Thứ Tư, 24 tháng 3, 2021

CÁCH CHƠI CÂU ĐỐI TẾT TRUYỀN THỐNG

CÁCH CHƠI CÂU ĐỐI TẾT TRUYỀN THỐNG

Chơi câu đối Tết cũng là một phong tục truyền thống của Tết xưa. Các câu đối thường gửi gắm nguyện vọng trong năm mới như: trừ tà, tiêu tai giải hạn, nghênh tường nạp phúc, phát tài, bình an, phúc, lộc, thọ, khang, ninh...

Thú chơi hoành phi ngày càng có nhiều người tìm về phong cách cổ xưa, vì thế hoành phi câu đối sử dụng trong từ đường, nhà thờ họ, trong gia đình và chơi Tết cũng đang được nhiều người chú ý. (Ảnh: Shutterstock)

Những câu đối thời hiện đại dùng tiếng Việt (chữ cái Latin), và đọc theo quy tắc hiện đại (phương Tây) là từ trái qua phải. Tuy nhiên, với những người hoài cổ hoặc người yêu thích những nét đẹp văn hóa truyền thống thì họ vẫn chơi câu đối kiểu ngày xưa, tức là dùng chữ Hán (chữ Nho), và tuân thủ quy tắc đọc từ phải sang trái. Chơi câu đối cũng có những quy tắc nghiêm cẩn. Dưới đây là đôi nét về cách chơi câu đối Tết theo lối truyền thống xưa:

Ở chính diện cửa chính (hoặc cổng chính), phía trên dán (treo) một bức hoành phi, phía bên tay phải dán vế đối thứ nhất, còn gọi vế đối phải, bên trái dán vế đối thứ hai, còn gọi là vế đối trái (cách gọi hiện đại theo quy tắc viết chữ hàng ngang là vế trên và vế dưới).

Cũng như các câu đối nói chung, câu đối Tết cũng phải tuân thủ đối ý (ý nghĩa, từ tính đối nhau), và đối chữ (số chữ, âm điệu bằng - trắc). Trong 2 câu đối đó, làm thế nào biết được, vế đối nào dùng bên phải (vế đối phải, vế đối trên). Thông thường có một số quy tắc sau:

1. Phân biệt theo luật bằng trắc của chữ

Để phán đoán vế đối phải, trái, thường dùng âm bằng trắc của chữ cuối cùng của vế đối. Vế đối phải (vế trên) thường là câu có chữ cuối cùng có thanh trắc (dấu sắc, nặng, hỏi, ngã), còn vế đối trái (vế dưới) là câu có chữ cuối cùng có thanh bằng (dấu huyền, không dấu)

Ví dụ:

Hoành phi: "Nghênh xuân tiếp phúc" (迎春接福), nghĩa là: "Đón xuân nhận phúc".

Chú ý: Do cách trình bày hiện đại là đọc từ trái sang phải, thế nên khi chơi hoành phi theo cách truyền thống, chúng ta phải sắp xếp ngược lại theo trình tự từ phải sang trái. Ví dụ câu hoành phi trên sẽ viết theo thứ tự từ phải sang trái - và sẽ là: "phúc tiếp xuân Nghênh" (福接春迎)

Câu đối và hoành phi trước 1 miếu Trung Hoa. (Ảnh: Wikipedia/CC BY-SA 3.0)

Vế đối phải (vế trên): "Phúc vượng tài vượng vận khí vượng" (福旺財旺運氣旺), nghĩa là: "Phúc thịnh vượng, tài thịnh vượng, vận khí thịnh vượng".

Vế đối trái (vế dưới): "Gia hưng nhân hưng sự nghiệp hưng" (家興人興事業興), nghĩa là: "Nhà hưng thịnh, người hưng thịnh, sự nghiệp hưng thịnh".

Chú ý: Do cách trình bày hiện đại là viết theo dòng từ trái sang phải, thế nên khi chơi câu đối theo cách truyền thống thì chúng ta phải viết theo hàng dọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.

2. Phân biệt theo trình tự thời gian, không gian

Thông thường vế đối có thời gian, không gian trước là vế đối phải (vế trên), vế đối có thời gian, không gian sau là vế đối trái (vế dưới). Cũng có thể là việc cần làm trước thì làm vế đối phải, việc cần làm sau thì làm vế đối trái...

Ví dụ:

Hoành phi: "Hỷ nghênh tân xuân" (喜迎新春), nghĩa là: "Vui đón tân xuân".

Vế đối phải (vế trên): "Môn nghênh Xuân Hạ Thu Đông phúc" (門迎春夏秋冬福), nghĩa là: "Cổng nghênh đón phúc khí của bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông"

Vế đối trái (vế dưới): "Hộ nạp Đông Tây Nam Bắc tường" (戶納東西南北祥), nghĩa là: "Cửa tiếp nhận may mắn của bốn phương Đông Tây Nam Bắc".

3. Phân biệt theo tập quán ngôn ngữ

Một số cặp câu đối là dùng từ những câu châm ngôn, cách ngôn, danh ngôn, tục ngữ, thành ngữ quen thuộc, đã cố định trật tự câu, do đó vế đối cũng đã được cố định.

Ví dụ:

Hoành phi: "Tân niên đại cát" (新年大吉), nghĩa là: "Năm mới may mắn, tốt lành lớn".

Vế đối phải (vế trên): "Phúc như Đông Hải trường lưu thủy" (福如東海長流水), nghĩa là: "Phúc như nước biển Đông chảy mãi"

Vế đối trái (vế dưới): "Thọ tỷ Nam Sơn bất lão tùng" (壽比南山不老松), nghĩa là: "Thọ sánh cùng tùng bất lão núi Nam".

Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp chữ Việt, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009: "Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai". (Ảnh: Wikipedia/CC BY-SA 3.0)

4. Phân biệt theo phạm vi, trường hợp

Theo phạm vi, trường hợp thì từ to đến nhỏ, như thời gian, không gian, sự vật lớn làm vế đối phải (vế trên), thời gian, không gian, sự vật nhỏ làm vế đối trái (vế dưới).

Hoành phi: "Cung hạ tân xuân" (恭賀新春), nghĩa là: "Chúc mừng xuân mới".

Vế đối phải (vế trên): "Niên niên phúc lộc tùy xuân đáo" (年年福祿隨春到), nghĩa là: "Hàng năm phúc lộc theo xuân đến"

Vế đối trái (vế dưới): "Nhật nhật tài nguyên thuận ý lai" (日日財源順意來), nghĩa là: "Hàng ngày tiền tài thuận ý vào".

5. Cách sử dụng câu đối chữ Hán

Sau khi những trào lưu hiện đại lắng lại, khi chúng ta có đủ thời gian để quan sát, so sánh, trầm tĩnh để suy xét đánh giá thì chúng ta mới thấy rằng thời gian là thước đo, là thử thách cho mọi sự vật hiện tượng xã hội. Chỉ những giá trị nhân văn, thiện lương, vượt qua thử thách của thế thời và gột rửa của thời gian mới là chân giá trị.

Thú chơi hoành phi câu đối cũng như vậy, càng ngày càng nhiều người tìm về phong cách cổ xưa, vì thế hoành phi câu đối sử dụng trong từ đường, nhà thờ họ, trong gia đình và chơi Tết cũng đang được nhiều người chú ý. Xưa mọi người thường tìm đến các cụ đồ Nho có đức cao vọng trọng, văn hay chữ tốt để xin chữ, xin câu đối, để làm phương châm sống cho mình và lưu lại cho con cháu đời sau những bài học quý báu để làm người.

Ngày nay, người am hiểu chữ Nho (tức chữ Hán cổ, chữ chính thể) khá ít, nên không tránh khỏi cách dùng hoành phi câu đối "lai căng", như dùng chữ Hán giản thể (tức chữ Hán hiện đại), và dùng theo quy tắc hiện đại là viết từ phải sang trái. Nhiều bức hoành phi câu đối còn hiện tượng chữ Hán chính thể, giản thể lẫn lộn, thể chữ lẫn lộn, ví dụ: khải thư lẫn chữ hành thư hoặc thảo thư.

Hoành phi câu đối thường được dùng ở những trường hợp trang trọng, trang nghiêm, thế nên, thường dùng thể chữ Chân (tức khải thư) hoặc Lệ (tức lệ thư), đôi khi cũng dùng chữ thể Hành (tức hành thư). Thể Thảo (tức thảo thư) thì phóng túng, thiếu sự nghiêm trang, còn thể Triện (tức triện thư) thì quá cổ kính và khó viết, khó nhận biết, nên cũng hiếm dùng.

Thầy đồ đang viết chữ. (Ảnh: Shutterstock)

Nhưng lỗi thường gặp nhất, và lớn nhất là dùng chữ Hán giản thể, hoặc lẫn chữ giản thể. Chữ Hán là chữ có nội hàm văn hóa sâu sắc, chứ không đơn thuần là ký tự ghi lại một vài ngữ nghĩa nhất định.

Ví dụ, chúng ta chúc nhau, hoặc mong muốn nguyện vọng trong năm mới là "Tấn tài tấn lộc" (cũng có âm đọc khác là "tiến tài tiến lộc"), thì sự khác biệt giữa hai thể chữ giản thể và chính thể (Hán cổ) trong câu "Tấn tài tấn lộc" như sau:

Chữ chính thể: 進 財 進 祿

Chữ giản thể: 进 财 进禄

Chữ Tấn (tiến) chính thể (進) gồm bộ Xước (辶) nghĩa là bước đi, và bộ Chuy (隹) nghĩa là loài chim đuôi ngắn. Chữ Chuy này viết giống chữ Giai (佳) nghĩa là tốt đẹp. Như vậy chữ Tấn chính thể (Hán cổ) còn có hàm nghĩa là "càng đi càng tốt đẹp", vì đi theo chính Đạo, đi theo chân lý, nên càng tiến càng tốt đẹp.

Do đó "Tấn tài tấn lộc" chính thể (進 財 進 祿) ngoài ý nghĩa mặt chữ là "tăng tiến tài sản, tăng tiến quan lộc" ra thì nó còn có nội hàm là "tăng tiến tài sản và quan lộc, càng ngày càng tốt đẹp". Bởi vì Nho gia cho rằng: "Người quân tử yêu quý tài sản, nhưng để có được thì phải đúng Đạo lý" (nguyên văn: "Quân tử ái tài, thủ chi hữu Đạo"), tức là với tiền đề là tuân thủ đạo nghĩa rồi mới có được tiền tài, thì càng nhiều càng tốt đẹp, càng đem lại lợi ích cho mình và mọi người.

Còn chữ Tấn (tiến) giản thể (进) gồm bộ Xước (辶) nghĩa là bước đi, và chữ Tỉnh (井) nghĩa là cái giếng. Như thế, chữ Tấn giản thể nó còn ẩn chứa hàm ý càng đi càng đâm đầu xuống giếng, tức đi vào chỗ nguy hiểm, chỗ chết.

Thế nên chữ "Tấn tài tấn lộc" giản thể (进 财 进祿) ngoài ý nghĩa mặt chữ là "tăng tiến tài sản, tăng tiến quan lộc" ra thì nó còn có ẩn chứa ý nghĩa là "tăng tiến tài sản và quan lộc, nhưng càng đi thì càng đâm đầu xuống giếng, vào con đường chết". Bởi vì đây là con đường của kẻ tiểu nhân, chỉ biết có lợi, bất chấp đạo lý, bất chấp tất cả. Nho gia cho rằng: "Người quân tử hiểu rõ về đạo nghĩa, sống vì đạo nghĩa, còn kẻ tiểu nhân thì hiểu rõ về danh lợi, sống về danh lợi" (nguyên văn: "Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi").

Thế nên, khi dùng những bức hoành phi câu đối cho từ đường, nhà thờ họ, hoặc trong gia đình thì cần hết sức chú ý. Ai cũng mong muốn cuộc sống tốt đẹp, tương lai tươi sáng, nên thành kính thỉnh chữ hay chữ tốt về treo. Nhưng đáng tiếc là có khi lại rước rủi ro và bất hạnh về mà không tự biết. Bởi vì những cái giả, cái ác, cái ngụy thiện, giả thiện vẫn được trang sức bề ngoài bằng câu chữ hay ho, đường hoàng, rực rỡ lắm. Xem hiện tượng nhiều quan chức các cấp liên tiếp gặp họa hoạn, mất chức, bị kỷ luật, bị tù tội... phải chăng là vì họ đã theo đuổi "Tấn tài tấn lộc" theo đúng ý nghĩa của chữ giản thể.

Mùa xuân mới đang đến, gió xuân ấm áp quét sạch tàn dư hắc ám cảnh đông hàn, mang đến chồi non nụ biếc trên cảnh vật, trổ ra trăm hoa muôn tía ngàn hồng, đem hương thơm thanh khiết khắp nhân gian. Con người cũng như cỏ cây hoa lá, chỉ loài tùng bách hiên ngang cứng cáp mới vượt qua đông hàn khắc nghiệt mà vẫn còn xanh thắm tốt tươi; chỉ loài mai cúc thanh khiết vững vàng mới ngạo nghễ trước tuyết sương, đem thanh hương đến cho muôn loài.

Hoàng Mai / Theo: NTDTV

VÌ SAO BÁNH CHƯNG LẠI ĂN VỚI DƯA HÀNH?

VÌ SAO BÁNH CHƯNG LẠI ĂN VỚI DƯA HÀNH?

Bạn có biết, chính sự kết hợp tinh tế, hài hòa giữa hương vị chua thanh – béo ngậy đã giúp món bánh chưng trở nên thêm phần hấp dẫn.


Mỗi dịp Tết đến Xuân về, dường như ai trong trong chúng ta cũng nhớ tới cặp câu đối “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”.

Cho đến nay, “cây nêu”, “câu đối đỏ” dường như không còn được thịnh hành, “tràng pháo” bị cấm từ lâu nhưng “thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh” chắc còn lưu truyền mãi và không thể thiếu trong mâm cỗ cúng gia tiên của mỗi gia đình người Việt.


Nhưng bạn có bao giờ thắc mắc rằng, vì sao người miền Bắc thường ăn bánh chưng với dưa hành hay bánh tét lại ăn kèm với củ kiệu (người miền Nam) và dưa món (với người miền Trung) chưa? Bài viết dưới đây sẽ bật mí cho bạn câu trả lời.

Nói đến bánh chưng, bánh tét là chúng ta nhớ ngay đến hương vị thơm ngon của nó. Gạo nếp, thịt lợn, đậu xanh, muối tiêu… được gói lá dong xanh và luộc nhừ, ép chặt tạo thành hương vị độc đáo.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia y học, bánh chưng, bánh tét là một món ăn giàu năng lượng – đầy đủ các thành phần đường, đạm, béo, vitamin và chất khoáng.

Một góc bánh (1/8 chiếc bánh) có giá trị dinh dưỡng tương đương khi bạn ăn một bát cơm đầy với thức ăn. Mặc dù giàu năng lượng nhưng loại bánh này lại thiếu chất xơ.


Ẩm thực người Việt luôn coi trọng sự hài hòa, cân bằng trong hương vị vì thế đi kèm với sự đậm đà, ngậy béo của bánh chưng, thịt mỡ… không thể thiếu món dưa hành, củ kiệu hay dưa món thanh thanh, chua mát.

Không những thế, loại thực phẩm này còn giúp bổ sung thêm chất xơ cho cơ thể. Bên cạnh đó, vị chua dịu, cay nhẹ và thơm của dưa hành, củ kiệu sẽ giúp gia tăng hương vị của những món ăn khác, đặc biệt kích thích tiêu hóa khi bạn ăn thực phẩm nhiều đạm, lipid, chất béo… như bánh chưng, bánh tét.


Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho biết, bạn không nên ăn quá nhiều bánh chưng/bánh tét với dưa hành/ củ kiệu bởi lượng đạm và lượng muối trong hai loại thực phẩm có thể gây hại cho sức khỏe bạn như tăng tiết dịch vị axit dạ dày, dễ bị đầy bụng, ợ chua, khó tiêu…

Lượng dinh dưỡng, chất đạm, chất béo hay muối quá cao trong cơ thể cũng sẽ gây ảnh hưởng không tốt tới tim mạch… Do vậy, trong những ngày Tết, bạn nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, hạn chế ăn nhiều đồ béo, đường ngọt để cơ thể luôn khỏe mạnh, vui chơi trong dịp Tết.

Theo khoahoc

TREO CHỮ PHÚC CÓ ĐEM LẠI PHÚC KHÍ KHÔNG?

TREO CHỮ PHÚC CÓ ĐEM LẠI PHÚC KHÍ KHÔNG?

Mọi người thường nói, Tết ngày nay càng ngày càng nhạt nhẽo vô vị. Vậy làm thế nào để Tết vui vẻ thú vị như xưa, và còn đem lại phúc khí?


Hiện nay, ngày càng có nhiều người bắt đầu coi trọng ý nghĩa tinh thần và tâm linh trong dịp Tết, và bắt đầu coi trọng, tìm hiểu các nghi lễ cổ xưa. Bởi vì chỉ có nghi lễ nghi thức trang trọng mới khiến chúng ta cảm thấy ngày Tết hoàn toàn khác biệt với ngày thường, và lưu giữ lại những ký ức sâu sắc, là hành trang giúp chúng ta vượt qua mọi bão giông, anh nhiên đi hết cuộc đời.

Đôi nét Tết xưa

Xưa kia mỗi dịp Tết đến xuân về, nhà nhà đều quét dọn sạch sẽ tươm tất, quét vôi lại nhà cửa từ trong ra ngoài trắng tinh, mua tranh Tết, dán câu đối, xin chữ ông Đồ về treo, trong đó luôn có chữ Phúc mực tàu trên nền giấy điều đỏ thắm.

Ngày 30 Tết, cả nhà ăn đoàn tu ăn bữa tất niên, cùng nhau quây quần gói bánh chưng, ngồi bên nồi bánh chưng vừa trò chuyện vừa náo nức chờ bánh chín, nghe tiếng pháo đì đẹt lác đác của đám trẻ túm tụm bên nhau đốt pháo cười giòn tan. Người chủ gia đình làm mâm cơm cúng Trời Đất Thần linh ngoài trời, và mâm cơm cúng ông bà tổ tiên trong nhà.

Thời khắc giao thừa đến, người chủ gia đình dâng hương cầu Thần Phật bảo hộ bình an, cầu anh linh tổ tiên phù hộ con cháu mạnh khỏe, làm ăn phát đạt. Còn những người trẻ tuổi thì cũng lũ trẻ đốt pháo. Nhà nhà vang lên những tiếng pháo nổ đì đùng lách tách vui tai. Mùi khói pháo khen khét nồng nặc xua đi cái giá lạnh và âm ám của đêm đen, đón dương khí của một ngày mới, một mùa xuân mới, một năm mới trở về.

Sáng mồng một Tết, mọi người thay bộ quần áo đẹp nhất, con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ năm mới mạnh khỏe phúc - lộc - thọ - khang - ninh, người lớn mừng tuổi trẻ con năm mới chăm ngoan, là con ngoan trò giỏi, biết lễ phép, biết kính trên nhường dưới. Sau đó người thì đi hàng xóm, họ hàng chúc Tết, người ở nhà nghênh đón người đến xông đất và chúc Tết đầu năm, để cả năm may mắn và thuận lợi.

Không khí Tết tràn ngập nơi nơi, người đi lễ chùa kính Trời lễ Phật, gột rửa những lo toan tất bật cả một năm, thanh tâm gạt bỏ những tạp niệm, đắm mình trong không khí trang nghiêm, thanh tịnh trong khuôn viên ngôi chùa cổ kính. Có người thì đến xem lễ hội làng, nơi chơi cờ người, chỗ thì đấu vật, nơi đánh đu, chỗ ném còn, nơi hát đối, chỗ bịt mắt đập bị, nơi leo cột mỡ, chỗ múa rồng, múa lân…

Năm nay dịch bệnh lại quay trở lại trước Tết, tốc độ lanh nhanh và rộng hơn, có nơi khoanh vùng cách ly, người xa quê không thể về quê ăn Tết, người trong gia đình, mỗi người ăn Tết một phương, khiến cho không khí lễ Tết thời hiện đại đã nhạt lại càng nhạt thêm. Tuy nhiên người ta vẫn thường nói Tết Nhất, nghĩa là Tết là Nhất trong năm rồi, nên dẫu dịch bệnh u ám khắp nơi thì nhà nhà vẫn mua đào, mai, quất, hải đường, lay-ơn, hoa ly, hoa cúc và phong lan chơi Tết.

Tục chơi chữ Phúc với mong muốn năm mới có nhiều phúc khí đến

Ngoài ra nhiều người còn chơi chữ, trong đó chữ Phúc là phổ biến nhất, cũng là nguyện ước năm mới hạnh phúc, phúc lộc, phúc lành đến với gia đình. Cụ Nguyễn Công Trứ có câu đối nổi tiếng về chữ Phúc rằng:

Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng “Bần” ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông “Phúc” vào nhà

Chữ Phúc có thể chơi riêng lẻ, hoặc trong bộ Tam Đa: Phúc Lộc Thọ, hoặc trong bộ Ngũ Phúc: Phú Quý Thọ Khang Ninh. Có người treo, dán chữ Phúc đứng, có người treo, dán ngược, vậy thế nào mới đúng?

Có người nói, treo, dán chữ Phúc ngược nghĩa là Phúc Đảo, ngụ ý Phúc Đáo, nghĩa là phúc khí đến. Lại có người nói, chữ Phúc đảo ngược nghĩa là phúc khí bị đảo ngược, là không có phúc khí. Để biết cách chơi chữ Phúc thế nào cho đúng, chúng ta cùng xem nguồn gốc chữ Phúc và một số mẩu chuyện về chữ Phúc thì sẽ biết thế nào là đúng.

Chữ Phúc cổ xưa nhất được tìm thấy trên xương thú, gọi là chữ giáp cốt.

Chữ Phúc cổ xưa nhất được tìm thấy trên xương thú, gọi là chữ giáp cốt. Chữ Phúc 福 bên trái có bộ Kỳ 礻 biểu thị đàn tế, nghĩa là Thần Đất, cũng đại diện cho Trời Đất Thần linh. Bên phải là một vò rượu và hai bàn tay nâng. Hợp lại có nghĩa là: Người xưa dùng hai tay thành kính nâng vò rượu dâng lên đàn tế, ban thờ để cảm tạ Thần đã ban phúc.

Nếu treo, dán ngược thì rượu trong vò bị đổ ra hết đó sao, như thế thì làm sao có thể cầu phúc được. Do đó chữ Phúc nên treo, dán đứng, không nên treo, dán ngược.

Vậy treo, dán chữ Phúc có thực sự đem lại phúc khí không? Theo quan điểm của người hiện đại thì điều này không khoa học, làm sao có thể được?!

Tuy nhiên trong lịch sử đã thực sự tồn tại những câu chuyện chân thực về việc treo, dán chữ Phúc đã đem lại phúc khí.

Viết chữ Phúc cầu được phúc cho bà nội kéo dài tuổi thọ

Năm Khang Hy thứ 20, sắp đến lễ mừng thọ 60 của Hoàng Thái hậu Hiếu Trang tròn 60 tuổi thì đúng lúc đó bà bị bệnh nặng. Các thái y dốc hết sức chữa trị nhưng đành chịu bất lực bó tay.

Hoàng đế Khang Hy lòng lo ngay ngáy, ông xem các loại thư tịch cổ xem có phương pháp đặt biệt nào có thể chữa trị cho Hoàng Thái hậu được không. Cuối cùng ông phát hiện ra, thời kỳ thượng cổ có phép "thừa đế sự" thỉnh cầu phúc để kéo dài tuổi thọ. Ý nghĩa là, Hoàng đế là chân mệnh Thiên tử, phúc thọ vô cương, có thể dùng phúc phận của mình để thỉnh cầu phúc kéo dài tuổi thọ cho cha mẹ hoặc người thân.

Là người con hiếu thuận, thế là Hoàng đế Khang Hy đã thành kính tắm gội trai giới 3 ngày, chọn ro một cây bút lông trên có khắc chữ "Tứ phúc thương sinh" (Ban phúc cho chúng sinh), sau đó ông viết chữ Phúc cao khoảng nửa mét, rồi dùng ngọc "Khang Hy ngự bút chi bảo" đóng dấu lên để gia trì.

Thật thần kỳ, sau khi Khang Hy viết chữ Phúc để cầu phúc thì bệnh tình của Hoàng Thái hậu Hiếu Trang đã tốt lên. Từ đó dân gian lan truyền rằng chữ Phúc mà Khang Hy viết này là "Thiên tứ hồng phúc" (Trời ban hồng phúc), còn gọi là "Thiên hạ đệ nhất Phúc" (Hình dưới)

Thiên hạ đệ nhất Phúc - chữ Phúc do Khang Hy viết

Nhìn chữ Phúc này có chứa dấu hiệu của Ngũ Phúc: Đa Thọ, Đa Điền, Đa Tử, Đa Tài, Đa Phúc.

Phía trên bên phải chữ Phúc này là chữ Đa 多 (nhiều), phía dưới bên phải là chữ Điền 田 hở (ruộng đất), tượng trưng cho "Phúc vô biên".

Chữ Phúc có bộ Kỳ 礻 giống với chữ Tử 子 (con), và cũng giống với chữ Tài 才 (tài trí, tài năng). Thế nên nói chữ Phúc này bao hàm ý nghĩa "Đa phúc, đa điền, đa tử, đa tài, đa phúc".

Nếu đơn thuần chỉ treo chữ Phúc thì chưa chắc đã có phúc khí. Sở dĩ Khang Hy viết chữ Phúc này mà có thể chiêu mời được phúc khí chủ yếu là do bản thân Khang Hy là vị vua nhân đức có đức hạnh sâu dày, do đó được Thượng Thiên bảo hộ và điểm hóa, để ông dùng phúc phận của mình đổi lấy sự kéo dài thọ mệnh của bà nội, đó là đức hiếu thuận lớn.

Tất nhiên chúng ta không thể so được với Khang Hy, vậy treo, dán chữ Phúc có tác dụng không? Chỉ cần chúng ta là người thiện lương thì đều có tác dụng. Sách "Thái thượng cảm ứng thiên" của Đạo giáo đã nói rằng: "Người thiện lương thì người người đều kính trọng, Đạo Trời bảo hộ, phúc lộc theo về, mọi thứ tà xa lánh, Thần linh bảo vệ, làm ắt sẽ thành".

Tại sao người thiện lương thì tránh được mọi thứ tà, tránh được tai họa, có được phúc khí? Câu chuyện dưới đây phần nào giải đáp câu hỏi này.

Thời triều Tống có Trạng nguyên Phùng Thời Hành. Khi ông còn chưa đỗ đạt làm quan, vào một ngày Tết Nguyên Đán, ông xuất hành rất sớm, gặp rất nhiều quỷ.

Phùng Thời Hành là người can đảm, không những không sợ hãi, ông còn quát mắng rằng: "Các ngươi muốn gì?"

Lũ quỷ đó nói: "Chúng tôi đều là Dịch quỷ, đầu năm đến nhân gia gieo rắc dịch bệnh".

Phùng Thời Hành hỏi: "Nhà ta có bị dịch bệnh không?"

Quỷ đáp: "Không".

Phùng Thời Hành hỏi: "Tại sao không?"

Quỷ nói: "Nhà ông 3 đời đều tích đức, thấy có người làm việc xấu thì ngăn lại, thấy có người làm việc tốt thì ca ngợi. Do đó con cháu nhà ông đều thành đạt, chúng tôi đâu dám vào nhà ông?" - nói rồi biến mất.

Năm đó dịch bệnh hoành hành, chỉ có nhà họ Phùng là bình an vô sự. Thế nên làm người tốt thì có thể tránh được dịch bệnh.

Tục dán chữ Phúc ngược có nguồn gốc từ đâu?

Mã Hoàng hậu của Chu Nguyên Chương, Hoàng đế sáng lập nên nhà Minh, là người có đôi bàn chân lớn, vì vậy bị một số người chê cười. Một năm nọ vào dịp Tết, Chu Nguyên Chương cải trang đi vi hành, thấy một nhà nọ treo đèn lồng có vẽ một người phụ nữ chân to, ông cho rằng đó là đem Mã Hoàng hậu ra làm trò cười, thế là đùng đùng nổi giận. Ông quyết định trở về cung rồi sau quân lính đến bắt người nhà treo đèn lồng này. Để giúp binh lính dễ nhận biết, ông lặng lẽ dán một chữ Phúc ngược trên cổng nhà người đó làm ký hiệu.

Sau khi Chu Nguyên Chương hồi cung, Mã Hoàng hậu thấy ông tức giận đùng đùng thì vội vàng hỏi nguyên do. Chu Nguyên Chương đem đầu đuôi câu chuyện kể lại.


Mã Hoàng hậu là một người thiện lương, nghe thấy có người sẽ vì chuyện treo đèn vẽ người phụ nữ chân to, ám chỉ mình mà phải mất mạng, trong lòng bà vô cùng xót thương, không nỡ lòng. Bà biết có khuyên giải Hoàng thượng lúc này cũng vô ích. Thế là bà nhanh trí ngầm sai người dán tất cả cổng từng nhà ở cả dãy phố đó một chữ Phúc ngược. Đến khi binh lính do Hoàng thượng sai đến bắt người thì họ ngây người ra, nhà nào cũng có chữ Phúc ngược, biết bắt ai đây? Nhờ thế mà nhà người bị tội kia vì có chữ Phúc ngược mà thoát được kiếp nạn. Từ đó tục dán chữ Phúc ngược lan truyền ra khắp nơi ở Trung Quốc, thậm chí ra cả một số nước khác ở Đông Á.

Thế nên, dán chữ Phúc ngược chỉ có thể tránh được một tai họa nhất thời còn muốn chiêu mời phúc khí thì phải dán, treo chữ Phúc đứng, chính trực, ngay thẳng. Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ, mà quan trọng nhất còn phải là người có đức hạnh, là người thiện lương.

Hoàng Mai
(Bài viết có sử dụng một phần bài viết của Epoch Times

CHẲNG QUA CHỈ LÀ MỘT BÁT CƠM… (不過一碗飯)

CHẲNG QUA CHỈ LÀ MỘT BÁT CƠM… (不過一碗飯)

Hai người thanh niên không hài lòng với nơi làm việc liền đi vào chùa cầu xin sự giúp đỡ, vị đại sư chỉ nói đúng 5 từ, không ngờ 10 năm sau…


Một ngày nọ, có hai người ở tại nơi làm việc cảm thấy không hài lòng nên quyết định cùng nhau đi tới một ngôi chùa tìm một vị đại sư xin giúp đỡ.

Khi gặp được vị đại sư, một trong hai người nói: “Thưa đại sư, chúng con ở phòng làm việc hay bị ức hiếp, quá thống khổ, cầu xin ngài chỉ bảo, chúng con có nên xin nghỉ việc ở đó hay không?”

Vị đại sư từ từ khẽ nhắm hai mắt lại, giống như đang trầm ngâm, sau nửa ngày, vị đại sư cuối cùng cũng mở lời, nhưng lại chỉ nói đúng 5 từ: “Bất quá nhất oản phạn” (不過一碗飯 Tạm dịch: “Chẳng qua chỉ là một bát cơm”). Sau đó, vị đại sư liền phất phất tay, ý bảo hai người rời đi.


Sau khi hai người trở lại công ty, một người trong đó lập tức nộp đơn xin nghỉ việc, quyết định trở về quê hương làm ruộng, người còn lại tiếp tục ở lại công ty.

Thoáng một cái đã mười năm trôi qua, người trở về quê hương làm ruộng, luôn tích cực học hỏi kinh nghiệm từ những người nông dân đi trước, lấy môi trường thân thiện làm phương thức kinh doanh, kết quả của sự cần cù cố gắng là đã trở thành một chuyên gia nông nghiệp.

Còn vị ở lại công ty thì sao? Cũng không hề thua kém, anh ta đã tự mình điều chỉnh cho phù hợp, cũng cố gắng thể hiện năng lực, nên dần dần được coi trọng, hiện giờ đã trở thành người quản lý.

Đến một ngày, hai người gặp lại nhau.

Vị chuyên gia nông nghiệp nói: “Thật là kỳ lạ, đại sư nói cho chúng ta biết “Bất quá nhất oản phạn”, năm chữ này tôi nghe xong liền hiểu ngay, chẳng qua cũng chỉ vì một bát cơm thôi, sao phải miễn cưỡng ở lại công ty mà không rời đi? Cho nên tôi đã xin nghỉ việc ngay.” Sau đó, anh ta hỏi người quản lý: “Tại sao khi đó anh lại không nghe theo lời nói của đại sư vậy?”.

Người quản lý vừa cười vừa nói: “Tôi nghe xong đại sư nói “bất quá một bát cơm”, nên mỗi khi phải chịu nhiều sự khinh bỉ, chịu nhiều rắc rối, tôi chỉ cần nghĩ: ‘Cùng lắm cũng chỉ là để kiếm miếng cơm ăn’, cho nên dù ông chủ nói bất kể điều gì khó chịu, chỉ cần mình bớt hờn giận, bớt so đo là được rồi. đại sư không phải là có ý này sao?”.


Một ngày khác, họ lại đến thăm đại sư, dĩ nhiên, vị đại sư đã dần dần già đi rồi, ông ngồi trước mặt hai người và vẫn từ từ nhắm mắt lại, sau một ngày trôi qua, ông cũng chỉ nói ra năm từ: “Bất quá nhất niệm gian” (不過一念間 Tạm dịch: “Chẳng qua chỉ là sai khác ở một niệm”), sau đó lại một lần nữa phất phất tay.

Hai người bèn nhìn nhau cười, dường như trong lòng đã hiểu rõ.

Theo NTDTV
Mai Trà biên dịch
Link tham khảo (tiếng Hoa):
https://www.163.com/dy/article/FMEBSPCQ0514DGUU.html

ĐƯỢC KHOAI MIỄN CHÁO?

ĐƯỢC KHOAI MIỄN CHÁO?

Dọc các vùng biển Việt đều có cá khoai bơi lúc lắc, không ít thì nhiều. Từ năm 1969, nhà văn Vũ Bằng đã ghi nhận khô cá khoai ngon vào hàng thứ tư, trên cả khô sặt (thứ hạng lần lượt: chim, gộc, thiều, khoai, sặt). Mặc dù vậy, muốn nếm hương vị mộc mạc đặc trưng của cá khoai, phải nếm cá tươi.


Đừng nghe tên mà bắt hình dong

Có vùng, người ta đặt tên khác cho nó là cá cháo. Đây là loài cá hàm chứa khá nhiều mâu thuẫn lý thú. Ví dụ, khi bạn đã no xôi chán chè, vẫn có thể húp thêm được vài chén canh “khoai cá”. Hay những lúc uể oải, người sắp bị cảm mạo hoặc lỡ say quắc cần câu đêm qua, sáng dậy rất cần một tô cháo cá bốc khói thơm vuốt ve nêm nhiều hành, gừng! Và những món cá khoai sáng tạo khác của dân Nam, rất đáng được tôn vinh, như ba món ăn chơi của dân biển Gò Công Đông - Cần Giờ.

“Đầu dây mối nhợ” cũng do hai loại gia vị tưởng chừng đối nghịch nhau tác hợp nên: tương hột cùng nước mắm. Phụ họa còn có nhúm hành lá tươi xanh, vài trái ớt hiểm đỏ tươi và mấy cọng rau quế nhỏ nhắn. “Coi vậy chứ, thiếu nó (rau húng quế) là không ra mùi kho lạt đâu nghe!”, anh Sáu Nhọn ở thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ nhiệt thành căn dặn.

Cá khoai Cần Giờ nấu riêu lai canh ngót

Món này, nước kho chỉ vừa tráng đáy nồi, cỡ vài muỗng canh.Tuy nhiên, khách vừa múc qua một lượt, đã thấy mực nước kho hiện ra gần như cũ. Bởi, gần nửa ký cá khoai đang thi nhau ra “nước cháo”, dù đun lửa riu riu. Sang món hấp mỡ hành, gia vị cốt lõi là mấy bẹ cải thảo trắng hồng. Cải sẽ giúp cho nước cá thêm ngọt thanh.

Vẫn chưa tỏ hết tình, anh Sáu hối chị con dâu cả chạy đi lột nhúm tôm (tép) bạc tươi chông, giã ba sồn, lót dưới đáy. Lúc này, thịt cá trở nên ngọt đậm, nhờ hút ngược chất ngọt của cải và tôm vào trong. Vừa thổi vừa nhai nguyên khúc cá trắng phau. Húp thêm tí nước loang loáng màng mỡ heo, nhẩn nha nhai thêm vài cọng hành deo dẻo, nồng dịu. Đố ai dám xem thường cá khoai!

Thêm hai món khoai khác, bất phân thắng bại gần hai năm nay: nấu canh chua lá me non với lẩu ngót lai riêu. Linh hồn của món canh chua là những vụn rau tần dày lá, ngất ngát mùi tinh dầu bạc hà. Còn món sau, lại yểu điệu chút hăng nồng lẫn đỏm dáng của rau thì là.

Khoai chân tình

Cá khoai ở vùng biển nào ngon nhớ đời? Muốn kiểm chứng, cần và đủ hai điều kiện sau: “cá nóng” với “son phấn” (gia vị) tối giản, lúc chế biến. Cá mới được đánh bắt còn tươi mới, da mỏng như giấy quyến (vấn thuốc rê), lồ lộ cả khối thịt trắng tươi, thon tròn. Phần thân lớn nhất, không quá một ngón tay cái rưỡi của người lớn, ấy là khoai non tơ. Càng lớn, da cá sẽ ngã sang màu xám xanh nhạt. Phần thịt sát da hơi hồng, mà vị lạt hơn cá tơ, to tối đa gần bằng cổ tay người lớn. Hàng này, dùng phơi khô sẽ thích hợp hơn vì lợi ký, ít hao hụt (khoảng 10kg cá tươi thu được 1kg khô). Và quan trọng là, chúng chưa “ăn” nước đá hoặc chất bảo quản. Ngư dân Trà Vinh quen gọi gọn dạng này: “khoai nóng” hay “cá nóng”.

Đệ nhất cá khoai biển Trà Vinh. Ảnh: Trung Dũng

Cũng một dịp tình cờ tổ đãi, chúng tôi có diễm phúc “làm quen” với những “em” khoai tơ ở vàm Rạch Cỏ, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh qua một chảo cá khoai nấu mẻ, nêm muối ớt chim xanh. Thịt cá ngọt đậm vượt trội. “Nhúng” thêm tí muối ớt tươi nguyên, càng đậm đà gấp bội. Khoai “anh” cứ gối đầu khoai “em” (gần 2kg), che “mặt” cả dòng nước trắng đục, điểm xuyết những vụn đỏ hồng của xác ớt chim gieo đương nhấp nhô sôi.

Mặc dù bị lấn át, những con men vi sinh trong cơm mẻ đang ngất ngư vì nóng, vẫn lan tỏa mùi thơm lộng lẫy. Dư cá mà thiếu rau xanh, có người nhanh trí rảo sang bên hông nhà gia chủ, bứt vội nhúm đọt của lùm bông vạn thọ xanh mướt. Không ngờ, dư vị cá - rau lại tương hợp, nâng đỡ cho nhau thật mượt mà.

Ngọt lịm, cá khoai non Trà Vinh nấu canh ngót. Ảnh: Trung Dũng

Vẫn không bì được với tấm lòng hiếu khách, của một số dân nghèo xứ biển Trà Vinh. Bị sóng dồn, gió dập, ba anh bạn của Tám Nhỏ hớt hải thâu vội “lưới sáu” (giăng bắt cá khoai), kéo ga xịt khói đen hai cái máy Kohler 4, chồm lên hụp xuống như ngựa trời ra oai. Cuối cùng, họ cũng đẩy xuồng tấp vào bãi an toàn. Bữa đó, hai xuồng thu chưa được 3kg cá khoai non (giá sỉ tại bãi dao động 50.000 - 60.000 đồng/kg). Vậy mà, họ “rốp rẻng” góp luôn 2kg cá “đổ mồ hôi sôi nước mắt” ấy, đãi khách quen Sài Gòn. Ấy là, mới nói đến khoai chân tình. Còn khoai điệu nghệ mới đáng nể.

Khoai điệu nghệ

Nhược điểm cố hữu của cá khoai là nhanh tan thành nước, khi bị đun quá lửa. Cách đơn giản nhận biết cá đủ chín: mới nổi bồng lên, với các món nước. Còn món khô hoặc sền sệt: kẹp đôi đũa vào mình cá, vận lực vừa thôi. Hễ thấy đũa cắt ngọt vào tới xương thì biết cá đã chín. Nhà nghề hơn, ví dụ với món cháo. Canh nhúm (nhỏ) gạo thơm đã nhừ, nêm mắm muối vừa miệng, thả cá đã làm sạch vào. Độ 3 - 5 phút sau, đã ngon ăn. Tắt lửa, rắc liền: hành xắt, tiêu giã mịn.

Kho với tương hột, buông đũa còn thèm! Ảnh: Tấn Tới

Cao thủ hơn, có những đầu bếp “tài tử” (có khiếu nấu nướng nhưng không thích đứng bếp thường xuyên) miệt vườn chuyên trị cá khoai.Ông Dương Tiến Hải, chủ cơ sở sản xuất tôm - cá khô các loại, ở gần cảng cá huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, vừa gọi điện báo tin vui: cá khoai quê ông đã có món mới: kho khô.“Món này do mấy đại gia Vĩnh Long sáng chế, tốn rượu lắm luôn!”, giọng ông Hải phấn chấn. Người viết vẫn chưa nếm qua phiên bản gốc của món này, nhưng chắc vẫn phải canh lửa riu riu. Hiện, thỉnh thoảng họ vẫn đặt mua ông Hải, mỗi lần 10-20kg “cá khoai nóng”, nhờ đóng vào thùng xốp, gửi xe đò lên.

Ủ cá vào thùng cũng có nghệ thuật: ướp nước đá lát-xê thôi, không để cá “ăn” đá trực tiếp. Trước đó, cá được bỏ nội tạng, làm sạch, để ráo. Cho cá vào bịch nhựa chuyên dụng, buộc kín miệng nhưng phải cắt hai lỗ nhỏ ở đáy bao, để xả nước tanh. Rồi lót khoảng phân nửa lượng nước đá, so với trọng lượng cá. Lớp đá trên mặt cần đập nhuyễn, phần dưới đập ba sồn. Xếp bao cá ngay ngắn vào thùng. Dán băng keo kín miệng.

Lạ miệng, cá khoai chiên xù. Ảnh: Tấn Tới

Xứ công tử Bạc Liêu còn có ông Cao Trung Kiên, sành ăn có hạng. Với cá khoai tươi, ông mang phơi dốt dốt (ráo mình) trước đã, để mượn sức nóng của nắng trời đẩy bớt nước trong mình con cá khoai ra, khiến những sớ thịt cá sẽ trở nên mềm dẻo, không bời rời như lúc đầu. Sau đó, muốn lăn bột chiên xù, chiên vừa vàng, chấm tương ớt hoặc nước mắm me hay kho khô, kho ướt thì tùy yêu cầu của bạn hữu.

Cũng có người không muốn gò ép con cá, cứ để thuận tự nhiên. Ông Nguyễn Quốc Việt, chủ quán Tạ Hiền ở gần chùa Vĩnh Tràng, TP. Mỹ Tho, đã tìm ra một nguyên liệu “tâm đầu ý hợp” với cá khoai, chính là khoai mỡ. Cá khoai nấu canh khoai mỡ, hầm nhừ một chút, đến dân ăn sành điệu cũng khó lòng nhận ra đâu là thịt cá đâu là bột khoai!

Tấn Tri


LONG MẠCH TẢN VIÊN

LONG MẠCH TẢN VIÊN

Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh) được coi là đệ nhất phúc thần của nước Việt, đứng đầu trong tứ bất tử. Tương truyền thần rất linh thiêng và ứng dụng. “Linh khí không thể lường được. Vượng khí đời nào hết ”(Truyện núi Tản Viên - Lĩnh Nam chích ngừa). Ngọn núi Ba Vì hay núi Tản Viên Sơn Tinh cũng là nơi phát gốc dài mạch cho kinh đô nước Việt… Thần quyền của Tản Viên Sơn Thánh là gì? Pass theo thần thoại Việt và thần thoại Trung Hoa, sẽ cho câu trả lời về phép thần của Sơn Tinh và long mạch của núi Tản.

Núi Tản Viên

Quê hương và thiếu niên của Sơn Tinh

Theo các thần tích Sơn Tây, Vĩnh Phú, Tản Viên Sơn Thánh là người ở Lăng Xương (Thanh Thủy - Phú Thọ ngày nay), tên là Nguyễn Tuấn (Nguyễn Tùng), con ông Nguyễn Cao Hạnh (Hành) và bà Đinh Thị Điêng (Đen). Khi lớn lên nhận bà Ma Thị Cao Sơn ở núi Ngọc Tản làm mẹ nuôi.

Đền Lăng Xương, nơi sinh ra Thánh Tản

Động  Lăng Xương có  thể là  Lăng Xương , trong đó Lang là Vua. Động Lăng Xương như vậy có nghĩa là nơi gốc của Vua. Vua ở đây chính là thần Tản Viên.

Mẹ đẻ của Nguyễn Tuấn là bà Đinh Thị Điêng hay Đen, còn gọi là Thái Vĩ. Đinh là hướng Tây. Đen là tên của sông Đà xưa. Đinh Thị Đen có nghĩa là chỉ Thái bà (Thái Vĩ hay Thái Thủy) là người ở Tả ngạn sông Đà (dòng sông Đà ở chân núi Ba Vì đổi hướng đi lên phía Bắc, nên tả ngạn sông ở phía Tây).

Bà mẹ nuôi Ma Thị Cao Sơn cũng có thể chỉ có nghĩa là Mẫu Thượng Ngàn vì: Ma = Má = Mẫu, Cao Sơn = Thượng Ngàn. Bà Ma Thị Cao Sơn ở Ba Vì được thờ như Mẫu thượng ngàn, là người quản lý núi Ba Vì trước khi “di chúc” lại cho Thánh Tản.

Long mạch Tản viên

Tản Viên Sơn Thánh đã đi khắp nơi, nhiều hành cung trên đất Việt. Show at the system of works of Tản Viên còn lại bao gồm:

Thượng cung thần điện  là đền thờ, nằm trên đỉnh Tản của Ba Vì.

Tây Cung  gồm đền Trung trên núi Chàng Rể và Đền Hạ ở bờ sông Đà, đối diện với quê hương Lăng Xương.

Nam Cung  là đền Ao Vua.

Đông Cung  là đền và ở cạnh thị xã Sơn Tây, cạnh sông Hồng. Hội đền Và khi tổ chức còn có sự tham gia của làng Duy Bình, nơi có đền Dội ở đối diện bên kia bờ sông Hồng, tương truyền là nơi Thánh Tản lấy nước tắm.

Bắc Cung l à đền Thính ở Tam Hồng - Yên Lạc - Vĩnh Phúc. Thính là âm thanh đọc của Thánh. Bắc Cung Thượng Ngàn Tranh ở Trung Nguyên - Yên Lạc - Vĩnh Phúc. Yên Lạc cũng là nơi có di chỉ cổ Đồng Đậu, với tầng văn hóa từ thời Phùng Nguyên.

Theo thần tích đền Và thì cung Trung và cung Hạ (Tây Cung) là cầu đảo, tế lễ. Đông Cung là nơi “nghe trình bày các công việc”. Bắc Cung là đi nghỉ.

Tuy gọi là cung Đông - Tây - Nam - Bắc nhưng nếu nhìn trên bản đồ, thì các cung này sẽ giống như trên cùng một đường thẳng chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, cắt góc với sông Hồng ở gần Sơn Tây. Đây cũng là hướng “tọa lạc Cấn hướng Khôn”, hướng của đền thượng như ghi trong thần tích đền Và.


Lĩnh Nam chích ngừa cho biết Sơn Tinh đã “làm một con đường như sợi dây từ Bạch Phiên Tân lên hướng Nam núi Tản Viên tới động An Uyên”. Có thể thấy con đường này chính là từ bến trên sông Hồng cạnh Sơn Tây (đây là bến thuyền Mông Phụ - Vĩnh Thịnh), chạy thẳng lên bến Thượng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam (hướng Cấn - Khôn).

Liệu pháp bố trí “ngũ hành cung” theo một đường thẳng, với định vị nhất định có phải chính là mạch dài của núi Tản không? There must be here is the tree of the idol of Sơn Tinh chặn ngang dòng sông Hồng để thủy trị? Trước các đền thờ Tản Viên chúng ta đều xây dựng tượng sơn và nhà thờ ngũ hổ (ngũ hành). Son Tinh can be the he an to the gioi the gioi phong thủy địa phương học phương Đông.

Đế xuất hồ Chấn

Đông Cung Tản Viên nay là đền Và, ở làng Vân Già, cạnh thị xã Sơn Tây. Tương tự khi Tản Viên đi qua đây thấy có đám mây che phủ, là đám mây lành, nên gọi là Vân Già. Thực ra Vân Già chỉ là âm Nôm thiết kế tên của từ Và thôi.

Đông Cung là nơi có điện chính, được chép lại là nơi Tản Viên “nghe trình bày các công việc”. Guild to nay đã được xây dựng với hệ thống như một triều đình. Như vậy, rõ ràng Tản viên đã lên ngôi vua. Đền Và = Vua = Vũ.

Nam Cung Tản Viên đóng tại Ao Vua. Thần Tản Viên được mọi người gọi là Bua Thơ hay Bua Ba Vì. Bua = Vua. Rõ ràng Tản viên không phải dừng lại là con rể của Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) mà chính là một vị vua Hùng, có tên là Vua = Vũ. Quê Tản Viên ở Lăng Xương hay Lang Xương cũng chỉnh sửa thêm điều này. Vua Vũ Tản Viên đã dựng hành cung khắp nơi. Nếu Tản Viên chỉ là con rể Hùng thì không thể tích hợp nhiều hành động như vậy.

Hoành phi ở đền Và:


“Chấn hồ sơ xuất”

Và đôi câu đối ở nghi môn:

Đề vũ Tây, hỗ trợ nguyễn thiên bính thọ?
Export hồ Chấn, cố cung hách nhật đồng quang.

Những câu này lấy ý tưởng trong thuyết quái truyện của Kinh Dịch: “Đế xuất hồ Chấn”. Chan is the East method. “Hồ Chấn xuất khẩu” ý nói đế vương tại Đông Cung (đền Và). This thông tin một lần nữa định chế Tản Viên là bậc đế vương, là vị vua Hùng. Tản Viên chính là vua Vũ, là Đại Vũ trị thủy trong Hoa sử.

Tiên trượng ước thư

Theo thần tích đền ơn và phép thuật của Tản Viên bắt đầu từ việc đi chặt cây trên núi Tản gặp Thái Bạch Thần Tinh, được truyền cho cây thần tiên sinh. Từ đó Nguyễn Tuấn xưng là Thần Sư, bắt đầu nghiên cứu dân độ thế. Bảo bối thứ hai của Thánh Tản bắt đầu từ việc tìm kiếm con rắn thần, là con trai Long Vương ở Động Đình. Sau khi xuống thăm Long cung Tản Viên đã được tặng sách ước. Tản Viên từ đó dùng thần và sách ước đi khắp nơi, lấy công chúa Ngọc Hoa, chiến thắng Thủy Tinh, đánh quân Thục,…

Hiện nay ở các cũ cung điện của thần Tản Viên đều có nhắc đến 2 bảo bối Thần sách ước tính. Câu đối ở đền Và (Đông Cung) ở thôn Vân Già, Sơn Tây:

Tiên trượng ước thư truyền sử
Đông cung Tây trấn ngật linh từ.

Dịch:

Gậy thần sách ước dã sử truyền
Cung Đông trấn Tây đền linh phản.

Hay khác câu đối cùng một ý kiến ​​tại đền Và:

Thần vi chi linh, địa vi chi linh, diệc nhân tín ngưỡng vi chi linh, ngật nhĩ Đông cung Tây trấn
Sơn đắc kỳ thuật, thủy đắc kỳ thuật, túc kim dục đắc kỳ thuật, diêu ​​hô tiên tri ước thư.

Dịch:

Thần linh nước, đất linh thiêng, vĩ nhân linh lạc, Cung Đông trấn Tây cao ngất ngưởng
Núi thành thuật, sông thành thuật, đạo đức thành thuật, Thần sách ước kỳ.

Bắc Cung Thượng - Đền Tranh

Other statement ở điện đền Tranh:

Tây Tản di truyền, trượng anh linh phù quốc thịnh
Bắc cung biểu diễn, sách ước? an dân method.

(? là những chữ Nho không đọc được)

So sánh với chuyện vua Vũ trong thần thoại Trung Hoa:

“… Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước, thấy một ông già mặt trắng, mình cá, nhảy lên từ dòng sông… Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một đá màu xanh… Cái chính là Hà Đồ ”.

Sau đó, có chuyện Vũ gặp gỡ một con rắn thần ở trong hang, Rắn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo được trời đất.

Có thể thấy chuyện Sơn Tinh được chỉ thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản là một. “Ông già mặt trắng” có thể chính là Thái Bạch Thần Tinh. Thái Bạch = Thái Hạo (Hạo là sáng, bạch), cũng là một cái tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái, hoàn toàn có thể Phục Hy chính là Thái Bạch Tử Vi thần tướng. Phục Hy là vị thần đánh Đông, cũng có thể là Long Vương Động Đình.

Theo truyện Dịch, Phục Hy là người chép lại Hà đồ từ lưng con Long Mã (= con rồng, rắn thần). Còn lại vua Vũ vẽ Lạc Thư từ lưng con Thần Qui. Có khác thuyết cho rằng cả Hà đồ và Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì cũng rõ ràng ràng buộc thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp nhận từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình thủy trị.

Sơn Tinh - Thủy Tinh

Trong các câu đối tại Đông Cung có nói tới “ Tây Trấn ”, “ đề vụ Tây ” (ở phương Tây). Tại sao lại là Tây? Lý do rất rõ: Tản Viên (Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tùng) là Tốn Vương, Tốn là chỉ hướng Tây. Tản Viên Nguyễn Tuấn chính là vị Tuấn Lang (Hùng Việt) thời Hùng Vương ngọc phả.

Thủy Tinh là con trai Long Vương Động Đình, điều này cho thấy Động Đình chính là biển Đông ngày này, chứ không phải là cảnh Vân Mộng ở Vân Nam. Hơn nữa cơn mưa đại hồng thủy Sơn Tinh là một cơn mưa đại hồng thủy chứ không phải lũ lụt sông thông thường. Lĩnh Nam chích chòe, chép hướng công nghệ Thủy Tinh là  “mở một dải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào sông Đà Giang để đánh sập lưng núi Tản Viên”  (Lý Nhân có thể là Nhân Lý, a village at near the town Son Tay). Với this redirect, thì hồng thủy phải đến từ biển đông. Water from the East from the Sơn Tây của Tản Viên.

Sơn Tinh đánh Thủy Tinh tương ứng với Đại Vũ trị thủy. Theo thần thoại Trung Hoa, Đại Vũ khi thủy triều đánh nhau với thần nước Cộng Công. Như vậy Cộng công chính là Thủy Tinh trong truyền thuyết Việt Nam.

“Cộng công quyết định một phen sống thoải mái với Vũ nên nước dâng cao, cao đến tận đất Không Tang”.

No Tang version for from Khang. Đất Không Tang chính là vùng Khang ấp của vua Vũ. Khang cũng là tính chất của phương Tây. Nói cách khác, Không Tang là vùng Sơn Tây, nơi xảy ra cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Khang Ấp chính là Tây Trấn - Sơn Tây, nơi có Đông Cung của vua Vũ (Và).

Nghi môn đền Và

Ảo thuật người dùng ở Gia Ninh

Lĩnh Nam quái vật, truyện núi Tản Viên:  “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với các loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu”.

Việt sử lược về sự thành lập của nước Văn Lang:  “Đến thời Trang Vương nhà Chu ở Gia Ninh có người lạ, sử dụng ảo thuật áp dụng các lạc bộ, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu is water Van Lang, phong tục hậu chất lượng, chính sử dụng nút kết. Truyền 18 đời đều được gọi là Hùng Vương. ”

Tới đây ta hiểu,  “người lạ sử dụng ảo thuật ở bộ Gia Ninh”  đã được áp dụng các bộ lạc chính là Tản Viên Sơn Thánh, tập hợp nhân dân Việt trong cuộc đấu tranh chống lại nạn hồng thủy. Phép  “ảo thuật”  ở đây không khác gì là Hà đồ và Lạc thư, là Dịch học của người họ Hùng. Quốc tổ họ Hùng không phải là một thầy phù thủy, mà là một nhà khoa học vào thủa bình minh của dân tộc.

Tản Viên Sơn Thánh là người xây dựng nên họ Hùng của dân tộc Việt Nam từ chính trị thủy an dân thắng lợi, là Hùng Việt Tuấn Lang trong Hùng triều ngọc phả, là Đại Vũ, người lập nên nhà Hạ, mở đầu thời kỳ lịch sử của người Hoa Việt trên 4000 năm trước.

Theo: Bách Việt 18


CÀ SAO CHO PHÊ?

CÀ SAO CHO PHÊ?

Khỏi cần thống kê chi cho mất công cũng biết 10 golf-thủ hết chín là fan của cà-phê. Vì người da vàng đông hơn các chủng tộc khác nên cà-phê đành nhận hạng nhì sau trà. Cà-phê đi vào lòng người không chỉ vì khẩu vị. Cà phê đã được dùng như thuốc tăng lực, trị hen suyễn vào thế kỷ 12. Nhưng nếu muốn cà-phê thực sự nên thuốc, thay vì thành thuốc… độc!, cần hiểu cho đúng vài điểm quan trọng để có thể yên tâm thưởng thức cà-phê như người sành điệu.


Muốn tăng cường chức năng tư duy nên uống cà-phê nhiều lần trong ngày?

Sai!, cà-phê hầu như chỉ có tác dụng hưng phấn trí tuệ vào buổi sáng, uống càng sớm càng tốt, trước khi ăn sáng càng hay, vì khi đó tác dụng của cà-phê có thể kéo dài đến nửa ngày. Không cần uống thêm cà-phê trong giờ làm việc. Thói quen uống cà-phê nhiều lần trong ngày, cho dù pha loãng, không có lợi bao nhiêu, thậm chí có hại vì dễ gây lệ thuộc. Mặt khác, đừng uống cà-phê mà không ăn sáng vì vài giờ sau đó dễ tụt đường huyết kéo theo hạ canxi!

Dễ mất ngủ vì uống cà-phê quá trễ vào buổi chiều?

Đúng, dù là khoảng thời gian tác dụng của cà-phê thường không kéo dài hơn 6 tiếng đồng hồ. Nói chung, không nên uống cà-phê sau 6 giờ chiều, trừ khi cần thức đêm.Thường thì cà-phê không gây mất ngủ hẳn hòi, nhưng làm giảm độ sâu của giấc ngủ, làm mất giấc mơ và gây cảm giác mệt mỏi khi thức dậy. Theo chuyên gia về giấc ngủ, nhiều người mắt mở trao tráo sau khi uống cà-phê là vì pha cà-phê quá ngọt nên trung khu ngủ không chịu nghỉ việc do thừa năng lượng. Ngược lại, nhiều người ngủ chỉ ít giờ rồi thức luôn đến sáng là vì uống cà-phê đen quá gần giờ ngủ khiến đường huyết tụt thấp giữa đêm khuya và đánh thức não bộ.


Để tăng cường sức dẻo dai của bắp thịt nên uống cà-phê khoảng nửa giờ trước đó?

Chính xác vì cà-phê tăng sức chịu đựng và sự tinh tế khi cần phản xạ, chẳng hạn khi cần làm công việc khéo tay, lao động nặng, chơi golf…

Cà-phê gây hồi hộp?

Không hẳn như định kiến. Cà-phê chỉ bất lợi cho tim mạch ở người bị cường tuyến giáp hay rối loạn dẫn truyền thần kinh giao cảm, chẳng hạn ở người trong giai đoạn mãn kinh.

Một số đối tượng quá nhạy cảm có thể hồi hộp sau khi uống cà-phê, nhưng tác dụng đó chỉ có tính chất tạm thời ngắn hạn và không đủ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Cà-phê làm tăng huyết áp?

Chỉ xảy ra với số đối tượng đã có vấn đề với bệnh mạch vành. Với người không quen uống cà-phê, hay dù uống thường nhưng gặp loại quá mạnh, thì tim có thể đập nhanh khiến hồi hộp trong thời gian ngắn, nhưng cà-phê không làm tăng huyết áp kéo dài. Chính xác hơn, cà-phê chỉ làm tăng huyết áp trên người nghiện thuốc lá. Tuy vậy, người đã thiếu máu cơ tim không nên uống cà-phê hơn 3 lần mỗi ngày nhằm tránh tình trạng căng thẳng thần kinh dẫn đến co thắt mạch vành.


Cà-phê tăng mỡ trong máu?

Đúng, nhưng tùy theo cách chế biến, cách pha và kiểu uống cà-phê. Người uống cà-phê lọc bằng giấy ít bị tăng cholesterol hơn người lược cà-phê bằng máy hay qua phin bằng kim loại. Lý do là vì hai tác chất trong cà-phê làm tăng mỡ trong máu, cafestol và caweol, lọt qua phin sắt nhiều hơn nếu so với giấy lược. Bên cạnh đó, cà-phê rang nguyên hạt dễ làm tăng mỡ trong máu hơn cà-phê dưới dạng hòa tan vì dạng sau ít chứa cafestol và caweol.Bên cạnh đó, cholesterol trong máu khó tăng nếu uống cà-phê cách khoảng vài giờ. Mặc dầu hoạt chất trong cà-phê không hẳn làm tăng chất mỡ trong máu theo kết quả thống kê của hàng chục công trình nghiên cứu ở nhiều quốc gia, nhiều thầy thuốc khuyên nên giảm hay ngưng hẳn cà-phê nếu đang uống thuốc hạ mỡ trong máu để thuốc đừng mất tác dụng.

Cà-phê gây viêm loét dạ dày?

Ít khi vì cà-phê tuy hưng phấn phản ứng bài tiết dịch vị nhưng không tự động gây viêm loét dạ dày. Chỉ người đã bị viêm loét dạ dày mới bị cồn cào, bào bọt, thậm chí đầy hơi hay ợ chua khi uống cà-phê lúc bụng đói. Cẩn tắc vô áy náy, người đang bị bệnh dạ dày hành hạ không nên uống cà-phê trong lúc bệnh đang bộc phát.

Nên cai cà-phê bằng cách ngưng cái một?

Không đúng vì ít khi hiệu quả! Người đã nghiện cà-phê nếu thiếu hay ngưng đột ngột dễ bị nhức đầu. Muốn cai cà-phê nên giảm dần liều lượng bằng cách giữ nguyên số lần uống nhưng mỗi lần uống pha loãng hơn để tránh đau đầu, cáu kỉnh, buồn chán, mất ngủ…


Muốn giảm tác dụng hưng phấn của cafein nên dùng dưới dạng cà-phê sữa?

Trật cả cây số! Uống cà-phê sữa không hề giảm tác dụng hưng phấn thần kinh của cà-phê. Uống như thế thậm chí còn có hại nếu người uống đã bị tăng mỡ trong máu. Theo các nhà nghiên cứu ở Đức uống cà-phê pha nhiều đường, như thói quen của nhiều người xứ mình, thậm chí còn tệ hơn, vì hỗn hợp “cafein + đường” gây co thắt mạch vành đột ngột ở người thiếu máu cơ tim!

Cà-phê hại thận?

Không chỉ riêng với cà-phê, với món ăn, thức uống nào cũng thế, hễ lạm dụng thì khổ cho trái thận. Theo kết quả nghiên cứu ở đại học Vienne, người uống một tách cà-phê phải mất khoảng hai tách nước qua đường tiểu. Nếu quên uống nước thì cơ thể đến lúc nào đó phải thiếu nước và rối loạn điện giải. Tình trạng này là điều kiện thuận tiện để nhiều loại muối khoáng như oxalat, urat kết tủa trong đường tiết niệu. Người uống cà-phê theo kiểu thay nước uống dễ bị sỏi thận là vì thế.

Cà-phê chẳng khác gì thuốc. Tốt xấu tùy liều lượng. Người uống cà-phê tuy không đến nỗi phải “đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng” nhưng đôi khi cũng nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc, nhất là khi ẩm khách sành điệu đã là… bệnh nhân!

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng