Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

TẢN MẠN VỀ LOÀI HOA CÚC

TẢN MẠN VỀ LOÀI HOA CÚC

 tản mạn về loài hoa cúc của thành phố hoa

Đồi hoa cúc đồng tiền, ngoại ô Đà Lạt

Theo truyền thuyết, các loài hoa trong họ cúc (Asteraceae) là hoa của nhà Phật ban cho những người con hiếu thảo; là dược liệu quý, tên y học Liêu chi. Hoa cúc có hương thơm nồng nàn, thanh khiết nên thường dùng để ướp trà và là một trong 4 thực vật (Mai -Trúc -Cúc -Tùng) biểu trưng cho người quân tử...

Đặc điểm chung của các loài hoa cúc là "diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa" nghĩa là lá khô vẫn không lìa cành hoa tàn không rơi xuống đất và là họ hoa "thiên tư bách thái" - có trăm dáng ngàn vẻ. Chỉ riêng về kích thước thì dã quỳ tên khoa học Chrozophora tinctoria là cây bản địa lớn nhất trong họ cúc, đường kính hoa khoảng 20cm, thường gặp bên những nẻo đường Tây Nguyên. Đây là một trong hai loài hoa báo mùa ở Đà Lạt: hoa phong huệ nở báo mùa mưa đã tới, còn hoa dã quỳ báo mùa khô đã sang. Cây cho hoa nhỏ nhất trong họ cúc là thanh hao hoa vàng - Artemisia annua - phân bố tự nhiên ở các tỉnh trung du Bắc Bộ, được đưa vào Đà Lạt 1989, đường kính hoa chỉ 0,5-1mm. Thanh hao hoa vàng có thể mix với nhiều hoa khác, song nó có "sứ mệnh" để chiết suất artemisinin làm thuốc cắt cơn sốt rét.

Hoa Atichaut, tên khoa học Cynara scolymus xuất xứ châu Âu, có hình thái lạ nhất trong họ cúc, các nhà cắm hoa theo mùa tự nhiên (như Ikebana) đôi khi cũng sử dụng Aritchaut để tạo nên những tác phẩm gây nhiều ấn tượng. Nhưng chủ yếu Artichaut là dược liệu và thực phẩm cao cấp. Cây cúc bạc, loài bản địa của nước ta, tên khoa học Thespis tonkinensis (trong đó tonkin theo Latin là Bắc Bộ) vào Đà Lạt năm 1930, là thực vật có màu sắc lạ nhất trong họ cúc: toàn thân cành lá như được phủ một lớp phấn bạc, là điểm nhấn tuyệt vời trong không gian xanh. Cúc bất tử, tên khoa học Helichrysum bracteatum nguồn gốc châu Úc, được nhập nội vào Đà Lạt đầu thế kỷ 20. Đây là loài hoa có cấu tạo đặc biệt trong họ cúc, tập trung ở đỉnh thân cành, bên trong hoàn toàn hình ống màu vàng nhạt hoặc phớt hồng, ngoài có nhiều lá bắc cứng khi khô không bị héo và vẫn giữ được màu sắc vàng - hồng - tím tươi tắn...

Một giống cúc mới nhập nội, xuất xứ Hà Lan

Hầu hết các giống cúc ngoại khi đến Đà Lạt đều được đồng bào ta đặt cho tên Việt như cúc đồng tiền nguồn gốc châu Phi, cúc thạch thảo xuất xứ Nam Âu, cúc mắt huyền và cúc hướng dương quê hương Hà Lan nổi tiếng trong tranh Van Gogh. Tuy vậy, cũng còn một số loài cúc vẫn giữ tên Pháp: hoa Calimero xanh, trắng, vàng tươi trẻ; hoa Marguerite màu trắng tinh khiết... Những năm gần đây Công ty Hoa Yêu Thương (TP. HCM) và Đà Lạt Hasfarm còn giới thiệu những giống Maguerite mới, được gọi là cúc họa mi, có nhiều màu sắc như: hồng, vàng, trắng, đỏ…cùng các giống cúc Pingpong rất bắt mắt. Có một loài cúc mà ai lên Đà Lạt cũng thích gặp, đó là cúc tần ô (cải cúc) tên khoa học Chrysanthemum coronarium, nó có hoa 2 màu trắng, vàng tươi tắn góp phần tạo nên cảnh quan phố núi nên thơ và còn là loại rau không thể thiếu để ăn chín trong món lẩu và ăn sống với bánh xèo, hai đặc sản Đà Lạt nổi tiếng. Thú vị nhất, có một loài cúc đồng quê Pháp, nhưng đã được người Đà Lạt đặt lại tên đó là Souci. Hoa Souci đến Đà Lạt từ đầu thế kỷ 20, được đồng bào ta yêu thích nhưng còn e ngại vì Souci có nghĩa là băn khăn, ưu tư. Và để khỏi băn khăn với cái tên này, người Đà Lạt đã thêm từ Sans (nghĩa là không ) trước Souci. Từ đó Sans Souci (dịch ra tên Việt : cúc vô ưu) đã được dùng rộng rãi.

Cúc thược dược do đồng bào ở Cali tuyển chọn gửi về
Hoa Marguerite trắng xuất xứ Pháp ở Vườn Bích Câu

Những năm gần đây, Đà Lạt còn nhận được nhiều giống hoa mới, do đồng bào ta ở khắp nơi trên thế giới tuyển chọn gửi về, trong đó có các loài hoa cúc: Những bông Gaillarde và thược dược (Dahlia) sang trọng, cúc vạn thọ Bắc Mỹ (Tagetes erecta) đậm đà hương sắc và cả những bông cúc sao (Aster) chuyên dành để biếu ông bà, cha mẹ… Đó là tấm lòng của những người con xa quê luôn hướng về cội nguồn đất nước.

Hoa thược dược đơn Bắc Mỹ ở Công viên hoa Đà Lạt
Cúc họa mi của Đà Lạt Hasfarm

Qua hơn một thế kỷ, hoa cúc Đà Lạt đã mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc: biểu tượng của tình yêu thương, lòng hiếu thảo, sự thủy chung, hạnh phúc và thịnh vượng. Theo phong thủy, hoa cúc Đà Lạt tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, trường thọ, niềm vui và phúc lộc. Ngày nay, Công ty Hoa Yêu Thương (TP HCM) cùng các nông trại hoa Đà Lạt đã cung ứng cho thị trường hoa nhiều loại hoa cúc cắt cành và những tác phẩm cắm hoa cúc đặc sắc, giàu ngôn ngữ hoa để nói lên những điều tốt đẹp, được nhiều người yêu thích.

Cúc vàng kết hợp với hoa hồng, cẩm chướng, phong lan... ở shop Hoa Yêu Thương
Bài và ảnh: Nguyễn Hoàng Bích

Vĩnh Bảo sưu tầm 4/10/2019

SẦU RIÊNG RUỘT ĐỎ

SẦU RIÊNG RUỘT ĐỎ

Sầu riêng ruột  đỏ hot rần rần đảm bảo sẽ khiến fan sầu riêng thích thú

Nhìn múi sầu riêng đỏ tươi ai cũng nghĩ là do photoshop tạo ra, nhưng đây lại là sản phẩm tự nhiên hoàn toàn các bạn nhé.


Sầu riêng đang vào vụ nên team sầu riêng hầu như ai cũng chú ý ngay đến các thông tin, bài viết liên quan đến loại trái cây hấp dẫn lòng người này. Thế nhưng, ngoài những hình ảnh quả sầu riêng múi vàng đầy ụ căng tròn, hay những món ăn được làm từ sầu riêng vàng thơm lừng thì mấy ngày nay, dân mạng được dịp chiêm ngưỡng hình ảnh quả sầu riêng đỏ au lạ mắt và gây tò mò vô cùng.


Chính bởi màu sắc khác thường này nên không ít bạn cho rằng, những quả sầu riêng đỏ ruột này chỉ là sản phẩm sáng tạo của photoshop chứ trên thực tế không hề tồn tại. Tuy nhiên, nếu bạn đang có nghi ngờ như thế thì hoàn toàn sai lầm nhé, bởi đây đúng là những quả sầu riêng chín thật trên cây, được người dân hái xuống và bán đầy ở chợ Malaysia.


Loại sầu riêng ruột đỏ ở Malaysia có tên gọi là Durian Sukang, hay còn được gọi là Tenom Beauty. Đây là loại trái cây đặc sản của bang Sabah ở Malaysia. Đặc biệt, khi đến Sabah, nếu muốn tìm mua sầu riêng đỏ cũng không khó khăn gì, bởi bạn cứ việc thẳng tiến đến khu chợ trung tâm của Kota Kinabalu là có thể nhìn thấy sầu riêng đỏ được bày bán la liệt ở các quầy hàng.


Điểm đặc biệt dễ nhận dạng quả sầu riêng ruột đỏ là vỏ quả có màu vàng đặc trưng chứ không xanh như loại sầu riêng múi vàng. Ngoài ra, loại sầu riêng đỏ này thường nứt vỏ rất sớm nên trên các quầy bán thì hầu hết các quả đều bị nứt khe vỏ và dễ nhìn thấy màu đỏ của múi sầu riêng bên trong. Mặc dù nứt vỏ sớm nhưng ưu điểm của loại sầu riêng này là rất lâu hỏng nên phần múi sẽ không bị mềm nhũn, chảy nước hay có mùi khó chịu dù cho được bày ra bên ngoài khá lâu.


Đúng là do chúng ta đã quá quen mắt với màu vàng đặc trưng của múi sầu riêng nên khi nhìn thấy màu đỏ tươi như máu của loại sầu riêng mới này thì không ít người có vẻ ngại ăn. Hơi khác với loại sầu riêng vàng, phần thịt sầu riêng đỏ có vẻ dai hơn, cứng hơn một chút, còn lại các cấu tạo khác từ vỏ đến hạt đều giống nhau hoàn toàn.


Còn về hương vị của sầu riêng đỏ, theo nhận xét của nhiều du khách đã được dịp nếm thử thì sầu riêng ruột đỏ có mùi vị giống như socola đen đậm đặc pha trộn thêm vị kem béo ngậy ngất ngây. Tuy nhiên, cũng có người cảm nhận được rằng, sầu riêng ruột đỏ có vị như rượu vang lên men. Do đó, có không ít lời cảnh báo rằng, nếu bạn ăn nhiều quá có thể bị say sầu riêng lúc nào không hay.


Và giá loại sầu riêng đỏ này có lẽ cũng tương đương ngang với sầu riêng vàng. Trung bình khoảng 15 – 35 RM (khoảng 86k - 200k) cho 1kg sầu riêng tùy kích thước cũng như chất lượng. Với mức giá này thì khi đến bang Sabah ở Malaysia, chắc chắn fan ruột sầu riêng sẽ có thể thưởng thức thỏa thuê loại sầu riêng đẹp và lạ mắt này rồi đó nhé.

Nguồn: Yearofthedurian, Sabaheats

Vĩnh Bảo sưu tầm 4/10/2019

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

MỘT LÝ GIẢI VỀ HÀM NGHĨA CHỮ "VIỆT" CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ.

MỘT LÝ GIẢI VỀ HÀM NGHĨA CHỮ "VIỆT" CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ

Mỗi một dân tộc trên thế giới đều tự hào về tên gọi của dân tộc mình. Nhật Bản nghĩa là gốc của mặt trời, và người Nhật tự hào mình là “đất nước mặt trời mọc”; người Trung Quốc cổ xưa vẫn tự hào rằng đất nước mình là “trung tâm của thế giới”. Vậy chữ “Việt” của dân tộc Việt mang hàm nghĩa gì? Dưới đây là một lý giải có thể tham khảo.


Con Rồng cháu Tiên

Chúng ta thường hiểu quốc hiệu “Việt Nam” sơ sài là người Việt ở phương Nam. Những nhà nghiên cứu tìm hiểu ý nghĩa từ “Việt” qua chữ Hán (越) cũng có lý giải của riêng họ. Chữ này được tạo thành từ chữ “tẩu” (走) (tức là chạy) ở bên trái và chữ “qua” (戊) (tức là giáo mác, búa, chiến tranh) ở bên phải. Từ đó có người cho rằng chữ Việt có nghĩa là những người phải chạy về phía Nam để tránh những cuộc chiến tranh tại Hoa Hạ.

Chữ “Việt” viết theo chữ Hán.

Thế nhưng theo truyền thuyết thời xưa thì người Việt vẫn tự hào là con rồng cháu tiên, vì thế hàm nghĩa của chữ “Việt” chắc chắn không thể đơn giản như thế được. Để hiểu được chữ “Việt” mang ý nghĩa gì thì phải tìm đến chữ “Việt” cổ, chứ không thể qua chữ Hán được.

Chữ của người Việt cổ có lịch sử xa xưa hơn loại chữ viết được gọi là chữ Hán. Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất chữ viết thì thời bấy giờ là dùng chữ Tiểu Triện. Dựa trên cơ sở đó, sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang lập ra nhà Hán vào năm 202 TCN, chữ viết phát triển mạnh từ chữ Lệ thư, rồi Khải thư… Dù là khởi điểm thống nhất chữ viết Trung Hoa, nhưng nhà Tần chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, thế chỗ bởi nhà Hán thịnh trị, nên sau này người Trung Quốc gọi chữ viết của mình là chữ Hán.

Trước chữ Hán, các dân tộc ở vùng đất mà ngày nay là Trung Quốc đều có chữ viết của mình, ví như người Bách Việt (trong đó có bao hàm Lạc Việt và Âu Việt, chính là tổ tiên của người Việt ngày nay) cũng có chữ viết riêng của mình. Chữ của người Việt cổ đến nay vẫn còn được lưu lại trên một số di tích khai quật được, và đặc biệt nhất là từ thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn.

Chữ “Việt” cổ tìm được qua khai quật

Các cuộc khai quật tại tỉnh Hà Nam (thuộc Trung Quốc ngày nay) đã phát hiện nhiều di tích đồ đồng từ thời nhà Thương (1600 đến 1046 TCN). Hà Nam chính là đất Ân thời nhà Thương. Trong sử Việt có câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, chính là chỉ nhà Thương vào thời bấy giờ.

Trong đó chữ “Việt” được tìm thấy như sau:


Chữ “Việt” cổ này được lưu lại tại website chineseetymology.org. Đây là website của ông Richard Sears, một nhà nghiên cứu chữ viết, người đã bỏ ra 27 năm trời để nghiên cứu cổ ngữ có trước chữ Hán. Ông sưu tầm tỉ mỉ từng chữ và đánh dấu lại bằng mã số.

Chữ “Việt” cổ tìm được trên bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn
Năm 1965, khi khai quật khu mộ cổ ở tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học đã tìm được thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn. Thanh bảo kiếm này hoàn toàn không bị hoen gỉ, còn như mới suốt 2.500 năm qua. Không chỉ thanh kiếm còn nguyên vẹn, mà thậm chí từng hoa văn chữ viết trên đó vẫn còn rất rõ ràng.

Bảo kiếm của Câu Tiễn không rỉ sét, còn nguyên vẹn hoa văn và chữ viết. Lưỡi gươm hai mặt vẫn còn sắc bén. (Ảnh qua Pinterest)

Chữ viết được khắc trên thanh bảo kiếm nói trên không phải là chữ Hán, các nhà khảo cổ học xác định đây là loại chữ có trước chữ Hán. Thanh kiếm được khắc 8 chữ là: “Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Kiếm”, có nghĩa là thanh bảo kiếm này là của Việt Vương Câu Tiễn tự chế tác cho bản thân mình dùng. Đặc biệt chữ “Việt” trên thanh bảo kiếm này 
không có trong chữ Hán

.
Các chữ được khắc trên thanh bảo kiếm. (Ảnh qua Wikipedia)

Nước Việt thời Câu Tiễn (trị vì từ năm 496 đến 465 TCN) là của thị tộc người Ư Việt – một trong những thị tộc thuộc nhóm Bách Việt, và cũng là một chư hầu nhà Chu thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Chữ “Việt”trên kiếm của Việt Vương Câu Tiễn và chữ “Việt” khai quật được tại tỉnh Hà Nam là trùng khớp với nhau.


Như vậy đây rất có thể là chữ “Việt” cổ mà chúng ta đang tìm kiếm.

Chiết tự chữ “Việt” cổ


Cần chiết tự để hiểu được ý nghĩa bên trong chữ “Việt” cổ này. Nó được hợp thành từ 3 chữ như sau:


Ba chữ trên gồm chữ số 1 là “mặt trời”, số 2 là “rồng”, số 3 là một ký hiệu giống như “người chim” ghép thành.

1. Chữ nhật (mặt trời)

Chữ số 1 này giống như chữ nhật (mặt trời) từ niên đại giáp cốt văn và đồ đồng.

Từ trái qua phải: Phần chiết tự trên thanh bảo kiếm; Chữ nhật (mặt trời) niên đại giáp cốt văn; Chữ nhật (mặt trời) niên đại đồ đồng.

2. Chữ long (rồng)
Chữ số 2 rất giống với chữ long (rồng) từ niên đại giáp cốt văn.


3. Ký tự “người chim”

Ký tự “người chim”, ký tự B01747 và hình ảnh người chim trên trống đồng Ngọc Lũ.

Chữ thứ 3 này giống với chữ có ký tự B01747. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đại Việt cho rằng nó giống với hình tượng người mặc trang phục như người chim, tay cầm binh khí đang nhảy múa trong lễ hội trên trống đồng Ngọc Lũ.

Chữ “Việt” của dân tộc Việt có hàm nghĩa gì?

Phần chiết tự ở trên cho thấy chữ “Việt” cổ do mặt trời, rồng và hình tượng người chim tạo thành.

Mặt trời được gắn liền với văn hóa của dân tộc Việt qua hình tượng trống đồng được lưu lại đến ngày nay. Một số nhà nghiên cứu kết luận rằng, phần trung tâm mặt trống là hình tượng của mặt trời đang phát ra tia sáng, liên quan đến việc phân chia “tiết khí” trong năm.

Trống đồng Đông Sơn.

Hình tượng người trong trang phục gắn lông chim cầm vũ khí rất phổ biến trên trống đồng. Có thể suy đoán rằng, người Việt cổ thường hóa trang thành người chim trong lễ hội. Đây rất có thể là biểu tượng hướng tới truyền thuyết về việc tổ tiên con người là các tiên nhân có thể bay trên bầu trời. Kết hợp với chữ rồng, thì nó hẳn là có hàm nghĩa “con rồng cháu tiên”. Dân tộc Việt từ cổ xưa vẫn luôn quan niệm rằng mình là “con rồng cháu tiên”, đó là nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Việt.

Nếu mặt trời đại diện cho nền văn minh, rồng và người chim đại diện cho “con rồng cháu tiên”, thì có lẽ chữ “Việt” cổ chính là để chỉ nền văn minh của con rồng cháu tiên, nền văn minh của sự kết hợp hai dòng máu, hoặc giả hai tộc người, chính là nền văn minh được tạo nên bởi người Việt cổ.

Nền văn minh của con rồng cháu tiên.

Với lý giải ý nghĩa của chữ Việt này, người Việt có thể tự hào về truyền thống văn hóa đặc sắc và độc đáo của dân tộc mình, cũng tự hào rằng chúng ta chính là con cháu của Chư Thần, giống như truyền thuyết của bao dân tộc khác trên thế giới.
Trần Hưng

Vĩnh Bảo sưu tầm 3/10/2019

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?

Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Chim Điên 30:18 | 24/06/2018
Nhiệt độ trong buồng hỏa táng khoảng từ 760℃ - 1000℃, toàn bộ quá trình hỏa táng mất khoảng 3 - 4 giờ đồng hồ, phải sử dụng quan tài đặc biệt...
Kinh dị trào lưu chụp ảnh cùng người chết dưới thời Victoria (P1)
Người đàn ông cao nhất lịch sử nhân loại: Cuộc đời đã kì lạ, cái chết còn lạ kì hơn
Hỏa táng hay còn được gọi là hỏa thiêu là hình thức an táng người chết bằng cách đốt cháy, làm bay hơi, oxy hóa thi thể và thu lại tro của người chết, sau đó tro được đựng trong hũ, bình cốt hay còn gọi là tiểu.

Vậy khi một thi thể được đưa vào hỏa táng, mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào?

1. Nhiệt độ

Hòm hỏa táng được đặt vào trong buồng hỏa táng, trước khi đưa vào, buồng thiêu đã được làm nóng đến một nhiệt độ nhất định, cánh cửa buồng khép kín hoàn toàn giúp cho nhiệt độ không lan ra bên ngoài. Nhiệt độ bên trong buồng thiêu từ 760℃ - 1000℃.
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
2. Có loại hòm riêng biệt dành cho hỏa táng
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Hình ảnh chi tiết bên trong phòng hỏa táng.
Thi thể người chết sẽ được đặt vào loại quan tài riêng biệt dùng để hỏa thiêu. Loại hòm này bao gồm những vật liệu dễ bắt lửa, dễ cháy, nhiều loại hòm không chứa bất kỳ vật dụng kim loại nào để quy trình thiêu diễn ra dễ dàng. Ở một số nước như Mỹ, các dịch vụ đều bắt buộc phải sử dụng quan tài được thiết kế riêng (dạng container) dành cho hỏa táng dưới dạng thuê. Chiếc hòm hỏa táng này giúp ngăn ngừa chất lỏng từ thi thể người chết rỉ ra ngoài, nó cũng giúp ích trong quá trình nhận dạng thi thể sau khi đốt. Quan tài chuyên biệt này được đẩy vào trong buồng đốt rồi sau đó đốt bằng khí tự nhiên, dầu, hoặc bằng prôpan.

3. Thi thể trong quá trình thiêu đốt
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Đố bạn biết phần nào trên xác chết sẽ cháy trước? Đầu tiên, nhiệt độ sẽ làm khô tất cả chất ẩm bên trong thi thể. Kế đến, da và tóc bắt đầu cháy. Cơ bắp bị đốt thành tro, các mô mềm sẽ bốc hơi, xương được vôi hóa và trở nên rất giòn.

Tro cốt chiếm khoảng 3,5% khối lượng thi thể trước khi hỏa táng (trẻ em là 2,5%). Tro cốt sau hỏa táng chủ yếu là phốt phát, canxi khô và một số ít chất khoáng như muối natri và kali.

4. Khói sau khi đốt sẽ bay đi đâu?
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Bạn có bao giờ nghĩ đến mùi của thi thể bị đốt cháy sẽ khủng khiếp như thế nào không? Và có bao giờ thắc mắc tại sao ở nhà tang lễ bạn không ngửi thấy bất kỳ mùi gì bất thường không?

Tại các cơ sở hỏa thiêu luôn trang bị một hệ thống xả khí đặc biệt để xử lý. Người ta sẽ thường thiêu từng thi thể một để giúp cho hệ thống xả khí luôn hoạt động tốt nhất, tránh tình trạng để lại bất kỳ mùi hôi thối nào.

5. Phần xương còn lại
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Sau khi quá trình thiêu đốt kết thúc, các mảnh xương còn lại được gọi là tàn dư hỏa táng. Phần tàn dư này sau đó được thu gom từ buồng hỏa táng rồi được đặt vào lò đốt phụ, tiếp tục đốt để tàn dư tan rã hoàn toàn. Nếu như không có lò đốt phụ, tàn dư hỏa táng được đặt vào một bộ vi xử lý để nghiền nát, chúng thường được gọi là tro và được đặt vào trong bình đựng tro cốt.

6. Không chỉ có xương còn sót lại
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Tuy nhiên, những tàn dư hỏa táng này không chỉ có mỗi xương. Khi tro nguội, chúng được sàng lọc để loại bỏ một số vật dư thừa. Ví dụ như các miếng đệm hoặc vụn gỗ từ quan tài bị đốt cháy, kể cả đinh vít, ốc, bản lề.

7. Răng
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Trong hỗn hợp tro có thể chứa các thiết bị cấy ghép nha khoa chẳng hạn như răng mạ vàng, ốc vít trong chân răng, răng giả... Để loại bỏ những thành phần này, người ta dùng một thiết bị nam châm cực mạnh để hút hết chúng ra ngoài.

8. Kim loại bên trong cơ thể
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Còn đối với các thiết bị như máy trợ tim hay kích thích tủy sống, các loại kim loại được cấy vào trong cơ thể thì như thế nào?

Tất cả các thiết bị này phải được loại bỏ trước khi đưa vào phòng hỏa táng. Vì nếu không, chúng có thể sẽ phát nổ và làm hỏng lò hỏa táng cũng như gây tổn thương cho nhân viên hỏa táng.

Cũng giống như các thiết bị y tế, trang sức bằng vàng bạc trên thi thể cũng được tháo ra trước khi đưa vào buồng hỏa táng.

9. Cremulator
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Những tàn dư hỏa táng được đưa vào một cỗ máy gọi là cremulator. Thiết bị này có thể xay nhuyễn tốc độ cao như một chiếc máy sinh tố, nó nghiền nát bất kỳ mảnh xương khô nào còn dư lại, biến chúng thành dạng hạt cát mịn.

10. Thời gian
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Toàn bộ quá trình hỏa táng mất từ 1 đến 3 giờ. Quá trình thiêu đốt thường diễn ra trong vòng 90 phút tới 120 phút sau đó là quá trình sàng lọc để tạo ra tro cốt. Phần tro cuối cùng thu lại có màu trắng nhạt.

11. Hũ tro cốt
Kiến thức chết chóc: Chuyện gì xảy ra với thi thể trong lò hỏa táng?
Cuối cùng, phần tro cốt sẽ được cho vào hũ. Người nhà có thể tự chuẩn bị trước hũ tro để đem đến lò thiêu, nếu không có, nhân viên tại nhà hỏa táng sẽ đựng cốt vào trong một chiếc hộp để trả lại cho gia đình người chết.

Kích thước bình đựng tro cũng rất quan trọng trong việc cất giữ toàn bộ phần cốt của người thân. Hũ tro cũng phải đáp ứng các yêu cầu như không vỡ khi bị rơi, được niêm phong một cách cẩn thận.

Nguồn bài: Tổng hợp
Xem bài:
https://lostbird.vn/giai-tri-cung-lac/kinh-di/kien-thuc-chet-choc-chuyen-gi-xay-ra-voi-thi-the-trong-lo-hoa-tang-247474.html?utm_source=copy&utm_medium=web&utm_campaign=respect_content
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/10/2019

NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1906, là con gái thứ trong một gia đình người Việt giàu có mang quốc tịch Pháp ở Nam Kỳ.


Mẹ bà Henriette là Vương Thị Y, thuộc một gia đình giàu có người gốc Hoa. Cha của bà là Nghị viên Bùi Quang Chiêu, một chính khách có tiếng ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc, sau này bị thủ tiêu bởi Việt Minh.

Tuy nguyên quán ở trong Nam, bà Henriette Bùi lại được sinh ra ở Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn. Thưở nhỏ, bà học Trường St. Paul de Chartres, tức Trường Nhà Trắng tại Sài Gòn. Năm 1915, bà thi vượt cấp và đậu bằng Certificat d’Études sớm 2 năm. Sau đó, bà vào học trường Collège des Jeunes Filles, trước năm 1975 là Trung học Gia Long Sài-gòn, nay là Trung học Nguyễn Thị Minh Khai.

Bà sang Pháp du học năm 15 tuổi. Một năm sau đó, mẹ bà qua đời vì bệnh lao phổi. Có lẽ việc này đã tăng thêm nguyện vọng của bà theo ngành y. Một trong 5 anh chị của bà, ông Louis cũng đã trở thành bác sĩ chuyên về bệnh ho lao nổi tiếng tại Sài Gòn. Bà học rất giỏi, ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp và Trung Hoa, bà còn thông thạo nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Tây Ba Nha, Ý và cả những cổ ngữ như La Tinh và Hy Lạp. Việc học của bà bị gián đoạn một năm vì bệnh đau mắt (trachoma), tuy nhiên đến năm 1926, bà cũng tốt nghiệp bậc trung học tại Lycée Fenelon ở Paris.

Bà Henriette Bùi, thời sinh viên y khoa tại Bordeaux.

Bà đậu vào Trường đại học Y khoa năm 1926. Năm 1927, bà theo học Đại học Y khoa Paris (Faculté de Médecine de Paris) thuộc Đại học Paris. Là phụ nữ người Việt, sự hiện diện của bà trong trường chuyên môn ở Pháp là một bước đột phá trong hệ thống giáo dục chính quốc tại Pháp thời bấy giờ. Cũng trong thời gian học tại Đại học Paris, bà được giới thiệu rồi trở thành thân thiết với nhà bác học Marie Curie và nhà sử học Charles Seignobos, và nhiều người Việt đang học tại đây, đặc biệt là một sinh viên trẻ đang theo học ngành cầu đường là Nguyễn Ngọc Bích, con trai Đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Tương.

Bà cũng quen biết nhiều người Việt nổi tiếng và có quyền lực khác, điển hình là vua Bảo Đại đang theo học tại Pháp; ông Nguyễn Văn Xuân, sinh viên trường École Polytechnique, sau này là Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên vào năm 1948; Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn, sinh viên Polytechnique, sau này là Bộ Trưởng Giáo Dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim; ông Ngô Đình Nhu, sinh viên École de Chartres, sau này là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm; bà Hoàng Thị Nga, em gái của Giáo sư Hoàng Cơ Nghị, vị nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của Việt Nam; bà Nguyễn Thị Bính, vợ của Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn, vị nữ dược sĩ đầu tiên của Việt Nam v.v.

Năm 1932, bà tốt nghiệp đại học. Sau hai năm thực tập, bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên lấy bằng bác sĩ y khoa ở Pháp. Khi tốt nghiệp, bà dự định viết một luận án về đề tài “thụ tinh nhân tạo cho những người bị hiếm muộn,” tuy nhiên vào thời đó thì đề tài này quá mới mẻ và gây nhiều tranh cãi cho một người phụ nữ trẻ tuổi, do đó bà đã nghe lời khuyên của các vị giáo sư mà đổi sang một đề tài “truyền thống” (traditional) hơn: “The Phlebitis of Gestation.” Bài luận án của bà đã được hội đồng giám khảo khen ngợi và tưởng thưởng huy chương trong kỳ thi tốt nghiệp vào năm 1934. Khi trở về Việt Nam năm 1935 bà nhậm chức trưởng khoa hộ sinh ở Chợ Lớn.

Henriette Bùi Quang Chiêu sinh ngày 8.9.1906, là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam.

Khoảng một năm sau ngày trở về Việt Nam, thân phụ của bà muốn bà kết hôn với Luật sư Vương Quang Nhường, vị tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của người Việt Nam, là luật sư nổi tiếng của Tòa Án Sài Gòn, cũng là một đảng viên Đảng Lập hiến Đông Dương (Đảng lập nên bởi cha bà Henriette như đã nói).

Chồng bà vốn xuất thân trong một gia đình trí thức, giàu có, là cháu ruột của Thái hậu Từ Dũ. Đây là một cuộc hôn nhân có thể nói là “môn đăng hộ đối” nhất thời đó. Tuy nhiên bà Henriette Bùi lại không hài lòng mà còn chống đối vì bà không thích và không muốn chấp nhận một cuộc hôn nhân được xếp đặt, dù rằng người đứng ra xếp đặt lại chính là thân phụ của bà. Tuy nhiên khi thân phụ của bà nói rằng, “Mày là một bác sĩ ăn học ở bên Tây nhưng cũng là con gái của tao, một người Việt Nam, mà theo phong tục Việt Nam thì người con gái khi lập gia đình phải do ‘cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đó’. Cha của mày muốn mày phải lấy Luật sư Vương Quang Nhường.” Không dám cãi lại lệnh của thân phụ, bà trả lời, “Bẩm Ba, con xin tuân lệnh” và kết hôn với Luật sư Vương Quang Nhường vào năm 1935.

Chồng bà chỉ muốn bà ở nhà, lo chuyện nội trợ. Ông tuyên bố: “Tôi là trạng sư, lương đủ cho bà ở nhà, đi chơi”. Bà nói: “Tôi thích làm, không thích chơi”. Bất chấp sự phản đối của ông, bà vẫn đến nhà bảo sanh Từ Dũ hành nghề bác sĩ, chuyên khoa sản và nhi. Và không đầy 2 năm sau, vợ chồng bà ly hôn vì khác biệt trong cách sống. Bấy giờ, việc một người đàn bà ra tòa xin ly dị chồng được người Việt Nam xem như là một chuyện không thể nào tin được, nhất là một người trong gia đình danh giá như gia đình ông Bùi Quang Chiêu.

Luật sư Vương Quang Nhường về sau lấy một công chúa, con gái của Cựu Hoàng Thành Thái. Vào đầu thập niên 1950, ông đã tích cực vận động và tranh đấu với người Pháp đòi hỏi họ phải trả tự do cho Cựu Hoàng Thành Thái đang bị đày ở đảo Réunion từ năm 1916. Người Pháp sau đó đã cho phép cựu hoàng Thành Thái được trở về Việt Nam sau 35 năm bị lưu đày, tuy nhiên họ vẫn cấm không cho nhà vua sống tại cố đô Huế mà chỉ được sống tại Vũng Tàu cho đền khi từ trần vào khoảng năm 1953.

Về sau, khi nói về cuộc hôn nhân này, BS Henriette Bùi cho biết, “Hồi đó, ngay cả ở Pháp, phụ nữ học ngành y cũng rất ít. Ra trường, cũng không ít nữ bác sĩ bỏ nghề vì phải lấy chồng, sinh con. Tôi cũng không thoát khỏi định kiến xem thường phụ nữ thời ấy. Vừa tốt nghiệp bác sĩ, tôi đã bị cha triệu về Việt Nam để gả chồng…” Với bà, đó là mối hôn nhân không hạnh phúc, cho dù gia đình hai bên rất “môn đăng hộ đối.

BS Henriette Bùi Quang Chiêu về già


“Người chồng mà cha tôi chọn cho tôi là một người đàn ông rất tốt, rất có tài, rất dễ thương và bao giờ cũng dành cho tôi một sự săn sóc tận tình. Tôi không có điều gì chống lại ông ta cả. Ông ta là một luật sư, tôi là một bác sĩ… Nhưng mà ông ta luôn luôn than phiền rằng ông ta ít khi thấy tôi ở nhà, ông ta không thể nào chịu đựng được việc tôi phải làm việc tối ngày ở bệnh viện, nhất là những khi phải vào bệnh viện để chữa trị những trường hợp cấp cứu vào ban đêm… Còn phần tôi thì tôi đã quyết tâm phục vụ cho y học, phục vụ cho đồng bào của tôi, tôi không thể bỏ mấy chục năm theo đuổi việc học để ngồi nhà hầu hạ cho chồng. Chúng tôi ly dị, đó là chuyện rất đơn giản và sau đó thì chúng tôi vẫn coi nhau như bạn bè. Nhưng nói cho ngay thì hồi đó (năm 1937) quả thật vụ ly dị của tôi đã gây ra một chuyện xì-căng-đan rất lớn tại Sài Gòn.”

Sau cái chết bi thảm của người cha yêu quý và các anh em của bà năm 1945, bác sỹ Henriette Bùi nén đau thương và vẫn tiếp tục phục vụ xã hội. Với những thương binh, bệnh binh trong thời chiến, bà đều chăm sóc chu đáo, không hề phân biệt bạn hay thù. Ở bệnh viện tại Chợ Lớn nơi bà làm việc, bà chứng kiến quá nhiều sự bất công và bị các y sĩ người Pháp gây khó dễ. Cùng là bác sĩ, nhưng vì là người Việt dù mang quốc tịch Pháp, bà chỉ được trả lương 100 đồng mỗi tháng, trong khi bác sĩ Pháp được trả 1.000 đồng. Ban giám đốc bệnh viện bắt bà mặc áo đầm đi làm. Bà từ chối, kiên quyết mặc áo dài để khẳng định mình là người Việt Nam.

Cách cư xử của bà biểu hiện quan niệm bình đẳng, bình quyền giữa nam và nữ, cũng như bình quyền chủng tộc giữa người Việt và người Pháp. Bà đã tranh đấu với Thống Đốc Pagès là giới chức cao cấp nhất tại Nam Kỳ lúc bấy giờ để chỉ trích sự kỳ thị giữa người Pháp với các bác sĩ, y tá, và bệnh nhân Việt. Sau khi nghe lời phản đối hợp lý của bà, Pagès đã ra lệnh cho giới bác sĩ người Pháp phải xóa bỏ mọi sự phân biệt đối với bệnh nhân cũng như là phải thay đổi cách đối xử với người Việt Nam.

Mặt khác, lúc bấy giờ, có một số bác sĩ trong giới y khoa người Pháp ở Đông Dương thường hay chê bai, chỉ trích nền y học cổ truyền của người Việt Nam trước khi người Pháp đến đô hộ vùng đất này. Những lời chỉ trích này không những chỉ xuất hiện trên báo chí mà ngay cả trong các phúc trình y khoa cũng như là một số luận án tốt nghiệp của các sinh viên y khoa người Pháp. Bác sĩ Henriette Bùi đã viết nhiều bài báo cũng như đọc nhiều bài diễn văn ca ngợi sự tiến bộ của nền y học Tây phương do người Pháp mang đến cho các nước Đông Dương, nhưng đồng thời bà cũng đề cao vai trò của nền y khoa truyền thống trong xã hội Việt Nam từ ngàn năm trước khi người Pháp đặt chân đến nước ta. Cuối năm 1950 bà sang Nhật Bản học nghề châm cứu, với nhiều áp dụng có hiệu quả cho ngành sản khoa.

Ảnh gia đình chụp năm 1921 tại Phú Nhuận. Từ trái: Madeleine, Henriette, ông Bùi Quang Chiêu, Louis, Camille, Helene.


Ngoài chuyện ly dị chồng, vào thời đó bà Henriette Bùi còn làm nhiều điều mà người Việt Nam coi như là chuyện “động trời” vì chưa có người đàn bà Việt Nam nào dám làm như vậy: bà dám đi giày cao gót y như các phụ nữ người Pháp – người Việt Nam gọi là các “bà đầm” – bà dám mặc áo tắm như đầm khi đi tắm piscine, dám chơi thể thao và dám lái xe hơi… Bà chỉ bỏ dở việc học lái máy bay. Bà cho biết bà đã đi học lái máy bay vì nghĩ rằng trong thời chiến tranh mà một vị bác sĩ như bà biết lái phi cơ thì có thể đi đến được những nơi xa xôi hẻo lánh để chữa trị cho bệnh nhân, tuy nhiên vì dư luận lúc đó chỉ trích việc một người đàn bà mà dám đi học lái máy bay nên sau một thời gian thì bà đành phải bỏ học.

Năm 1961, bà lập gia đình lần thứ 2 với ông Nguyễn Ngọc Bích, kỹ sư và là bạn cũ của bà khi gặp lại ở Pháp và ông bà sống với nhau cho đến khi ông qua đời vì bệnh ung thư vào năm 1965.

Bác sĩ Henriette Bùi sau đó tình nguyện trở về Việt Nam tham gia vào một chương trình y tế do Hội Church World Service, một cơ quan bất vụ lợi do nhiều giáo hội Tin Lành có trụ sở tại New York tài trợ, cũng tương tự như Hội Médecins San Frontières (Bác Sĩ Không Biên Giới, Doctors without Borders) sau này. Trong suốt 5 năm trời, dù đã lớn tuổi nhưng bà vẫn hoạt động với tư cách là trưởng nhóm và tích cực xông pha vào tận những nơi người dân cần sự săn sóc về y tế dù rằng tình hình chiến sự ở trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Bà phục vụ cho tất cả mọi người, bất kể là họ sống trong vùng do chính phủ VNCH kiểm soát hay là trong những vùng do MTDTGPMNVN kiểm soát. Bà cũng cứu chữa cho tất cả những người bị thương không kể họ thuộc phe nào, vì theo bà nguyên tắc của Hội Hồng Thập Tự là chữa trị đồng đều cho tất cả mọi người bị thương tích bất kể họ là bạn hay là thù nghịch. Vào năm 1970, bà tình nguyện vào phục vụ không lương về ngành hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ ở vùng ngoại ô thành phố Sài Gòn.

Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ.(Ảnh: Internet)

Năm 1971 bà trở về Pháp, vẫn phục vụ trong ngành y khoa, cho đến năm 1976, khi 71 tuổi bà mới nghỉ hưu. Bà hiến tặng biệt thự tư gia của bà ở số 28 đường Testard làm cơ sở cho Trường Đại học Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Ngày nay nơi này là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh TPHCM.

Năm 2011, đã 105 tuổi, bà vẫn còn khoẻ và minh mẫn. Bà mất ngày 27 tháng 4 năm 2012 tại Paris và được an táng tại Tòa Thánh Cao Đài tỉnh Bến Tre, thọ 105 tuổi bên cạnh mộ phần của chồng. Ông bà không có con song có một con nuôi rất hiếu đễ trông nom bà tới khi mất.

(Tư liệu và bài soạn lại theo nguồn của VH và NT VN)
NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU

Vĩnh Bảo sưu tầm 1/10/2019