Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2020

CUỐI NĂM ĂN THỊT VỊT

CUỐI NĂM ĂN THỊT VỊT

Tổng kết cuối năm bằng thịt vịt: Vừa xả xui, vừa tốt cho dạ dày

Nhiều người quan niệm ăn thịt vịt đầu tháng hay đầu năm sẽ đem đến điều không may mắn nhưng không phải ai cũng biết đây là món ăn tốt sức khỏe.

Thịt vịt là món ăn ngon và tốt cho sức khỏe.

Trong khi giá thịt lợn đang leo thang, thậm chí còn cao hơn cả giá bò thì mọi người đi tìm những loại thực phẩm khác thay thế. Và một trong số đó có thịt vịt, không chỉ giá cả hợp lý mà còn ngon bổ bất ngờ.

Chứa nhiều khoáng chất, tốt cho dạ dày và hệ thần kinh

Theo bác sĩ Hoàng Xuân Đại, nguyên cán bộ công tác tại Bộ Y tế, trong 100 g thịt vịt thì có đến 25 g protein, 201 calo và các dinh dưỡng như canxi, lipit, protit, phospho, kẽm, magie, đồng, vitamin B, A, E, K,... Không chỉ có vậy thịt vịt còn là thực phẩm tốt cho dạ dày tiết dịch mới và bổ dưỡng với hệ thần kinh.

Thịt vịt chứa nhiều vitamin và khoáng chất.

Trong sách Nhật dụng bản thảo của Trung Quốc chia sẻ: “Vịt bổ phần âm của ngũ tạng, máu, dạ dày, giải nhiệt, làm hết giật mình, kinh sợ, giúp nuôi dưỡng dạ dày, sinh tân dịch, trấn định tâm thần.”

Như vậy không chỉ ngon mà thịt vịt còn rất bổ dưỡng, giải nhiệt cơ thể, tốt cho dạ dày và cả hệ thần kinh.

Thế nhưng theo quan niệm, nhiều người đầu tháng vẫn tránh thịt vịt như tránh tà vì sợ vận đen đeo bám. Vậy mà đến cuối tháng món ăn này lại đắt khách với lý do: thịt vịt giải vận đen, đánh bay xui xẻo.

Những người cần kiêng thịt vịt

Tuy nhiên đối với những người mới phẫu thuật, bác sĩ Hoàng Xuân Đại cho biết không nên ăn thịt vịt. Bởi chúng có vị tanh, tính hàn nên sau khi phẫu thuật ăn thịt vịt có thể khiến vết mổ sưng tấy, khó lành thậm chí mưng mủ.

Đối với người bị bệnh gout cũng nên tạm biệt với món thịt này bởi trong thịt vịt có hàm lượng purin cao, làm tăng axit uric trong cơ thể.

Nhưng không phải ai cũng ăn được thịt vịt.

Những điều cấm kỵ khi ăn thịt vịt

Lương y Bùi Đắc Sáng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho hay bạn không nên ăn thịt vịt cùng thịt ba ba.

Khi ăn kết hợp 2 loại thực phẩm này khiến hàm lượng dinh dưỡng của chúng giảm đi. Thịt ba ba có vị ngọt còn thịt vịt có tính mát. Khi ăn chung có thể gây tiêu chảy.

Một loại thực phẩm khác là mận khi ăn chung cùng thịt vịt có thể gây ra nóng ruột. Bên cạnh đó nhiều người cho rằng không được ăn thịt vịt với đậu đỏ.

Tuy nhiên đây là quan niệm sai vì theo lương y Đinh Công Bảy, Hội Dược liệu TP.HCM thì thịt vịt nấu đậu đỏ là bài thuốc xưa, có tác dụng chữa thiếu máu.

Công thức gồm 1kg thịt vịt, 50g đậu đỏ, 100g lạc, 30g vỏ bí đao, như vậy bạn đã có nồi canh bổ dưỡng thơm ngon.

Khi chế biến thịt vịt cần lựa chọn các gia vị cẩn thận để tránh làm mất đi giá trị dinh dưỡng của thịt.
Thịt vịt không hề khiến bạn trở nên may mắn hay đen đủi hơn nhưng chắc chắn chúng là thực phẩm bổ dưỡng, nếu bạn biết cách sử dụng và chế biến đúng.
(Sưu tầm trên mạng

Vĩnh Bảo sưu tầm 20/1/2020

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2020

THỊT DÊ - MỘT MÓN ĐẶC SẢN CỦA TRIỀU NGUYỄN

THỊT DÊ - MỘT MÓN ĐẶC SẢN CỦA TRIỀU NGUYỄN

Dê phổ biến trong đời sống đến như vậy nhưng không ai ngờ mãi cho đến thời vua Minh Mạng (1820-1841), nhà nước Việt Nam mới có chủ trương nuôi dê...


Dê chữ Hán gọi là dương. Dê có hai loại: dê nhà và dê rừng. Dê rừng theo sách vở có sơn dương và cao dương.

Dê là con vật rất gần gũi với đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam. Ngày nay ta gặp rất nhiều từ có liên quan đến dê hay nghĩa bóng lấy từ hình tượng và đặc tính của dê như chăn dê, sữa dê, lẩu dê, cà dái dê, già dê, máu dê, râu dê, dê xồm, dê cụ... Người đàn ông có máu dê là người có khí dương tốt, mạnh mẽ.

Dê phổ biến trong đời sống đến như vậy nhưng không ai ngờ mãi cho đến thời vua Minh Mạng (1820-1841), nhà nước Việt Nam mới có chủ trương nuôi dê. Mùa Đông năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua sai người của tỉnh Thừa Thiên đi mua 220 con dê đực, 100 con dê cái. Chọn 20 dê đực giao cho Tể sanh (cơ quan làm thịt súc vật của triều đình) nuôi để cúng tế, (dùng hết lại chọn 20 dê đực khác), còn bao nhiêu giao cho dân nuôi. (Đại Nam Thực Lục CB, t.18, tr.339). Sau bốn năm nhân giống, đến mùa hạ năm Minh Mạng 21 (1840) nhà vua sai phát thứ dê đuôi to cho các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Gia Định và Hà Nội để chăn nuôi. Các tỉnh lớn 2 cặp (đực cái), các tỉnh nhỏ 1 cặp. Hễ dê sinh sản ra nhiều là có thưởng nhưng để hao hụt là phạt nặng. (ĐNTL CB, t.22, tr. 127).

Con dê trên Dụ Đỉnh (Ảnh: tapchisonghuong)


Năm 1836, đúc Cửu Đỉnh đặt trước Thế Miếu (Đại Nội Huế), vua Minh Mạng đã chọn trong hàng trăm loài thú của Việt Nam lúc ấy để lấy 9 loài chạm lên Cửu Đỉnh. Dê “trúng tuyển”, được xếp thứ tám trong bảng thứ tự sau đây: Hổ (con cọp, trên Cao Đỉnh); Báo (beo, trên Nhân Đỉnh), Tê (tây ngu, trên Chương Đỉnh); Mã (ngựa, trên Anh Đỉnh); Tượng (voi, trên Nghị Đỉnh); Lê Ngưu (bò tót, trên Thuần Đỉnh); Thỉ (con heo, trên Tuyên Đỉnh); Dương (con dê, trên Dụ Đỉnh); Sơn mã (con ngựa núi, trên Huyền Đỉnh).

Cho đến cuối triều Minh Mạng, dê vẫn còn là một loại thú quý. Thịt dê chỉ được dùng vào các cuộc tế lễ. Trong các thứ đồ mặn Tế Nam Giao (tế phẩm) đặt tại đàn Thượng có thịt dê ướp (dương hải) bên cạnh thịt nai ướp (lộc hải), thịt heo rừng ướp (sơn trư hải), thịt hưu ướp (mê hải)... Mỗi thứ thịt ướp nầy bỏ vào một cái đậu có nắp đậy bằng kim khí tráng men xanh. Về sau, dê sinh sản nhiều, được tiếng là bổ dương, thịt dê được dùng trong bữa cơm ngự thiện, tiệc tùng trong phủ phòng các ông hoàng bà chúa và các quan. Cái khó nhất trong việc nấu món ăn bằng thịt dê là khử mùi hôi của dê. Trong bếp Thượng Thiện (bếp chuyên nấu ăn cho vua, bên phải Duyệt Thị Đường ngày nay) có hai chuyên gia chuyên làm món Gỏi dê và Bó sỗ dê.


Trải qua thời “tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng ba vua) tiếp đến Kinh thành thất thủ (7.1885), đàn dê của Tể Sanh thời vua Đồng Khánh không được chăm sóc tốt, dê sinh sản thêm không bao nhiêu mà giết mổ dê làm thức ăn ngày một tăng, chẳng bao lâu sau Triều đình hết dê. Trong lúc đó vua Đồng Khánh hay thết đãi khách Pháp, thịt dê là món chủ lực trong các buổi tiệc, Viện Cơ Mật phải cho người xoay chạy rất khó nhọc mới có đủ số thịt dê để cung cấp cho sở Lý Thiện (bếp của nhà vua chuyên lo việc cúng tế và thết đãi quốc khách đặt ở phường Huệ An ngoài Hoàng Thành, tại địa điểm gần số 24 Ông Ích Khiêm, phường Thuận Hoà ngày nay). Viện Cơ Mật “nhìn xa thấy rộng”, biết trước việc triều đình Đồng Khánh và các vua Nguyễn sau nầy ngày càng có nhiều khách Pháp nên đã nghĩ đến chuyện nuôi lại đàn dê của triều đình. Tháng ba năm Đồng Khánh thứ hai (1887), Viện Cơ Mật đệ lên vua Đồng Khánh bản tấu: “Quan Pháp đi lại triều yết luôn, thết đãi phần nhiều cần có súc vật chăn nuôi, hiện nay vật giá hơi cao, không tính dự nuôi, đến lúc ấy mới mua, sợ không được tiện; nhưng xem xét trong thành chỗ kho ở Kinh (gần cầu Kho ngày nay, NĐX), nhiều chỗ bỏ không mà rộng, cỏ mọc um tùm, tiện việc chăn nuôi, hiện giá ở tỉnh Quảng Trị hơi phải chăng, xin do tỉnh ấy kén mua dê đực 2 con, dê cái 12 con, giao cho lính giữ kho chăn nuôi, cuối năm sinh sôi được bao nhiêu, kê ra tư lên để kiểm xét vào sổ, để phòng khi cần đến”. Vua nghe theo. (ĐNTL CB t.37, tr. 257). Chỉ một việc nuôi dê để thết khách mà cả nhà vua và Cơ quan lãnh đạo tối cao của triều đình (Viện Cơ Mật) phải lo liệu trù tính mới xong. Qua đó ta thấy miếng thịt dê giữa triều Đồng Khánh quý hiếm biết chừng nào!

Năm 1914, viết cuốn Thực Phổ Bách Thiên, bà Trương Thị Bích - cô dâu của nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, xem Gỏi dê và Bó sỗ dê là 2 trong 100 món ăn Huế nổi tiếng thời Nguyễn. Bà Bích dạy con cháu trong Phủ Tùng Thiện cách làm hai món ăn nầy bằng hai bài thơ sau đây:

Gỏi dê (Ảnh minh họa)

Gỏi dê

Thịt dê xắt nhỏ cũng in rau,
Chả rối, heo ria, luộc bún tàu
Bánh tráng mè rang xương nấu nước
Tương đường mỡ tỏi ruốc năm màu.


Bó sỗ dê (Ảnh minh họa)

Bó sỗ dê


Nây dê phải cạo sạch lông con
Lá sả bao ngoài khéo cuốn tròn,
Lạt mỏng ràng quanh cho thịt chặt
Luộc lâu da dẻo ấy là ngon.

Ngày nay triều Nguyễn đã cáo chung từ hơn nửa thế kỷ, không còn lễ tế Trời (tế Nam Giao) để cho người dân còn biết đến món thịt dê ướp (dương hải); hai món đặc sản Gỏi dê và Bó sỗ dê cũng theo chân triều Nguyễn thất truyền luôn. Tuy nhiên, ngày nay khách du lịch vào thăm Thế Miếu trong Đại Nội Huế vẫn còn có thể thấy được hình tượng con dê chạm nổi trên Dụ Đỉnh (đỉnh cuối cùng bên phía trái). Con dê nầy sẽ nhắc lại rằng nó mới đi vào văn hoá Việt Nam qua cửa khẩu Thừa Thiên thời Minh Mạng (1836). Biết đâu con dê triều Nguyễn sẽ bước ra khỏi Dụ Đỉnh để làm sống dậy các món ngự thiện phục vụ cho các “Thượng đế” đi du lịch Huế-Việt Nam.

Theo Nguyễn Đắc Xuân/Gác Thọ Lộc

VĨNH BẢO sưu tầm 19/1/2020

TRẺ PHẢI ĐỦ ĐƯỜNG MỚI KHỎE!!

TRẺ PHẢI ĐỦ ĐƯỜNG MỚI KHỎE!


Do quá sợ bệnh tiểu đường từ nhiều bản tin y học tô đậm gam màu thê lương nên nhiều ông bà, cha mẹ, thậm chí một số không ít thầy cô đang cấm trẻ con ăn ngọt. Nỗi lo tuy hợp tình nhưng không hề hợp lý vì trẻ cần đủ chất đường, chất cơ bản để cung cấp năng lượng, mới có thể phát triển đúng mức cả hai mặt tâm thể. Lo lắng cho sức khỏe của trẻ là tốt, nhưng phải lo cho đúng. Ép trẻ kiêng món ngọt nhưng cho trẻ ngồi hàng giờ trước máy truyền hình, trước máy vi tính thì trẻ cữ ăn ngọt bao nhiêu vẫn béo phì!


Đừng quên
  • trẻ cần đủ chất ngọt ngay sáng sớm vì trẻ tiêu hao nhiều năng lượng trong giấc ngủ để gan tổng hợp kháng thể chống viêm gan, chống siêu vi cảm cúm, tủy xương sản xuất hồng cầu, vỏ xương tăng chiều dày lẫn chiều dài, bộ nhớ tiếp nhận kích ứng từ giác quan …
  • trẻ học mau hơn, trẻ lớn nhanh hơn trong khi ngủ. Trẻ tất nhiên không thể phấn chấn đến trường nếu trẻ hết pin khi mới ra cửa vì bữa điểm tâm thiếu chất ngọt! Trẻ không thể thuộc bài nếu trẻ không đủ năng lượng cần thiết cho dẫn truyền thần kinh đi đến nên về đến chốn.
  • trẻ thiếu dự trữ chất đường mau tiêu hết năng lượng cùng với các khoáng tố có tác dụng trấn an thần kinh như canxi, manhê nên trẻ dễ phản ứng thái quá trong giờ thể dục thể thao, dễ quýnh quáng khi bị hỏi bài, dễ cáu sau vài giờ học.
  • trẻ dễ bội nhiễm đường hô hấp nếu trẻ tụt đường huyết sau giờ học, nhất là trong môi trường ô nhiễm, trong phòng học quá lạnh hay quá nóng vì hệ miễn dịch còn mong manh của trẻ không thể vận hành nếu thiếu năng lượng. Siêu vi, vi khuẩn, nấm mốc núp trong cơ thể trẻ chỉ chờ có thế để thừa nước đục thả câu!

Trẻ đúng là không được thiếu chất ngọt. Nhưng quan trọng hơn nữa là làm sao để chất đường trong khẩu phần của trẻ được biến dưỡng tối ưu để cung cấp năng lượng tối đa và phế phẩm tối thiểu. Muốn được vậy cơ thể của trẻ cần sự có mặt cùng lúc của tập thể sinh tố B, trong số đó đặc biệt cần thiết cho chu trình biến dưỡng chất đường là B1, B3 và B7. Nói cách khác, một thức uống ngọt ngào cho trẻ muốn trọn nghĩa nên thuốc phải có nhiều hoạt chất sinh học khác đi kèm, như canxi, sắt, acid amin …


Viên kẹo, miếng bánh, ly kem, chén chè … gắn liền với tuổi thơ mộng mơ của trẻ. Trẻ càng có thời thơ ấu càng ngọt lịm càng dễ thành người lớn khỏe mạnh. Không cho trẻ ăn ngọt là sai, nhưng vụng về nếu cho trẻ ăn ngọt mà quên tập thể sinh tố + khoáng tố cần thiết để biến dưỡng chất đường. Cấm đến thiếu thì cấm làm gì? Cho đủ nhưng lại dùng không hết đến độ thành thừa thì cho làm chi?
BS. Lương Lễ Hoàng

Vĩnh Bảo sưu tầm 19/1/2020

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

HOA SƠN LUẬN KIẾM 華山論劍

HOA SƠN LUẬN KIẾM 華山論劍

Mấy hôm nay tôi post hơi nhiều về những cảnh đẹp có thật trong tiểu thuyết của Kim Dung và nhắc nhở nhiều về Hoa Sơn phái và Hoa sơn luận kiếm.
Thời biết đọc tiểu thuyết kiếm hiệp, nhờ 2 tiệm cho mướn sách ở gần nhà nên tôi đọc nhiều lắm cho tới nay vẫn không quên. Bây giờ qua xứ người mần mò học thêm chút ít chữ Hán Việt nên có thể so sánh qua 2 mạng Việt và Hoa để tìm tài liệu post lên giới thiệu cho các bạn.
Các bạn trẻ thì không biết nhưng các bạn già thì nhất định phải mê vài bộ kiếm hiệp của Kim Dung hay Cổ Long mà phần nhiều do Hàn Giang Nhạn dịch. Nói qua , nói lại cũng để muốn nhắc lại một phần trong truyện võ hiệp Kim Dung mà nếu quên hay không biết "võ lâm ngũ bá" và "Hoa sơn luận kiếp" thì coi như hơi mù mờ trong lúc đọc tiểu thuyết của ông.

"Hoa sơn luận kiếm" đã xảy ra 3 lần nhưng trong truyện dịch ở VN, mình gọi là "võ lâm ngũ bá" nhưng theo bên Hoa ngữ thì họ gọi là "Thiên Hạ Ngũ Tuyệt" và lần đầu trong phần thượng của "Xạ điêu anh hùng truyện" còn bên VN thì lần đầu xảy ra trong bộ "võ lâm ngũ bá" nhưng thế nào đi nữa, phân đoạn ra bao nhiêu phần vẫn là dịch từ tiểu thuyết nguyên thủy của Kim Dung.


Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại 3 lần "luận kiếm":

HOA SƠN LUẬN KIẾM
華山論劍
Thiên hạ ngũ tuyệt, Càn khôn ngũ tuyệt hay Võ lâm ngũ bá là những tên gọi khác nhau để chỉ cùng một nhóm năm người được coi như võ công cao nhất trong Xạ Điêu Tam Bộ Khúc của Kim Dung. Năm người sẽ đại diện cho năm phương hướng đông, tây, nam, bắc và trung tâm. Nhóm này được bầu ra thông qua một cuộc Hoa Sơn luận kiếm.
Hoa Sơn luận kiếm là một sự kiện đặc biệt trong võ lâm đương thời. Trong đó những cao thủ có tiếng tăm nhất sẽ được mời đến núi Hoa Sơn, thi thố võ nghệ. Năm người mạnh nhất sẽ được gọi là Thiên hạ ngũ tuyệt (天下五绝). Trong thời đại Xạ Điêu tam bộ khúc (射鵰三部曲), có tổng cộng ba lần Hoa Sơn luận kiếm.

Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất:
Cuộc luận kiếm lần thứ nhất diễn ra trước khi câu truyện Anh hùng xạ điêu bắt đầu. Vào thời điểm này, trên giang hồ đang tranh giành quyết liệt bí kíp võ học Cửu Âm chân kinh (九阴真经). Vô số cao thủ, bang phái bị cuốn vào vòng tranh đoạt, gây ra rất nhiều tổn thất. Những cao thủ võ công bậc nhất quyết định tụ họp trên đỉnh Hoa Sơn để định ra ai là người mạnh nhất. Người đó sẽ được giữ Cửu Âm chân kinh vì theo lí luận của họ, chẳng kẻ nào dám đến cướp bí kíp võ học trong tay người mạnh nhất võ lâm.
Sau nhiều người thi thố võ công, cuối cùng Thiên hạ ngũ tuyệt (天下五绝) cũng được bầu ra gồm năm người
Đông Tà Hoàng Dược Sư (東邪 黃藥師) hay còn gọi là Hoàng Lão Tà (黃老邪): Đảo chủ đảo Đào Hoa, tính tình quái dị, thường hành sự theo ý mình, coi thường thiên hạ. Ông có 6 đệ tử tài năng, nổi tiếng với tuyệt kỹ Đạn chỉ thần thông (彈指神通), Lạc Anh thần kiếm chưởng (落英神劍掌), Ngọc Tiêu kiếm pháp (玉蕭劍法).
Tây Độc Âu Dương Phong (西毒 歐陽鋒) còn được mọi người gọi là Lão Độc Vật (老毒物): Chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, độc ác, xấu xa, tham lam, xảo quyệt. Y nổi danh với tuyệt kỹ Hàm mô công (蛤蟆功), Linh xà trượng pháp (靈蛇杖法) và khả năng pha chế ra những loại độc dược chết người, không ai giải nổi.

Nam Đế Đoàn Trí Hưng (南帝 段智興) còn được gọi là Đoàn Hoàng Gia: Hoàng đế nước Đại Lý ở phương Nam. Gia tộc của ông nhiều đời luyện võ. Ông nổi tiếng với tuyệt kỹ gia truyền Nhất dương chỉ (一陽指) và tuyệt kỹ Tiên Thiên Công (先天功) có thể đả thông kỳ kinh bát mạch do Vương Trùng Dương chỉ dạy. Về sau khi đi tu mang pháp hiệu là Nhất Đăng Đại Sư(一灯大師).
Bắc Cái Hồng Thất Công (北丐 洪七公) còn được người đời gọi là Lão Ăn Mày: Bang chủ thứ mười tám của Cái Bang, tham ăn tham rượu nhưng hào hiệp, trượng nghĩa. Võ công của ông rất cao. Hồng Thất Công thường sử dụng Giáng Long thập bát chưởng (降龍十八掌) và Đả cẩu bổng pháp (打狗棒法).
Trung Thần Thông Vương Trùng Dương (中神通 王重陽): Chưởng môn tổ sư Toàn Chân phái (全真派), vốn là một lãnh tụ chống Kim, sau thất bại quay về núi Chung Nam lập ra môn phái. Ông có bảy đệ tử rất giỏi giang nổi tiếng với Thiên cang bắc đẩu trận được giang hồ ca tụng gọi là Toàn Chân thất tử (全真七子). Môn võ công đắc ý của ông là Tiên thiên công (先天功) có thể giúp mọi người đả thông kỳ kinh bát mạch.
Vương Trùng Dương được coi là người mạnh nhất, nên ông được giữ Cửu Âm chân kinh. Trong cuộc luận kiếm này có hai sự vắng mặt được cho là đáng tiếc đó là: Bang chủ Thiết Chưởng bang (鐵掌幫) (không phải Cừu Thiên Nhận 裘千仞) là Thượng Quan Kiếm Nam (上官剑南) và nữ hiệp Lâm Triều Anh (林朝英) của phái Cổ Mộ (古墓派).

Hoa Sơn luận kiếm lần thứ hai:
Cuộc luận kiếm thứ hai diễn ra sau lần thứ nhất 25 năm vào cuối tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu (射雕英雄传). Lần luận kiếm này khá vắng vẻ chỉ có Hồng Thất Công, Hoàng Dược Sư, Âu Dương Phong và Quách Tĩnh tham gia. Đoàn Trí Hưng (khi này đã đi tu, đổi là Nhất Đăng đại sư), Cừu Thiên Nhận (裘千仞), Chu Bá Thông (周伯通) có đến nhưng không tham dự. Vì vậy cuộc luận kiếm này không bầu ra Thiên hạ ngũ tuyệt.
Lần này, do Quách Tĩnh (郭靖) là hậu bối so với Bắc Cái và Đông Tà nên Hoàng Dung (黃蓉) bày ra quy củ, hai người lần lượt thi đấu với Quách Tĩnh, trong 300 chiêu, ai hạ chàng trước thì thắng. Còn nếu sau 300 chiêu mà không ai đánh bại Quách Tĩnh thì chàng sẽ là người chiến thắng. Cả hai vị cao thủ đều biết ý Hoàng Dung muốn người yêu của mình thắng nên đều không đánh hết sức ngay từ đầu, không ai hạ chàng sau 300 chiêu. Đúng lúc đó Âu Dương Phong xuất hiện. Y vốn bị Quách Tĩnh đưa bản Cửu Âm chân kinh giả và Hoàng Dung chỉ dẫn tu luyện sai đường nên tẩu hỏa nhập ma, kinh mạch hỗn loạn, trở nên điên cuồng. Nhưng vô tình điều này lại khiến cho võ công của y tăng tiến vượt bậc. Tuy vậy thiên hạ đệ nhất võ công lại có thể là Chu Bá Thông (周伯通).
Hoa Sơn luận kiếm lần thứ hai kết thúc mà không bầu ra Thiên hạ ngũ tuyệt.

Hoa Sơn luận kiếm lần thứ ba:
Cuộc luận kiếm lần thứ ba diễn ra vào cuối tiểu thuyết Thần Điêu Hiệp Lữ (神鵰俠侶). Bấy giờ, Vương Trùng Dương, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong đều đã qua đời nhưng cao thủ mới xuất hiện cũng rất nhiều. Lần luận kiếm này có khá đông cao thủ tham gia: Hoàng Dược Sư (黃藥師), Nhất Đăng đại sư (一燈大師), Quách Tĩnh (郭靖), Hoàng Dung (黃蓉), Dương Quá (楊過), Tiểu Long Nữ (小龍女), Chu Bá Thông (周伯通). Tuy vậy lần này mọi người không trực tiếp giao đấu mà chỉ tự phân chia thứ bậc thông qua hiểu biết về võ thuật của nhau. Cuối cùng Thiên hạ ngũ tuyệt được bầu ra gồm có.
Đông tà Hoàng Dược Sư (東邪 黃藥師)
Tây cuồng Dương Quá (西狂 楊過): Cao thủ trẻ tuổi có biệt danh là Thần điêu đại hiệp (神鵰大俠). Chàng võ công rất cao, tu tập từ nhiều môn phái. Môn võ công nổi tiếng nhất của chàng là Ảm Nhiên Tiêu Hồn chưởng (黯然銷魂掌).

Bắc hiệp Quách Tĩnh (北侠 郭靖): Đại hiệp trấn giữ thành Tương Dương, là một vị anh hùng đương thời.Võ công cực kỳ thâm hậu. Môn võ công nổi tiếng nhất của Quách Tĩnh là Giáng Long Thập Bát chưởng (降龍十八掌).
Nam tăng Nhất Đăng Đại Sư (南僧 一燈大師).: Chính là Nam Đế Đoàn Trí Hưng khi xưa, giờ đã đi tu.
Trung Ngoan Đồng Chu Bá Thông (中顽童 周伯通): Sư đệ của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, tính nết như trẻ con, hay nghịch ngợm, chơi đùa, say mê võ học. Võ công nổi tiếng nhất của ông là Không Minh quyền (空明拳) và thuật Song thủ hỗ bác (雙手互搏).
Đây là lần Hoa Sơn luận kiếm cuối cùng. Từ đó về sau trong tiểu thuyết của Kim Dung không thấy có cuộc bầu chọn thiên hạ vô địch nào nữa.
(Sưu tầm trên mạng)

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/1/2020

SÂM

SÂM

Nói đến sâm là phải nghĩ ngay tới nước Trung Hoa với vua Thần Nông. Đây là một nhân vật với nhiều huyền thoại, sống cách đây nhiều ngàn năm, vừa là một đấng minh quân vừa là một nhà nông kinh nghiệm, biết thêm về y lý trị bệnh. Nhà vua chỉ dẫn cho dân chúng về cách dùng dược thảo và đã viết một cuốn sách nói về cả trăm thứ cây thuốc mà ông đã khổ công đi đó đây để sưu tầm. Theo sách, thì vua Thần Nông là người đầu tiên đã nhận ra công dụng chữa bệnh của một loại rễ cây có hình dạng giống con người, mọc hoang trong rừng. Nhà vua đặt tên cho cây đó là Nhân Sâm.




Nhân sâm đã được coi như một dược thảo hàng đầu (Sâm, Nhung, Quế, Phụ) ở nhiều quốc gia Á châu như Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn, và ở Nga. Trong những thập niên vừa qua, nhân sâm bắt đầu được sử dụng ở các quốc gia Âu Mỹ và cũng được khoa học thực nghiệm nghiên cứu về công hiệu chữa bệnh của một thảo mộc mà nhiều triệu người đã và đang dùng, do kinh nghiệm truyền cho nhau. Nhiều nhà bào chế thuốc đã xếp sâm vào nhóm những chất có tác dụng thích nghi (adaptogen) đối với nhiều chức năng của cơ thể và coi sâm như một chất dùng thêm có khả năng tăng cường sinh lực, giảm căng thẳng, ngăn ngừa một số bệnh tật và làm chậm tiến trình lão suy.

Nguồn gốc

Nguyên thủy thì nhân sâm mọc hoang trên rừng núi, dưới bóng mát ở những nơi có khí hậu lạnh như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, miền Đông Liên Bang Sô Viết, Bắc Mỹ châu.

Người Trung Hoa được coi như dân tộc đầu tiên biết sử dụng sâm để trị các bệnh của tuổi già và họ giữ kín cho tới thế kỷ thứ 18 công dụng của sâm mới được các quốc gia Âu Mỹ biết tới. Thoạt đầu, các nhà thảo mộc Tây phương cũng không tin tưởng cho lắm vào công dụng của sâm như người Trung Hoa tả. Nhưng sau khi nhìn thấy tận mắt một số hiệu quả, thì họ tin theo.


Năm 1716, tu sĩ dòng Tên Petrus Jartoux truyền đạo ở miền Bắc Trung Hoa, viết một tài liệu cho hay sâm có thể mọc ở miệt rừng núi Gia Nã Đại vì môi trường giống nhau. Tu sĩ Lafitau ở Gia Nã Đại bèn cho người khai thác sâm hoang ở chung quanh vùng Montreal và xuất cảng sang Tầu để gây quỹ cho dòng tu. Cũng vào thế kỷ 18, một số nhà thám hiểm người Pháp thấy thổ dân Bắc Mỹ dùng một loại cây hoang để trị bệnh tiêu hóa, họ mang một ít về Âu châu để thử nghiệm và thấy công hiệu.

Các loại sâm

Theo American Botanical Council thì có ba loại sâm chính: sâm Á châu, sâm Mỹ châu và sâm Siberian.

1- Sâm Á châu:
Thường được gọi là nhân sâm, tên thực vật học là Panax ginseng C.A. Meyer. C.A. Meyer là tên nhà thảo mộc học đã nghiên cứu sâm đầu tiên vào năm 1842. Đây là loại sâm nổi tiếng của Trung Hoa, đã được coi là đứng đầu các vị thuốc bổ (sâm, nhung, quế, phụ), để tu bổ ngũ tạng, làm dịu cảm xúc, bớt náo động, loại trừ chất độc trong cơ thể, làm thị giác tinh tường, làm tăng trí nhớ và tinh thần minh mẫn và nếu dùng liên tục thì sẽ sống lâu. Panax do gốc Hy Lạp pan có nghĩa là tất cả, và alkos là chữa lành, tức là trị bá bệnh; còn ginseng theo nghĩa tượng hình Trung Hoa là “tinh túy của đất trong hình dạng người”.


Y học Á châu đã dùng nhân sâm từ nhiều ngàn năm. Tây phương biết đến nhân sâm là qua sự nhận xét và giới thiệu của một tu sĩ dòng tên Petre Jartoux vào khoảng năm 1714. Trong khi truyền giáo ở miền Bắc Trung Hoa, vị tu sĩ này thấy dân chúng dùng một loại rễ cây hoang để trị nhiều bệnh rất công hiệu, ông ta bèn viết một bài để giới thiệu với các thầy thuốc ở Âu châu. Từ đó, các nhà nghiên cứu ở Âu châu, Nhật Bản, Liên Xô, Hoa Kỳ đã để tâm nghiên cứu về loại dược thảo có hình người này.

Nhân sâm có thành phần hóa học như sau: hỗn hợp saponins, tinh dầu panaxen, phytosterol, tinh bột, đường, amino acid, acid phosphoric, vài sinh tố B1, B2 và vài khoáng chất. Hiện nay có khoảng 22 chất saponin được phân loại, gọi là ginsenosides hay panaxosides, là những dược liệu chính của sâm. Hóa chất này có công thức hóa học tương tự như loại kích thích tố mà cơ thể con người dùng để đối phó với căng thẳng của đời sống.

W.H Lewis cho hay chất triết của nhân sâm có tác dụng làm chậm sự phát triển của một vài tế bào u bướu, có vài tác dụng làm giảm đường trong máu. Nghiên cứu của V.W. Petkov và D. Staneva- Stoicheva ở Bulgarie cho hay nhân sâm có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giảm huyết áp, giảm đường trong máu, kích thích hô hấp, hỗ trợ tế bào thần kinh đáp ứng với stress, tăng hồng huyết cầu và huyết tố, giảm cholesterol. Ng và H.W. Yeung cho hay nhân sâm có công dụng làm giảm thời gian phản ứng với các kích thích thính, thị giác; tăng sự lanh lợi, tập trung trí thuệ; tăng phối hợp giữa thị giác và cử động. Họ cũng cho hay nhân sâm có công dụng như chất antioxidant chống lại một vài bệnh về gan, mắt, vữa xơ động mạch. S. Shibata, O. Tanaka và H. Saito cũng cho rằng sâm làm tăng sự bền bỉ, chịu dựng của cơ thể với căng thẳng các loại, có tác dụng chống kinh phong hạ nhiệt, tăng chức năng bao tử, chống viêm tế bào.


Bên Đức, chính quyền cho phép nhân sâm được mang nhãn hiệu bán như một thuốc bổ, tăng cường sinh lực khi bị suy nhược, mệt mỏi, khi kém tập trung, và trong thời kỳ phục sức sau bệnh hoạn. Dược thư Liên Xô xuất bản năm 1961 công nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong y học của Liên bang này.

Cho tới nay, đã có cả trăm nghiên cứu khoa học về công dụng của nhân sâm. Sự nghiên cứu này cần được tiến hành lâu dài và có hệ thống hơn nữa để có thể xác định giá trị chữa bệnh của loại dược thảo này.

2- Sâm Mỹ châu:

Sâm Mỹ châu được tu sĩ Joseph Francois Lafitau khám phá ra cách dây gần ba trăm năm, ở vùng Montreal, Gia Nã Đại, có tên khoa học là Panax quinquefolius. Vị tu sĩ này đã khai thác, xuất cảng rất nhiều sang Trung Hoa từ thế kỷ thứ 18.


Sâm Mỹ châu mọc hoang ở miền Đông Bắc Mỹ châu, từ Quebec, Ontario xuống Wisconsin, Minnesota, Florida, Alabama, Oklahoma. Không như sâm Á châu bị khai thác triệt để nên còn rất ít, sâm Mỹ châu hiện vẫn còn nhiều và được các quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại coi là cây hiếm quý cần được bảo vệ.

Sâm Mỹ châu đã được Abraham Whisman ở Virginia bắt đầu trồng từ năm 1870. Hiện nay Gia Nã Đại đứng hàng đầu trong việc trồng và xuất cảng sâm này. Nước Mỹ cũng xuất cảng tới 30% tổng số sâm Mỹ châu trên thế giới. Năm 1995, có tới hơn 700,000 kí sâm trồng và 150,000 kí sâm mọc hoang được xuất cảng từ Hoa Kỳ. Trung Hoa và Đại Hàn dẫn đầu trong việc xuất cảng sâm các loại trên thế giới.

Sâm Mỹ châu rất được dân chúng Trung Hoa ưa thích vì tính chất bổ âm (âm/dương) của nó, và ngọt dịu hơn sâm Á châu. Theo quan niệm Á châu, sự hài hòa giữa âm và dương trong vũ trụ và trong con người đưa tới sự ổn định môi trường và sự khỏe mạnh của con người. Sâm Á châu có nhiều dương tính, nóng, làm hưng phấn cơ thể, làm tăng cường sức lực. Ngược lại, sâm Mỹ châu có nhiều âm tính, lạnh, làm giảm căng thẳng, làm mạnh nội tạng.

Sâm Mỹ được thổ dân ở đây dùng để chữa chẩy máu cam, khó thở, tăng cường sự mầu mỡ sinh sản nữ giới, làm tăng trí tuệ, sức khỏe thể xác, chống mỏi mệt. Vợ một tù trưởng có thai kể cho chồng hay là trong giấc mơ ban đêm, thần nhân nói nếu muốn sanh không đau thì cứ ngậm một miếng củ sâm hoặc uống một chút nước lá sâm.

Sâm Mỹ châu đã được ghi vào sách the United States Pharmacopeia từ năm 1842 tới 1882. Sâm này cũng có hóa chất như nhân sâm đặc biệt là hỗn hợp gisenosides. Sâm, nói chung, vẫn chưa được hội nhập vào kỹ thuật trị liệu ở Hoa Kỳ, mặc dù rất nhiều người đang dùng dược thảo này. Lý do là chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về sâm Mỹ như nhân sâm, và có nhiều ý kiến khác nhau về sâm. Thực ra, công dụng của sâm thay đổi đôi chút với loại sâm, thời gian hái sâm, bộ phận cây sâm, cách pha chế, cách dùng và phân lượng dùng.


E.J Staba và S.E. Chen, trong “An Overview of Ginseng Chemistry, Pharmacology and Anti-tumor Effects” đã ghi nhận là với phân lượng nhỏ, sâm làm kích thích hệ thần kinh, nhưng phân lượng cao lại làm dịu; chống mệt mỏi, thích nghi được với các căng thẳng, chống nhăn da và làm tế bào da mau sinh sản; chống lại độc tính của chloroform, amphetamines; làm tăng trọng lượng của túi tinh dịch và nhiếp hộ tuyến, tăng tinh trùng; làm tăng kí với lượng nhỏ nhưng giảm kí với lượng lớn. Việc nghiên cứu công dụng của sâm ở Hoa kỳ còn mới mẻ và chưa hội nhập vào với phương pháp trị bệnh thực nghiệm. Theo một vài tác giả, cần có những quan tâm mạnh hơn nữa nhất là kết quả việc dùng sâm ở con người với lợi điểm cũng như tác dụng không tốt của sâm.

3- Sâm Siberian:

Tên thực vật học là Eletherococcus senticosus, sâm này có nhiều ở Đông Bắc Trung Hoa, kế cận với Nhật và Đại Hàn và miền Đông Nam nước Nga.

Tiến sĩ Stephen Fulder cho rằng đây không phải thuộc họ sâm nhưng được gọi như sâm vì nó tác dụng tương tự, đã được người Nga dùng thay thế cho nhân sâm quá đắt và khó kiếm. Hoạt chất của sâm là chất eleutherosides, có công dụng giống như ginsenosides của sâm Á châu hoặc sâm Mỹ châu.

I.Brekham, một chuyên gia người Nga về sâm, cho binh sĩ uống sâm chạy thi với nhóm khác uống thuốc lừa (placebo), thì nhóm dùng sâm chạy mau hơn và lâu hơn. Các nhà khoa học Nga xếp sâm vào nhóm thực vật làm tăng sức đề kháng không đặc biệt, giúp cơ thể có thể chịu đựng mệt mỏi, bệnh tật, tuổi già, làm việc cực nhọc, vượt qua được các bệnh thông thường như cảm lạnh.

Năm 1961, một hội nghị về sâm đã diễn ra ở Lenigrad, Liên Sô. Năm sau, sâm Siberian được chính quyền Sô Viết chấp thuận cho dân chúng dùng như loại thuốc bồi bổ sức khỏe, thích nghi với căng thẳng của đời sống và chữa các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm phế quản kinh niên, bệnh thần kinh tâm lý, vữa xơ động mạch máu.


Theo J. A. Duke và E.S. Ayensu trong Medicinal Plant of China, thì loại sâm này được dân chúng ở vùng Đông Bắc Hoa Lục dùng để chữa các bệnh phong khớp xương, viêm cuống phổi, bệnh tim, đồng thời nếu dùng liên tục, để tăng cường sức khỏe, làm ăn ngon miệng, giúp trí nhớ tốt, kéo dài tuổi thọ.

Chính quyền y tế Đức quốc cũng coi sâm Siberian có công dụng như nhân sâm để giúp cơ thể khỏe mạnh, giúp mau hồi phục sau bệnh hoạn cũng như gia tăng sự bền bỉ trong lao động trí óc, chân tay.

Theo nhiều nhà chuyên môn, sự khác biệt của ba loại sâm chính này như sau:

- Sâm Á châu có tính cách kích thích, làm nóng cơ thể, tăng cường sức khỏe, được dùng ở người lớn tuổi, người suy yếu tổng quát, người cần dùng sức lao động và sự bền bỉ .

- Sâm Mỹ có hàn tính, thoa dịu, thích hợp cho người hay năng động, nhưng cũng giúp cơ thể tăng cường dẻo dai, sức chịu đựng.

- Còn sâm Siberian thì dung hòa giữa hai loại trên, không ôn quá mà cũng không hàn quá, và có cùng đặc tính.

Ngoài ra còn các loại sâm khác như sâm Brazilian, sâm Angelica sinensis, sâm Acanthopanax sessiliflorus. Giáo sư Đỗ Tất Lợi, trong tác phẩm Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam còn kể thêm nhân sâm Việt Nam, Đảng sâm có ở quận Thượng Đảng, Trung Quốc, ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Việt Nam; sâm Bố Chính ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình Việt Nam; Thổ Cao Ly sâm, Sa sâm.

Trồng sâm

Sâm được trồng từ hạt giống của cây sâm khỏe, tốt đã mọc từ 6, 7 năm trở lên. Sâm không thể trồng như trồng lúa. Trồng sâm cần thời gian lâu để sâm mọc. Hạt giống sâm được chôn sâu dưới đất mầu mỡ, không có nước ứ đọng, dưới bóng mát. Bên Trung Hoa người ta dùng phân xanh và khô dầu để bón, tránh dùng phân bắc và nước tiểu. Âu Mỹ dùng phân hóa học và thuốc sát trùng để diệt nấm độc ăn hại sâm.


Cứ đến mùa Đông thân lá sâm héo tàn, nhưng khi Xuân đến, cây nẩy chồi từ củ sâm nằm sâu dưới đất. Khoảng 6, 7 năm sau đào sâm lấy củ. Củ sâm được chế biến, sấy khô rồi đóng hộp. Riêng những củ to thường được hấp trước khi sấy khô để giữ tinh túy của sâm. Sâm mọc hoang có khi lâu đời cả mấy chục năm trong rừng gỗ lớn nên rất đắt và quý. Nhưng số sâm mọc hoang mỗi ngày một khan hiếm vì nhiều người đi tìm lấy. Đa số sâm bán trên thị trường bây giờ là sâm trồng. Việc trồng sâm đã được nhiều quốc gia thực hiện, nên hiện nay trên thị trường có đủ loại sâm.

Phần chính làm thuốc của cây sâm là khúc củ sâm, mầu vàng sậm, có nhiều rễ nhánh nhỏ, nằm sâu dưới đất. Lá sâm có năm cánh, với một bông hoa nhỏ mầu xám lạt nằm ở cuống lá; thân cây gắn trên củ sâm nằm sâu dưới đất. Thân cây sâm thường héo chết vào mùa Đông, để rồi mọc trở lại từ củ sâm vào đầu mùa Xuân. Toàn cây cao độ 60 phân.

Lựa sâm

Trên thị trường có rất nhiều loại sâm, nhưng thường thấy nhất và nhiều người mua là hồng sâm và bạch sâm. Hồng sâm là những củ to, mập, dáng đẹp, giống hình người còn bạch sâm nhỏ hơn, trắng và khô. Sau khi đào, sâm được rửa sạch, phơi sấy, và đóng hộp: hồng sâm trong hộp gỗ, bạch sâm trong hộp giấy. Ngoài ra còn sâm bách chi (rễ phụ), nhân sâm tu với rễ nhỏ như râu tóc, sâm nhị hồng với rễ nhỏ hơn nữa mọc ngang từ rễ chính ra.

  • Sâm Mỹ thường được xuất cảng qua Á châu và rất được ưa chuộng. Còn ở Mỹ thì lại có nhiều sâm nhập cảng từ Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản. Nổi tiếng trên thế giới vẫn là sâm Đại Hàn và sâm Trung Hoa.
  • Sân càng to càng tốt vì sống lâu năm dưới đất, hút nhiều chất dinh dưỡng nên khỏe hơn.
  • Hồng sâm tốt hơn bạch sâm.
  • Sâm từ Đại Hàn là tốt nhất rồi dến sâm từ Trung Hoa rồi Nhật Bản.
  • Khi nếm, sâm tốt có vị hơi đắng nhưng ngọt dịu. Sâm mà không có vị gì là sâm không tốt.
  • Củ sâm tốt hơn râu và lá sâm.

Cách thức dùng sâm

Có nhiều cách dùng sâm:

1. Thái mỏng rồi ngậm sâm trong miệng cho tới khi mềm tan.

2. Nấu sâm trong ấm sành, ấm thủy tinh độ một giờ rồi uống nước sâm. Sâm nấu như vậy có thể giữ trong tủ lạnh rồi uống dần mỗi ngày. Vì sâm khá đắt, nên có thể nấu nước thứ hai mà sâm vẫn còn hương vị. Tránh dùng ấm kim loại sợ kim khí vô hiệu hóa hoạt chất của sâm.


3. Ngâm sâm trong rượu, nhấm nháp dần dần. Ngâm càng lâu, rượu càng ngon.

4. Sâm chế biến thành bột hòa tan trong nước sôi, uống như cà phê hay trà.

5. Sâm viên uống như các thuốc viên khác. Kỹ nghệ chế sâm viên hiện nay khá phổ biến và chính xác, vì phân lượng hoạt chất chính trong mỗi viên thuốc sâm đều như nhau.

6. Sâm bốc chung với các vị thuốc, sắc lên rồi uống nước thuốc.

7. Sâm miếng thái mỏng nấu thành súp với thịt hoặc gạo.


An toàn của sâm

Một câu hỏi thường được nhiều người nêu ra là sâm có an toàn không?

Giáo sư Brekhman thuộc Institute of Biologically Active Sciences bên Nga cho hay, để có ảnh hưởng không tốt, con người phải dùng cả mấy kí lô sâm một lúc.

Tính cách an toàn của sâm chưa bao giờ bị cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) nghi ngờ và cơ quan này đã cho sâm được bán tự do vì các nghiên cứu cho hay sâm không có tác dụng nguy hại cho người dùng.

Sâm đã được ghi vào danh bạ y dược tại các nước ở Âu châu và được công nhận như một thực phẩm dùng thêm rất an toàn.

Tuy nhiên, cũng như dược phẩm khác, khi dùng sâm nên theo chỉ dẫn của lương y hay nhà bào chế.


Áp dụng thực tế

Sâm đã được dùng ở các nước Á châu từ nhiều ngàn năm và đang được y học hiện đại nghiên cứu, sử dụng. Cũng như các dược thảo khác, tác dụng của sâm nhẹ nhàng, thấm từ từ nhưng kéo dài chứ không mau, mạnh như Âu dược.

Theo Đông y, sâm không phải là thứ để chữa lành một bệnh riêng biệt nào mà được coi như chất bồi bổ sức khỏe, duy trì sinh lực và kéo dài tuổi thọ. Sâm rất công hiệu khi cơ thể suy nhược, dưới nhiều căng thẳng thể xác và tâm thần, phục hồi sinh lực sau khi bị trọng bệnh.


Sự dùng sâm thay đổi tùy theo điều kiện cấu tạo cơ thể và sức khỏe của mỗi cá nhân. Theo kinh nghiệm, nếu muốn tăng cường sinh lực chung thì loại sâm nào cũng như nhau. Người trên 45 tuổi nên dùng sâm Á châu vì sâm này kích thích mạnh; dưới tuổi 45 còn trai tráng có thể dùng hai loại sâm ôn hòa kia. Người cần sức lao động cao thì sâm Á châu giúp bền bỉ, sung sức hơn; nữ giới thích hợp với sâm Mỹ châu còn nam giới thì sâm Á châu lại tốt.

Đấy chỉ là gợi ý. Trước khi dùng, nên tham khảo ý kiến người có hiểu biết về món dược thảo này. Cũng như với các dược thảo khác, ta nên bắt đầu dùng với phân lượng nhỏ rồi tăng dần để dò sức chịu đựng của mình đồng thời lượng định công hiệu và tác dụng không muốn của thuốc.
theoBác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/1/2020

HỘT VỊT LỘN ..

HỘT VỊT LỘN ...

HỘT VỊT LỘN

Lúc còn bé, nhiều khi nửa đêm dậy đi tiểu hay xuống bếp uống nước, thỉnh thoảng thấy ba mạ tui ăn khuya. Khi thì bồ cáu hầm đậu xanh, lúc thì chén yến huyết, có lúc lại thấy cháo tim cật và rất nhiều lần có món hột vịt lộn. Và thường tui được ké một hột vịt lộn rồi lại lên giường ngủ tiếp. Tuổi còn nhỏ nên cũng chẳng biết tại sao có những món ăn khuya đặc biệt của mgười lớn ấy. Sau này lớn lên mới biết rằng đó là những món ăn tẩm bổ của người lớn sau cuộc chiến đấu hê..hê. Và tui biết thêm đó là những món ăn bổ dưỡng. Thế nhưng trong mấy món đó, tui chỉ khoái hột vịt lộn. Cái khoái đó theo tui tới tận bây giờ.

Bây giờ già rồi lại càng biết thêm hột vịt lộn là một loại sâm nhung nhiều chất bổ. Cũng hợp lý thôi. Ăn một cái hột vịt lộn là ăn cả một con vịt mà. Mà thịt vịt vốn lại là loại thịt bổ dưỡng chữa được lắm bệnh.

Đối với người phương Tây, hột vịt lộn là món ăn kinh dị và người ta rất kinh hãi món này. Khách du lịch phương Tây và những người lần đầu nhìn thấy trứng vịt lộn thường thấy e ngại và không dám ăn trứng vịt lộn. Nguyên nhân có lẽ là do hình con vịt đã rõ ràng đủ hết mọi bộ phận, lông cánh khiến họ thấy kinh sợ đến nỗi món ăn này thường xuyên xuất hiện trong chương trình thử thách lòng can đảm Fear Factor (chương trình TV mà người tham gia còn phải ăn giun xay và các thứ tương tự khác). Ngoài ra hột vịt lộn còn xuất hiện 2 lần trong Survivor: Palau, 1 lần trong Survivor: China.

Thế hột vịt lộn là gì? Giải thích thế này với người Việt thì chắc người ta sẽ cười cho. Nhưng mà đã nói thì nói luôn cho rõ. Trứng vịt lộn hay hột vịt lộn là món ăn được chế biến từ quả trứng vịt khi phôi đã phát triển thành hình. Trứng vịt lộn là một trong những món ăn nhẹ bình dân ở Việt Nam… và được coi là món ăn bổ dưỡng. Trứng được bán rong, hoặc tại các góc phố, các hàng ăn nhỏ. Món ăn này cũng được ưa chuộng ở một số nước châu Á khác như là Trung Quốc, Philippines và Campuchia, tuy cách chế biến có khác nhau một chút. Tại Philippines, trứng vịt lộn (gọi là Balut theo ngôn ngữ địa phương) cũng được thưởng thức rộng rãi ở tại mọi tầng lớp nhân dân, có điều trứng thường chỉ được ấp đến 17 ngày và không dùng rau răm, trong khi trứng vịt lộn tại Việt Nam thường già hơn một chút, từ 19 ngày tuổi và luôn có rau răm đi kèm. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có các món trứng vịt lộn chiên, trứng gà lộn và trứng cút lộn.(WIkipedia)

Theo phân tích của các chuyên gia dinh dưỡng thì trong trứng vịt lộn có chứa 13,6g protein, 12,4g lipit, 82mg canxi , 212mg phốtpho, 600mg cholesterol, 182kcal năng lượng…
Ngoài ra, trong mỗi quả trứng còn chứa rất nhiều vitamin A, tiền vitamin A, chất sắt, gluxit, vitamin B1 và C. Quá trời chất cần thiết cho sức khoẻ con người.

Do vậy khi sử dụng trứng vịt lộn trong bữa ăn, chúng ta nên lưu ý giảm bớt các món ăn giàu đạm như thịt, trứng, tôm, cua, nội tạng như tim, gan, cật…, các món xào rán nhiều dầu mỡ để tránh gây quá tải chất đạm, chất béo dẫn đến các triệu chứng đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu hóa… không có lợi cho sức khỏe.

Còn theo Đông y, trứng vịt lộn có tác dụng tu âm, dưỡng huyết, ích trí, giúp cơ thể nhanh tăng trưởng.

Khi dùng chung với gia vị như rau răm, gừng tươi, trứng vịt lộn trở thành một bài thuốc chữa bệnh thiếu máu, suy nhược cơ thể, còi cọc, đau đầu, chóng mặt, yếu sinh lý…
Để phát huy hết công dụng của trứng vịt lộn, người ta thường ăn kèm với rau răm, gừng tươi và 1 chút muối. Đây cũng chính là những vị thuốc Đông y giàu dược tính.

Gừng tươi có tác dụng kích thích tiêu hóa, giải độc thực phẩm. Trong khi đó, rau răm tính ấm có tác dụng ấm bụng, chống đầy hơi, sát trùng, tán hàn, ích trí, mạnh gân cốt, chữa lạnh bụng, say nắng…Đọc đến đây bảo đảm quý ông sẽ có khát khao chạy ra quán làm mấy cái cho nó sung he..he. Đàn ông thằng nào lại không muốn sung. Bởi có sung thì mới sướng. Tiếng Việt mình hay lắm, thường gọi chung là sung sướng, chứ tách ra thì giảm hiệu quả rồi. Giới giang hồ thì thường nói giỡn là hột vọt lộn nên ăn chung với thì là. Ha..ha chị em ta đừng có la lên: Ôi trời! Ai lại ăn thế? Bé cái lầm rồi các bà ơi, mấy gã đó chơi chữ đấy. Ý của mấy gã là muốn nói đến lộn là. Mà dân gian ta đã bảo rằng: “Thấy … lạ như được tạ đường phèn. Hểu chửa?”


Mà tại sao ăn hột vịt lộn thì phải ăn với rau răm?

Rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Loại rau này nổi tiếng là kẻ thù của “chuyện ấy”. Từ xa xưa nhiều người còn truyền miệng nhau rằng, các nhà tu hành trong các nhà chùa thường sử dụng rau răm để giảm bớt ham muốn đời thường. Nó thường được dùng ăn kèm với trứng vịt lộn. Tác dụng của rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, sát trùng, tán hàn. Rau răm làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt. Rau răm có vị cay ấm, khu hàn, trừ thấp, ôn ấm tỳ vị, tiêu thực, trừ chướng thống, cầm tả lỵ. Bản thảo cương mục nói: rau răm trừ độc trong tôm cá. Nó còn trừ cước khí sưng chân, chữa rắn, rết, côn trùng cắn, chàm, ghẻ (để đắp, rửa). Các sách về sau còn dùng rau răm để trừ giun sán, chữa thiếu máu do thiếu sắt, điều hòa kinh nguyệt. Người có thai cấm dùng vì có thể sẩy thai. Người dân Campuchia cũng dùng rau răm làm gia vị, ngoài ra còn dùng để lợi tiểu, hạ sốt, chống nôn…

Ăn rau răm nhiều sinh nóng rét, giảm tinh khí, thương tổn đến tủy, suy yếu tình dục. Phụ nữ những ngày thấy tháng (kinh nguyệt) không nên ăn rau răm dễ bị rong huyết.

Tuy rau răm không độc nhưng nếu dùng rau răm thường xuyên, dung lượng rau răm nhiều sẽ làm giảm tình dục, giảm ham muốn cả đàn ông lẫn đàn bà, kém cường dương tráng khí, chân huyết sẽ khô đi, phụ nữ có thể trở nên vô kinh (mất chu kỳ kinh nguyệt).

Do vậy, sử dụng rau răm để tránh những cơn bốc dương, an tâm tu hành để đắc đạo là chuyện có thật diễn ra từ lâu trong đời sống nhà chùa.

Việc ăn trứng vịt lộn với rau răm không rõ bắt nguồn từ đâu, từ bao giờ nhưng theo truyền miệng trong dân gian. Mỗi khi ăn hột vịt lộn, chắc chắn bạn phải có rau răm làm gia vị cùng với mấy lát gừng và muối tiêu. Vì ăn trứng vịt lộn cường dương nên phải ăn kèm rau răm vì rau răm giảm bớt ham muốn tình dục do trứng vịt lộn gây nên. Thật ra rau thơm này phải chịu tiếng là kẻ thù của “chuyện ấy” nhưng đây chỉ là truyền miệng, chưa được xác minh.

Theo đông y thì điều này là sự cân bằng Âm – Dương của thiên nhiên, tạo ra những món ăn hoàn hảo.

Đồng thời hột vịt lộn thì tính hàn và đại bổ dưỡng nên ăn với rau răm gừng và tiêu làm cho thức ăn ấm lại, chống được hậu quả lạnh bụng, đầy hơi và chậm tiêu hóa.

Thế nên các ông ăn hột vịt lộn nhớ kèm rau răm, nhưng chỉ vài lá cho thêm ngon miệng, chớ nên ăn nhiều quá trở thành phản tác dụng, chơi mấy quả vịt lộn liền sao vẫn thấy bèo nhèo hi..hi ..hic

Có lần mấy ông bạn tui cãi nhau về chuyện ăn hột vịt lộn lúc nào là tốt nhất. Ông thì bảo đã bổ thì ăn lúc nào chả bổ, ông thì bảo ăn buổi sáng tốt, ông khác lại cho ăn buổi tối mới tốt. Ngồi uống bia với hột vịt lộn mà, nên cãi nhau om xòm. Tìm hiểu thì cáu trả lời sẽ là: ăn buổi sáng là tốt nhất.

Các chuyên gia dinh dưỡng khẳng định ăn trứng vịt lộn vào buổi sáng là tốt nhất, đặc biệt là từ 10-12h bởi nguồn năng lượng từ trứng rất thích hợp để tăng cường hoạt động thể chất, cũng như tinh thần của chúng ta trong 1 ngày dài. Tránh ăn vào buổi tối vì đây là món ăn khó tiêu, nếu ăn trứng vào buổi tối xong, khi đi ngủ sẽ bị khó chịu, đôi khi dẫn tới đầy hơi, không tiêu hóa được. Thế là hết cãi. Thế nhưng lại chuyển hướng là ăn bao nhiêu thì đúng, bởi hột vịt lộn thuộc loại khó tiêu, ăn nhiều trướng bụng. Câu trả lời có ngay đây:
-Trẻ dưới 5 tuổi không nên ăn do sự chuyển hóa các chất của hệ thống tiêu hóa chưa hoàn thiện, dễ sình bụng, tiêu chảy… Các bà mẹ nên lưu tâm điều này:

– Trẻ 5 – 12 tuổi chỉ nên ăn nửa quả trứng vịt lộn mỗi ngày (1/2 quả trứng vịt lộn tương đương 4-5 trứng cút lộn). Mỗi tuần ăn 1 – 2 quả, và cũng chỉ ăn 15 ngày liền/đợt.
– Trẻ em trên 12 tuổi và người lớn có thể dùng 1-2 quả trứng vịt lộn /ngày.

Hột vịt lộn là món ăn bổ dưỡng, điều đó ai cũng biết. Thế nhưng không phải ai ăn cũng tốt. Có một số người không nên ăn hột vịt lộn. Đó là: Những người có bệnh cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan, gan nhiễm mỡ, tim mạch, gút… cũng nên kiêng hoặc không ăn nhiều trứng vịt lộn vì có thể sẽ làm tắc nghẽn động mạch, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Đối với các bà bầu, cần ăn đa dạng các loại thực phẩm để cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho thai phát triển. Tuy nhiên, nếu sử dụng trứng vịt lộn cũng chỉ nên 2 quả/tuần và ăn vào bữa sáng để tránh đầy bụng, khó tiêu. Đặc biệt, trứng lộn khi ăn thường được bày kèm rau răm, bà bầu nên tránh loại rau này để đảm bảo an toàn cho thai nhi.

Bác sĩ cho biết thêm: “Trẻ nhỏ cũng là nhóm đối tượng nên hạn chế món ăn này để tránh bị khó tiêu, đầy bụng dẫn đến dễ bỏ bữa chính. Nên cho bé sử dụng trứng tươi thay vì trứng lộn để có thể tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng dễ dàng hơn.

Trứng vịt khi phôi thành hình: rửa sạch trứng, luộc lên, để sôi kỹ 8 phút, tắt bếp và để nguyên đó 20 phút, rồi mới lấy ra, đập vỏ, ăn phần bên trong ngay lúc còn nóng.

Tuy nhiên, đất Việt rộng chẳng bao nhiêu nhưng cách ăn uống nhiều khi lại khác nhau lạ lùng. Ví dụ như ăn hột vịt lộn. Ba miền Bắc, Trung, Nam cách ăn và gia vị khác nhau. Thể hiện văn hoá vùng miền khác nhau.

Người Hà Nội thường ăn hột vịt lộn vào buổi sáng, trong khi người Miền Nam nói chung ăn hột vịt lộn vào buổi tối sau khi ăn cơm. Người Hà Nội bóc, bỏ hết vỏ quả trứng cho ra đĩa hoắc bát nhỏ, rồi dùng thìa nhỏ sắn miếng ở đầu nào, chỗ nào cũng được để ăn và có thể sắn miếng to, miếng nhỏ tùy ý, ăn nhanh, ăn chậm tùy ý, nhưng có lẽ nếu ăn chậm quá thì trứng sẽ nguội, vịt lộn sẽ tanh, nên cách ăn này phù hợp với cách ăn nhanh, uống nhanh của người Miền Bắc. Còn người ở trong Nam thì để quả trứng lên một ly nhỏ, dựng đứng quả trứng lên và bóc một tý đầu vỏ phía kia rồi dùng một thìa nhỏ ăn múc trứng dần, cách đó làm người ăn trứng không ăn nhanh được, phải sắn từng thìa nhỏ ăn dần từ trên xuống dưới.

Nó thể hiện phù hợp với phong cách ăn chơi buổi tối, ăn kiểu nhậu, lai rai, hột vịt vẫn ở trong vỏ vẫn được giữ nóng. Ở Đà Nẵng, phần gia vị ăn kèm cũng có khác hơn so với những nơi khác. Người ta thường làm nước mắm và đu đủ chua ngọt, thêm vào những chất cay và nóng như rau răm, ớt hiểm, gừng để giảm vị tanh của trứng. Ở Phan Thiết, ngoài các gia vị thông thường,người ta còn ăn kèm trứng vịt lộn với đồ chua ngọt làm từ cà rốt và củ cải. Cách thức ăn thì giống như của Hà Nội và miền Nam.

Hột vịt lộn là một loại thực phẩm kích, tăng cường Dương lực rất mạnh, nếu nói về khoa học: ăn chất bổ vào buổi tối sẽ dễ béo phì, nhưng mặt khác nếu ăn trứng vịt lộn giúp tăng Cường dương thì ăn trứng vịt lộn vào buổi tối là rất phù hợp cho viêc gần gũi nam, nữ. Đời tréo ngoe vậy đấy. Ăn sáng thì tốt nhưng ai lại gần được vợ buổi sáng, nên chơi hột vịt lộn buổi tối chịu một chút béo phì mà thuận lợi chuyện kia hơn he..he.

Thế nhưng, mới đây các chuyên gia dinh dưỡng lại tuyên bố gây sốc. Họ cho rằng: Trứng là một hệ thống gần như khép kín nên một quả trứng tươi và một quả trứng vịt lộn sẽ tương đồng về tỷ lệ các nguyên tố, sự khác biệt ở đây là biến đổi cấu trúc của các đại phân tử. Nhiều người thường có quan niệm cho rằng trứng vị lộn có giá trị dinh dưỡng cao hơn trứng gà hoặc trứng vịt thường. Tuy nhiên,xét trên một quả trứng thì giữa chúng chênh lệch nhau không đáng kể, xét tổng thể thì chúng có cùng giá trị dinh dưỡng. Nói thế thì trớt quớt, thôi thì ăn cho ngon cũng đã là sướng rồi.

Ở Châu Á, ngoài Việt Nam ra, Philippines là đất nước khoái ăn hột vịt lộn nhất. Nó có tên gọi là Balut, món ăn vặt này rất phổ biến ở Philippines nhưng không ăn kèm với rau răm và gừng như trứng vịt lộn ở Việt Nam. Một điểm khác biệt là balut của Philippines trứng non hơn ở Việt Nam một chút. Thông thường trứng vịt ở Philippines được ấp tối đa khoảng 17 ngày, còn trứng vịt ở Việt Nam được ấp từ 17 đến 19 ngày.

Đây cũng là lý do tại sao người Philippines gọi trứng vịt lộn là Balut, lấy từ cụm “Balut sa puti”, nghĩa là “được bọc trong màu trắng”. Trứng khi đó còn non, vịt chưa phát triển mỏ, lông và móng, còn xương thì đang manh nha.

Người Philippines thường ăn trứng vịt lộn kèm với muối trắng, hoặc dấm pha tỏi, ớt và hành tây. Họ ăn bằng cách khéo léo đập dập và bóc phần đầu của trứng bằng một chiếc thìa nhỏ, sau đó húp nước còn ấm nóng rồi lách thìa vào bên trong để xúc trứng ra.
Ngoài cách luộc đơn thuần, người Philippines còn biến tấu món trứng vịt lộn bằng cách kho, rán cùng trứng, hoặc làm nhân bánh.

Một trong những nơi nổi tiếng nhất vì món Balut là Pateros, một thành phố nhỏ ở Metro Manila. Nhiều người nói rằng món trứng vịt lộn ở đây ngon nhất thế giới. Người dân ở thành phố bắt đầu chế biến món trứng vịt lộn từ nhiều năm nay, với kỹ thuật nấu được truyền từ đời này qua đời khác.

Món ăn này còn được người Philippines mang đi phổ biến ở New York. Cuộc thi ăn trứng vịt lộn nhanh thường niên lần thứ 3 vừa được tổ chức tại New York hồi tháng 9 tại hội chợ đường phố Hester. Người thắng cuộc là người ăn số trứng nhiều nhất trong vòng 5 phút. Giành vị trí á quân, người đàn ông 61 tuổi đến từ Manila có tên là Thomas Canaria cho biết, ông cảm thấy rất nóng ruột sau khi ăn hết 35 quả trứng vịt lộn. Trong khi đó, quán quân Wayne Algenio lần thứ 3 giành chức vô địch với kỷ lục mới là 40 quả trứng.


Trứng vịt lộn là món ăn phổ biến không chỉ ở Việt Nam, Philippines, mà còn cả ở Campuchia và Lào.

Tui dân nhà quê đã sống gần nửa thế kỷ ở Nam Bộ nên chỉ thích ăn hột vịt lộn vào buổi chiều tối. Ghé một quán vỉa hè, ngồi trên cái ghế nhựa xiêu xiêu, gọi một cái hột vịt lộn ấp mề, tức là trứng chưa già ngày. Lấy cái muỗng gõ vào đầu lớn trứng, bẻ mấy miếng vỏ, đưa lên miệng húp chút nước từ trong trứng, ngon làm sao, khoái làm sao, cứ ngỡ như nước sâm. Thế rồi dùng cái muỗng nhỏ xíu ấy múc một miếng, chấm chút muối tiêu đã vắt thêm chút tắc, đưa vào miệng. Ôi chao ôi! beo béo, thơm thơm, bùi bùi có cảm giác như ăn trứng mà không phải là trứng, ăn con vịt mà không phải là vịt. Hai cái tám lý ấy đẩy miếng ngon vào mồm, ngắt một cánh lá rau răm, nhai cho kỹ để tận hưởng cho hết cái ngon của miếng hột vịt lộn, của con vịt vừa mới tượng hình. Tui thích trứng non nên nhiều khi miếng thịt chỉ là bé tý, nhưng cái béo cái ngon cũng đủ đầy.

Cuối cùng của cái trứng luôn là một cục trắng có dáng như viên sỏi đẹp trắng có gân đen. Nếu trứng già thì cái này nên bỏ đi vì cứng và xảm lắm. Nhưng với trứng non thì nhai nó mềm mềm, bùi bùi cũng đã. Trước đây, chiều chiều khi công chức bãi sở, nhiều người ngồi vào quán nhắm la de với hột vịt lộn. Đó là một lối tiêu khiển của giới công chức trung lưu thời ấy. Cũng là một buổi chiều thú vị sau một ngày làm việc.

Trước đây chỉ có món hột vịt lộn luộc. Bây giờ thêm biết bao nhiêu món biến tấu từ hột vịt lộn như : Hột vịt lộn um bầu, Trứng Vịt Lộn Chiên Giòn, Hột vịt lộn xào me, Vịt lộn bọc mộc chiên giòn, Trứng Vịt Lộn Hầm Rau Ngải Cứu, Trứng Vịt Lộn Xào Me Tươi….

Ngày xưa xưa lắc lơ, có nhiều người bán hột vịt lộn đêm, tiếng rao buồn của họ vang lên trong khuya vắng. Chỉ cần thúng trấu đựng trứng, mớ rau răm, lọ muối tiêu, tay cầm cây đèn dầu hột vịt, họ đi từ đầu ngõ đến cuối xóm, đem đến cho khách thèm ăn nửa đêm cái khoan khoái lạ lùng. Tiếng rao hột vịt lộn đêm không còn nữa, đành ra quán vỉa hè nhìn ngắm người đi và xơi vài cái rồi về tìm giấc ngủ. Đã tới tuổi chẳng còn cần hột vịt lộn làm tăng dương lực, lại thêm mỡ máu, gout, nhưng ăn nó vì vị ngon và cũng nhớ những hột vịt lộn được ăn ké nửa đêm với ba mạ, những người giờ đang ở trên trời.

21/8/2018
tác giảDO DUY NGOC

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/1/2020

5 HƯƠNG VỊ ĐẶC TRƯNG VÙNG MIỀN TRONG ẨM THỰC TRUNG QUỐC...

5 HƯƠNG VỊ ĐẶC TRƯNG VÙNG MIỀN TRONG ẨM THỰC TRUNG QUỐC

Ẩm thực Trung Quốc mang 5 hương vị đặc trưng của những vùng miền riêng trên toàn đất nước Trung Quốc như mặn, cay, chua, ngọt và vị đắng.


Mỗi món ăn là sự kết hợp hài hoà của tất cả những hương vị trên không chỉ hấp dẫn mà còn tăng cường sức khoẻ, thậm chí còn điều trị bệnh, giúp phục hồi sau chấn thương. Dưới đây là 5 hương vị gắn với từng vùng riêng đặc trưng được ưa thích ở vùng này mà du khách có thể khám phá trong hành trình du lịch Trung Quốc:

Vị mặn

Vị mặn có vai trò quan trọng trong ẩm thực, có tác dụng phòng ngừa bệnh, có lợi cho sức khoẻ. Vị mặn giúp giải toả trì trệ của cơ thể. Tuy nhiên, món ăn không nên mặn quá bởi ăn quá nhiều muối có hại cho sức khoẻ.

Hầu hết muối sử dụng cho món ăn ở Trung Quốc là muối biển ở các khu vực ven biển vì vậy người dân ở các khu vực này có xu hướng cho nhiều muối hơn mỗi khi nấu ăn vì nó có giá rẻ hơn.


Người dân ở miền Bắc Trung Quốc thưởng thích món ăn mặn, đặc biệt là rau muối. Do miền Bắc có khí hậu khắc nghiệt, mùa đông rất lạnh, không có rau tươi sẵn vào mùa đông. Vì vậy, ở miền Bắc cách để bảo quản rau lâu nhất là món rau muối để có rau ăn trong mùa đông.

Ngày nay, mặc dù vào mùa đông vẫn có nhiều loại rau tươi vận chuyển đến bán ở miền Bắc nhưng rau muối vẫn được người dân ở đây ưa chuộng, ăn vào bữa sáng với cháo.

Vị ngọt

Theo y học cổ truyền Trung Quốc, vị ngọt có tác dụng làm săn chắc cơ thể, làm giảm bớt bệnh tệt và cải thiện tâm trạng con người. Vị ngọt trong ẩm thực Trung Quốc có nguyên liệu từ đường, mật ong và nhiều nguyên liệu khác giúp tăng cường hương vị không chỉ ngọt mà làm món ăn có vị dịu nhẹ.


Ẩm thực miền Đông Trung Quốc có vị ngọt chiếm ưu thế gồm Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô, An Huy và tỉnh Quảng Đông. Người dân ở đây tin rằng, ăn những món ăn có hương vị ngọt dịu nhẹ nhiều sẽ giúp cho cơ thể gọn gàng hơn.

Vị chua

Vị chua trong món ăn có tính năng giúp cho tâm trí con người được thư thái hơn, tốt cho tiêu hoá và giúp hoà tan canxi trong thực phẩm đồng thời kích thích sự thèm ăn. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, vị chua giúp co ruột, ngăn chặn tiêu chảy, thúc đẩy sự tiết nước bọt và làm dịu cơn khát.


Vị chua là hương vị phổ biến trong ẩm thực miền Nam Trung Quốc, đặc biệt ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam. Vùng dân tộc ít người ở đây nghèo nàn, vì vậy họ muốn giữ thức ăn lâu hơn bằng cách cho nhiều vị chua. Món ăn nổi bật là canh cá chua ở Quý Châu.

Những người ở tỉnh Sơn Tây rất ưa chuộng giấm trong mỗi bữa ăn. Hầu như ăn món gì họ cũng cho thêm giấm vì vậy mà thiếu giấm đối với họ là bữa ăn chưa trọn vẹn, chưa đủ độ ngon hấp dẫn.

Vị cay

Vị cay là một trong năm hương vị có tính năng kích thích sự thèm ăn đồng thời giải gió và làm nóng cơ thể tốt và giảm bớt sự toát mồ hôi trộm, thúc đầy lưu thông khí và tuần hoàn máu.


Vị cay phổ biến ở miền Trung và miền Nam Trung Quốc bao gồm Tứ Xuyên, Hồ Nam, Vân Nam và tỉnh Quảng Tây. Điều này được cho là do khí hậu ở những khu vực này có độ ẩm cao, khó làm khô mồ hôi toát ra. Vì vậy, ớt cay thường có mặt trong các món ăn ở đây được cho là để làm khô và nóng cơ thể, tăng sức khoẻ và sự thoải mái.

Hai nơi có ẩm thực cay nổi tiếng là ẩm thực Tứ Xuyên và các món ăn Hồ Nam. Món ăn Tứ Xuyên có vị cay tê do sử dụng hạt tiêu trong khi các món Hồ Nam gồm nhiều gia vị cay, thậm chí còn cay hơn vùng Tứ Xuyên.

Vị đắng


Vị đắng sử dụng trong ẩm thực Trung Quốc, nhưng được dùng hoà trộn với các hương vị khác. Vị đắng nhẹ làm cho món ăn tươi ngon hơn. Nói chung, món ăn có vị đắng thường dùng để chữa bệnh: giúp củng cố dạ dày, thúc đẩy sự tiết nước bọt.

Cũng giống như các quốc gia khác, ẩm thực Trung Quốc cũng có cách nấu, hương vị khác nhau giữa các vùng. Thông thường, mỗi vùng có một hoặc hai trong số 5 hương vị nổi trội hơn. Sở thích hương vị của người dân mỗi vùng miền quyết định do vị trí địa lý, khí hậu, nghề nghiệp, văn hoá và lịch sử.
(Sưu tầm trên mạng)

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/1/2020