìm đến chỗ một bụi cây màu tím thì dừng lại và ăn lá của cây ấy. Con rái cá nằm xuống nghỉ một lát, sau đã đứng dậy đi lại, như chưa hề xảy ra chuyện gì.
Thấy vậy, Hoa Đà bèn hái một bó cành và lá cây đó mang về tìm hiểu, cho từng ít vào miệng nếm thử, thấy có vị cay… Từ đó Hoa Đà mày mò nghiên cứu, ứng dụng tác dụng giải độc của cây thuốc này. Về sau, hễ có người ăn quá nhiều cua mà bị trúng độc, đau bụng và tìm đến ông để chữa, Hoa Đà đều dùng lá của thứ cây màu tím đó sắc lấy nước cho bệnh nhân uống, đều rất linh nghiệm, chỉ một lúc sau là người bệnh đã cảm thấy dễ chịu.  Vì lý do đó, Hoa Đà đặt tên cho thứ cây này là Tử thư. Vì là thứ cây lá màu tím và uống vào cảm thấy thư thái.
Hiện nay vị thuốc này không còn được gọi là Tử thư nữa, mà là biến đổi thành Tử tô. Đó là do Tử thư và Tử tô, phát âm gần giống như nhau. Mà cũng có thể, do nhầm lẫn trong ghi chép của đời sau vậy.
2/. Công dụng giải độc kỳ diệu của tía tô : Đông y cho rằng tía tô có vị cay, tính ấm, đi vào các kinh tâm và phế, làm thoát mồ hôi, hạ khí, tiêu đờm. Toàn bộ cây tía tô đều có tác dụng trị bệnh rất hiệu nghiệm.
– Lá tía tô có tác dụng chữa hắt hơi, sổ mũi do viêm long đường hô hấp trên (cảm mạo), sốt, ho, bí mồ hôi, giúp tiêu hóa. Lá non được sử dụng làm gia vị, thái sợi nhỏ cho vào cháo nấu với thịt nạc băm nhỏ làm thuốc giải cảm, bí mồ hôi.
– Cành tía tô có tác dụng an thai.
– Quả tía tô có tác dụng chữa ho, trừ đờm, hen suyễn, tê thấp.
Trường hợp không có sẵn các bộ phận thì có thể dùng thay thế cho nhau cũng được.
3/- Giải độc do ăn cua cá : Giã nát tía tô vắt lấy nước uống hoặc sắc 10g lá kho lấy nước uống lúc nóng. Hoặc dùng bài thuốc tử tô giải độc thang gồm: Lá tía tô 10g, Gừng tươi 8g, sinh Cam thảo nước 600ml, sắc còn 200ml uống nóng chia 3 lần trong ngày. Thường khi ăn ốc, cua hoặc gỏi cá, người ta thường ăn kèm rau sống có lá tía tô để phòng tránh ngộ độc.
4/- Chữa dị ứng do ăn hải sản hay tiếp xúc lạnh : Lấy 1 nắm lá tía tô giã nát vắt lấy nước cốt uống, bã đắp hoặc chà xát lên nơi bị dị ứng. Lưu ý cần tránh gió và không được dầm nước.
5/- Cấp cứu người cảm mạo : Cảm mạo (cảm hàn) là chứng bệnh có thể gặp bất kỳ mà ngay cả người khỏe mạnh cũng có thể mắc và mắc vào bất kỳ thời điểm nào không thể biết trước mà phòng tránh.
Người bị chứng cảm hàn thường ngất lịm, miệng và tay chân cứng lại, toàn thân lạnh ngắt. Nếu không được sơ cứu và đưa đi cấp cứu ngay thì người bệnh rất dễ tử vong hoặc để lại những biến chứng lâu dài. Trong dân gian có một bài thuốc rất đơn giản nhưng vô cùng hiệu nghiệm để trị chứng cảm này, trong đo lấy tía tô làm chủ vị.
Bài thuốc như sau: tía tô, cúc tần, lá bưởi, lá tre gai, cây sả, kinh giới, ngải cứu mỗi thứ một nắm (khoảng 150g-200g tươi) cho vào nồi nước đun sôi rồi cho bệnh nhân trùm chăn kín để xông. Nếu bệnh nhân quá nặng thì khi đun xong nước xông có thể lấy ra một bát nước, làm nguội nhanh rồi cạy miệng bón cho bệnh nhân uống cho tỉnh để xông thuốc.
6/- Giải cảm : PGS. TS. Trần Công Khánh, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền cho biết, trong Đông y, hương vị của tía tô được đánh giá là sự pha trộn giữa hồi hương, cam thảo, quế và bạc hà sát khuẩn.
Chính vì vậy, tía tô được y học cổ truyền xếp vào loại giải biểu, thuộc nhóm phát tán phong hàn, chữa bệnh bằng cách cho ra mồ hôi, giải cảm, khỏi sốt. Cháo hành – tía tô cũng là món ăn – vị thuốc dân gian dùng để giải cảm cho những người bị cảm nhẹ.
7/- Giải nọc độc khi bị ong đốt : Khi bị ong đốt, hãy kiểm tra xem vết thương có ngòi cắm lại không? Nếu có thì phải rút ra. Sau đó làm làm sạch vết thương, rồi chỉ cần lấy một dúm lá tía tô tươi vò nát đến khi ra nước. Dùng dúm lá ướt đó bôi lên trên vết thương, sau vài phút vết thương sẽ hết buốt.
Ngoài ra, trong ăn uống hàng ngày, có thể kết hợp tía tô với các món lạnh, đặc biệt là cua ốc, hải sản… một mặt là để phòng tính hàn lạnh của chúng, mặt khác là giải độc cơ thể khỏi những độc tố mà chúng có thể mang theo.
Mỹ Nhàn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/12/2017

10 QUỐC GIA CÓ DIỆN TÍCH LÃNH THỔ LỚN NHẤT THẾ GIỚI

10 QUỐC GIA CÓ DIỆN TÍCH

LÃNH THỔ LỚN NHẤT THẾ GIỚI

1/. Nga – 17.098.242km2 : Liên Bang Nga nằm vắt ngang lục địa Á – Âu có diện tích lớn nhất thế giới 17.098.242km2. Lãnh thổ của quốc gia này trải dài trên 11 múi giờ. Đường biên giới của Liên Bang Nga khá phức tạp, tiếp giáp với 12 quốc gia khác là Na Uy, Phần Lan, Estonia, Latvia, Belarus, Ukraina, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ và Triều Tiên.Nhờ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, hiện Nga là một trong những quốc gia xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt lớn nhất thế giới. Đây cũng là thành viên thường trực của Liên hiệp quốc và G8, đồng thời đứng thứ ba thế giới về chi tiêu quân sự. Đặc biệt, xứ sở bạch dương sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, các loại khí tài và máy bay chiến đấu hiện đại hàng đầu và đang ngày càng được đầu tư nhiều hơn.
2/. Canada – 9.984.670km2 : Canada nằm ở khu vực Bắc Mỹ, có diện tích 9.984.670km2, là quốc gia có diện tích lớn thứ hai thế giới. Biên giới của nó giáp Hoa Kỳ ở phía Nam, phía Bắc giáp bang Alaska (Hoa Kỳ) và Bắc cực, phía Đông giáp Đại Tây Dương còn phía Tây giáp Thái Bình Dương
Canada xếp thứ 8 thế giới về thu nhập bình quân đầu người, xếp thứ nhất về dịch vụ giáo dục, y tế, tính minh bạch và chất lượng cuộc sống. Bên cạnh đó, quốc gia này còn sở hữu một nền văn hóa đa dạng, nghiên cứu khoa học phát triển mạnh và cũng là bạn hàng lớn nhất của Mỹ. Trong năm 2011, đất nước này chi khoảng 24,5 tỷ USD cho ngân sách quốc phòng..
3/. Hoa Kỳ – 9.826.675 km2 : Hoa Kỳ cũng là một quốc gia nằm ở Bắc Mỹ, có diện tích 9.826.675 km2. Quốc gia này gồm 3 bộ phận lãnh thổ. Bộ phận lớn nhất gồm 48 bang, nằm giữa lục địa Bắc Mỹ: Bắc giáp Canada, Nam giáp Mexico và Vịnh Mexico, Tây giáp Thái Bình Dương và Đông giáp Đại Tây Dương. Bộ phận thứ hai là bang Alaska nằm ở phía Tây Bắc lục địa Bắc Mỹ: Đông giáp Canada, Bắc giáp biển Beaufort và Nam giáp biển Bering. Bộ phận thứ ba là quần đảo Hawaii (bang Hawaii) nằm giữa Thái Bình Dương cách phần lục địa khoảng 4.000km
Mỹ được xem là siêu cường đích thực và số 1 của thế giới. Bất chấp suy thoái, nó vẫn là nước có GDP cao nhất, dẫn đầu về nghiên cứu khoa học, là nước đầu tiên có vũ khí hạt nhân và cũng chiếm tới 39% tổng chi tiêu quân sự toàn cầu. Xứ cờ hoa cũng được xếp số 1 về kinh tế, quân sự và ảnh hưởng đến nước ngoài..
4/. Trung Quốc – 9.596.960km2 : Trung Quốc là quốc gia nằm ở châu Á, có diện tích 9.596.960km2. Quốc gia này có tổng chiều dài đường biên giới trên bộ lớn nhất thế giới, với 22.117km từ cửa sông Áp Lục (biên giới với Triều Tiên) đến Vịnh Bắc Bộ (biên giới với Việt Nam). Trung Quốc cũng là nước có tiếp giáp với nhiều quốc gia nhất thế giới bao gồm 14 quốc gia (theo chiều kim đồng hồ) Việt Nam, Lào, Myanmar, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ và Triều Tiên. Ngoài ra, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines cũng lân cận với Trung Quốc qua biển.
Với 1,35 tỷ dân, Trung Quốc là nước đông dân nhất và có diện tích lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc cũng là nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất, đứng thứ 2 về GDP toàn cầu và tương tự là chi tiêu cho quân sự. Trung Quốc cũng là một trong những nước sở hữu kho vũ khí hạt nhân và là thành viên thường trực của Liên hiệp quố
5/. Brazil – 8.514.877km2 :Brazil là quốc gia lớn nhất khu vực Nam Mỹ có diện tích 8.514.877 km2. Biên giới của nó tiếp giáp với các quốc gia và vùng lãnh thổ là Argentina, Bolivia, Colombia, Guiana thuộc Pháp, Guyana, Paraguay, Peru, Suriname, Uruguay và Venezuela. Lãnh thổ nước này trải dài trên 4 múi giờ khác nhau
Brazil 
Mặc dù chưa phải là một siêu cường hoàn toàn, song Brazil đang cho thấy đó chỉ là vấn đền thời gian. Quốc gia Nam Mỹ này có một lực lượng quân sự tinh nhuệ và cũng đầy khác biệt, khi chấp nhận cả phụ nữ phục vụ cho hải quân, không quân. Hiện ngân sách quốc phòng của Brazil đứng thứ 13 trên thế giới và nó cũng được xếp hạng 8 toàn cầu về GDP. Chính sức mạnh kinh tế đã tạo điều kiện cho chính phủ nước này cải thiện mạnh mẽ các chính sách về y tế, giáo dục và khoa học công nghệ.
.
6/. Australia – diện tích 7.741.220 km2 : Quốc gia này thực chất là một lục địa nằm tách biệt với phần còn lại của thế giới, bao quanh bởi Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Australia có diện tích 7.741.220km2. Đường biên giới và cũng là đường bờ biển của nó kéo dài 34.218km. Các quốc gia lân cận của Australia gồm có Indonesia, Đông Timor và Papua New Guinea ở phía Bắc, quần đảo Solomon, Vanuatu và Nouvell – Caledonie thuộc Pháp ở phía Đông Bắc, New Zealand ở phía Đông Nam.
7/. Ấn Độ – diện tích 3.287.263 km2 : Ấn Độ là quốc gia nằm ở khu vực Nam Á, có diện tích 3.287.263 km2. Biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc, Nepan và Bhutan, phía Đông giáp Myanmar và Bangladesh, phía Tây Bắc giáp Pakistan và Afghanistan, phía Nam trông sang Sri Lanka qua một eo biển.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2016, tổng sản phẩm nội địa là 2.250.990 USD (đứng thứ 7 trên thế giới, đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc và Nhật Bản), nền kinh tế Ấn Độ có GDP danh nghĩa là 1.604 tỷ đô la Mỹ; và có GDP theo sức mua tương đương là 7.224 tỷ đô la Mỹ.[7] Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 5,8% mỗi năm trong hai thập niên qua, và đạt mức 6,1% trong giai đoạn 2011–12,[ Ấn Độ là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ đều xếp hạng trên 100 thế giới về GDP danh nghĩa bình quân đầu người và GDP PPP bình quân đầu người.] Cho đến năm 1991, tất cả các chính phủ Ấn Độ đều theo chính sách bảo hộ do chịu ảnh hưởng từ các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Sự can thiệp và sắp đặt của nhà nước là phổ biến, tạo nên một bức tường lớn ngăn cách kinh tế Ấn Độ với thế giới bên ngoài. Một cuộc khủng hoảng sâu sắc về cán cân thanh toán vào năm 1991 buộc đất nước phải tự do hóa nền kinh tế;[kể từ đó Ấn Độ chuyển đổi chậm hướng về một hệ thống thị trường tự do với việc nhấn mạnh cả ngoại thương và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.[Mô hình nền kinh tế Ấn Độ trong thời gian gần đây phần lớn là tư bản chủ nghĩa.[ Ấn Độ trở thành một thành viên của WTO từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.[205]
Ấn Độ có lực lượng lao động gồm 486,6 triệu người theo số liệu năm 2011. Lĩnh vực dịch vụ chiếm 55,6% GDP, lĩnh vực công nghiệp chiếm 26,3% và lĩnh vực nông nghiệp chiếm 18,1%. Các nông sản chính của Ấn Độ là lúa gạolúa mì, hạt có dầu, bôngđaychèmía, và khoai tây.[ Các ngành công nghiệp chính của Ấn Độ là dệt, viễn thông, hóa chất, dược phẩm, công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, khai mỏ, dầu mỏ, máy móc, và phần mềm.
8/. Argentina – diện tích 2.780.400km2 : Argentina là quốc gia lớn thứ hai ở khu vực Nam Mỹ có diện tích 2.780.400 km2. Phía Bắc giáp Bolivia và Paraguay, phía Đông giáp Brazil, Uruguay và Đại Tây Dương, phía Nam và phía Tây giáp Chile.
Theo số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) của Argentina năm 2012 đạt 756.226 triệu đô, đứng thứ 21 trên thế giới. Bình quân GDP theo đầu người năm 2012 là 17.660 USD.
Nền kinh tế Argentina lớn thứ ba ở khu vực Mĩ La-tinh sau Brazil và Mexico, cùng với hai nước này, Argentina là 1 trong 3 nước ở khu vực Mĩ La-tinh tham gia vào nhóm G-20, nhóm tập hợp các nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Argentina là nhà sản xuất hướng dương, trà mate, chanh và dầu đậu nành lớn nhất trên thế giới, đứng thứ 2 về sản lượng mật ong và táo, thứ 3 về đậu tương và thứ 5 về rượu vang. Argentina cũng là nhà sản xuất lớn các sản phẩm như thịt, lúa mì, len, dầu động cơ sinh học, khí đốt và dầu mỏ.
Nền kinh tế Argentina được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, người dân có học vấn cao, một hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại và một nền công nghiệp lớn mạnh.
Trong các ngạch chính của nền công nghiệp Argentina phải kể đến thực phẩm chế biến, đồ uống và thuốc lá; động cơ và phụ tùng ô tô; dệt may và da; dầu diesel sinh học; dược phẩm; thép, nhôm và sắt; máy móc thiết bị nông nghiệp; đồ điện gia dụng và đồ nội thất.
Các trung tâm chính của nền công nghiệp Ác-hen-ti-na, theo thứ tự quan trọng, Córdoba, el Gran Buenos Aires và Rosario
9/. Kazakhstan – diện tích 2.724.900km2 : Kazakhstan nằm ở vùng Trung Á có diện tích là 2.724.900km2. Phần biên giới phía Bắc giáp Nga, phía Nam giáp Kyrgyzstan, Uzerbekistan, Turkmenistan và biển Aral, phía Tây giáp biển Caspi, còn phía Đông giáp Trung Quốc.
10/. Algeria – diện tích 2.381.741km2 : Algeria nằm ở Bắc Phi có diện tích 2.381.741km²  và cũng là nước lớn nhất châu Phi. Nó có chung biên giới với Tunisia ở phía Đông Bắc, Lybia ở phía Đông, Niger phía đông nam, Mali và Mauritania phía Tây Nam, Morocco và Tây Sahara ở phíaTây.Yên Huỳnh chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/12/2017

CÔNG DỤNG TỪ BẠCH QUẢ (GINKGO BILOBA)


CÔNG DỤNG TỪ BẠCH QUẢ

(GINKGO BILOBA)

Nếu quý vị thấy bắt đầu bị lãng tai, mất thăng bằng, dĩ nhiên chúng ta phải đi ngay bác sĩ để biết nguyên do. Quý vị nên bàn thảo với bác sĩ để dùng bạch quả, vì khi dùng bạch quả nó đưa lại kết quả thật khả quan, bạch quả làm cho máu huyết di chuyển tới tai đều đặng, tạo sự liên hệ giữa não và tai. Bạch quả cũng chữa được bệnh ù tai.
Cách đây 3 năm tôi đến Pensylvania vào mùa Thu trước lễ Tạ Ơn. Trời bắt đầu lạnh gần độ đông đá. Một buổi sáng xuống phố, ánh mặt trời chói chang trong những lùm cây. Cây cối trơ trụi, ngọai trừ một số cây màu vàng dọc theo lề đường với những lá hình rẻ quạt, tôi nhận ra ngay đó là Cây Bạch Quả. Mùa Xuân lá cây mơn mởn từng chùm trên từng đốt dọc theo cành cây vươn ra tứ phía. Mùa Hè lá biến thành xanh đậm. Mùa Thu lá đổi màu vàng trông rất đẹp.
Đây cũng là con đường Bạch Quả nổi tiếng ở Nhật. Có một câu chuyện ý nghĩa về loài cây này. Đó là sau khi Mỹ ném bom Nguyên Tử xuống Hiroshima, vẫn có 6 cây bạch quả sống sót và phát triển. Vì vậy, người Nhật coi Bạch Quả là “cây mang hy vọng” và được tôn kính trong văn hóa Nhật Bản.
Ngồi trong quán ăn điểm tâm nhìn ra phía trước, tôi thấy mấy người vừa đàn ông vừa đàn bà đang lượm những trái bạch quả rụng quanh gốc cây. Tôi hỏi cô cháu bé thì được biết các ông bà này trong mùa Thu, khi thấy trái bạch quả rụng, thì họ cố lượm cho thật nhiều, nấu chè rồi đưa vào sở làm quà cho bạn bè mỗi người một ly. Các ông bà trong sở lấy làm thú vị lắm: chè ăn vừa ngon vừa bổ, lại có vị thơm vị bùi.
Mùa Thu đã mang lại cho những người Trung Hoa này một mong đợi đầy lý thú. Với họ chỉ là lượm trái cây, nấu chè, không hơn không kém. Hai hôm sau chúng tôi đi lượm lá chớ không lượm trái. Ở New Jersey tương đối dễ vơ lá hơn. Chúng tôi chỉ cần tới một cây vào buổi sớm, sau một đêm lạnh, lá rụng chồng đống tại gốc cây, bóc mấy phút là được mấy bịch rác.
Chúng tôi mang về nhà soạn lấy những lá tốt, còn những lá úa lọai đi. Sau đó cho vào máy sấy, cứ 24 tiếng lại được một mẻ, hai cậu cháu lượm có thể đủ làm trà uống cả năm. Chúng tôi trộn 2/3 lá Bạch Quả và 1/3 trà để giữ cho lá khỏi bị ẩm ướt. Vả lại cũng cần uống trà có lợi cho cơ thể rất nhiều.
Câu hỏi được mọi người đặt ra là Cây Bạch Quả là cây gì? 
Người Trung Hoa gọi là Bạch Quả vì sau khi trái rụng màu của nó vàng nâu giống như trái mơ, khi rửa sạch vỏ chỉ còn có hạt, lúc phơi khô, hạt thành trắng, vì thế người ta còn dịch ra tiếng Anh là White Nut. Cây Bạch Quả cũng được người Tây phương gọi là Ginkgo Biloba, hay người Hoa kỳ gọi là Maidenhair (cây Tóc Tiên Nữ).
Bạch Quả xuất hiện đã lâu trên trái đất vào thời khủng long mà người ta tìm thấy trên các địa tầng trái đất trên các đại lục Đông và Tây bán cầu. Ở Á Châu người ta thấy Cây Bạch Quả được trồng trong khuôn viên các chùa ở Trung Hoa và Nhật Bản. Bạch Quả cũng có một sức sống dẻo dai. Năm 1945 sau cuộc thả bom nguyên tử ở Hiroshima, người ta thấy tất cả những cây khác bị tiêu diệt, nhưng Cây Bạch Quả vẫn sống ngạo nghễ giữa gió bụi phong trần.
Vào thế kỷ 18, người Âu Châu chú trọng đến cây Bạch Quả vì hình thù và sắc đẹp của nó. Ông Englebert Kaempfer, một y sĩ và nhà thực vật học người Đức, lần đầu tiên trong cuộc đời ông được thấy cây Bạch Quả trong chuyến công du Nhật Bản. Sau đó ông Carolus Linnaeus, người Thụy Điển, cũng là một nhà thực vật học, trong việc xếp lọai hệ thống các lọai động vật và thực vật, đã đặt tên Ginkgo Biloba cho cây Bạch Quả. 
Năm 1727, người ta mang cây Bạch Quả từ Trung Hoa tới Âu Châu và trồng tại vườn dành cho những cây nhiệt đới. Tại Hoa Kỳ, năm 1784 ông Halmilton là người đầu tiên trồng cây Bạch Quả tại sân nhà ông ở Philadelphia. Bây giờ cây ấy hãy còn sống và ở ngay cạnh nghĩa trang Woodlawn. Rồi cứ thế, người này bảo người kia, kể cả rất nhiều thành phố lập ngay dự án trồng cây hai bên đường phố để làm tăng vẻ đẹp cho đô thị.
Hiện nay ở Philadelphia, nếu ai muốn trồng cây Bạch Quả, chỉ cần liên lạc với sở thiết kế đô thị để được mua một cây Bạch Quả 15 gallon với giá $75.00 thay vì giá thị trường là $150.00. Ở Hoa kỳ hiện nay cũng có nhiều nông trại trồng lọai cây này, chẳng hạn như ở South Carolina để sản xuất và cung cấp lá cho các nhà bào chế các sản phẩm Bạch Quả.
Cây Bạch Quả sống lâu hơn các lọai cây khác. Cây có thể sống nhiều ngàn năm. Cây cũng có cây đực cây cái. Cây đực cung cấp nhụy. Cây cái sinh quả. Cây Bạch Quả phải kể tới 50 năm sau khi trồng mới có trái. Trái Bạch Quả khi chín sẽ đổi màu vàng ố và rớt xuống đất có mùi hôi. Vì thế nhiều nơi khi thấy cây sinh trái đã chặt cây, chỉ để lại cây đực.
Dược tính của cây bạch quả.
Người Trung Hoa đã xử dụng dược tính của cây Bạch Quả từ nhiều thế kỷ. Cho tới nay, nhiều khi trong các thang thuốc cũng có mấy Hạt Cạch Quả được trộn lẫn với những vị thuốc khác.
Các thầy thuốc Bắc dùng Trái Bạch Quả trị các bệnh về não, bệnh suyễn, sưng cuống phổi. Trong các sách thuốc Trung Hoa vào thế kỷ 15, 16, người ta cũng dùng Hạt Bạch Quả rang khô để trị các bệnh liên quan đến cơ quan tiêu hóa. Ngòai ra Trái Bạch Quả chín còn được ngâm vào dầu ăn 100 ngày trước khi dùng trị bệnh phổi. Lá Bạch Quả cũng được người Trung Hoa dùng trị bệnh tiêu chảy, vò những lá tươi xát vào da khi bị khô vì trời lạnh, hay bị cháy nắng có những vết như tàn nhang, hoặc da bị trầy trụa.
Tại Nhật người ta khám phá thấy sau khi bóc vỏ Hạt Bạch Quả có một màng thật mỏng bao chung quanh nhân, màng này tạo ra chất sát trùng có thể giết sâu bọ. Vì lý do đó, người Nhật thường để những Hạt Bạch Quả ở các ô hộc trong kệ sách để tránh mối bọ. Lá Bạch Quả sinh ra những chất khiến sâu bọ không thể ở trên cây và cũng khử được những ô nhiễm nữa. 
Vào những thập niên gần đây, rất nhiều các quốc gia tại Âu Châu đã lập những viện nghiên cứu và lập các nhà bào chế ép những chất trong Lá Bạch Quả để tìm hiểu dược tính của nó và dùng những chất ép từ Lá Cây Bạch Quả chế biến ra những viên hay đặt vào trong những bao nhộng có các cân lượng từ 60 mg, 120mg bán ra thị trường. Cũng có khi họ thêm vào những vị khác như các lọai Nhân Sâm.
Hiện nay người Hoa kỳ cũng trồng thật nhiều cây Bạch Quả để chế biến dùng lọai dược thảo này áp dụng song song với những lọai thuốc Tây khác. Trong việc tìm hiểu những đặc tính dược thảo, các nước Âu Mỹ đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng về chất liệu của các thứ cây có khả năng chữa bệnh.
Đứng trước những khó khăn của y học Tây phương trong việc chữa trị bệnh nhân, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu những phương dược của Đông phương….     
Tôi có người anh kết nghĩa năm nay 82 tuổi. Cách đây trên mười năm, vì rủi ro, anh đang lái xe bỗng dưng buồn ngủ, đâm vào chiếc xe 18 bánh đang đậu bên đường. Kết quả bị gẫy hai chân, gẫy hai tay và mất một cái đầu gối. Sau mấy tháng nằm bệnh viện, anh đã phải qua nhiều cuộc giải phẫu và cuối cùng anh được xuất viện.
Anh tiếp tục tập luyện, cuối cùng đi lại bình thường. Mỗi khi trái gió trở trời, anh bị đau nhức thê thảm. Anh đi bác sĩ và được cho toa. Nhưng uống thuốc tê thấp không phải lúc nào cũng dễ vì nếu uống thuốc lâu, thuốc có thể làm nguy hại đến những bộ phận khác trong cơ thể. Một hôm, anh nghe người ta chỉ, dùng trà Bạch Quả, anh thấy dễ chịu hẳn lên, lại cảm thấy tâm trí thoải mái, trí nhớ được phục hồi có thể ngồi viết lại những phần nhật ký anh chưa hoàn tất được.
Rồi sau đó anh tìm hiểu nhiều về các lọai dược phẩm. Nay anh đã được bình phục và không còn đau nhức nhiều như trước kia nữa, thật là một an ủi lớn cho anh.
Lá và trái Bạch Quả trong mùa Thu
Một người khác, bạn của anh tôi, năm nay 73 tuổi. Anh bị đau ở bả vai phải, kéo xuống cánh tay và bàn tay rất khó chịu. Anh đã đi mấy bác sĩ, uống năm sáu toa thuốc không thấy khỏi. Anh dùng sản phẩm Bạch Quả trong hai tuần, anh đã hết bệnh, sau đó anh đi mua ngay cây Bạch Quả 15 gallon, đưa về trồng trước cửa nhà. Mỗi sáng đi tập thể dục về, anh lấy mấy lá nhai rồi nuốt đi. Cách đây ít lâu, anh cho biết là Lá Bạch Quả đã đem lại cho anh sức khoẻ lạ thường, cảm thấy người thật là cường tráng.
Hai tháng nay, tôi được biết một người bạn, tâm hồn rất sáng suốt minh mẫn, nhưng cơ thể anh xuống dốc thê thảm. Các khớp xương của anh đau nhức. Mỗi khi cơn đau lên như thế, các bắp thịt kéo co lại đau đớn lắm. Anh tìm đọc tài liệu về sản phẩm Bạch Quả. Mấy hôm sau anh mua về dùng. Ngày hôm sau anh cho biết chưa bao giờ anh có được giấc ngủ ngon như thế, một tuần sau anh cho tôi biết các khớp xương hãy còn đau nhưng bắp thịt không co lại và không còn đau nữa.
Những chuyện tôi vừa kể trên chỉ phần nào nói lên ích lợi của Bạch Quả. Chúng ta lần lượt tìm hiểu thêm những nghiên cứu của các dược phòng qua những công trình làm việc của nhiều khoa học gia, cũng từ đó người Tây phương nhìn nhận và thử nghiệm Bạch Quả một cách hữu hiệu như thế nào.
Bắt đầu từ năm 1930 ngành Y khoa Tây phương chú trọng về ích lợi của cây Bạch Quả trong việc bảo vệ sức khỏe và chữa trị bệnh tật. Sau khi các khoa học gia Đức và Nhật đã ép nước từ Lá Bạch Quả và phân chất, người ta tìm thấy hai nhóm hóa chất quan trọng : Flovone Glycosides và Terpene Lactones.
Flovone Glycosides là những hóa chất lọai Flavonoids. Hóa chất này là một số hợp chất tìm thấy trong nhiều cây trái, nhất là những lọai Chanh, Cam, Bưởi. Nó là những chất chống Oxyd hóa, có nghĩa là nó làm sạch những chất ô nhiễm trong máu. Chất Flavonoies cũng có đặc tính bảo vệ các tế bào khỏi bị vỡ do chất Acid và các lọai Acid béo do đó các tế bào lúc nào cũng ở tình trạng khỏe mạnh và có khả năng thẩm thấu.
Chất Flavonoies cũng giúp cho các hạt máu không bị dính vào nhau, nó giúp cho việc tuần hoàn máu trong cơ thể, đánh tan những cục máu, khiến ta tránh được đứt gân máu. Nó giúp cho những mạch máu không bị cứng, có khả năng giúp tồn trữ sinh tố C và giữ gìn nó lâu trong cơ thể.
Chất Terpene Lactones trong cây Bạch Quả giúp cho sự tuần hoàn máu tới não và các bộ phận trong cơ thể, chuyển dưỡng khí tới các mô, giúp cho việc hấp thụ chất đường (Glucose) tới các mô. Việc này giúp cho cơ thể khoẻ mạnh và có thêm sức lực. Chất này cũng giúp cho cơ thể khoẻ mạnh và có thêm sức lực. Chất này cũng giup cho kiện toàn trí nhớ và giúp cho não vậh chuyển và được hoàn phục sau khi bị đứt gân máu.
Chất Bilobalides và Ginkgolides chỉ tìm thấy nơi cây Bạch Quả, nó gồm có những phân tử của ba loại Ginkgolides A, B và C có một cách cấu tạo đặc biệt giống như một cái lồng mà không có cách nào các nhà hóa học có thể chế ra một hợp chất gắn liền như thế được.
Cuối năm 1950, bác sĩ Willmar Schwabe thuộc hãng Schwabe ở Tây Đức đã rút từ Lá Bạch Quả hợp chất gồm có 24% Flavone Glycosides và 6% Terpene Lactones, tỉ lệ 24-6 được gọi là GBE. GBE có ba ảnh hưởng lớn trong cơ thể:
1/- Giúp cho mạch máu được vận chuyển nhiều trong cơ thể và giúp cho máu được tinh khiết, sự vận chuyển đó đưa máu tới các mô và các bộ phận như tim, não, tai, mắt.
2/- Bảo vệ các cơ phận không bị ô nhiễm phá họai.
3/- Ngăn chận chất PAF, là chất làm cho máu dính cục đưa đến việc tắc nghẽn và đứt gân máu, ảnh hưởng trực tiếp đến mạch máu tim và tạo nguy hiểm cho tế bào não.
Lá Bạch Quả gồm có những hóa chất thật hữu hiệu cho cơ thể con người. Qua nhiều cuộc nghiên cứu, người ta thấy nếu dùng Bạch Quả với một số lượng bình thường thì không thấy những phản ứng, cũng như dùng nó trong một thời gian khoảng ba tháng rồi ngưng một khoảng cách một vài tuần hay một hai tháng tùy theo kinh nghiệm và chúng ta có thể đo lường những tác dụng của nó trong cơ thể.
Một phần thật nhỏ là có thể có người bị phản ứng chẳng hạn ngứa, sẩn hay chảy máu cam. Nếu thấy có những phản ứng như thế, nên tạm ngưng một thời gian rồi tiếp tục lại. Vì tác dụng của Bạch Quả làm giãn nở mạch máu, nên khi dùng Bạch Quả thì không nên dùng St John Worts hay Aspirin. Những người đang dùng các lọai thuốc làm nở mạch máu tim hay làm loãng máu cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để được chỉ dẫn hoặc ấn định cách thức dùng.
Trong những trường hợp không bình thường trong cơ thể hoặc có những bệnh trạng đặc biệt, chúng ta nên tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để biết rõ số lượng dùng. Hiện nay trên thị trường có loại viên hay con nhộng từ 60mg, 80 mg, 120 mg, 160mg, 240mg. Vì Bạch Quả là dược thảo nên không cần toa bác sĩ, tuy nhiên chúng ta không nên vì thế mà lạm dụng nó. Tốt nhất khi dùng Bạch Quả, chúng ta nên nghe ngóng cơ thể xem phản ứng để có thể lui tới sao cho có lợi ích thiết thực cho cơ thể.
Bạch quả và hệ thống não : Bạch Quả có khả năng ngăn ngừa bệnh Alzheimer nếu chưa bị bệnh, Khi bị bệnh rồi, dùng Bạch Quả giúp cho bệnh thuyên giảm hay giữ ở tình trạng không phát triển.
Bạch Quả giúp cho máu chuyển lên não, giúp cho các tế bào thần kinh truyền thông với nhau, làm phục hồi trí nhớ. Bạch Quả cũng giúp cho não nhận được nhiều dưỡng khí và tẩy sạch những ô nhiễm trong não. Nó cũng giúp cho người xử dụng nhiều về trí não được sáng suốt, bền gỉ, giúp cho chống lại với những suy bại theo tuổi già.
Bạch quả và hệ thống tuần hoàn : Bạch Quả giúp cho máu di chuyển trong cơ thể được dễ dàng, làm tiêu mỡ, tiêu những chất độc trong máu, đánh tan những cục máu (blood clots), làm cho máu không bị dính vào nhau, làm cho các mạch máu mềm mại, như thế có thể tránh được tình trạng đứt gân máu.  Bạch Quả cũng giúp phục hồi các mạch máu bị nguy hại vì chất Nicotine, giúp cho hạ Cholesterol vì nó khử được các chất Oxyd hóa.
Bạch quả cũng làm cho giãn mạch máu, nhất là khi tuổi già, mạch máu nổi gân xanh ở chân sẽ được giảm đi và do đó các cụ có thể đi lại, di chuyển một cách dễ dàng hơn. Sự thông máu trong hệ thống tuần hoàn giúp đưa máu và đồ ăn tới những li ti huyết quản, khai thông những bế tắc đó là nguyên nhân chính mang lại sức khoẻ toàn vẹn cho con người.
Bạch quả với dị ứng và hen suyễn :  Mới đây ở Hoa kỳ, người ta đã dùng Bạch Quả để chữa bệnh dị ứng (Allergy) và hen suyễn (Asthma). Bạch Quả làm dịu những vết sưng do dị ứng gây nên, và những liên hệ đến hệ thống hô hấp do dị ứng rồi đi đến nặng hơn đó là hen suyễn. Vì là dược thảo nên khi chúng ta dùng nó kết quả có khi cũng chậm hơn, do đó khi bị dị ứng nặng bất ngờ hay hen suyễn có nguy hại tới tính mạng, tốt hết ta hãy tìm gặp các y sĩ để điều trị cấp thời rồi sau đó tham khảo ý kiếng với y sĩ để dùng bạch quả.  Người ta cũng dùng Bạch Quả thoa trên các lớp da khi bị khô hay bị cháy nắng hoặc ngứa sẩn lên.
Bạch quả với các bà và các ông : Các bà khi có kinh nguyệt thường hay khó chịu, có khi bị đau trong cơ phận liên hệ. Dùng Bạch Quả, các bà thấy dễ chịu, tay chân đỡ bị sưng, đỡ đau bắp thịt, các bộ phận liên hệ không bị sưng, hết nhức đầu, hết chóng mặt nhờ lượng máu di chuyển đều hòa tới các bộ phận trong cơ thể.
Với các ông cũng thế, kết quả thử nghiệm cho thấy rất khả quan khi các ông dùng Bạch Quả, máu huyết di chuyển điều hòa trong các cơ phận, khiến giảm thiểu tình trạng bất lực, làm cho các ông phấn khởi và trở nên tin tưởng vào sự cường tráng của mình, trở nên yêu đời hơn.
Bạch quả và thính giác và thị giác : Nếu quý vị thấy bắt đầu bị lãng tai, mất thăng bằng, dĩ nhiên chúng ta phải đi ngay bác sĩ để biết nguyên do. Quý vị nên bàn thảo với bác sĩ để dùng Bạch Quả, vì khi dùng Bạch Quả nó đưa lại kết quả thật khả quan, Bạch Quả làm cho máu huyết di chuyển tới tai đều đặng, tạo sự liên hệ giữa não và tai. Bạch Quả cũng chữa được bệnh ù tai.
Khi lớn tuổi, mắt bắt đầu yếu có thể vì con người hay võng mô, sự co giãn không đúng mức, sự hiện hình trên võng mô không rõ rệt, hay các cơ không còn điều tiết chính xác hay bị ảnh hưởng do bệnh tiểu đường. Khi thấy mắt có những triệu chứng bất bình thường, chúng ta phải đi gặp bác sĩ nhãn khoa để khám nghiệm để được chữa trị.
Sau khi biết rõ bệnh và được điều trị, chúng ta nên dùng Bạch Quả, vì nó giúp đưa máu tới mắt, đưa chất bổ dưỡng tới mắt, làm cho mắt được khoẻ mạnh, đồng thời khử các chất độc trong mất, phục hồi các tế bào võng mô.
Trong kết quả dùng Bạch Quả của bác sĩ Georges Halpern, một khoa hoc gia Đức, năm 1990 đã chẩn bệnh cho 25 người tuổi 75. Những người này dùng 160 mg Bạch Quả mỗi ngày trong 4 tuần lễ thấy mắt họ khả quan hơn trước nhiều.
Kết quả nghiên cứu cũng cho biết Bạch Quả giúp cho dẫn máu tới những mạch máu thật nhỏ và có tính cách thật quan trọng trong võng mô. Bạch Quả cũng giúp cho người bị tiểu đường bằng cách làm cho mạch máu được mạnh và tẩy sạch những chất độc trong các tia máu trong mắt. Bạch Quả giữ cho máu khỏi bị hủy hoại do bệnh tiểu đường, do bệnh già và những yếu tố môi sinh gây ra.
Nói tóm lại, Bạch Quả giúp cho chúng ta có một trí óc minh mẫn trong một cơ thể cường tráng. Nhờ đó giúp cho các tế bào và các mô là những đơn vị nhỏ nhất trong cơ thể con người được nuôi dưỡng, tẩm bổ, được tinh khiết, chống những phóng xạ do môi sinh, dụng cụ máy móc của cuộc sống văn minh tạo ra.
Bạch Quả giúp chúng ta chống lại những suy thóai của cơ thể khi về già, giúp đưa lại sinh lực và niềm tin, đem lại trí nhớ, trị hen suyễn, dị ứng, tê thấp, yếu tai mắt, máu huyết điều hòa và giúp cho hệ thống thần kinh được bén nhạy.
Tài liệu tham khảo: 1/- Ginkgo Biloba, an herbal fountain of youth for your brain. Glenn S. Rothfelf, MD, MAC and Suzanne Le Vert 2/- Ginkgo, A practiacl guide, Georges Halpern, MD, PhD.
Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/12/2017