Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

MẠC VỊ XUÂN TÀN HOA LẠC TẬN ĐÌNH TIỀN TẠC DẠ NHẤT CHI MAI

MẠC VỊ XUÂN TÀN HOA LẠC TẬN ĐÌNH TIỀN TẠC DẠ NHẤT CHI MAI

Trong lịch sử nước ta, triều Lý (1010-1225) là triều đại cường thịnh về quân sự, vững vàng về chính trị và rực rỡ về văn học. Mở đầu cho nền văn học viết, thơ văn đời Lý truyền lại được đến nay phần lớn chỉ ghi lại trong Thiền Uyển tập anh (1), tập sách do Thiền sư Kim Sơn thuộc Thiền phái Trúc lâm (2) viết vào năm 1337, đời Trần nhưng lại chủ yếu ghi hành trạng của các tăng sĩ đời Lý thuộc 03 dòng Thiền: Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu chi và Huệ phái Thiền sư Thảo Đường.
Các cao tăng đời Lý học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học nên được triều đình kính nể. Đạo Phật được tôn vinh nên nhiều người muốn tìm học triết lý Phật giáo. Ngoài việc thuyết giảng, các nhà sư còn dùng “kệ”, một thể thơ nhà Phật nhằm truyền đạt những ý cao siêu uyên áo của Phật pháp bằng những hình ảnh, những câu thơ ngắn gọn sinh động mà dễ hiểu.
Thiền Uyển tập anh chép lại nhiều bài kệ (3) nhưng nổi bật nhất có bài sau đây của Đại sư Mãn Giác :
image001
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

“NHẤT CHI MAI” LÀ “MỘT CÀNH MAI” HAY “MỘT CÀNH MƠ” ?
Bài kệ chỉ có 6 câu, không có đầu đề;
Hoàng Xuân Hãn đã dịch ra quốc ngữ như sau:
“Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân lại nở trăm hoa.
Trước mắt sự đời thoảng,
Trên đầu hiện tuổi già.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết;
Ngoài sân đêm trước một cành mơ. ”
Đọc bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn, có người lấy làm lạ bởi sao câu cuối lại dịch : “một cành mơ”. Đáng ra chữ “nhất chi mai” phải dịch là “một cành mai ” ?.
Quả vậy, từ trước đến nay nhiều người vốn đã rất quen với bản dịch của Ngô Tất Tố :
Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết;
Đêm qua, sân trước một nhành mai.
Cũng như nhiều bản dịch khác, Ngô Tất tố giữ nguyên chữ mai trong nguyên tác. Thật ra thì trong chữ Hán 梅 (mai) là cây mơ. Cây mơ ở Trung Quốc có nhiều, là loại cây ăn quả có hoa đẹp màu trắng, có khi hơi ửng hồng hoặc đỏ. Riêng nước ta, mơ có nhiều ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là ở vùng rừng núi động Hương Tích.
Ở Hương Tích, Nguyễn Bính đã từng tả “Thấp thoáng rừng mơ – cô hái mơ” và Chu Mạnh Trinh cũng đã viết :
“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái;
Lửng lờ khe Yến cá nghe kinh…”.
Mơ mọc thành rừng. Rừng mai đây chính là rừng mơ chớ không phải là rừng mai vàng như nhiều người lầm tưởng.
Thật vậyvì điều kiện thổ nhưỡng, hoàng mai tức là cây mai vàng nở hoa vào dịp tết âm lịch  chỉ có từ Quảng Trị trở vào. Lãnh thổ nước ta vào thế kỉ XI lại chỉ mới đến chân đèo Ngang cho nên vào thời điểm ấy, xem như nước ta chưa thể có hoàng mai mà chỉ có hoa mơ… và hoa mơ trong thơ xưa vẫn gọi là hoa mai.
Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông có bài thơ Hoa mai :
“…Hoa bạc phau phau xâm khí tuyết,
Chồi xanh êu ếu lạt hơi may”
Sắc hoa bạc phau phau ở câu thơ chính là sắc trắng của hoa mơ.
Vậy mai trong lời thơ của Mãn Giác chính là cây mơ. “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” dịch là “Ngoài sân đêm trước một cành mơ” là đúng.
Một lí do nữa để lí giải:
Kệ của Thiền Tông khác với thơ nghệ thuật. Thơ nghệ thuật có thể tưởng tượng nên hình ảnh mà đưa vào thơ miễn là hợp lí và giàu chất thẩm mĩ; thậm chí ở thơ cổ điển, tả sự việc theo cách ước lệ thì có khi không có lá ngô đồng rụng, chẳng thấy có tuyết rơi …mà nhà thơ vẫn có thể tưởng nên cảnh thu với “giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”, tả mùa đông với tuyết phủ mơ màng… Kệ của Thiền Tông thì không phải như thế. Mọi việc, mọi vật trong kệ phải làthực tế nhãn tiền – vì vậy khi hoàng mai là loài hoa vốn không có ở nước ta vào thế kỉ XI thì chẳng thể nào Mãn Giác lại có thể đưa cành mai vàng rực rỡ ấy vào thơ được; chỉ có thể ở đây : một cành mơ, một thực tế cụ thể làm phương tiện cho trực giác.
Cành hoa mơ được Mãn Giác đưa vào bài kệ cũng do một dụng ý khác nữa là gợi cho người nghe nhớ lại truyền thuyết“Niêm hoa vi tiếu” của Phật Thích Ca trên núi Linh Thứu;
Sách “Tông môn tạp lục” đời Tống (960-1127) có kể lại câu chuyện:
Phạn Vương đến Linh Sơn hiến Phật cành hoa “Ba la” và thỉnh Phật thuyết pháp. Thế Tôn đăng tòa đưa cành hoa lên cho mọi người xem; tất thảy đều không hiểu ngài muốn nói gì, đều lặng thinh, chỉ có Kim Sắc Đầu Đà Ca Diếp tươi nét mặt và mỉm cười. Thế Tôn liền nói: Ta đã có Chánh pháp nhãn tàng, Niết bàn diệu tâm, Thực tướng vô tướng, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp…
Theo Thiền Tông, Phật im lặng đưa lên một cành hoa là cách “Dĩ tâm truyền tâm” và Ca Diếp đã đốn ngộ được chân lí.
MỘT LỜI THƠ NÓI ĐƯỢC CẢ TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG
Đạo Phật từ Trung Hoa truyền sang ta từ đời nhà Đinh, đến đời Tiền Lê đã phát triển mạnh. Đời Lê Đại Hành, sưVạn Hạnh có tiếng là một nhà tiên tri và rất được triều đình kính trọng. Sách Thiền Uyển tập anh chép: “năm Thiên Phúc thứ I (980) tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang cướp nước ta đóng quân tại Cương giáp, Lạng sơn. Vua mời sư đến, đem chuyện thắng bại ra hỏi, sư đáp “Trong vòng 3, 7 ngày, giặc phải lui”. Sau quả nhiên như thế.
Đến khi vua muốn đánh Chiêm Thành, việc bàn định chưa dứt khoát, sư tâu “Xin mau cất binh, nếu không ắt mất cơ hội”. Sau đánh quả nhiên thắng trận.”
Sang đến đời Lý, vua rất tôn sùng đạo Phật. Vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan rất mộ đạo Phật, thường mời các nhà sư nổi tiếng như Thông Biện, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải, Không Lộ vào nội cung để giảng kinh và đàm đạo. Các cao tăng này đều thuộc Thiền Tông là tông phái của Phật giáo Đại thừa. Thiền Tông không dùng nghi thức tôn giáo và các lí luận rườm rà về giáo pháp; chủ trương không phân tích chi li triết lí Phật giáo như các tông phái khác mà đề cao việc tìm đến chân lí bằng trực giác và dùng phương pháp toạ thiền để kiến tính. Trực giác là con đường ngắn nhất để đạt đạo đồng thời cũng là con đường khó nhất.
Các vương hầu đời Lý cũng quý trọng các Thiền sư: Lương Nhậm Văn, Lý Thường Kiệt, Vương Tại, Đoàn Văn Liệm, Phụng Càn Vương, Thiên Cực Công chúa… đều thường giao thiệp mật thiết với các cao tăng. Nhiều vị thiền sư lại là con cháu vua, hoàng hậu hay các đại thần nên có vị trí chính trị cao. Riêng Thiền sư Mãn Giác được vua Lý Nhân Tông và Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu thỉnh về trụ trì tại chùa Giác Nguyên bên cạnh cung Cảnh Hưng. Ðến khi Sư viên tịch, vua kính lễ rất hậu, các công khanh đều tiễn đưa, làm lễ hỏa táng, thu xá lợi, xây tháp thờ tại chùa Sùng Nghiêm (làng An Cách). Mãn Giác là tên hiệu do Vua Lý Nhân Tông ban cho sau lễ hoả táng.
Sư Mãn Giác (4) là đệ tử chân truyền của Thiền sư Quảng Trí và là lãnh tụ pháp môn của dòng Thiền Vô Ngôn Thông, thuộc đời thứ 8.
Vô ngôn thông. “Không cần nói mà đạt đạo” là tôn chỉ của đạo Thiền. Không thuyết lí dài dòng; không nói nhiều, không kiến chấp, không ngộ nhận… chỉ lặng lẽ xem cuộc tuần hoàn: Xuân qua trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa nở/ việc đời qua trước mắt/ tuổi già đến trên đầu…bài kệ chỉ nêu sự việc làm phương tiện truyền đạt ý : Sự việc trước mắt là cái tất định của tự nhiên cứ tuần hoàn mà thay đổi.
Người theo Thiền chấp nhận định luật của tự nhiên, vô ngôn mà phá chấp.
Nắm quy luật; biết tương lai: chớ nói xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước – một cành mơ.
Tương lai tận cùng của Phật pháp cũng như ở đạo Thiền là cõi niết bàn. Trong kiếp luân hồi có khi hoa tàn rụng cả nhưng cái suy tàn lại khởi đầu cho một tương lai mới. Cành mơ mới nở là hình tượng vô ngôn của niềm lạc quan vô biên mà tĩnh tại.
KHÔNG NÊN ĐẶT ĐẦU ĐỀ CHO BÀI KỆ CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ
Chúng tăng ghi bài kệ của Thiền sư Mãn Giác đọc lúc sắp mất và mãi đến 7 thế kỉ sau, Lê Quý Ðôn mới chép lại và đặt tên: “Cáo tật thị chúng” nghĩa là có bệnh bảo mọi người (5). Sách vở nay cũng theo đó mà chép. Thật ra đầu đề này đã phá hết nghĩa sâu xa của bài kệ.
Lê Quý Đôn là nhà Nho đời Lê-Trịnh. Tư tưởng Nho giáo là tư tưởng nhập thế, cách nhìn cách nghĩ thường tập trung vào những lẽ được thua ở đời: khi gặp minh chúa thì nhập thế, giúp đời, khi bất phùng thời thì quay về ẩn dật. Lúc ẩn dật, nhà Nho thường nhìn việc đời bi quan. Khuất Nguyên tự trầm trên sông Mịch La cũng vì lẽ bi quan ấy.
Tư tưởng của Nho giáo và Thiền Tông không gặp nhau và có lẽ  vì thế Lê Quý Đôn đã chọn cho bài thơ đầu đề “Có bệnh bảo mọi người”.
Hiểu bài kệ của sư Mãn Giác thì không nên nói đến chuyện “có bệnh” ở đây. Bài thơ nói “việc đời qua trước mắt; tuổi già đến trên đầu”…là hoàn toàn không có gì bi quan. Đã là Thiền sư thì không bi quan trước lẽ tử sinh. Tất cả sự việc xảy ra trong cuộc sống là hiện tượng. Thiền học dùng hiện tượng làm phương tiện đốn ngộ. Hãy đọc câu chuyện thiền Nhật Bản “Không nước; không trăng” :
 Ni cô Chiyono đã tu nhiều năm, nhưng chẳng thấu đạt được chân lí. Một đêm, cô gánh nước về tu viện; vừa đi vừa ngắm ánh trăng rọi xuống mặt nước trong thùng. Bỗng nhiên, đòn gánh gãy đôi, giây thùng đứt và thùng nước rơi xuống. Nước đổ ào ra, bóng trăng tan biến – không còn nước, không còn trăng. Chiyono hốt nhiên giác ngộ. Cô đọc bài kệ: 
“Bằng cách này hay cách khác, tôi đã cố giữ đôi thùng nước,
Mong rằng chiếc đòn gánh dòn yếu kia sẽ không gãy
Bất chợt, giây đứt thùng văng,
Không còn nước trong thùng, không còn trăng trong nước;
Tay tôi rỗng không, chẳng có vật gì,
Tâm tôi rỗng không, chẳng có vật gì”.
Chiyono đốn ngộ được là nhờ trực giác cảm nhận từ cái rỗng không này. Những kiến chấp qua bao nhiêu năm tháng tu hành của cô không sánh được với trực giác nảy sinh từ cảm nhận nhất thời.
So sánh bài kệ của Mãn Giác với “Không nước, không trăng”  ta thấy có điểm giống: cả hai cùng trải qua thực tế nhãn tiền. Mãn Giác đại sư nhìn việc đời qua trước mắt/ tuổi già đến trên đầu là giống với ni cô Chiyono nhìn ánh trăng soi qua mặt nước trong thùng… rồi cái hiển hiện ấy bỗng tan biến mất – cái còn lại chỉ là “không”.
Bài kệ của Mãn Giác và câu chuyện Thiền Nhật Bản đều muốn truyền đạt chân lí thông qua trực giác. Mãn Giác muốn mọi người cảm nhận bằng trực giác từ cành hoa mơ; Chiyono thì dùng cái “không” – Không còn nước trong thùng, không còn trăng trong nước”. Đây là những phương tiện của Thiền giúp người đời vượt qua kiến chấp để đến với chân lí, đến với cái “không”  tĩnh tại.
Vậy thì ở bài kệ của Mãn Giác: việc hoa tàn, hoa nở… việc chuyện đời trôi, tuổi già đến…, tất cả đều là vô thường, không có gì đáng bận tâm mà ngược lại là phương tiện của đốn ngộ.
Kệ cũng là kinh; kệ có khi dùng nhật tụng. Thiền Tông đọc kệ để ngộ đạo. Bài kệ của Mãn Giác nhằm giúp ngộ đạo bằng con đường trực giác vậy sao lại có thể truyền đạt cảm nhận bi quan “có bệnh” được? Cảm nhận này là không phù hợp với tinh thần lạc quan, yên nhiên của Thiền Tông.

Các bài kệ của Thiền Tông đều không đề vậy tốt nhất là đừng cố tìm lấy một đầu đề cho bài kệ của Mãn Giác.

—————————————————

CHÚ THÍCH:

(1) Thiền Uyển tập anh có nghĩa là gom góp những anh hoa của vườn Thiền.

(2) Thiền tông ( 禪 宗 ) là một tông phái của Phật giáo,  xuất phát từ Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 6, 7 khi đạo Phật kết hợp với tư tưởng Lão giáo. Thiền tông chủ trương dùng kinh nghiệm chứng ngộ, không bàn luận nhiều về lí thuyết. Thiền Tông sang nước ta từ lâu nhưng Thiền phái Trúc Lâm đến đời nhà Trần mới lập bởi vua Trần Nhân Tông.
(3) Kệ: còn gọi là thi kệ là những bài thơ mang nội dung truyền đạt tư tưởng nhà Phật. Kệ có khi chỉ là những câu rất ngắn như tục ngữ nhưng thông thường là những bài thơ, nhằm truyền bá tư tưởng nhà Phật. Thi kệ gần như là những bài thuyết pháp ngắn mà sâu sắc để dạy đệ tử.
(4) Thiền sư Mãn Giác (1052-1096), tên thật là Lý Trường (Thiền Uyển tập anh ghi là Nguyễn Trường là vì vào đời Trần, tất cả những người họ Lý đều chuyển ghi thành họ Nguyễn) người đất Lũng Chiền, làng An Cách, là con quan Trung thư Viên ngoại lang Lý Hoài Tố. Đời Lý Nhân Tông, vua thường cho con em các danh gia vào hầu hai bên, Lý Trường cũng được dự. Lớn lên tinh thông cả Nho và Phật học, lại thường chú  tâm vào Thiền học, được Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan quý trọng,  ban cho hiệu Hoài Tín…
Ngày 30 tháng 11 năm Hội Phong thứ 5 (1096), sư cáo bệnh. Sau khi đọc bài kệ dạy chúng, sư ngồi kiết già mà mất, thọ 45 tuổi đời, 19 tuổi hạ. Vua tặng hậu lễ, công khanh mỗi mỗi đến dâng hương, trà tỳ xong, thu xá lợi xây tháp ở chùa Sùng nghiêm, làng An cách. Vua sắc thụy là Mãn Giác.
(5) *  Theo Thơ văn Lý Trần; tập I; NXB Khoa Học Xã Hội, 1977 thì  tên bài thơ “Cáo tật thị chúng” là do Lê Quý Đôn đặt.
Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, Ban KHXHNV, tập 1 – Bộ 2; NXB Giáo Dục, 2003, ghi tiểu dẫn ở bài Cáo tật thị chúng: “Bài Kệ của Mãn Giác thiền sư vốn không có nhan đề. Nhan đề Cáo tật thị chúng là do người đời sau đặt.”
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/11/2013

TOA THUỐC TUYỆT VỜI

TOA THUỐC TUYỆT VỜI

Một toa thuốc rất hay cả về tinh thần lẫn thể xác. Chúng ta cùng nhau tập dùng thử :
I/. Sức khỏe
Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa : “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”.
II/. Bí quyết trường thọ
1/. Chấp nhận với những gì mình đang có – 2/. Thích nghi với hoàn cảnh của mình -3/. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.
III/. Phòng ngừa bệnh tậtTr cuoi 3
1/. Không vui quá hại tim – 2/. Không buồn quá hại phổi– 3/. Không tức quá hại gan – 4/. Không sợ quá hại thần kinh – 5/. Không suy nghĩ quá hại tỳ – 6/. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên - 7/. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua.
IV/. Thức ăn & uống trong ngày:
Một củ hành: chống ung thư – Một quả cà chua : chống tăng huyết áp – Một lát gừng : chống viêm nhiễm – Một củ khoai tây : chống sơ vữa động mạch – Một trái chuối : làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo – Một quả trứng hay ít thịt nạc chống suy dinh dưỡng – Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày : giải độc cơ thể.
V/. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại :
1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2 Tuoi gia2. Hai Tí : Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên : Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có : Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải : Phải vận động – Phải biết cười – Phải lịch sự hòa nhã - Phải biết nói chuyện và Phải coi mình là người bình thường.
VI/. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân
1/. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí – 2/. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí - 3/. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí - 4/. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí - 5/. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí - 6/. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí - 7/. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí - 8/. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.
VII/. Hãy Dành Thì Giờ Mẹ Thêrêsa Calcutta :Me Teresa 1
Hãy dành thì giờ để suy nghĩ. Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện. Đó là sức mạnh toàn năng.
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười. Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
Hãy dành thì giờ chơi đùa. Đó là bí mật trẻ mãi không già.
Hãy dành thì giờ để nhìn và mở rộng tình thương.Tiếng nói của con tim, trí tuệ, từ bi, sự sống.
Hãy dành thì giờ để cho đi. Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.Me Teresa 2
Hãy dành thì giờ đọc sách. Đó là nguồn mạch minh triết.
Hãy dành thì giờ để thân thiện. Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
Hãy dành thì giờ để làm việc. Đó là giá của thành công.
Hãy dành thì giờ cho bác ái. Đó là chìa khóa cửa thiên đàng !
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/11/2013

THẾ GIỚI THU NHỎ Ở TRUNG QUỐC

THẾ GIỚI THU NHỎ Ở TRUNG QUỐC

Công viên mô hình mang tên Cửa sổ Thế giới tại Thâm Quyến, Trung Quốc là nơi du khách có thể chiêm ngưỡng các kỳ quan, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc nổi tiếng năm châu.
6 TG thu nho 1
H1: Cổng vào công viên Window of the World ở Thâm Quyến, Trung Quốc.  H2: Toàn cảnh công viên.  H3: Đền Angkor Wat, Campuchia.
6 TG thu nho 2
H4: Cầu London Bridge, Nghị viện Anh và tháp đồng hồ Big Ben bên dòng sông Thames. H5: Nhà thờ Cologne, Đức. H6: Cung điện Buckingham, Anh.
6 TG thu nho 3
H7: Đền Taj Mahal, Ấn Độ. H8: Khải hoàn môn Arc De Triomphe và tháp Eiffel. H9:Quảng trường St. Mark, thành phố Venice, Italy.
6 TG thu nho 4
H10: Quảng trường St. Peter Basilica, Vatican. H11: Stonehenge, Scotland. H12 : Nhà hát con sò Sydney Opera House, Australia.
6 TG thu nho 5
H13: Thác nước Niagara, Canada. H14: Quần thể khu tưởng niệm tổng thống ở thủ đô Washington, Mỹ. H15: Bảo tàng Louvre, Pháp.
6 TG thu nho 6
H16: Everest – nóc nhà của thế giới. H17: Đảo Manhattan, thành phố New York, Mỹ.H18: Đấu trường La Mã Colosseum, Italy.
6 TG thu nho 7
H19: Cung điện Grand Palace, Bangkok, Thái Lan. H20: Tháp nghiêng Pisa, Italy. H21:Tử Cấm Thành của Trung Quốc.
6 TG thu nho 8
H22: Tòa nhà quốc hội Mỹ dưới chân núi Rushmore. H23: Kim tự tháp Mexico. H24:Kim tự tháp Ai Cập.. (theo Ngọc Anh)
Mai Trung Tín chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/11/2013

5 HIỆN TƯỢNG KỲ LẠ XẢY RA SAU KHI CHẾT

5 HIỆN TƯỢNG KỲ LẠ

XẢY RA SAU KHI CHẾT

Tế bào dần bị vỡ ra, cơ thể bị tê cứng, các cơ quan tự tiêu hóa là những điều sẽ xảy ra khi con người qua đời. 
1/- Các tế bào dần bị vỡ ra : Sau khi chết vài phút, cơ thể con người bắt đầu phân hủy. Gần như ngay lập tức máu trở nên có tính axit hơn do tích tụ carbon dioxide. Các tế bào bị phá vỡ, các enzim khiến tế bào bị tiêu hóa dần từ bên trong. Cơ thể bắt đầu chuyển lạnh, mỗi giờ, nhiệt độ cơ thể giảm xuống khoảng 0,83 độ C cho đến khi đạt đến nhiệt độ phòng.
Hon ma 102/- Trắng và tím ngắt : Trong khi phần còn lại của cơ thể con người trở nên nhợt nhạt, các tế bào máu di chuyển trong phần cơ thể gần nhất với mặt đất bị dừng lại do lực hấp dẫn, kết quả làm xuất hiện những đốm màu tím các phần cơ thể ấy.
3/- Cơ thể bị tê cứng : Hiện tượng tê cứng xảy ra khoảng 3-4 giờ sau khi chết và mất đi sau 48 giờ. Tại sao nó xảy ra? Các máy bơm điều chỉnh canxi ở màng tế bào ngừng làm việc, canxi bị tích tụ trong tế bào làm cho các cơ co lại và cứng lại.
4/- Nội tạng tự tiêu hóa : Enzim trong tuyến tụy và vi khuẩn làm cho các cơ quan bắt đầu bị tiêu hóa và phân hủy. Cơ thể bị đổi màu, đầu tiên chuyển thành màu xanh lá cây, sau đó đến tím và đen lại. Quá trình này giải phóng putrescine và cadaverine, đó là những hợp chất tạo ra mùi của xác chết.
Hon ma 55/- Một lớp sáp : Sau sự thối rữa, cơ thể phân hủy một cách nhanh chóng để biến thành bộ xương.  Trong quá trình ấy nếu cơ thể tiếp xúc với đất hoặc nước lạnh, nó có thể tạo ra chất béo adipocere, một chất liệu sáp hình thành từ các vi khuẩn phá vỡ mô. Adipocere hoạt động như một chất bảo quản tự nhiên trên các cơ quan bên trong. Nó có thể gây hiểu lầm cho các nhà nghiên cứu rằng một cơ thể chết sớm hơn nhiều so với suy nghĩ của họ, như là trường hợp của một xác chết adipocere 300 tuổi vừa được tìm thấy ở Thụy Sĩ. (Lê Hùng theo MMM)
Mỹ Nhàn  chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tâm 9/11/2013

NHO KHÔ VÀ ĐẬU NÀNH GIÚP NGĂN NGỪA HUYẾT ÁP CAO

NHO KHÔ VÀ ĐẬU NÀNH

GIÚP NGĂN NGỪA HUYẾT ÁP CAO

Với những người mắc bệnh huyết áp cao hoặc có nguy cơ cao mắc căn bệnh này, nho khô và các chế phẩm từ đậu nành (đỗ tương) có thể là phương thuốc hữu hiệu. Đây là kết luận của hai công trình nghiên cứu về bệnh huyết áp cao và tim mạch của sinh viên và các nhà khoa học thuộc Đại học Columbia (Mỹ), trình bày tại một hội thảo tim mạch quốc tế ngày 25/3.
Nghiên cứu đầu tiên cho biết cùng với các loại dược phẩm, bệnh nhân huyết áp cao có thể kiểm soát được chỉ số huyết áp của mình nếu mỗi ngày ăn một lượng nho khô nhất định.
6 Nho kho 1Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá chính xác những ích lợi của nho khô đối với những người mới phát hiện bị huyết áp cao – với chỉ số huyết áp dao động trong ngưỡng 120/80mm Hg và 139/89mm Hg.
Kết quả cho thấy sau 12 tuần thực hiện, so với những người ăn bánh quy, nhóm ăn nho khô có sự giảm mạnh về huyết áp. Một số trường hợp đã giảm chỉ số huyết áp tối đa, còn gọi là áp lực tâm thu, tới 7%.
Theo nhà khoa học Harold Bays, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xơ vữa động mạch và trao đổi chất Louisville, lượng Kali cao trong nho khô là nhân tố quan trọng giúp hạ huyết áp. Đây cũng là một thành phần tốt của sợi ăn kiêng chống ôxi hóa mà sợi này có thể điều chỉnh hữu hiệu đặc điểm sinh hóa của mạch máu, làm cho chúng trơn tru hơn, từ đó làm giảm huyết áp.
Một nắm khoảng 60 hạt nho khô có chứa 1g sợi và 212mg Kali. Lâu nay nho khô thường được bác sỹ khuyến nghị là một phần của chế độ ăn kiêng với tỷ lệ sợi cao, chất béo thấp nhằm giảm huyết áp.
4 Dau nanhNghiên cứu thứ hai về đỗ tương cho thấy việc ăn hàng ngày các loại chế phẩm từ loại hạt này như đậu phụ, sữa đậu nành cùng các sản phẩm khác từ lạc và trà xanh cũng có tác dụng giảm huyết áp.
Công trình nghiên cứu này được thực hiện từ năm 1985, phân tích các dữ liệu về thói quen ăn uống của các bệnh nhân huyết áp cao.
Những người sử dụng tối thiểu khoảng 2,5mg hoạt chất isoflavone trở lên mỗi ngày, một thành phần quan trọng trong đậu tương, có huyết áp tâm thu thấp hơn nhiều so với những người chỉ nạp khoảng 0,33mg chất này vào cơ thể.
Theo nghiên cứu này, một cốc sữa đậu nành chứa khoảng 22mg hoạt chất isoflavone, gấp gần 10 lần lượng cần có cơ thể hấp thụ mỗi ngày để phát huy tác dụng.
Các nhà khoa học cho biết ăn các chế phẩm từ đậu nành là cách hữu hiệu giúp những người có huyết áp tăng nhẹ so với mức bình thường 6 Nho kho 2kiểm soát được diễn biến bệnh mà không cần tới sự hỗ trợ của mình.
Cơ chế phát huy hiệu quả trong việc giảm huyết áp của đỗ tương và hoạt chất isoflavone là thúc đẩy hoạt động của các enzim tạo ra nitric oxide giúp mở rộng mạch máu và giảm huyết áp.
Từ các công trình này, lời khuyên của các giới nghiên cứu dành cho những người trung niên là duy trì một chế độ ăn uống chú trọng tới nho khô và chế phẩm từ đậu nành, cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi.
Lan caysu chuyển tiếp   
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/11/2013

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Mè - Vừng - Sésame

Mè - Vừng - Sésame


Sésame - Gingely-oil plant
Mè - Vừng
Sesamum indicum L.
Pedaliaceae
Đại cương :
Giống sesamum có rầt nhiều loài nhưng 2 loài được xem là quan trọng nhất về cả hai phương diện kinh tế thực phẩm và y học :
Sesamum indicum ( mè trắng )
Sesamum  radiatum ( mè đen )
Mè sésame (Sesamum indicum) là một cây thuộc họ Pédaliaceae và một sản phẩm nông nghiệp trồng trọt rộng lớn để thu hoặch lấy hạt mè.
Mè Sesame được biết là phát triển manh trong những nước vùng cận Sahara của Châu Phi vì trồng trọt dễ dàng và chi phí sản xuất thấp.
Sự sản xuất giống mè trắng Sesamum indicum và màu tráng kem có tĩ lệ tăng trưởng rất cao cho sự tiêu dùng truyền thống Á Châu và sự gia tăng dân số trong những nước này. Cũng như sự tiêu dùng càng ngày càng gia tăng ở những nước Âu Châu trong chế biến bánh ngọt và bánh mì sinh học hay bánh mì cho hamburger.
Tại Ấn Độ, hạt mè được xem như tượng trưng cho sự bất tử.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo, nhất niên, cao 1 đến 1,5 m, có lông hơi trỉn
Lá, mọc đối hay xen, từ 4 đến 14 cm dài, lá trên đơn, bìa lá có răng thưa, có hình mũi mác rộng khoảng 5 cm, tại phía dưới cây lá thu hẹp còn khoảng 1 cm bề rộng trên thân cho ra hoa.
Hoa, to, cô độc ở nách lá, kích thước khoảng 3 đến 5 cm dài, cọng hoa ngắn, đài nhỏ do 5 lá đài rời, vành hoa màu vàng lợt, ống hoa to dài, có lông, môi dưới dài ưỡn cong, tiểu nhụy 4, không thò ra ngoài
Quả, nang có cạnh tròn, thường có lông và có những rãnh với một mõ tam giác ngắn, Chiều dài nang của trái thay đổi từ 0,5 đến 2 cm, có khoảng từ 4 đến 12 ngăn.
Nang tự khai bằng cách tách dọc theo chiều dài từ trên xuống dưới hoặc bằng hai lỗ hỏng ở chóp tùy thuôc vào giống cây trồng và loại (var), phóng thích cho ra nhiều hạt vàng vàng hay đen, dẹp láng.
Hạt, sesame nhỏ, hình dạng và màu sắc thay đổi với hàng ngàn loại variété được biết. Những màu được thông dụng nhất là :
mè trắng Sesamum indicum L.  đồng nghĩa sesamum orientale L.
mè đen Sesamum radiatum L
Thông thường những hạt có kích thước từ 3 đến 4 mm dài x 2mm rộng và 1 mm bề dày. Hạt hình bầu dục, nhẹ dẹt và hơi mỏng ở nơi mắt của hạt hơn ở đầu đối diện. Trọng lượng của hạt khoảng giữa 20 đến 40 milligrammes.Vỏ hạt có thể trơn mịn hoặc có gân.
Những hạt được bán ở thị trường thương mại thường được lấy ra vỏ bên ngoài.
Bộ phận sử dụng :
Thân, lá , rễ và hạt.
▪ Hạt mè sesame màu trắng hay đen hoặc màu sậm dùng để nấu ăn cho ra hương vị gần với hạt dẻ.
▪ Những hạt dùng sản xuất một loại dầu, chủ yếu dùng trong những món ăn salade hoặc những món ăn lạnh và dùng trực tiếp.
▪ Ngoài ra hạt còn dùng cho kỹ nghệ bánh ngọt.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Hạt mè chứa :
- Một dầu cố định  47-59%,
- saccharose,
- pentosanes,
- lécithine,
- choline,
- phytine,
- globuline, 22%,
- sesamin.
● Dầu mè bao gồm :
- oléine,
- linolein,
- palmitine,
- stéarine
 Và những acides béo gồm có :
- acides oléique,
- linoléique,
- linolénique,
- palmitique,
- palmitoléique,
- stéarique,
- eicosénoïque.
● Nghiên cứu trên những thành phần hóa học những hoa Mè Sesamum indicum cho sáu ( 6 ) hợp chất flavones :
- apigénine,
- ladanetin,
- ladanetin-6-O-beta-D-glucoside,
- acide apigénine-7-O-glucuronique,
- pedalitin,
- và pedalitin-6-O-glucoside.
● hạt Mè mang lại những chất :
- lignanes,
- glycosides lignanes,
- và  của những stérols,
- glycosides phenylethanoid của toàn cây,
- và những acides phénoliques của lá và của hạt .
● Một phân đoạn của éther de pétrole của trích xuất alcoolique mang lại những chất :
- sésamine :
- sésamoline,
- stigmastérol,
- bêta-sitostérol,
- stigmastérol,
- và -3-O-ß-D-glucoside.
Phân đoạn butanol cho :
- acide férulique,
- rhamnétine,
- verbascoside,
- kaempférol-3-O-ß-D-glucorunide,
- và mequelianin (quercétine-3-O - D-glucuronide).
● Dữ liệu dinh dưởng  Nutrition data – Sesame rang so với Sesame thô :
● Hàng ngàn năm nay, hạt mè sésame đã là nguồn thực phẩm và dầu ăn của con người. Sésame có một hàm lượng dầu cao hơn tất cả những hạt. Dầu mè là một dầu thực vật ổn định nhất, với một thời gian sử dụng lâu dài, lý do mức độ của chất chống oxy hóa tự nhiên cao ( sesamin, sésamoline và sésamol ).
● Dầu của hạt mè được dùng để nấu ăn, như dầu salade hay bơ thực vật margarine, và có chứa khoảng :
- 47 %  acide oléique,
- và 39 % acide linoléique.
Dầu của hạt màu như dầu hướng dương tournesol,
- giàu chất  acide béo oméga 6,
- nhưng lại thiếu acide béo oméga 3.
Hạt mè cũng giàu chất đạm protéines, 25% theo trọng lượng
Bột còn lại sau khi ly trích chất dầu là một :
- chất đạm protéine có từ 35 đến 50 %,
- một chất đường glucides có hiệu quả tốt .
- và chứa những chất chống oxy hóa tan trong nước hydrosolubles (glucosides sésaminol) cung cấp thêm thời gian sử dụng cho nhiều sản phẩm.
Bột này, cũng được gọi là “ bột vừng ” là một thức ăn tuyệt hảo giàu protéine cho gia cầm và chăn nuôi.
Thêm vào mè sesame một hàm lượng cao chất lysine của đậu nành cho sản phẩm thức ăn gia súc sẽ được cân bằng hơn.
Tỹ lệ liên quan giữa chất đạm và dầu mè, cũng như của những acides amines thiết yếu và những acides béo thay đổi tùy theo giống cây trồng của mè sesame, cũng như những điều kiên của sự tăng trưởng phát triển.
● Mè sésame và sức khỏe :
Kamal-Eldin và al., đã tham khảo qua những đặc san, những bằng sáng chế tuyên bố những lợi ích của hạt mè sésame.
Ông ghi nhận, những lợi ích cho sức khỏe dựa trên những mức độ cao (đến 2,5% ) của chất  furofuran lignanes với các hoạt động sinh lý có lợi, chủ yếu là những chất :
- sésamine,
- sésamoline,
- và glucosides sésaminol.
Từ những dầu ăn được của 6 loại cây, dầu mè có :
- sự giảm giá trị cao nhất của sắt Fe / khả năng chống oxy hóa ( FRAP ), nghĩa là những loại thảo mộc và những chất phụ gia được bảo quản tốt hơn trong dầu mè sesame.
Trong phạm vi các loài thảo mộc có lợi cho sức khỏe, những nghiên cứu đã đề xuất  rằng nó có thể tiêu dùng những thảo mộc được bảo quản trong dầu mè sesame, có thể gia tăng sức đề kháng của các đa acides béo không bảo hòa acides gras polyinsaturés của  những màng tế bào và của những lipoprotéines trong quá trình oxy hóa trong cơ thể.
Những người phụ nữ ở Babylone cổ đại, đã ăn “ halva ” một hỗn hợp của những hạt mè sesame và mật ong để kéo dài tuổi trẻ và sắc đẹp, trong khi những người lính La Mã ăn hỗn hợp này cho sức mạnh và năng lượng .
Đặc tính trị liệu :
● Những loại ( variété ) mè trắng hay loại ( var ) mè vàng cung cấp các hạng dầu tốt nhất, trong khi những loại (var) mè đỏ, mè nâu, hoặc hạt mè đen hay mè có màu sậm được ghi nhận  dầu kém hơn.
- Dầu mè, cũng được biết dưới tên gọi pil hoặc gingelly, có một màu vàng nhạt, một hương vị dễ chịu goût agréable.
● Có một tĩ lệ phần trăm cao dầu cố định, dầu mè có thể được sử dụng như :
- một thuốc chống bệnh thấp khớp anti rhumatismal, trong phương pháp chữa trị xoa bóp massage.
- không làm nóng cũng không làm lạnh .
● Những hạt mè sesame được xem như :
- chất làm mềm émollient,
- chất nuôi dưởng nourrissant,
- thuốc bổ  tonique,
- thuốc lợi tiểu diurétique,
- và là chất kích thích sinh sữa lactagogue.
●  Dầu mè được xem như :
- thuốc làm dịu đau adoucissant,
- chất làm mềm émollient,
- lợi tiểu diurétique,
- chất trấn thống điều kinh emménagogue,
- kích thích sinh sữa lactagogue,
- và nhuận trường laxatif.
● Acides béo không bảo hoà :
- linoleic acid,
- palmitic acid,
- và lecithin,
có giá trị dinh dưởng cao, cơ thể hấp thụ và sử dụng dể dàng.
Ngoài ra còn có tác dụng :
- điều hòa lượng cholestérol trong máu,
- giúp cơ thể tiêu trừ chất trầm hiện trên thành vách động mạch,
- duy trì tính đàn hồi trong hệ thống huyết quản .
● Năng lực chống oxy hóa antioxydant :
Những chất chống oxy hóa là những hợp chất bảo vệ :
- những tế bào của cơ thể không bị tổn thương nguyên nhân do những gốc tự do radicaux libres.
Những chức năng này là những phân tử rất hoạt động có liên quan đến :
- sự phát triển của những bệnh về tim mạch maladies cardiovasculaire,
- một số bệnh ung thư cancers,
- và những bệnh khác liên quan đến sự lão hóa vieillissement.
● Vitamine E :
Mè sésame có chứa những chất tocophérols, những chất chống oxy hóa có thể hình thành vitamine E. Chất tocophérol chánh của sésame là :
- gamma-tocophérol.
Chất gamma-tocophérol có thể đóng vai trò trong :
- ngăn ngừa ung thư  prévention du cancer,
- và những bệnh tim mạch cardiovasculaires.
- ngăn ngừa những bệnh xơ vữa động mạch và tai biến mạch máu não.
- cải thiện tuần hoàn máu.
● Lignanes :
Hạt mè là một trong những thực phẩm chứa nhiều lignanes nhất, những hợp chất thực vật này đóng vai trò :
- giống như chất kích thích tố sinh dục nữ œstrogène, là một nhóm stéroïde .
▪ Chất sésamine là một trong những chất lignanes chánh của sésame. Có thể có thêm những đặc tính khác như :
- chống oxy hóa antioxydantes,
▪ Những lignanes của sésame có thể có những lợi ích khác như là :
Ở những người bị bệnh cholestérol cao hypercholestérolémiques ( có hàm lượng cholestérol trong máu cao ), tiêu thụ mè sésame giảm được một số chất béo lipides trong máu như :
- cholestérol total ( toàn phần ),
- và LDL ( cholestérol xấu « mauvais » cholestérol ).
▪ Những nghiên cứu lâm sàng khác, ở những người mắc chứng bệnh huyết áp cao, tiêu thụ dầu mè và ở những phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh tiêu thụ hạt mè dưới dạng bột, được ghi nhận :
- một sự giảm hạ huyết áp động mạch diminution de la tension artérielle,
- và mỡ trong máu lipides sanguins.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong trường hợp táo bón mãn tính, hạt mè được rang dùng:
- ăn không một mình,
- hoặc với mật ong,
- hay trộn với những thức ăn khác.
▪ Trích xuất dầu từ hạt mè được dùng xoa bóp liệu pháp massothérapie để chữa trị :
- bệnh thấp khớp antirhumatismal.
▪ Thân cây mè được đốt lên, áp dụng cho :
- bệnh trĩ hémorroïdes.
▪ Lá mè, chứa rất nhiều chất nhựa keo gommeuse, pha trộn vớí nước để tạo thành một dung dịch nhờn sử dụng cho trẻ em bị :
- bệnh tả choléra,
- tiêu chảy diarrhée,
- kiết lỵ dysenterie,
- xổ mũi trong lúc cảm lạnh catarrhe,
- viêm bàng quang cystite,
- và chứng tiểu từng giọt strangurie.
▪ Lá và những bộ phận của dầu mè và nước vôi được băng bó, dùng phổ biến trong dân gian để chữa trị :
- những vết phỏng brûlures.
▪ Thuốc dán cao của hạt mè xay nhuyễn áp dụng trên những nơi :
- phỏng brûlures.
▪ Nấu sắc hạt mè với dầu hạt lin ( là dầu màu vàng trích từ hạt chín khô của cây Lin ( linum usitatissimum thuộc họ Linaceae ) dùng cho :
- bệnh ho toux,
- và như chất kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Nấu sắc hạt mè dùng :
- như thuốc nhuận trường cho trẻ em laxatif pour les enfants.
▪ Kem nước chế tạo từ rễ và lá được dùng như :
- một thuốc gội đầu lavage de cheveux,
▪ Mè đen được sử dụng để :
- thúc đẩy sự phát triển tăng trưởng tóc croissance des cheveux,
- và cho tóc có màu đen rendre noir.
phục hồi màu tóc .
▪ Chứng rụng tóc alopécie ( hói đầu calvitie ) do nguyên nhân của những bệnh dài lâu :
Hạt mè, được nghiền nát và thêm đường, sau đó tiêu dùng ăn từ 1 đến 2 muỗng soup / ngày.
▪ Dầu hạt mè được sử dụng để chữa trị :
- loét ulcères,
- và những vết thương ung mũ plaies purulentes.
▪ Hạt mè trắng có tác dụng thúc đẩy :
- kinh nguyệt menstruation.
▪ Hạt mè đất Seeds ground để được một dạng thuốc dán nhão với nước, cho bơ beurre vào dùng cho :
- chảy máu bệnh trĩ saignements pieux.
▪ Với một lượng lớn, những hạt mè có khả năng :
- gây ra  trụy thai avortement.
▪ Dùng cho những bệnh như :
- bệnh thận maladies du rein,
- bệnh gan kết hợp với chứng chóng mặt foie associé à des vertiges,
- bệnh ù tai acouphènes,
- tầm nhìn mờ mờ flou de la vision.
Bào chế :
Dùng 8 đến 14 g hạt mè seasame và pha trộn với lượng tương đương của lá dâu tằm Morus. Thành bột, thêm mật ong miel và dùng uống.
▪ Tại Sierra Leone, nước nhờn mucilage của cây mè được sử dụng cho những người đàn bà để tiêu trừ :
- loài chí rận poux.
▪ Ở Ấn Độ, những hạt được dùng để :
- làm lành hóa sẹo vết thương cicatrisation des plaies.
▪ Tại Yucatan, hạt mè dùng như :
- thuốc nhuận trường cho trẻ em laxatif pour les enfants.
▪ Những hạt và dầu mè được sử dụng như :
- thuốc trấn thống điều kinh emménagogue.
▪ Ở Malaisia, sử dụng dầu mè trong :
- thuốc bổ toniques.
▪ Tại Phi Châu, nấu sắc lá dùng như chất :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
Nấu sắc cây dùng chống :
- bệnh sốt rét paludisme.
Những lá mè được nhai như để :
- luân phiên thay thuốc lá  alternative au tabac.
Lá mè nghiền thành bột được áp dụng trên :
- những vết rắn cắn morsures de serpent.
Nấu sắc hạt mè được sử dụng chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- và điều hoà chu kỳ kinh nguyệt régulation du cycle menstruel.
▪ Ở Phi Châu, mè được dùng như lá-légume.
Sử dụng trong y học như :
- thuốc nhuận trường laxatif,
- một chất giải nọc độc bò cạp cắn,
- để chữa trị bong gân entorses,
- và dể dàng sanh đẻ accouchement .
▪ Trong học Châu Âu, dầu mè ngày xưa đã dùng để chữa trị :
- bệnh lao phổi tuberculose pulmonaire.
Nghiên cứu :
● Chống oxy hóa Antioxydant / Giảm đau analgésique :
▪ Hoạt động làm sạch những gốc tự do của những hợp chất chống oxy hóa của hạt mè sesame ( Sesamum indicum L ) trong hệ thống DPPH ( 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl )
▪ Nghiên cứu quan sát thấy những hoạt động :
- chống oxy hóa antioxydant,
- và giảm đau analgésique,
của trích xuất trong éthanol của hạt mè Sesamum indicum với sự ức chế của phản ứng co quắp so với chất ibuprofène.
Nghiên cứu cũng cho thấy một hoạt động chống oxy hóa antioxydante so với acide ascorbique chống oxy hóa tiêu chuẩn antioxydant standard.
● Chống oxy hóa Antioxydant / Bảo vệ thần kinh neuroprotecteur :
Chất lignanes và những tocophérols, được xác định như chất chống oxy hóa lớn antioxydants majeurs trong hạt mè Sesamum indicum cũng đã được ghi nhận có những hiệu quả bảo vệ chống lại :
- những bệnh thoái hóa thần kinh neurodégénératives.
Hạt mè và những hoạt động chống oxy hóa của nó có thể là một tác nhân tự nhiên mạnh với cả hai ứng dụng :
- điều trị thérapeutiques,
- và phòng bệnh préventifs
trong những bệnh thoái hóa thần kinh ở người neurodégénératives chez l'homme.
● Làm lành vết thương guérison de la plaie :
Những hạt mè sésame và dầu mè sesamum indicum áp dụng bôi vào vết thương cho thấy một hoạt động làm lành vết thương đáng kể cho :
- thời gian biểu mô hóa,
- và co thắt vết thương .
● Hiệu quả trên sức khỏe của dầu mè :
Nghiên cứu trên những hiệu quả của Sesamum indicum ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường cao huyết ápdiabétiques hypertendus trên atenolol và sulfonylurée đã cho thấy một sự giảm của :
▪ áp xuất systolique và diastolique,
▪ giảm đường máu glycémie,
▪ HbA1C,
▪ LDL,
▪ và TC,
▪ với sự gia tăng của những hoạt động trên mức độ :
-  phân hóa tố enzyme,
- và không phân hóa tố non enzymatiques,
của chất chống oxy hóa antioxydants.
● Bộ phận trên không còn lại / Chống đường máu cao Antihyperglycémiant / Chống oxy hóa Antioxydant :
▪ Một phần éther de pétrole của trích xuất trong alcoolique cho được :
- sesamin,
- sésamoline,
- stigmastérol,
- ß-sitostérol,
- stigmastérol,
- và -3-O-ß-D-glucoside.
▪ Một phần butanol cho được :
- acide férulique,
- rhamnétine,
- verbascoside,
- kaempférol-3-O-ß-D-glucorunide,
- và mequelianin (quercétine-3-O - D-glucuronide).
Dung dịch trích thử nghiệm thể hiện một hiệu quả giảm trên lượng đường máu của chuột mắc bệnh tiểu đường diabétiques, do sự ức chế có thể của gốc tự do và sự ức chế của những tổ thương mô tế bào gây ra bởi :
- chất alloxane.
- ß-sitostérol,
- và acide férulique,
Có thể góp phần vào hoạt động hạ đường huyết hypoglycémiante của dung dịch trích trong  alcoolique.
Trích xuất trong alcoolique có một tiềm năng như một chất thay thế :
- chất chống oxy hóa tự nhiên antioxydant naturel,
- chống đường máu cao anti-hyperglycémique,
- và chống đông máu anticoagulant.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những lá cây mè sesamum indicum được tiêu dùng tươi và nấu chín. Những lá mè sền sệt nhờn do kết cấu của tế bào cho ra khi nấu chín.
▪ Những chồi ngọn được dùng nấu soup và cháo.
▪ Những hạt được dùng nguyên hạt hay dưới dạng bột nhảo pâte.


Nguyễn thanh Vân
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/11/2013